1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển nguồn tài nguyên thông tin số cho hệ thống các cơ quan TTTV ngành Luật

103 548 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thức của bản thân về sự phát triển của sưu tập số, tác giả đã lựa chọn đề tài “Phát triểntài nguyên thông tin số cho các cơ quan TTTV ngành Luật ở Hà Nội” làm Khóa luậncủa mình với mong

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bước vào thế kỷ XXI, Công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông đã chiếmmột vị trí quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống Sự phát triển nhanh chóng củaCNTT và truyền thông đã tác động mạnh mẽ đến ngành Thông tin – Thư viện(TTTV) Xu hướng phát triển của các cộng đồng thư viện trên thế giới hiện nay là tiếnđến số hóa và kết nối để thu hẹp diện tích và khoảng cách địa lý

Sự phát triển của CNTT không chỉ làm thay đổi nhanh chóng toàn bộ thế giới

mà đồng thời còn tạo ra nhiều thách thức và cơ hội Đặc biệt với ngành TTTV, ngành

có sự kết hợp lĩnh vực quản trị tri thức với những ứng dụng CNTT và truyền thông.Ngành đang phải đương đầu với các thách thức do cuộc cách mạng công nghệ nàyđem lại để tồn tại và đáp ứng được những nhu cầu tin đa dạng, phức tạp của cộngđồng người dùng tin Đây là quy luật của tự nhiên Việc tăng nhanh cả về số lượng,chất lượng, loại hình, phương thức khai thác của thông tin – tri thức đã tạo ra một sức

ép đáng kể cho các cơ quan TTTV phải tự biến đổi, hoàn thiện mình để quản trịnguồn thông tin tri thức đó

Nhằm giải quyết bài toán quản trị tri thức, các mô hình thư viện hiện đại đã rađời và xu thế xây dựng, phát triển các Thư viện số, các bộ sưu tập tài nguyên thông tin

số đã trở thành một phần chủ đạo trong toàn cảnh hoạt động TTTV trên thế giới Sựtác động của công nghệ web, CNTT chính là những yếu tố quan trọng hướng tới việcxây dựng thư viện số, phát triển các bộ sưu tập, nguồn tài nguyên thông tin số và đó làmột sự thỏa mãn nhu cầu chưa từng có về lưu trữ, tổ chức, và truy cập thông tin Sựxuất hiện của các bộ sưu tập tài nguyên số, thư viện số không chỉ tạo ra một cơ hộimới cho sự phát triển thư viện, mà còn đặt ra những yêu cầu cao hơn trong việc cải tổnhững thư viện truyền thống Tài nguyên số chính là một trong những nền tảng quantrọng tạo nên sức mạnh trí tuệ quốc gia

Cùng với sự tác động mạnh mẽ của CNTT, ngành TTTV Việt Nam đang bướcnhững bước đầu tiên trên con đường hiện đại hóa Xã hội thông tin càng phát triểncàng đặt ra nhiều thách thức không nhỏ cho ngành Nhận thức được tầm quan trọngcủa các công nghệ ngày nay tới hoạt động TTTV, và cũng là sự hội nhập với cộng

Trang 2

đồng thư viện trên thế giới, các cơ quan TTTV Việt Nam luôn tự đổi mới chính mình,nâng cao chất lượng dịch vụ TTTV để bắt kịp thời đại

Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền địnhhướng xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện hệ thống pháp Luật Vì vậy, trong quá trìnhphát triển hiện tại, các cơ quan TTTV ngành Luật (sau đây gọi tắt là thư viện ngànhLuật) đóng vai trò quan trọng trong việc lưu giữ, phổ biến và cung cấp các nguồnthông tin pháp Luật phục vụ công tác lập pháp, hành pháp và tư pháp, đặc biệt là côngtác nghiên cứu, giảng dạy và học tập của các trường đào tạo Luật hướng tới các đốitượng người dùng tin

Tuy nhiên sự đáp ứng thông tin của các thư viện ngành Luật vẫn còn hạn chế

so với nhu cầu của người dùng tin Thực tế tại một số thư viện ngành Luật ở Hà Nộicho thấy mặc dù sự đáp ứng thông tin còn hạn chế so với nhu cầu người dùng, nhưngmỗi thư viện đều có những thế mạnh, những khả năng có thể liên kết chia sẻ, pháttriển nguồn lực thông tin Hiển nhiên rằng không thể có một cơ quan TTTV nào có đủkhả năng đáp ứng mọi nhu cầu thông tin của người dùng tin Bởi lẽ nhu cầu thông tinđang ngày càng biến đổi, phát triển nhanh chóng, vừa bao quát, vừa chuyên sâu trongnghiên cứu khoa học, giảng dạy của cán bộ, học tập của sinh viên, nghiên cứu của cácchuyên gia

Giải pháp đặt ra cho các thư viện ngành Luật là tiến hành trao đổi chia sẻnguồn lực thông tin, xây dựng, phát triển các bộ sưu tập tài nguyên thông tin số, cácthư viện số Xây dựng, phát triển bộ sưu tập tài nguyên thông tin số sẽ trở thành mộtphần chủ đạo trong toàn cảnh hoạt động của các cơ quan Bộ sưu tập tài nguyên thôngtin số là cầu nối cho sự trao đổi giữa các chuyên gia, thủ thư và bạn đọc, là công cụkhám phá, tìm kiếm, truy xuất thông tin và là mô hình hiện đại nhằm cung cấp nhữngdịch vụ thông tin chuyên biệt ở mức độ cao Phát triển nguồn tài nguyên thông tin sốkhông chỉ tạo ra một cơ hội mới cho sự phát triển thư viện, mà còn đặt ra những yêucầu cao hơn trong việc cải tổ những thư viện truyền thống

Chính vì vậy, các thư viện ngành Luật cần phát triển tài nguyên số và côngnghệ khai thác Thực tế cũng cho thấy các thư viện ngành Luật đã xây dựng đượcphần nào bộ sưu tập số, nguồn tài nguyên số của mình Trên cơ sở đó, cần phải pháttriển nguồn tài nguyên số của các cơ quan, đẩy mạnh sự phát triển của thư viện, đó là

sự hội nhập cũng như tiến bước cùng thời đại Xuất phát từ yêu cầu thực tế và nhận

Trang 3

thức của bản thân về sự phát triển của sưu tập số, tác giả đã lựa chọn đề tài “Phát triểntài nguyên thông tin số cho các cơ quan TTTV ngành Luật ở Hà Nội” làm Khóa luậncủa mình với mong muốn tìm hiểu, nghiên cứu, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm đẩymạnh hoạt động phát triển nguồn tài nguyên thông tin số, tăng cường sự hợp tác vàphát triển giữa các thư viện ngành Luật trong bối cảnh hiện nay.

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề xây dựng và phát triển sưu tập số, nguồn tàinguyên thông tin số, tìm hiểu tình hình thực tiễn hoạt động xây dựng phát triển nguồntài nguyên thông tin số của các thư viện ngành Luật trên địa bàn Hà Nội, khóa luậnđưa ra những nhận xét và kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động xây dựng, phát triểnnguồn tài nguyên thông tin số của các cơ quan hướng tới sự tiết kiệm, đồng bộ, hiệuquả trong hoạt động, hợp tác

Để thực hiện được mục đích trên, khóa luận cần giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu các vấn đề lý luận về sưu tập số, tài nguyên thông tin số

- Làm rõ vai trò của bộ sưu tập tài nguyên thông tin số đối với các cơ quanTTTV nói chung và ngành Luật nói riêng

- Tìm hiểu tình hình hoạt động, hiện trạng, khả năng phát triển nguồn tàinguyên thông tin số của các thư viện ngành Luật

- Trình bày các nhân tố ảnh hưởng tác động tới hoạt động xây dựng pháttriển nguồn tài nguyên thông tin số

3 Tình hình nghiên cứu

Trên cở sở tham khảo và tìm hiểu các tài liệu liên quan đến sưu tập số, nguồntài nguyên thông tin số, xây dựng, phát triển sưu tập số, nguồn tài nguyên thông tin

số, hoạt động của thư viện ngành Luật…tác giả nhận thấy:

- Đã có khá nhiều tài liệu, bài viết nghiên cứu của các chuyên gia TTTV vềvấn đề lý luận của sưu tập số, thông tin số Sự phát triển của tài nguyên số hiện nay

Đó là những bài viết đi sâu về các vấn đề nhỏ trong cả quy trình của vấn đề xây dựng

và phát triển sưu tập số, nguồn tài nguyên thông tin số: Những vấn đề cơ bản về Siêu

dữ liệu của Th.s Cao Minh Kiểm; Hướng dẫn thực hành xây dựng bộ sưu tập thư viện

số bằng phần mềm nguồn mở Greenstone của Nguyễn Minh Hiệp…

Trang 4

- Bên cạnh đó là các bài giảng ngành TTTV đề cập đến các vấn đề của thôngtin số, sưu tập số, thư viện số hay thư viện điện tử như: Nghiên cứu thư viện số trênthế giới và định hướng nghiên cứu thư viện số ở Việt Nam; thư viện điện tử của Th.sNguyễn Thị Thúy Hạnh…

- Nắm bắt theo xu thế phát triển của nguồn tài nguyên thông tin số như hiệnnay, cũng đã có nhiều khóa luận của sinh viên tiến hành nghiên cứu tìm hiểu các vấn

đề lý luận và thực tiễn về tài nguyên thông tin số ở Việt Nam: “Tìm hiểu vấn đề xâydựng và phát triển sưu tập số” của sinh viên Lê Công Năng K49 chính quy, “công tác

số hóa tài liệu tại thư viện Quốc gia Việt Nam” của sinh viên Lại Cao Bằng K52chính quy, “khảo sát một số phần mềm tiêu biểu được sử dụng để xây dựng bộ sưu tập

số trong các cơ quan TTTV Việt Nam” của sinh viên Đồng Thị Thanh Thoan K49chính quy, “Tìm hiểu về việc phát triển và chia sẻ tài nguyên số tại trung tâm TTTVĐại học Quốc gia Hà Nội và thư viện Quốc gia Việt Nam” của sinh viên Mai ThịHương K52 chính quy, “Thư viện số với các giải pháp quản trị quyền thông tin số”của sinh viên Vũ Thị Thanh Mai K46 tại chức…

- Đối với các thư viện ngành Luật, đã có một số tài liệu, báo cáo khoa họctìm hiểu về nguồn lực thông tin, tình hình hoạt động tại các thư viện Luật, các bài báo

đề cập tới vấn đề chia sẻ nguồn lực thông tin nói chung, các vấn đề nhằm đẩy mạnh

sự phát triển của các thư viện ngành Luật Gần đây nhất, là tháng 10 năm 2010, tạiTrung tâm TTTV Đại học Luật Hà Nội có tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Thưviện Luật Việt Nam, hợp tác và phát triển” Tháng 04 năm 2011 tác giả cũng đã thựchiện một đề tài khoa học: “Nghiên cứu chia sẻ nguồn lực thông tin pháp Luật cho hệthống các cơ quan TTTV ngành Luật ở Hà Nội.” Trong hội thảo về thư viện Luật ViệtNam, các bài viết nghiên cứu về tình hình hoạt động của các thư viện Luật cụ thể vàtrong đề tài khoa học của tác giả thực hiện, đều nêu ra việc cần phải tiến hành đẩymạnh hoạt động hiệu quả, tiết kiệm, cũng như trao đổi tương tác giữa các cơ quanTTTV đem lại kết quả tốt nhất đối với người dùng tin trên cơ sở xây dựng các thưviện hiện đại, nguồn tin điện tử, nguồn tài nguyên thông tin số làm giải pháp cho cácvấn đề này… Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề phát triển nguồntài nguyên thông tin số cho hệ thống các thư viện ngành Luật Với thực tiễn nghiêncứu của ngành, cũng như thực tiễn vai trò của vấn đề, khóa luận “Phát triển nguồn tàinguyên thông tin số cho hệ thống các cơ quan TTTV ngành Luật” được triển khai

Trang 5

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Lý thuyết chung về vấn đề phát triển nguồn tài nguyên

thông tin số; Thực trạng xây dựng và phát triển nguồn tài nguyên thông tin số tại cácthư viện ngành Luật; Các vấn đề liên quan đến xây dựng và phát triển nguồn tàinguyên thông tin số

- Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát thực tiễn hoạt động, hiện trạng xây dựng phát triển

nguồn tài nguyên thông tin số tại một số thư viện ngành Luật trên địa bàn Hà Nội Cụthể là:

Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Luật Hà Nội

Trung tâm Thông tin – Thư viện và Nghiên cứu Khoa học của Văn phòngQuốc hội

Thư viện Học viện Tư pháp

Thư viện Viện Nhà nước và Pháp luật

5 Phương pháp nghiên cứu

Thu thập tài liệu, đọc và phân tích tài liệu

Quan sát điều tra thực tế

Điều tra bằng bảng hỏi

Phương pháp phỏng vấn, trao đổi, mạn đàm

6 Đóng góp về lý luận và thực tiễn của đề tài

Trang 6

-Đóng góp về lý luận: Kết quả nghiên cứu của khóa luận sẽ góp phần hoàn thiện lý

luận cơ bản về phát triển tài nguyên thông tin số nói riêng và phát triển vốn tài liệunói chung

-Đóng góp về thực tiễn:

Khóa luận nêu bật được thực trạng phát triển nguồn tài nguyên thông tin số củamột số thư viện ngành Luật trên địa bàn Hà Nội Trên cơ sở đó đưa ra những nhậnxét, kiến nghị nhằm đẩy mạnh việc xây dựng và phát triển nguồn tài nguyên thông tin

số cho các cơ quan này

Trang 7

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN TÀI NGUYÊN THÔNG TIN SỐ CHO CÁC CƠ QUAN THÔNG TIN-THƯ VIỆN NGÀNH LUẬT Ở HÀ NỘI 1.1 Những khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm phát triển

Trong lịch sử triết học, quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng, giảmthuần túy về lượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật; đồng thời nó cũng xem sựphát triển là quá trình tiến lên liên tục, không trả qua nhưng bước quanh co phức tạp

Đối lập với quan điểm siêu hình, trong phép biện chứng khái niệm phát triển dùng

để chỉ quá trình vận động của sự vật theo khuynh hướng đi lên: từ trình độ thấp đến trình

độ cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn

Phát triển cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn cócủa sự vật; là quá trình thống nhất giữa phủ định các nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng caonhân tố tích cực từ sự vật cũ trong hình thái mới của sự vật

1.1.2 Khái niệm tài nguyên

Dưới tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ, khái niệm tàinguyên được mở rộng ra trên nhiều lĩnh vực hoạt động của con người

Hiểu theo nghĩa rộng, tài nguyên bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, nhiênliệu – năng lượng, thông tin có trên trái đất và trong không gian vũ trụ liên quan màcon người có thể sử dụng cho mục đích tồn tại và phát triển của mình

Trên cơ sở sưu tầm, có thể đưa ra một số định nghĩa tài nguyên như sau:

Theo Từ điển Tiếng Việt:

 Tài nguyên là nguồn của cải có sẵn trong tự nhiên chưa khai thác hoặcđang được tiến hành khai thác

 Mọi đối tượng của xử lý thông tin như bộ nhớ, tệp dữ liệu, công trìnhmáy tính… cần cho việc thực hiện một mục tiêu nào đó

Hay hiểu hơn giản hơn: “ Tài nguyên là tất cả các dạng vật chất, phi vật chất vàtri thức được sử dụng để tạo ra của cải vật chất, hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới chocon người”

Trang 8

Như vậy, dựa trên các quan niệm, có thể nói tài nguyên là đối tượng sản xuấtcủa con người Xã hội loài người càng phát triển, số loại hình tài nguyên và số lượngmỗi loại tài nguyên được con người khai thác ngày càng tăng.

1.1.3 Khái niệm thông tin số

Thế kỷ XXI được đánh dấu bằng sự ra đời của nền kinh tế mới, được gắn bằngnhiều thuật ngữ: kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế mạng…Trong nền kinh tế này,xuất hiện một loại nguồn lực quan trọng là tài nguyên thông tin số Đây là nguồn lực

có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của ngành thư viện trên thế giới nói chung vàcủa Việt Nam nói riêng Cũng như bất kỳ nguồn lực nào trong xã hội, vấn đề cần thiếtphải xác lập được phương thức quản lý và chiến lược phát triển thích hợp

Theo Luật công nghệ thông tin, khái niệm thông tin số được trình bày như sau:

“Thông tin số là thông tin được tạo lập từ các thiết bị kỹ thuật số, được lưu trữ dướidạng các tín hiệu số, được xử lý, chuyển tải (trao đổi) giữa các thiết bị kỹ thuật sốthông qua môi trường mạng hoặc môi trường khác”

Với cách hiểu như vậy, thông tin số được coi là thông tin đại chúng, được tạo

ra bởi con người hay sự vật, hiện tượng, được chuyển đổi thành dạng tín hiệu số, lưutrữ trong các thiết bị máy móc

Thông tin số mang những đặc trưng vốn có của các nguồn tài nguyên truyềnthống, bên cạnh đó còn mang những đặc điểm ưu việt:

Do sự phát triển của công nghệ thông tin, đặc biệt là công nghệ tạo và lưu trữ

dữ liệu trên các vật mang tin từ tính, quang học, mật độ ghi thông tin trên các vậtmang tin này rất cao nên dung lượng lưu trữ lớn, mật độ thông tin lớn

Thông tin số đem lại khả năng đa truy cập, cho phép người dùng có thể tra tìmtài liệu đồng thời theo nhiều dấu hiệu khác nhau, cùng với đó là khả năng liên hệ, tiếpcận với tác giả, tạo ra một kênh phản hồi thông tin giữa người dùng tin và người sángtạo ra thông tin

Sự tồn tại dưới nhiều dạng của thông tin số làm cho thông tin số trở nên hấpdẫn hơn, dễ hiểu hơn, dề truyền đạt hơn, và hơn hết là khả năng truy cập từ xa trongmọi điều kiện về không gian, thời gian CNTT truyền thông đã thực hiện được việctruyền thông tin dạng số từ các vị trí ở xa

Trang 9

Tiếp cận mọi nơi, mọi lúc là điều không tưởng với các thư viện truyền thống,các nguồn tin lưu trữ dưới dạng truyền thống Thông tin số ra đời đáp ứng được yêucầu này, nó trở thành kênh thông tin đem lại những lợi ích quan trọng cho người sửdụng trong kỷ nguyên công nghệ điện toán:

Thông tin dạng số có thể gửi nhiều bản cùng một lúc qua mạng thông tin trongmột phần nhỏ của một phút, thậm chí chỉ một giây Người sử dụng không cần phảiđến thư viện để sử dụng các máy tính được nối mạng Họ có thể truy cập thông tinqua máy tính của mình

Thông tin dạng số có thể cắt và dán từ tài liệu này sang tài liệu khác

Thông tin dạng số được miễn phí hoặc rẻ hơn so với tài liệu in

Thông tin dạng số thường thay đổi vai trò của cán bộ thư viện ở nhiều phươngdiện

Sự phát triển nhanh chóng và đổi mới hàng ngày, thậm chí hàng giờ mang lại

sự ưu việt cho nguồn thông tin số…Cũng qua đó nâng cao năng lực khai thác thôngtin của người dùng tin

Tuy nhiên, thông tin số cũng có những hạn chế trong quá trình sử dụng, đó làtính đảm bảo an toàn thông tin Sự phát triển của CNTT là tiền đề nhưng cũng đem lạinhững thách thức cho các vấn đề không mong muốn Đó là việc dễ sao chụp thông tin,

dễ bị làm sai lệch thông tin, các hệ quả của CNTT tác động tới sự phát triển của thôngtin số…

Với các đặc trưng như vậy, thông tin số có ý nghĩa rất lớn đến việc xây dựng,phát triển những thư viện hiện đại và bền vững

1.1.4 Khái niệm phát triển tài nguyên thông tin số

Phát triển tài nguyên thông tin số là công tác làm tăng thêm nguồn lực thông tin sốcủa mỗi cơ quan, đơn vị Là những hoạt động nhằm gia tăng số lượng cũng như chất lượngtài liệu số

Trên cơ sở nhu cầu người dùng tin, cũng như vai trò quan trọng của thông tin số mang lại,phát triển tài nguyên số là một hoạt động tất yếu, có ý nghĩa to lớn đến việc phát triển thưviện hiện đại và bền vững Quá trình phát triển tài nguyên số cũng được vận động từ thấpđến cao, chất lượng, số lượng tài nguyên số sẽ ngày càng được tăng cường

Trang 10

Tạo lập và phát triển tài nguyên thông tin số của riêng mỗi cơ quan là vấn đềlớn nhất trong xây dựng thư viện điện tử, thư viện số Công việc này đòi hỏi phải đầu

tư lớn và liên tục Để làm tốt công việc này, các cơ quan xây dựng thư viện điện tử,thư viện số cần có cách tiếp cận hợp lý, khả thi và kinh tế

1.1.5 Khái niệm sưu tập số

Một sưu tập số không chỉ là một tập hợp các đối tượng số thông thường mà cònphải là một tập hợp các tài liệu hay đối tượng số được lựa chọn và tổ chức cùng vớicác siêu dữ liệu mô tả và có ít nhất một giao diện để cho người sử dụng truy cập

Hoặc sưu tập số là tập hợp các dữ liệu trực tuyến (online) và dữ liệu điện tửtrên vật mang tin vật lý như CD-ROM, vi phim, audio, video… về một chủ đề Mặc

dù mỗi loại hình tài liệu có sự khác nhau về cách thể hiện, nhưng nó đều cung cấpmột giao diện đồng nhất mà qua đó các tài liệu có thể truy cập dễ dàng

Chúng là tập hợp các thông tin được số hóa dưới những dạng thức nhất định đểmáy móc có thể đọc được và người dùng tin có thể truy cập thông tin một cách dễdàng với những thiết bị tương thích Nói cách khác sưu tập số là tập hợp các đốitượng số, mỗi đối tượng số được cấu thành bởi hai thành phần không thể thiếu là nộidung số và siêu dữ liệu

Ví dụ: bộ sưu tập số về chủ tịch Hồ Chí Minh gồm các văn bản, các tác phẩmvăn học, các văn kiện chính trị do Bác viết và do người khác viết về Bác; Những bàihát, bản nhạc viết về Hồ chí Minh; những đoạn phim, những băng video phản ánhcuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của Người

Một bộ sưu tập số như vậy trước khi trình bày phải qua một quá trình hìnhthành để tạo nên những cấu trúc hỗ trợ cho việc truy tìm và lướt tìm được dùng choviệc truy cập sưu tập

Khi xây dựng xong, bộ sưu tập có thể được xuất bản trên Internet hoặc xuất raCD-ROM một cách hoàn toàn tự động

Một khi sưu tầm thêm tài liệu mới, ta có thể dễ dàng bổ sung thêm vào bộ sưutâp bằng cách tái xây dựng Một thư viện nói chung bao gồm nhiều bộ sưu tập khácnhau, mỗi sưu tập tổ chức mỗi khác, tuy nhiên hoàn toàn giống nhau về phương cáchhiển thị Những bộ sưu tập như thế có thể được tạo nên bằng một Phần mềm nguồn

Trang 11

mở đa ngôn ngữ thư viện số Greenstone (Greenstone digital library multilingual opensource software).

Các chuyên gia TTTV đã phân loại sưu tập số như sau:

 Sưu tập theo nguồn gốc số hóa:

Sưu tập tài liệu số hóa (Digitnized Object)

Sưu tập tài liệu gốc (Digital Born Object)

1.1.6 Khái niệm siêu dữ liệu

Thuật ngữ "Siêu dữ liệu" (tiếng Anh "METADATA"), có thể được định nghĩađơn giản là dữ liệu về dữ liệu Theo tiến sỹ Warwick Cathro, "siêu dữ liệu là nhữngthành phần mô tả tài nguyên thông tin hoặc hỗ trợ thông tin truy cập đến tài nguyênthông tin" Trong tài liệu, siêu dữ liệu được xác định là "dữ liệu mô tả các thuộc tínhcủa đối tượng thông tin và trao cho các thuộc tính này ý nghĩa, khung cảnh và tổ chức.Siêu dữ liệu còn có thể được định nghĩa là dữ liệu có cấu trúc về dữ liệu" Gail Hodgeđịnh nghĩa siêu dữ liệu là "thông tin có cấu trúc mà nó mô tả, giải thích, định vị, hoặclàm cho nguồn tin trở nên dễ tìm kiếm, sử dụng và quản lý hơn Siêu dữ liệu được

Trang 12

hiểu là dữ liệu về dữ liệu hoặc thông tin về thông tin" Nói tóm lại, siêu dữ liệu làthông tin mô tả tài nguyên thông tin.

Mục đích đầu tiên và cốt yếu nhất của siêu dữ liệu là góp phần mô tả và tìm lạicác tài liệu điện tử trên mạng Internet Sự phát triển mạnh mẽ của Internet đã tạo ra sựbùng nổ của các loại dữ liệu đa dạng ở dạng số, văn bản, hình ảnh, âm thanh, hình ảnhđộng, tài liệu đa phương tiện Những tài liệu số này có thể truy cập được trên Internetsong việc tìm kiếm chúng một cách hiệu quả và khoa học như với các hệ thống thôngtin trực tuyến là hết sức khó khăn Để góp phần tăng cường chất lượng tìm kiếm cáctài liệu số trên mạng Internet, người ta đã đưa ra giải pháp sử dụng siêu dữ liệu

Bên cạnh đó là sự hỗ trợ người dùng tin đánh giá thông tin mà không phải truycập trực tiếp đến thông tin; giúp kiểm tra sự tồn tại của đối tượng thông tin, mô tả vềngôn ngữ, vị trí của thông tin…

Thực ra trong hoạt động TTTV truyền thống, từ lâu đã có những khái niệm liênquan đến siêu dữ liệu Các bản mô tả thư mục chứa các dữ liệu mô tả đối tượng (nhưcho sách, cho tạp chí), do đó, chúng có thể được xem như một dạng siêu dữ liệu Vớiviệc tự động hoá công tác biên mục, phiếu thư mục được thay thế bằng biểu ghi thưmục Như vậy, thành phần "siêu dữ liệu" còn có thể được trình bày trong biểu ghi, vìvậy, biểu ghi này được coi là biểu ghi siêu dữ liệu (metadata record) của các đốitượng được Cơ sở dữ liệu (CSDL) quản lý Với tài liệu truyền thống trên giấy, thôngtin mô tả được bố trí nằm ngoài đối tượng mà nó mô tả (ví dụ, trên phiếu thư mục củamục lục thư viện, trong biểu ghi của CSDL) Nhờ những yếu tố mô tả như vậy, người

ta có thể xác định và tìm kiếm lại được tài liệu một các chính xác theo một vài yếu tố

Trong thư viện điện tử hiện nay hay trong môi trường mạng, siêu dữ liệu ngàycàng trở nên quan trọng bởi nó giữ vai trò chủ đạo không chỉ cung cấp cho ngườidùng tin những mô tả tài liệu mà họ tìm kiếm mà còn thông tin sử dụng phần mềm đểxác định vị trí thông tin phù hợp, để thỏa thuận điều khoản cung cấp tài liệu, yêu cầu

và tiếp nhận tài liệu

Và nguồn tài liệu điện tử hiện nay phân tán trên mạng nhiều đến mức khôngthể xử lý hết được bằng cách thủ công như đã và đang áp dụng với tài liệu xuất bảntrên giấy Để xử lý được hết tài liệu điện tử phân tán, người ta phải áp dụng cácphương pháp tự động - sử dụng các chương trình đặc biệt (được gọi theo nhiều cáchkhác nhau như robots, crawlers, spiders, ) Do tài liệu số (điện tử) được tạo ra, thông

Trang 13

thường không tuân thủ những quy định xuất bản truyền thống, không có những quytắc nhất định giúp cho phép nhận dạng tự động được các yếu tố mô tả thông thườngnhư tác giả, địa chỉ xuất bản, thông tin về khối lượng, nên cần thiết phải có nhữngquy định thống nhất để các chương trình tự động nhận dạng và xử lý chúng đúng theocác yêu cầu nghiệp vụ

Những quy định như vậy được gọi là các quy định về siêu dữ liệu Có thể thấyhiện nay, do nhiều chương trình máy tính chỉ định chỉ số dựa vào một số thành phầnhạn chế như nhan đề hoặc toàn văn nên không hỗ trợ những tìm kiếm đặc thù (thí dụtheo tác giả, theo chủ đề, theo lĩnh vực, ) Vì thế, để tạo điều kiện cho các chươngtrình có thể định chỉ số tự động theo một số yếu tố xác định, người ta cần thiết phảiđưa thêm vào tài liệu điện tử những thuộc tính bổ sung để tăng cường việc mô tả tàinguyên thông tin Các công cụ định chỉ số tự động sẽ được lập trình để nhận dạng cácthuộc tính này và định chỉ số chúng, từ đó hỗ trợ tìm kiếm theo những thuộc tính đặcthù

Trong thư viện truyền thống, siêu dữ liệu chủ yếu là dạng mô tả hình thức vànội dung của tài liệu có trong kho thư viện, trong thư viện điện tử, siêu dữ liệu đã pháttriển ở mức độ cao hơn với khái niệm rộng hơn Nó đã phát triển thành 5 loại siêu dữliệu:

 Siêu dữ liệu hành chính (Administraive): Được dùng để quản lý và quảntrị các tài nguyên thông tin Ví dụ: Thông tin bổ sung; bản quyền và thông tin tái bản;tài liệu về yêu cầu truy cập hợp pháp; thông tin định vị; các tiêu chí số hóa; kiểm soátphiên bản và những khác biệt giữa các đối tượng thông tin tương đồng; thông tin kiểmtrá của hệ thống quản lý

 Siêu dữ liệu mô tả (Descriptive): Được dùng để mô tả hay nhận diện cáctài nguyên thông tin Ví dụ: các biểu ghi thư mục; các hỗ trợ tìm kiếm; định chỉ sốchuyên biệt; siêu dữ liệu liên kết giữa các tài nguyên; chú giải của người sử dụng

 Siêu dữ liệu bảo quản (Preservation): Các thông tin liên quan đến quản

lý việc bảo quản các tài nguyên thông tin Ví dụ: Các tài liệu về tình trạng, điều kiệnvật lý của tài nguyên thông tin; các tài liệu về công tác bảo quản và các phiên bảnthông tin dưới dạng vật lý và số

Trang 14

 Siêu dữ liệu sử dụng (Use): Các thông tin liên quan đến mức độ và loạihình sử dụng tài nguyên thông tin Ví dụ: Các biểu ghi trình bày; các thông tin vềngười sử dụng và việc sử dụng; thông tin về tái sử dụng nội dung và các phiên bản đaphương tiện.

 Siêu dữ liệu kỹ thuật (Technical): Các thông tin liên quan đến cách thứchoạt động của hệ thống cũng như siêu dữ liệu Ví dụ: thông tin phản hổi về phần cứng

và phần mềm; thông tin số hóa; thông tin về thời gian phản hồi của hệ thống; dữ liệu

về tính xác thực

Hiện nay, có nhiều trao đổi thông tin mang tính chất metadata khá thông dụngđang được áp dụng như: MARC21/UNIMARC, Dublin Core Metadata các dữ liệumetadata này thường được gắn vào phần đầu cho mỗi tài liệu điện tử được đưa vàomáy chủ hoặc trên mạng internet nhằm hỗ trợ các công cụ tìm kiếm lọc ra các thôngtin metadata để tổ chức thành các kho dữ liệu mà không cần dùng đến hệ quản trị cơ

sở dữ liệu truyền thống Thực tế thì ngay bản thân ngôn ngữ XML tự nó đã hỗ trợ việchình thành một cơ sở dữ liệu toàn văn, phi cấu trúc và rất thuận lợi cho việc tìm kiếm,trao đổi và lưu trữ thông tin

1.2 Vai trò của tài nguyên thông tin số trong hoạt động thông tin – thư viện

1.2.1 Vai trò của tài nguyên thông tin số nói chung

Xây dựng phát triển tài nguyên thông tin số là một trong những mục tiêu quantrọng của tất cả các loại hình thư viện trên thế giới, nhằm hướng đến mục tiêu phục vụthông tin cho người dùng ở mọi lúc, mọi nơi, không phân định không gian, thời gian.Đưa ra sự định hướng này, là dựa trên vài trò quan trọng của nguồn tài nguyên sốtrong hoạt động các cơ quan TTTV

Hiện nay, mọi thứ đều được số hóa, được chuyển thành dạng tài nguyên số.Khi sách bắt đầu được số hóa, một câu hỏi được đặt ra: “Liệu chúng ta nên chấm dứtviệc xuất bản sách in và thay vào đó là số hóa sách để đọc trên máy?” Các nhà nghiêncứu cho rằng vào thời điểm hiện nay, nên duy trì cả hai cách trên Thật vậy, dù có rấtnhiều người hài lòng với việc đọc sách ở dạng PDF trên trang web, mỗi năm, số lượngsách in được xuất bản vẫn ngày một tăng Tuy nhiên, tiện ích của sách điện tử là điềukhông thể phủ nhận Ngoài việc có thể đọc và lưu trữ tài liệu trên máy, số hóa sáchmang lại nhiều lợi ích rất lớn

Trang 15

Trong thư viện truyền thống, mỗi quyển sách là một bản hoàn chỉnh và độclập; giờ đây, tất cả tài liệu sẽ được liên kết với nhau trong thư viện số trên cơ sởnguồn tài nguyên số của các cơ quan TTTV Bên cạnh việc dùng “link” (đường dẫnliên kết) để liên kết câu, từ hoặc các quyển sách với nhau, người đọc có thể sử dụng

“tag” (gắn thẻ) để chú thích chung cho tất cả mọi người về một dữ liệu, tranh ảnh haybài hát nào đó nhằm thuận tiện cho việc tìm kiếm khi cần Ví dụ, chúng ta chỉ cầnnhấp chuột vào “link” về các chủ đề liên quan hoặc chú thích ở cuối trang để tìm kiếmnhững điều cần biết thêm Chính việc số hóa sách đã cho phép thực hiện điều này màsách truyền thống không bao giờ đạt được Sách được số hóa đồng nghĩa với việc nó

có thể được chia nhỏ thành từng trang, từng đoạn nhỏ, sau đó được sắp xếp lại tạothành một quyển sách mới hoặc chứa trong một “giá sách ảo” – nơi tập hợp nhữngđoạn văn ngắn hoặc cả nội dung của một quyển sách hoàn chỉnh

Hiện nay trên thế giới, xu thế phát triển Thư viện số, xây dựng nguồn tàinguyên thông tin số đã trở thành một phần chủ đạo trong toàn cảnh hoạt động TTTV.Nguồn tài nguyên thông tin số trong các thư viện hiện đại sẽ đáp ứng mọi nhu cầuthông tin của người sử dụng một cách dễ dàng và nhanh chóng Vì thế trong thời đạibùng nổ thông tin ngày nay, tài nguyên số đóng vai trò chủ đạo cho sự phát triển củacác cơ quan TTTV

Kho tài nguyên thông tin số trong các thư viện số sẽ bao gồm tất cả các loại tàiliệu điện tử và các loại ấn phẩm; tạo ra một môi trường và cơ hội bình đẳng rộng mởcho tất cả mọi người đều có cơ hội sử dụng nguồn tài liệu học tập bởi các tài nguyên

số của thư viện số tồn tại ngoài những giới hạn về vật lý và quản lý của một thư việntruyền thống

Tính linh hoạt và khả năng đáp ứng của tài nguyên số trong nghiên cứu, đàotạo, thể hiện ở chỗ một bản tài liệu số có thể cùng lúc phục vụ cho nhiều đối tượngkhác nhau, không phụ thuộc vào số lượng người dùng, thời gian và vị trí địa lý củangười dùng tin

Tính hiệu quả của nguồn tài nguyên số là tiết kiệm thời gian và kinh phí Các

cơ quan TTTV sẽ đỡ tốn kinh phí xây dựng kho tàng, kinh phí bổ sung tài liệu, bảoquản và kinh phí trả lương cho người phục vụ Ngoài ra với sự gia tăng nhanh chóng

về số lượng, và giá cả tài liệu như hiện nay thì nguồn tài nguyên số là giải pháp hữuhiệu cho hoạt động chia sẻ tài liệu giữa các cơ quan TTTV Trên tất cả là giúp cho

Trang 16

người dùng tin được dễ dàng, thuận tiện, tiết kiệm được thời gian, tiền bạc trong việctìm kiếm khai thác thông tin.

Nguồn tài nguyên thông tin số là sự lựa chọn tối ưu để bảo tồn được tài liệu lâudài, các tài liệu quý hiếm, ngắn chặn những rủi ro hủy hoại do thời gian, thiên tai, khíhậu và tần suất sử dụng

Có thể thấy rằng, nguồn tài nguyên thông tin số với những ưu điểm của mìnhđóng vai trò quan trọng trong hoạt động của các cơ quan TTTV, đẩy mạnh sự hoạtđộng của các cơ quan Nguồn tài nguyên số sẽ là nguồn tài nguyên chủ đạo trongchiến lược xây dựng phát triển của các cơ quan TTTV hiện nay Xây dựng nguồn tàinguyên số chính là một xu thế tất yếu vì mục đích sao lưu, bảo quản tài liệu, mở rộngđối tượng phục vụ và chia sẻ tài nguyên, tận dụng tối đa và có hiệu quả hệ thống cơ sởvật chất và trang thiết bị hiện đại

1.2.2 Vai trò nguồn tài nguyên thông tin số đối với ngành Luật nói riêng

Hiện nay, số lượng tài liệu trong các cơ quan TTTV đều gia tăng một cáchnhanh chóng, phong phú về cả số lượng và chất lượng, với số tài liệu ngày càng nhiềuthì các cơ quan TTTV đều nghĩ ra cách lưu giữ, bảo quản, phục vụ nguồn tài liệu mộtcách hiệu quả nhất là vấn đề quan trọng Đối với ngành Luật nói riêng, vấn đề này cầnphải đặt ra một cách cấp bách

Sự phát triển của các thư viện ngành Luật hiện nay đóng vai trò quan trọng vào

sự đáp ứng nhu cầu các đối tượng người dùng tin Không chỉ là các đối tượng ngườidùng chuyên ngành Luật mà còn là đông đảo đối tượng người dùng tin các tầng lớp.Điều này là hiển nhiên khi mà Việt Nam đang trong quá trình xây dựng nhà nướcpháp quyền định hướng xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện hệ thống pháp luật Vai trò củathư viện ngành Luật đã được khẳng định

Tại một số thư viện ngành Luật ở Hà Nội, nguồn lực thông tin pháp luật tồn tạisong song ở hai dạng điện tử và truyền thống, tuy nhiên chưa đáp ứng được nhu cầucủa người dùng tin Mỗi thư viện ngành Luật lại có những thế mạnh, những khả năngriêng có thể liên kết chia sẻ nguồn lực thông tin, hỗ trợ cho nhau cùng hoạt động, pháttriển Để làm được điều này, tài nguyên số giữ vai trò chủ đạo

Trang 17

Chỉ có xây dựng phát triển tài nguyên số, thì các thư viện ngành Luật mới cóthể tận dụng khai thác chính những lợi ích, vai trò mà nguồn thông tin số mang lại Đó

là tính linh hoạt, hiệu quả hay khả năng chia sẻ… của tài nguyên số

Tài nguyên thông tin số có vai trò quan trọng trong hoạt động TTTV nói chung

và ngành Luật nói riêng Những lợi ích của nó tác động tới ngành TTTV, cũng chính

là tác động tới ngành Luật Trên thực tế sự phát triển của các thư viện ngành Luật hiệnnay, thì xây dựng phát triển tài nguyên số là hoạt động cấp bách cần thực hiện Khi

mà nhu cầu thông tin đang ngày càng biến đổi, phát triển nhanh chóng, vừa bao quát,vừa chuyên sâu trong nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cán bộ, học tập của sinhviên, nghiên cứu của các chuyên gia khi mà dạng thông tin truyền thống khôngmang lại nhiều lợi ích tối ưu như thông tin số, khi mà các thư viện ngành Luật cầnphải tiến hành chia sẻ nguồn lực thông tin…thì xây dựng bộ sưu tập số, tài nguyên số

sẽ là câu trả lời cho tất cả các vấn đề đó

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ cùng với xu thế hội nhập lànhững đòi hỏi và thách thức cho ngành TTTV nói chung và cho thư viện ngành Luậtnói riêng cần phải có những đổi mới hoạt động, bắt kịp những tiến bộ của thời đạiphục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Với vai tròcủa nguồn thông tin số, thiết nghĩ xây dựng phát triển thông tin số sẽ là việc làm cầnthiết, một động thái tích cực để đổi mới phương pháp phục vụ nhằm góp phần nângcao chất lượng hiệu quả phục vụ người dùng tin

1.3 Khái quát về một số cơ quan thông tin – thư viện ngành Luật ở Hà Nội

1.3.1 Lịch sử ra đời và phát triển

Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Luật Hà Nội

Trung tâm TTTV Trường Đại học Luật Hà Nội có quá trình hình thành và pháttriển gắn liền với lịch sử phát triển của nhà trường Thư viện trở thành đơn vị độc lậptrực thuộc Ban Giám hiệu theo quyết định số: 49 ngày 21 tháng 1 năm 1988 của Hiệutrưởng và hoạt động theo Quy định về tổ chức và hoạt động của thư viện trường đạihọc (Quyết định số 688/ĐH ngày 14/7/1986 của Bộ ĐH-THCN) Ngày 24/12/2009,hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội đã ban hành Quyết định số 2233/QĐ-TCCBthành lập Trung tâm TTTV trên cơ sở Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 18

Là một thư viện chuyên ngành Luật, trung tâm có chức năng thông tin và thưviện, phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, tư vấn pháp luật và quản lý củaNhà trường

Trung tâm tổ chức thu thập khai thác và sử dụng các nguồn tài liệu chuyênngành luật và các chuyên ngành khác nhằm truyền bá tri thức, cung cấp thông tinphục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu của các đối tượng bạn đọc góp phần nâng caodân trí, bồi dưỡng nhân lực phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội

Với chức năng như vậy Trung tâm đề ra những nhiệm vụ cụ thể:

+Tham mưu giúp Hiệu trưởng xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển TTTVdài hạn và ngắn hạn; Tổ chức và điều phối toàn bộ hệ thống thông tin, tư liệu thư việntrong Nhà trường;

+Bổ sung, phát triển nguồn lực thông tin trong nước và nước ngoài đáp ứngnhu cầu giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học và tư vấn pháp luật; thu nhận lưuchiểu các tài liệu do trường xuất bản: các công trình nghiên cứu khoa học đã đượcnghiệm thu, tài liệu hội nghị, hội thảo, khoá luận, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ,chương trình đào tạo, giáo trình, tập bài giảng và các dạng tài liệu khác của nhàtrường; các ấn phẩm tài trợ, biếu tặng, tài liệu trao đổi giữa các thư viện;

+Tổ chức xử lý, sắp xếp, lưu trữ, bảo quản, quản lý tài liệu và thông tin; xâydựng hệ thống tra cứu thông tin hiện đại, thiết lập mạng lưới truy cập và tìm kiếmthông tin tự động hóa; xây dựng, quản lý các cơ sở dữ liệu, các bộ sưu tập; biên soạn,xuất bản các ấn phẩm thông tin theo quy định của pháp luật;

+Tổ chức phục vụ, hướng dẫn cho bạn đọc khai thác, tiếp cận, sử dụng hiệuquả các nguồn thông tin, tài liệu có trong thư viện và các sản phẩm, dịch vụ thông tincủa Trung tâm

+Nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, các tiêu chuẩn

về xử lý thông tin và các ứng dụng của công nghệ thông tin vào công tác TTTV;

+Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ,ngoại ngữ, tin học cho viên chức của Trung tâm để phát triển nguồn nhân lực có chấtlượng nhằm nâng cao hiệu quả công tác;

Trang 19

+Tổ chức, quản lý cán bộ, tài sản theo sự phân cấp của Hiệu trưởng; bảo quản,kiểm kê định kỳ vốn tài liệu, cơ sở vật chất kỹ thuật và các tài sản khác của thư viện;tiến hành thanh lý các tài liệu lạc hậu, hư nát theo quy định của cơ quan quản lý nhànước và của trường;

+Mở rộng hợp tác với các cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế về lĩnh vựcTTTV, tham gia các hoạt động về nghiệp vụ với hệ thống thư viện trong cả nướcnhằm thúc đẩy sự nghiệp thư viện Việt Nam phát triển, liên kết hợp tác với các thưviện luật trong và ngoài nước để phối hợp bổ sung và trao đổi tài liệu, chia sẻ nguồnlực thông tin, dữ liệu biên mục, tổ chức dịch vụ mượn liên thư viện, dịch vụ cung cấpthông tin qua mạng;

+Phối hợp chặt chẽ với các đơn vị khác trong trường để hoàn thành tốt cácnhiệm vụ được giao

+Thực hiện báo cáo định kỳ tháng, quý, năm và báo cáo đột xuất về tình hìnhhoạt động của Trung tâm TTTV với Ban giám hiệu và cấp có thẩm quyền

Hiện nay Trung tâm TTTV trường Đại học Luật Hà Nội đã xác định rõ vai tròcủa mình trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động nhằm đáp ứng các nhu cầu ngàycàng cao của các đối tượng người dùng tin trong nhà trường

Trung tâm Thông tin – Thư viện và Nghiên cứu Khoa học của Văn phòng Quốc hội

Trung tâm Thông tin – Thư viện và Nghiên cứu Khoa học (TTTTTV&NCKH)thuộc Văn phòng Quốc hội, chịu sự quản lý của Văn phòng Quốc hội, nên hoạt độngcủa TTTTTV&NCKH tập trung vào việc phục vụ các cơ quan của Quốc Hội, các đạibiểu Quốc hội, các cơ quan và các vị lãnh đạo Đảng, Chính phủ thông qua việc bảođảm thông tin đối với các vấn đề, lĩnh vực có liên quan tới việc lập pháp của Nhànước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thông tin phục vụ công tác chỉ đạo, giámsát của Quốc hội đối với hoạt động của Chính phủ (hoạt động của các Bộ, ngành, địaphương) trên phạm vi cả nước

Bên cạnh đó trung tâm còn bảo đảm thông tin cho các vị đại biểu Quốc hội tạicác kỳ họp Quốc hội

Triển khai và trực tiếp tham gia, chỉ đạo các hoạt động thông tin phục vụ cácchương trình hoạt động của Quốc hội trên các phạm vi

Trang 20

Thực hiện việc trao đổi thông tin giữa các cơ quan thông tin, thư viện của Quốchội các nước trong khuôn khổ đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội phê duyệt.

Với những chức năng, nhiệm vụ cụ thể, trung tâm ngày càng thể hiện được vaitrò của mình, phát huy tốt nhất hiệu quả hoạt động, đáp ứng nhu cầu tin, nhu cầunghiên cứu, hoạch định chính sách của cán bộ, lãnh đạo một cách cao nhất Trung tâm

có Thư viện là đơn vị chuyên trách quản lý tổ chức tài liệu, cung cấp cho người dùngtin là các đại biểu Quốc hội, các cán bộ Trung tâm Thư viện trực thuộc Trung tâm

Thư viện Viện Nhà nước và Pháp luật

Viện Nhà nước và Pháp luật đã trải qua 40 năm xây dựng và phát triển Bốn mươi năm - đó là cả một chặng đường dài không ngừng phấn đấu và trưởng thành vềmọi mặt của tập thể cán bộ, viên chức, công chức Viện Nhà nước và Pháp luật

Nhiệm vụ chủ yếu hiện nay của Viện Nhà nước và Pháp luật là nghiên cứu cơbản về hệ thống chính trị, Nhà nước và pháp luật; nghiên cứu những vấn đề lý luận vèthực tiễn về tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, bộ máy nhànước và hệ thống pháp luật; kết hợp nghiên cứu với đào tạo trong lĩnh vực Nhà nước

và pháp luật, thực hiện đào tạo sau đại học theo quy định của pháp luật, tham gia pháttriển nguồn nhân lực có trình độ cao theo yêu cầu của Viện Khoa học Xã hội ViệtNam và các cơ quan khác; tổ chức thẩm định và tham gia thẩm định về mặt khoa họccác chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội ở các Bộ, ngành, địa phương theo

sự phân công của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, thực hiện các tư vấn khoa học phùhợp với chức năng và nhiệm vụ của Viện

Trải qua 40 năm xây dựng và phát triển của Viện Nhà nước và Pháp luật, sựquan tâm của lãnh đạo Viện, Phòng Thông tin – Tư liệu – Thư viện (nay là Thư viện)

đã được hình thành và phát triển ngay từ những ngày đầu xây dựng Viện Chức năngđầu tiên của Thư viện là thu thập tàng trữ và bảo quan tư liệu Phòng Thông Tin – Tưliệu – Thư viện có nhiệm vụ sưu tầm, thu thập, bổ sung đầy đủ các tư liệu, sách, báochí trong nước và nước ngoài phục vụ đắc lực cho việc nghiên cứu và giảng dạy củacán bộ trong Viện, nghiên cứu sinh, học viên cao học của Viện, cán bộ của một số Bộ,trường đại học có liên quan đến ngành luật

Ngay từ những ngày đầu mới hình thành, Thư viện đã có cán bộ chuyên trách,quản lý thư viện là cán bộ được đào tạo đúng ngành thư viện, do đó đã xây dựng và

Trang 21

định hướng các hoạt động của thư viện theo đúng chuyên môn Thư viện của Việnlàm việc có nề nếp, tinh thần thái độ phục tốt, đảm bảo đúng nguyên tắc Các cán bộtrong phòng đều là những người gắn bó lâu năm với Viện, đều được đào tạo phù hợpvới công việc, là những người tâm huyết yêu nghề, có cố gắng học hỏi để nâng caotrình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

Thư viện Viện đã thu hút được nhiều cán bộ nghiên cứu trong và ngoài Viện,các chuyên gia cho việc xây dựng và phát triển cơ sở dữ liệu tài liệu của Viện cũngnhư việc dịch, lược dịch, lược thuật tài liệu để phục vụ tốt công tác nghiên cứu đàotạo của Viện

Cùng với sự phát triển lớn mạnh của Viện, Thư viện đã từng bước xây dựng ,phát triển nâng cao hiệu quả công tác phục vụ bạn đọc Nhờ có sự định hướng hoạtđộng của Phòng Thông tin – Tư liệu – Thư viện một cách chính xác hiệu quả, phòng

đã xây dựng và phát triển được nhiều loại hình công tác phục vụ bạn đọc: từ việc kịpthời giới thiệu vốn tư liệu phong phú, phát triển công tác dịch, lược dịch các tư liệuquý hiếm, việc tổ chức ra các tập thông tin chuyên đề phục vụ các cấp lãnh đạo…đếnviệc phát triển công tác thư mục, trong từng giai đoạn lịch sử của đất nước

Thư viện Học viện Tư pháp

Thư viện Học viện Tư pháp là một thư viện chuyên ngành, ra đời và phát triểncùng quá trình phát triển của Học viện Tư pháp với nhiệm vụ tổ chức và cung cấp cácdịch vụ thông tin tư liệu phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập nghiên cứu khoa học(NCKH) của hơn 100 cán bộ, giảng viên và toàn bộ học viên của các lớp đào tạo Luật

sư, Thẩm phán, Kiểm sát viên, Chấp hành viên, Công chứng viên…làm việc và họctập tại Học viện Tư pháp

Thư viện có quy mô nhỏ và còn nhiều khó khăn nhưng Ban Giám đốc Họcviện nói chung và Lãnh đạo Thư viện nói riêng luôn quan tâm phát triển vốn tài liệu,làm phong phú nguồn thông tin tri thức để phục vụ bạn đọc ngày càng tốt hơn Nguồntài liệu của Thư viện được bổ sung hàng năm là các đầu báo, đầu sách, tạp chí chuyênngành, các công trình khoa học, băng ghi âm, ghi hình, các ấn phẩm luật học trong vàngoài nước Đặc biệt, xuất phát từ đặc thù về đối tượng và lĩnh vực đào tạo nghề luật,được sự quan tâm và phối hợp của các cơ quan Tư pháp trong cả nước, Thư viện Họcviện Tư pháp đã và đang sưu tầm, quản lý nhiều bộ hồ sơ của các vụ án điển hình để phục vụ cho công tác học tập và nghiên cứu của Học viện Hồ sơ vụ án chiếm 50% số

Trang 22

lượng các loại hình tài liệu có trong thư viện và cũng là tài liệu được bạn đọc sử dụngnhiều nhất vì theo nguyên lý đào tạo của Học viện Tư pháp, học viên sẽ học bằngcách áp dụng lý thuyết vào giải quyết các hồ sơ thực tế Nhằm mục đích giúp bạn đọc

dễ dàng tiếp cận nguồn tài liệu quý giá này, Thư viện Học viện Tư pháp sẽ từng bướccập nhật lên Website của Học viện

Hiện nay, Thư viện đã được trang bị máy tính nối mạng Internet để bạn đọc cóthể tra cứu thông tin, phục vụ cho công việc học tập và nghiên cứu

Các cán bộ làm việc tại Thư viện không chỉ đơn thuần là quản lý và cho mượntài liệu mà họ còn rất nhiệt tình trong việc giới thiệu với bạn đọc những tài liệu liênquan đến chuyên ngành học, hướng dẫn giúp bạn đọc dễ dàng tra cứu những tài liệu

mà họ cần

Bằng những việc làm cụ thể và thiết thực đó, Thư viện Học viện Tư pháp phấnđấu trở thành một thư viện hiện đại với mong muốn được phục vụ bạn đọc ngày càngtốt hơn

1.3.2 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ

Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Luật Hà Nội

Trung tâm là một đơn vị trực thuộc Ban giám hiệu trong cơ cấu tổ chức củatrường đại học Luật Hà Nội với bộ máy tổ chức gồm Ban giám đốc và các phòngchuyên môn

Hiện nay, Trung tâm có tổng số 19 cán bộ viên chức, có trình độ chuyên mônnghiệp vụ về TTTV và Luật học trong đó có 03 thạc sỹ TTTV (02 thạc sỹ chuyênngành khoa học Thư viện,), 12 cử nhân chuyên ngành Thông tin – Thư viện, 4 cửnhân chuyên ngành Luật, 2 trung cấp Ngoài ra, trung tâm còn có 2 cán bộ hợp đồng.Đội ngũ cán bộ thường xuyên được cử đi đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ ở trong vàngoài nước để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tin học và ngoại ngữ

Đội ngũ cán bộ được tổ chức như sau:

- Tổ nghiệp vụ : 03 cán bộ

- Tổ thông tin : 02 cán bộ

- Tổ phục vụ bạn đọc :13 cán bộ

Trang 23

Ban giám đốc gồm một giám đốc là ThS Lê Thị Hạnh và một phó giám đốc làTh.s Phạm Thị Mai.

Trung tâm Thông tin – Thư viện và Nghiên cứu Khoa học của Văn phòng Quốc hội

Hiện trung tâm có số lượng 39 cán bộ viên chức có trình độ chuyên môn vềnhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm TTTV, Công nghệ thông tin, Luật…Tất cả cán bộcủa Trung tâm đều có trình độ cử nhân trở lên Thư viện là một bộ phận trực thuộcTrung tâm

Phó giám đốc trung tâm chịu trách nhiệm phụ trách Thư viện Thư viện hiện có

6 cán bộ Trong đó có 3 thạc sĩ, 2 cử nhân và 1 cao đẳng

Thư viện Viện Nhà nước và Pháp luật

Thư viện hiện có 6 cán bộ viên chức Trong đó có 1 thạc sĩ và 5 cử nhân Cáccán bộ tại thư viện có trình độ chuyên môn về TTTV, luật và công nghệ thông tin

Thư viện được cơ cấu với 1 trưởng phòng phụ trách chung; 2 phó phòng: 1 phóphòng đảm nhiệm mảng thư viện, 1 phó phòng đảm nhiệm mảng thông tin tư liệu; 1cán bộ phụ trách công nghệ, hệ thống mạng của thư viện; và 1 thủ thư

Thư viện Học viện Tư pháp

Thư viện Học viện Tư pháp hiện chỉ có 3 cán bộ Cả ba cán bộ đều có trình độ

cử nhân ngành TTTV và ngành Luật

Thư viện được tổ chức với 1 thư viện viên chính phụ trách chung, 1 cán bộquản lý mảng hồ sơ và tạp chí, 1 cán bộ phụ trách về sách giáo trình và sách thamkhảo

Do đặc điểm quy mô của thư viện nên số lượng cán bộ của thư viện còn hạnchế

1.3.3 Đặc điểm cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin

Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Luật Hà Nội

Cơ sở vật chất, thiết bị và hạ tầng thông tin được trang bị đồng bộ, hiện đại: Hệthống các phòng phục vụ bao gồm: phòng đọc trên 400 chỗ ngồi, phòng mượn sách

Trang 24

giáo trình và tài liệu tham khảo, phòng tra cứu Internet và đào tạo người dùng tin,trung tâm dữ liệu tiếng Anh, hệ thống máy tính phục vụ bạn đọc gồm 122 máy đượctính nối mạng Internet, khu vực Trung tâm TTTV được trang bị hệ thống mạng không dây (Wireless) Hệ thống giá sách, bàn ghế, ánh sáng, điều hoà nhiệt độ, cácthiết bị sao chụp, in ấn tài liệu hiện đại.

- Hệ thống máy tính gồm : 122 máy ( phòng đọc 1: 17 máy, khu vực hànhlang tầng 1 : 20 máy, phòng đọc 2 : 71 máy, phòng đào tạo người dùng tin : 24 máy)

- Hệ thống máy in , máy photocopy phục vụ việc in ấn và sao chụp tài liệu(phòng đọc 1: 02 máy, phòng đọc 2 : 2 máy,phòng đào tạo người dùng tin 1 máy)Với hệ thống cơ sở vật chất như vậy , Trung tâm đã góp phần tạo điều kiệnthuận lợi cho việc phát triển hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ và đáp ứngnhu cầu của NDT tại Trung tâm

Trung tâm Thông tin – Thư viện và Nghiên cứu Khoa học của Văn phòng Quốc hội

Trung tâm được trang bị hệ thống cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng hiện đại Đó là

hệ thống trang thiết bị phục vụ bạn đọc mới, cùng các trang thiết bị như máy tính,máy in, máy photo…được trang bị hiện đại, phục vụ người dùng tin Diện tích phục

vụ bạn đọc cũng được quan tâm chú trọng, mở rộng Hiện Trung tâm đang xây dựngthêm một địa điểm đó là ở 37 Hùng Vương Vì vậy, phòng đọc sẽ được tổ chức ở haiđịa điểm là 37 Hùng Vương và 35 Ngô Quyền Có phòng xử lý báo tạp chí, phòngCSDL sách và phòng bổ sung

Hàng năm, Trung tâm được ban lãnh đạo quan tâm đầu tư kinh phí để bổ sungtài liệu sách, báo, tạp chí…triển khai các hoạt động của thư viện; mua sắm, nâng cấp

cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết để phục vụ cho công tác thư viện

Thư viện Viện Nhà nước và Pháp luật

Thư viện của Viện chỉ có 5 máy tính trong đó có một máy tính phòng đọc và 4máy tính phòng nghiệp vụ Như vậy nhu cầu tra cứu của bạn đọc chỉ được sử dụngtrên một máy tính, sẽ làm giảm khả năng cũng như thời gian tìm tin của bạn đọc Hệ

Trang 25

thống máy in, máy photo phục vụ bạn đọc cũng hạn chế Tuy nhiên thì những hìnhthức phục vụ đó đều là miễn phí đối với bạn đọc.

Diện tích phục vụ bạn đọc cũng hạn chế khi thư viện chỉ có 3 phòng: 1 phòngđọc, 1 phòng nghiệp vụ, 1 phòng kho

Với cơ sở vật chất thiếu thốn như vậy, phần nào đã làm giảm đi hiệu quả phục

vụ bạn đọc của thư viện Đây là một hạn chế đã và đang được các lãnh đạo, cán bộcủa thư viện nghiên cứu và tìm ra giải pháp tốt nhất nhằm mục tiêu cuối cùng phục

vụ, đáp ứng tốt nhu cầu người dùng tin

Thư viện Học viện Tư pháp

Tương ứng với nguồn tài liệu và quy mô của Thư viện còn hạn chế, Thư việnhọc viện tư pháp có cơ sở vật chất nghèo nàn Chỉ gồm hai phòng:

Phòng đọc: Chủ yếu là sách tham khảo

Phòng mượn: Chủ yếu là sách giáo trình, hồ sơ tình huống

Thư viện đang sử dụng phần mềm Vilas

Hệ thống máy tính: 6 máy với 1 máy chủ và 5 máy con

Hệ thống trả mượn sách tại thư viện đã được tự động hóa Do điều kiện cònhạn chế nên người dùng tin chỉ có thể sử dụng mạng Lan, thư viện chưa có mạng wifi

1.3.4 Đặc điểm nhu cầu tin của người dùng tin

Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Luật Hà Nội

Như đã biết, số lượng người dùng tin tại Trung tâm chủ yếu là sinh viên (90%).Qua điều tra bảng hỏi, đã cho ra một số kết quả phản ánh phần nào nhu cầu tin củabạn đọc tại trung tâm:

Nhu cầu sử dụng thông tin số về các lĩnh lực tri thức đa dạng và phong phúnhư về kinh tế, thương mại, lịch sử, địa lý…nhưng mức độ thường xuyên và chủ yếuquan tâm nhất vẫn là Luật (90%) Mức độ quan tâm lĩnh vực trong ngành Luật hết sức

đa dạng như Luật kinh tế, Luật hình sự, Luật dân sự, Luật hành chính nhà nước…

Rất quan tâm Quan tâm Ít quan tâm Không bao giờ

Trang 26

Bảng 1: Nhu cầu tin lĩnh vực ngành Luật tại Trung tâm TTTV Đại học Luật

Theo bảng thống kê, có thể thấy bạn đọc quan tâm hết sức đa dạng các lĩnh vựctrong ngành Luật, tuy nhiên, nhiều nhất là Luật kinh tế và Luật hình sự Chiếm tỉ lệquan tâm ít nhất là Luật dân sự, Luật hành chính Nhà nước

Ý kiến bạn đọc đánh giá về mức độ đáp ứng nội dung tài liệu của cơ quan chủyếu là rất tốt (3%) và tốt (77%) Có 20% bạn đọc đánh giá chưa tốt

Nhu cầu khai thác tài liệu Luật dưới dạng số chiếm 84% Hình thức sử dụng tàiliệu số cũng đa dạng như CSDL toàn văn (54%), CSDL thư mục (26%), CSDL dữkiện (10%), khác (10%)

Bạn đọc chủ yếu khai thác tài liệu số qua cổng thông tin của thư viện (70%),google(100%)…

Ngôn ngữ tài liệu bạn đọc thường sử dụng là tiếng Việt (100%) và tiếng Anh(36%)

Trung tâm Thông tin – Thư viện và Nghiên cứu Khoa học của Văn phòng Quốc hội

Do việc bảo mật của Trung tâm nên tác giả không được phát bảng hỏi khảo sátnhu cầu tin, mà chỉ được phép nghiên cứu tìm hiểu tài liệu, một số thông tin về nhucầu tin của đại biểu Quốc hội khóa 12, phóng vấn cán bộ Trung tâm, để thấy được nhucầu tin của người dùng tin tại Trung tâm

Trang 27

Lĩnh vực Đại biểu Quốc hội quan tâm phong phú đa dạng, đặc biệt là Phápluật, Kinh tế, Chính trị, Xã hội, Y tế, Giáo dục Hình thức thông tin được các đại biểu

ưu tiên sử dụng là thông tin tham khảo chuyên đề, thông tin hỏi – đáp, CSDL…

Nhu cầu sử dụng ngôn ngữ tư liệu của các Đại biểu Quốc hội chủ yếu là tiếngViệt Bên cạnh đó, sử dụng đa dạng các loại ngôn ngữ khác như Anh, Pháp, Nga,Đức…

Mức độ quan tâm của Đại biểu Quốc hội đối với nguồn thông tin như CSDLtrên máy tính, thông tin chuyên đề, phương tiện thông tin đại chúng, hay qua tiếp xúc

0.4 0 0

20 40 60 80 100

thường

Chưa tốt

ĐBQH Thư ký ĐBQH

Biểu đồ 1: Đánh giá về chất lượng thông tin, nghiên cứu do Trung tâm cung cấp

Thư viện Viện Nhà nước và Pháp luật

Là một Thư viện với đối tượng phục vụ bạn đọc còn hạn chế, đặc điểm nhu cầutin của bạn đọc tại Thư viện cũng có những nét riêng

Nhu cầu sử dụng thông tin số về các lĩnh lực tri thức cũng đa dạng và phongphú như về kinh tế, thương mại, lịch sử, địa lý…và quan tâm nhất vẫn là Luật (66%)

Trang 28

Mức độ quan tâm lĩnh vực về ngành Luật cũng đa dạng: Luật kinh tế, Luật hình sự,Luật dân sự… Nhu cầu khai thác tài liệu Luật dưới dạng số chiếm 94% và đa dạngcác hình thức sử dụng: CSDL toàn văn (20%), CSDL dữ kiện (36%), CSDL thư mục(30%)…Trên cơ sở đó truy cập tài liệu số qua nhiều kênh khác nhau như cổng thôngtin của thư viện khác(46%), goodle (70%), người quen cung cấp (36%)…

Bảng 2: Nhu cầu tin lĩnh vực ngành Luật tại Thư viện Viện Nhà nước và Pháp luật

Bảng thống kê cho thấy, nhu cầu tin về lĩnh vực ngành Luật đa dạng và đồngđều Chiếm tỉ lệ quan tâm cao nhất là Luật thương mại, Luật dân sự Ít nhất là Luậtquốc tế kinh doanh

Bạn đọc tại Thư viện sử dụng tài liệu bằng nhiều ngôn ngữ, nhưng chủ yếu làtiếng Việt và tiếng Anh, bên cạnh là một số ngôn ngữ khác như tiếng Đức, tiếng Nga,tiếng Nhật, tuy nhiên số lượng ít

16% bạn đọc cho ý kiến đánh giá mức độ đáp ứng nội dung tài liệu của thưviện là rất tốt, 60% cho ý kiến tốt và 23% cho ý kiến chưa tốt

Thư viện Học viện Tư pháp

Đối tượng người dùng tin tại Thư viện chủ yếu là cán bộ, giảng viên, học viêncủa Học viện Một đối tượng nữa là các thành phần như Luật sư, Thẩm phán…Nhucầu khai thác thông tin về các lĩnh vực tri thức cũng đa dạng, và chú trọng vào ngành

Trang 29

Luật (98%) Các lĩnh vực chuyên sâu trong ngành Luật đều được các đối tượng bạnđọc quan tâm với tần suất cao: Luật kinh tế, Luật hành chính nhà nước, Luật thươngmại…

Bảng 3: Nhu cầu tin lĩnh vực ngành Luật tại Thư viện Học viện Tư pháp

Cũng theo bảng thống kê thì Luật kinh tế và Luật dân sự là 2 lĩnh vực đượcquan tâm nhiều nhất Mức độ quan tâm ít nhất là Luật hành chính Nhà nước

Nhu cầu khai thác tài liệu Luật dưới dạng số chiếm 80% Hình thức sử dụng tàiliệu số cũng đa dạng như CSDL toàn văn (43%), CSDL thư mục (46%)…

Bạn đọc chủ yếu khai thác tài liệu số qua cổng thông tin của thư viện (56%),google(87%), qua người quen cung cấp (23%), cổng thông tin thư viện khác (16%)

Ngôn ngữ tài liệu bạn đọc thường sử dụng là tiếng Việt (100%) và tiếng Anh(36%)

67% bạn đọc cho ý kiến mức độ đáp ứng nội dung tài liệu của cơ quan là tốt.Tuy nhiên có một số lượng lớn tới 33% cho ý kiến không tốt Như vậy nhu cầu ngườidùng tin chưa được đáp ứng tốt nhất

1.4 Các yếu tố tác động đến việc phát triển tài nguyên thông tin số

1.4.1 Chính sách phát triển nguồn tài nguyên thông tin số

Trang 30

Xây dựng, phát triển tài nguyên số đang là xu hướng tất yếu ở tất cả các nướctrên thế giới, trong đó có Việt Nam Để xây dựng phát triển được nguồn tài nguyên sốtheo đúng nghĩa, cần có những đánh giá chính xác về thực trạng và nhu cầu của thưviện, từ đó có quan điểm thống nhất, có cách tiếp cận đúng đắn và lựa chọn nhữngbước đi thích hợp Chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước, của chính các cơquan TTTV là một trong những yếu tố hàng đầu tác động tới hoạt động sứ mệnh này.

Năm 2002, Chính phủ ra Nghị định số 72/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thihành Pháp lệnh Thư viện Tại chương IV điều 14 có viết: “Bảo đảm kinh phí cho cácthư viện phát triển vốn tài liệu, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, theo hướng hiện đạihóa, từng bước thực hiện điện tử hóa, tự động hóa, xây dựng thư viện điện tử, tạocảnh quan môi trường văn hóa nhằm nâng cao chất lượng người đọc, tổ chức khaithác, sử dụng vốn tài liệu, thông tin và các hoạt động khác của thư viện theo đúng chỉtiêu, kế hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt” [2, tr.6] Đây làmột bước chuyển biến lớn trong việc định hướng cho các thư viện phát triển nguồnlực thông tin của mình Nghị định ra đời đáp ứng theo nhu cầu phát triển của xã hội,khi mà sự phát triển của công nghệ thông tin đang tác động vào mọi mặt của đời sống

xã hội Các văn bản pháp quy tiếp tục được ra đời nhằm cụ thể hóa hơn hoạt độngphát triển thư viện cũng như khẳng định nhiệm vụ vai trò của thư viện hơn nữa

Tại chương IV điều 23 của Pháp lệnh Thư viện có viết: “Thư viện hoạt độngbằng ngân sách nhà nước, được thu phí đối với các hoạt động dịch vụ sao chụp, nhânbản tài liệu, biên dịch phù hợp pháp luật về bảo vệ quyền tác giả, biên soạn thư mục,phục vụ tài liệu tại nhà hay gửi qua bưu điện và một số dịch vụ khác theo yêu cầu củangười sử dụng vốn tài liệu thư viện” [4, tr.8]

Với thực tế công nghệ thông tin là một trong các động lực quan trọng nhất của

sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắcđời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại Ứng dụng và phát triển côngnghệ thông tin ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinhthần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoácác ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ cóhiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộcsống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu đểthực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Trên cơ sở đó: Chỉ thị

Trang 31

58-CT/TW của Bộ chính trị (khóa III) về “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tinphục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước” được ban hành.

Các văn bản pháp quy về công tác thư viện đã thể hiện rõ sự quan tâm củaĐảng – Nhà nước ta đối với sự phát triển của sự nghiệp thư viện nói chung và côngtác phát triển tài liệu số nói riêng Trên cơ sở đó, các cơ quan TTTV nói chung, và cácthư viện ngành Luật nói riêng xây dựng nên những chính sách phát triển thư viện của

cơ quan mình, hướng theo mục tiêu nhiệm vụ chiến lược của Đảng – Nhà nước

1.4.2 Quy mô cơ quan thông tin - thư viện

Vấn đề xây dựng, phát triển tài nguyên thông tin số hiện nay là nhiệm vụ chiếnlược đối với các cơ quan TTTV Tuy nhiên đây là nhiệm vụ khó khăn và nhiều tháchthức Bởi lẽ xây dựng, phát triển tài nguyên số và việc chia sẻ nó với bên ngoài đòihỏi sự đầu tư không nhỏ về cả nguồn lực tiền bạc và con người Các cơ quan TTTVhiện nay phải đánh giá được năng lực của mình để có thể quyết định chính xác Yếu

tố quy mô thư viện là yếu tố quan trọng quyết định việc có hay không việc xây dựngphát triển tài nguyên số Điều này đúng không chỉ đối với các cơ quan TTTV nóichung mà cả các thư viện ngành Luật nói riêng Nếu quy mô và tiềm lực của cơ quancòn hạn chế thì vấn đề xây dựng tài nguyên số là cả thách thức lớn trong một giaiđoạn phát triển Thực hiện nhiệm vụ này, đòi hỏi các cơ quan TTTV cần nhìn nhậnđánh giá đúng khả năng của cơ quan, để có thể ưu tiên phát triển các loại hình tài liệunào, xây dựng tài nguyên theo các phương thức nào

1.4.3 Kinh phí hoạt động

Một tác động mang tính sống còn đối với hoạt động xây dựng, phát triển tàinguyên số của các cơ quan TTTV – đó chính là kinh phí hoạt động Thực tế cho thấy,bất kỳ hoạt động riêng lẻ nào trong quá trình xây dựng, phát triển tài nguyên số đềuphụ thuộc vào tính khả thi của các nguồn kinh phí Ngân sách tài chính của các cơquan TTTV được cấp thường không phải lúc nào cũng đáp ứng được nhu cầu củangười dùng Do vậy, ngân sách này cần phải đảm bảo tính cân đối giữa các loạihình/khổ mẫu tài liệu và hình thức truy cập nhằm đáp ứng nhu cầu người dùng Chính

vì vậy đòi hỏi các cơ quan TTTV cần lên kế hoạch để kinh phí bổ sung phát triển tàinguyên số của mình đáp ứng được Điều này dựa trên sự phong phú và đa dạng củaloại hình, chủ đề tài liệu đối với các chuyên ngành đào tạo khác nhau; Sự phân phốitài liệu hợp lý đảm bảo nhu cầu truy nhập thông tin

Trang 32

Kinh phí có những ảnh hưởng trực tiếp nhất định đến việc lựa chọn, đặt mua và

bổ sung các nguồn tài nguyên thông tin đưa vào phục vụ Hơn nữa, với nguồn kinhphí phụ thuộc từ nhiều nguồn khác nhau đòi hỏi cán bộ làm công tác bổ sung cũngnhư các nhà quản lý có cái nhìn toàn diện hơn trong việc đưa ra chính sách phát triểntài nguyên số của cơ quan mình một cách hợp lý để vẫn đáp ứng được nhu cầu thôngtin của người dùng, khả năng duy trì hoạt động của cơ quan Khi các cơ quan TTTVcàng đảm bảo khả năng cung cấp thông tin của mình nhằm đáp ứng nhu cầu và duy trìngười dùng, thì các nguồn tài chính sử dụng để mua tài liệu hay quyền truy cập thôngtin càng trở nên hạn chế Chính vì thế mà nghiên cứu định hướng chiến lược cần phảiphù hợp với các phương thức, công cụ quản lý trong môi trường hiện tại Thế nên đôikhi sự thiếu hụt về kinh phí không tránh khỏi, dẫn đến việc tỷ lệ hóa các bộ sưu tậpvới các mục đích và chính sách phục vụ khác nhau – trở thành một hoạt động quantrọng đối với người quản lý cũng như người trực tiếp làm công tác bổ sung tài liệu,quá trình bổ sung tài liệu

Như đã nói, xây dựng một thư viện số, tài nguyên số là vấn đề không nhỏ vềnhân lực, vật lực Đây là chiến lược phát triển mang lại hiệu quả trong tương lai,nhưng là sự đòi hỏi đầy thách thức của các yếu tố đảm bảo Chi phí để xây dựng vàduy trì phát triển tài nguyên số của các cơ quan là vấn đề cốt lõi hàng đầu Bởi sự đòihỏi của công nghệ hiện đại, phương thức hoạt động hiện đại…và từ chính nguồn ngânsách được cấp còn eo hẹp Chính vì vậy mà đối với tất cả các cơ quan TTTV nóichung, ngành Luật nói riêng cần hết sức chú tâm tới vấn đề này Cần phải có chiếnlược hoạch định kinh phí rõ ràng cũng như thu hút các nguồn tài trợ, tìm kiếm kinhphí hỗ trợ cho sự hoạt động

1.4.4 Trình độ cán bộ

Trong thư viện số, dù có sự hỗ trợ của công nghệ, nhưng các cán bộ thư việnphải là người quản trị những Sưu tập số, nguồn tài liệu số của cơ quan Cán bộ thưviện phải trở thành những chuyên gia thông tin trong xã hội tri thức

Các thư viện số đòi hỏi phải có các cán bộ thư viện số Các bộ sưu tập số hóacần được chọn lọc, thu thập, tổ chức, tạo truy cập và bảo quản Các dịch vụ của thưviện số cần được thực hiện đúng kế hoạch, thực hiện đúng hợp đồng và được giúp đỡđầy đủ Các máy tính là các công cụ quan trọng nhất trong xây dựng các thư viện số

Trang 33

nhưng con người mới giúp cho các hoạt động trong thư viện kết hợp lại với nhau vàduy trì hoạt động của thư viện.

Nếu như trong thư viện truyền thống người cán bộ thư viện chỉ được biết đếnnhư là người trông coi sách, có nhiệm vụ giữ sách và cho mượn sách thì trong thời đạithư viện số vai trò của cán bộ thư viện thay đổi hoàn toàn Các công việc chính củacán bộ thư viện có thể vẫn là: thu thập tài liệu, thông tin, xử lý kỹ thuật tài liệu, làmphân loại, biên mục, tổ chức các hình thức phục vụ, nhưng chất của công việc đã thayđổi cơ bản Người cán bộ thư viện được xem như là người tổ chức và chuyên giathông tin, môi trường làm việc của họ là môi trường "số" Nhiệm vụ của một cán bộthư viện số được xem xét với các góc độ sau:

 Thu thập tư liệu: Lựa chọn, bổ sung, xử lý, bảo quản, tổ chức phục vụ các bộsưu tập số;

 Thiết kế cấu trúc kỹ thuật cho thư viện số;

 Biên mục: Mô tả nội dung tài liệu số (siêu dữ liệu);

 Xây dựng kế hoạch, hỗ trợ các dịch vụ số (định hướng thông tin, tư vấnchuyển giao…);

 Tạo lập các giao diện thân thiện với người sử dụng trong hệ thống mạng;

 Xây dựng các chính sánh, tiêu chuẩn liên quan đến thư viện;

 Thiết kế, duy trì và chuyển giao các sản phẩm thông tin chất lượng cao vớigiá trị gia tăng;

 Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với thông tin số trong môi trường mạng;

 Bảo đảm an ninh thông tin

 Hình thức, phương thức phục vụ

Cho dù phục vụ thư viện truyền thống hay thư viện số thì đối tượng và mụctiêu phục vụ vẫn là đáp ứng nhu cầu thông tin cho người dùng tin Tuy nhiên, trongthư viện truyền thống bạn đọc không có nhiều dịch vụ để lựa chọn ngoài việc đến thưviện tra tìm tài liệu qua các tủ mục lục truyền thống, ghi phiếu yêu cầu và thông quathủ thư mượn, đọc tài liệu in trên giấy Trong thư viện số, thủ thư có thể cung cấp chobạn đọc những dịch vụ đa dạng, linh hoạt bao gồm:

Trang 34

 Phân tích và xử lý các loại thông tin khác nhau;

 Thúc đẩy và tổ chức các giá trị tiềm ẩn trong mọi thông tin;

 Cung cấp những sản phẩm, dịch vụ thông tin có giá trị đúng lúc, đúng đốitượng

 Chuyển giao thông tin đến người dùng và cung cấp các dịch vụ chuyên biệt

có định hướng…

 Yêu cầu kiến thức, năng lực

Có kiến thức tổng hợp: để đáp ứng được yêu cầu của thư viên số, tài liệu số,người cán bộ thư viện cần có những kiến thức cơ bản về các ngành khoa học thư viện,khoa học thông tin, công nghệ thông tin, ngoại ngữ và một số chuyên ngành cụ thểkhác Khả năng nắm bắt thông tin cao:

+ Có phản ứng nhanh nhạy với các nguồn thông tin khác nhau;

+ Có kỹ năng trong việc tìm kiếm thông tin;

+ Có niềm đam mê trong công việc, ý thức xây dựng và cung cấp thông tin; + Có kỹ năng xử lý làm tăng giá trị của thông tin;

+ Có khả năng sàng lọc và đánh giá thông tin;

+ Có khả năng thu thập, bổ sung;

+ Có khả năng tổ chức, quản lý thông tin;

+ Có khả năng phổ biến thông tin đến người sử dụng đúng lúc, đúng đối tượng;+ Năng động, sáng tạo, tinh thần đồng đội cao, có tầm nhìn chiến lược, biết xây dựng

dự án

Nội dung Cán bộ thư viện truyền thống Cán bộ thư viện số

Vai trò trong xã hội Thu thập, phổ biến tư liệu Chuyên gia thông tin

Định hướng thông tinMôi trường làm việc Thư viện truyền thống Thư viện số

Trang 35

Nhóm độc giả Cố định Bất cứ người dùng kết nối mạng

máy tính

Cơ sở dịch vụ Bên trong toàn nhà thư viện Trên hệ mạng máy tính

Nội dung công việc Đơn điệu Đa dạng, phong phú

Đối tượng làm việc Tài liệu in Các bộ sưu tập số

Nội dung công việc Gửi giao tài liệu Định hướng thông tin, tư vấn và

chuyển giao công nghệ hiện đạiTrình độ làm việc Thấp ( Ngoại ngữ và CNTT ) Cao, chuyên nghiệp

Bảng 4: Sự khác nhau giữa thủ thư số và thủ thư truyền thống

Mặc dù các yêu cầu chung đối với các thư viện số hóa cũng giống như với các

bộ sưu tập phi số hóa, nhưng để tổ chức một bộ sưu tập số thì không hề giống với việc

tổ chức một bộ sưu tập in Nhiệm vụ và yêu cầu đặt ra đối với các cán bộ thư viện sốhiện nay không hề giống với những gì họ đã được học ở trường Hơn nữa đứng trước

sự phát triển như vũ bão của công nghệ thì kiến thức học được hôm nay sẽ sớm bị lạchậu nay mai Vì vậy người cán bộ thư viện cần có các khả năng cá nhân đặc biệt (dobẩm sinh) hơn là chuyên môn nghiệp vụ (do học tập tích lũy)

Các cán bộ thư viện phải thật nhạy bén với những thay đổi, họ phải học tập (cóchọn lọc) và thực hành thường xuyên Họ phải nhiệt tình với học tập, phải tự rènluyện và có tinh thần sẵn sàng đối mặt với những thách thức Hơn thế nữa, họ phải lànhững người có năng lực về công nghệ

Những cán bộ đáp ứng được các yêu cầu trên chính là những người sẽ áp dụngcác phương pháp mới, tiên tiến để hoàn thành nhiệm vụ truyền thống của ngành thưviện: chọn lọc, thu thập, tổ chức, cung cấp truy cập, và bảo quản nguồn lưu trữ trí tuệ

và nghệ thuật của loài người

Lĩnh vực chuyên môn thư viện đang rất cần có các chuyên viên trẻ, mới tốtnghiệp vì hiện nay rất nhiều thư viện truyền thống đang chuyển đổi sang thư viện số.Các công việc trong thư viện số sẽ thu hút đội ngũ chuyên viên thư viện kế cận

Trang 36

Nhiệm vụ chính của các cán bộ thư viện số là quản lý, lãnh đạo và các công tácliên quan đến trang web Nhiêm vụ quản lý tập trung vào phần lập kế hoạch và đánhgiá các dự án thư viện số, trong khi công tác lãnh đạo và chuyên môn trong lĩnh vựcthư viện số đòi hỏi các cán bộ thư viện số phải cộng tác với nhau và cả với người sửdụng

Các cán bộ thư viện số hiện nay rất chú trọng các kỹ năng về thông tin và quản

lý dự án để họ có thể chứng minh khả năng của mình trong các dự án hợp tác và làmviệc theo nhóm Các thư viện số sẽ vẫn thay đổi không ngừng nên các cán bộ thư viện

số phải có khả năng thích ứng được với sự thay đổi đó

Với thực tế như vậy, một cán bộ thư viện số cần đáp ứng được 2 yêu cầu: một

là phải có các kỹ năng như là kỹ năng về thông tin, về phân tích xu hướng; hai là phảitiếp tục nâng cao trình độ thông tin và kỹ thuật về tổ chức và công tác thực tiễn tronghoạt động xây dựng các thư viện số, các nguồn tài nguyên số

1.4.5 Vấn đề công nghệ

Khi xây dựng, phát triển tài nguyên số, việc lựa chọn công nghệ để tiến hànhrất quan trọng bởi vì nó là công cụ đắc lực giúp ta thực hiện các công việc trong quytrình tạo lập và vận hành Do đó công nghệ phải đáp ứng các yêu cầu:

Là công cụ, môi trường để đảm bảo các tài liệu số hóa sau khi được tạo lập sẽ

dễ dàng, thuận tiện cho người tiếp cận

Có đủ độ tin cậy cho người quản trị và kỹ thuật viên trong quá trình tạo lập,bảo quản và cung cấp dữ liệu trong quá trình hoạt động của tài liệu số

Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về chuẩn nghiệp vụ TTTV

Dễ dàng trao đổi dữ liệu với các chuẩn khác, có công cụ sao lưu an toàn dữliệu

Dựa theo các yêu cầu trên, để nguồn tài nguyên số phát huy được hết vai tròcủa mình, các cơ quan TTTV nói chung, ngành Luật nói riêng khi tạo lập tài nguyên

số cần phải có cơ sở hạ tầng sau:

Trang 37

- Phải có hệ thống mạng Internet được kết nối Internet với đường truyền

đủ đáp ứng cho số người dùng tối thiểu của thư viện

- Hệ thống máy chủ đủ mạnh để đáp ứng việc lưu trữ, bảo quản, cung

cấp dữ liệu và quản lý người dùng và các phần mềm hệ thống có bảnquyền

- Trang web đăng tải và là cổng truy cập của người dùng vào bộ sưu tập

số, tài liệu số của cơ quan

- Phần mềm quản lý tài nguyên số

1.4.6 Vấn đề bản quyền

Trong một thư viện truyền thống, quyền sở hữu tài liệu là quan trọng; nhưngtrong lĩnh vực lưu hành tài nguyên điện tử, quyền sở hữu trí tuệ, cụ thể là quyền tácgiả hay bản quyền là quan trọng hơn

Sưu tầm thông tin và làm cho thông tin đó trở nên phổ biến hơn đối với nhữngngười khác là một điều liên quan đến vấn đề xã hội, và những người xây dựng thưviện số, xây dựng tài nguyên số phải am hiểu quyền sở hữu trí tuệ để hành động mộtcách có trách nhiệm và đúng luật xung quanh những ứng dụng cụ thể của họ

Theo Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, những tài liệu dưới đây không được bảo hộbản quyền:

- Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005; Chương I, Mục 1, Điều 15 “Các đốitượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả: 1 Tin tức thời sự thuần tuý đưa tin

2 Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tưpháp và bản dịch chính thức của văn bản đó 3 Quy trình, hệ thống, phương pháphoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu”[3]

- Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005: Điều 27, khoản (a), (b) “…Tác phẩmkhông thuộc loại hình quy định tại điểm a khoản này có thời hạn bảo hộ là suốt cuộcđời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết; trong trường hợp tác phẩm

có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồngtác giả cuối cùng chết” [3]

Việc số hoá tài liệu cho thư viện số là không vi phạm bản quyền nếu: Tài liệunằm ngoài bản quyền hoặc tài liệu được bảo hộ bản quyền nhưng số hoá để sử dụng

Trang 38

với mục đích phi thương mại trong phạm vi hạn chế của thư viện, trường học, việnnghiên cứu.

Bản thân việc số hoá tài liệu không vi phạm bản quyền, việc vi phạm haykhông phụ thuộc vào mục đích sử dụng (chẳng hạn dùng với mục đích thương mạilàm ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người nắm giữ bản quyền là vi phạm) và phạm

vi sử dụng (ví dụ nếu phổ biến rộng rãi ra công chúng, ngoài phạm vi thư viện là viphạm)

Thư viện số, nơi chứa những tài nguyên số có thể làm cho việc truy cập trở nênrộng rãi hơn thư viện truyền thống Chính điều này đã nảy sinh ra nhiều vấn đề: truycập thông tin trong thư viện số, nói chung ít bị kiểm soát hơn trong thư viện thường.Đưa thông tin vào thư viện số là có khả năng làm cho thông tin đó trở nên phổ biếnngay đối với một số lượng độc giả hầu như vô hạn

Đối với người sử dụng, thông tin trên thế giới có thể truy cập bất cứ nơi đâu.Đối với tác giả, một độc giả có trình độ hơn có thể tiếp cận được nhiều thông tin hơntrước Đối với nhà xuất bản, nhiều thị trường mới mở ra vượt qua mọi giới hạn địa lý.Nhưng có một nghịch lý, tác giả và nhà xuất bản hỏi có bao nhiêu cuốn sách sẽ đượcbán nếu những thư viện số nối mạng khiến cho bản điện tử của cuốn sách đó đượctruy cập rộng rãi trên thế giới? Cơn ác mộng cho họ khi câu trả lời là một Có baonhiêu sách sẽ được xuất bản trực tuyến nếu toàn bộ thị trường có thể bị phá hủy bởiviệc bán một bản điện tử cho một thư viện công cộng?

Nhà xuất bản sẽ thông qua công nghệ và phương tiện luật pháp để thực thichính sách hạn chế việc truy cập đến những thông tin họ bán

Sở hữu một cuốn sách chắc chắn không phải là xác lập được quyền sở hữu đốivới tài liệu đó theo nghĩa của bản quyền Mặc dù có nhiều bản của một tài liệu nhưngchỉ có một bản quyền Điều này không chỉ áp dụng cho bản in mà cả cho bản điện tử,

dù được số hóa từ bản in hay được tạo nên dưới dạng điện tử từ đầu Khi mua mộtcuốn sách, ta có thể bán lại, nhưng chắc chắn không mua được quyền tái phân phối.Quyền đó tùy thuộc vào bản quyền

Muốn phát triển tài liệu số cần phải có những hành động để tránh vi phạm bảnquyền Cần phải cân nhắc việc số hóa các tài liệu là một việc làm có lợi ích chung màkhông xâm phạm tới quyền lợi của người khác Đây là một điều khó về mặt pháp lý

Trang 39

Và nếu không chắc chắn với điều cân nhắc trên thì ta phải tiến hành xin phép để đượccấp phép thực hiện số hóa

1.4.7 Vấn đề liên quan đến người dùng tin

Phát triển tài nguyên số cuối cùng cũng là đáp ứng, phục vụ tốt nhất nhu cầungười dùng tin Vì vậy người dùng tin là động cơ xây dựng và phát triển và cũng làngười thẩm định cuối cùng tài nguyên số của thư viện Bởi lẽ đó, khi tiến hành xâydựng và phát triển tài nguyên số cần nghiên cứu nhu cầu, trình độ nhận thức của nhómngười dùng tin chức năng của mình để xác định diện ưu tiên trong bộ sưu tập số

Đó là việc nghiên cứu các vấn đề:

- Nhu cầu tin:

+ Hứng thú đọc: Nghiên cứu những vấn đề, lĩnh vực khoa học người dùng tinquan tâm

+ Sở thích tin: Nghiên cứu thể loại, phương thức, định dạng nguồn tin số hóa

mà người dùng tin quan tâm

+ Phương thức khai thác: Nghiên cứu phương thức người dùng tin thường khaithác nguồn tin số hóa, các kênh thông tin số hóa người dùng tin thường sử dụng

Trang 40

1.4.8 Vấn đề kiểm duyệt

Một yếu tố khác cần đề cập cũng có ảnh hưởng quan trọng tới quá trình xâydựng, phát triển tài nguyên số, đó chính là các cấp quản lý, kiểm duyệt quyết định vàohoạt động lựa chọn tài liệu ban đầu và bổ sung tài liệu Với cơ chế hoạt động hiệnnay, quá trình lựa chọn và bổ sung tài liệu khi tiến hành xây dựng tài nguyên số phải

đi qua các thủ tục hành chính, phê duyệt…từ các cấp và phòng ban liên quan Điều đócũng có những tác động đến chính sách phát triển trên cơ sở các quan điểm khác nhaucủa các đối tượng này lên loại và nội dung tài liệu dự kiến được bổ sung số hóa.Ngoài ra, họ cũng góp phần tác động đến nguồn kinh phí được cấp nhằm phát triển tàinguyên thông tin của mỗi thư viện

Trên cơ sở các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý và phát triển bộ sưutập, nhằm mục đích ngày một nâng cao chất lượng hoạt động thông tin của đơn vị,đảm bảo tính hiệu quả của tài nguyên thông tin trong bối cảnh phát triển chung; đòihỏi các cơ quan TTTV cần thiết xây dựng cho mình định hướng chiến lược phát triểnnguồn tài nguyên số một cách hợp lý Định hướng đó cần đáp ứng được nhu cầuthông tin của các nhóm đối tượng người dùng, cũng như phù hợp với những thay đổiphát triển chung của môi trường, vấn đề tài chính, đối tượng người dùng…trong môitrường cơ quan tồn tại, hoạt động và phát triển

Ngày đăng: 08/03/2017, 05:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Lại Cao Bằng (2011), Công tác số hóa tài liệu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp ngành Thông tin – Thư viện, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác số hóa tài liệu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam
Tác giả: Lại Cao Bằng
Năm: 2011
7. Nguyễn Tiến Đức (2005), Xây dựng thư viện điện tử và vấn đề số hóa tài liệu ở Việt Nam, Tạp chí Thông tin và Tư liệu, Số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng thư viện điện tử và vấn đề số hóa tài liệu ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Đức
Năm: 2005
8. Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2010), Bài giảng môn Thư viện điện tử, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng môn Thư viện điện tử
Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Hạnh
Năm: 2010
9. Nguyễn Minh Hiệp (2004), Thế giới thư viện số, Bản tin Thư viện công nghệ thông tin, 4 – 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới thư viện số
Tác giả: Nguyễn Minh Hiệp
Năm: 2004
10. Nguyễn Minh Hiệp (2006), Thư viện số với hệ thống nguồn mở, Bản tin Thư viện công nghệ thông tin, 8 -2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thư viện số với hệ thống nguồn mở
Tác giả: Nguyễn Minh Hiệp
Năm: 2006
11. Hội thảo khoa học thư viện Luật Việt Nam hợp tác và phát triển (2010), Kỷ yếu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo khoa học thư viện Luật Việt Nam hợp tác và phát triển
Tác giả: Hội thảo khoa học thư viện Luật Việt Nam hợp tác và phát triển
Năm: 2010
12. Hội thảo “Kinh nghiệm xây dựng và quản lý Thư viện điện tử” (2003), Trung tâm Thông tin Tư liệu Đại học Đà Nẵng, Bản tin liên hiệp thư viện, 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo “Kinh nghiệm xây dựng và quản lý Thư viện điện tử” (2003)
Tác giả: Hội thảo “Kinh nghiệm xây dựng và quản lý Thư viện điện tử”
Năm: 2003
3. Luật sở hữu trí tuệ nước CHXHCN Việt Nam (số 50/2005/11 ngày 29/11/2005) Khác
4. Pháp lệnh Thư viện (2001), Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
5. Quyết định số 25 – TTg ngày 19/01/1993 của Thủ tướng Chính phủ xây dựng và đổi mới sự nghiệp văn hóa nghệ thuật. Tài liệu chuyên ngành Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Nhu cầu tin lĩnh vực ngành Luật tại Trung tâm TTTV Đại học Luật - Phát triển nguồn tài nguyên thông tin số cho hệ thống các cơ quan TTTV ngành Luật
Bảng 1 Nhu cầu tin lĩnh vực ngành Luật tại Trung tâm TTTV Đại học Luật (Trang 26)
Bảng thống kê cho thấy, nhu cầu tin về lĩnh vực ngành Luật đa dạng và đồng  đều. Chiếm tỉ lệ quan tâm cao nhất là Luật thương mại, Luật dân sự - Phát triển nguồn tài nguyên thông tin số cho hệ thống các cơ quan TTTV ngành Luật
Bảng th ống kê cho thấy, nhu cầu tin về lĩnh vực ngành Luật đa dạng và đồng đều. Chiếm tỉ lệ quan tâm cao nhất là Luật thương mại, Luật dân sự (Trang 28)
Bảng 3: Nhu cầu tin lĩnh vực ngành Luật tại Thư viện Học viện Tư pháp - Phát triển nguồn tài nguyên thông tin số cho hệ thống các cơ quan TTTV ngành Luật
Bảng 3 Nhu cầu tin lĩnh vực ngành Luật tại Thư viện Học viện Tư pháp (Trang 29)
Bảng 4: Sự khác nhau giữa thủ thư số và thủ thư truyền thống - Phát triển nguồn tài nguyên thông tin số cho hệ thống các cơ quan TTTV ngành Luật
Bảng 4 Sự khác nhau giữa thủ thư số và thủ thư truyền thống (Trang 35)
Hình 1: Thống kê ấn phẩm định kỳ tại Trung tâm TTTV Đại học Luật Hà Nội - Phát triển nguồn tài nguyên thông tin số cho hệ thống các cơ quan TTTV ngành Luật
Hình 1 Thống kê ấn phẩm định kỳ tại Trung tâm TTTV Đại học Luật Hà Nội (Trang 55)
Hình 4: Giao diện truy cập, download bài viết đã được số hóa trong tạp chí Nghề luật - Phát triển nguồn tài nguyên thông tin số cho hệ thống các cơ quan TTTV ngành Luật
Hình 4 Giao diện truy cập, download bài viết đã được số hóa trong tạp chí Nghề luật (Trang 60)
Hình 3: Giao diện Tạp chí Nghề luật của Học viện Tư pháp - Phát triển nguồn tài nguyên thông tin số cho hệ thống các cơ quan TTTV ngành Luật
Hình 3 Giao diện Tạp chí Nghề luật của Học viện Tư pháp (Trang 60)
Bảng 6: Đánh giá của người dùng tin về chất lượng tài liệu số của cơ quan - Phát triển nguồn tài nguyên thông tin số cho hệ thống các cơ quan TTTV ngành Luật
Bảng 6 Đánh giá của người dùng tin về chất lượng tài liệu số của cơ quan (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w