Tuy nhiên, vấn đề cần được quan tâm sâu hơn là khi sửa van ba lá thì nên sửa theo phương pháp nào, hiệu quả của từng phương pháp sửa đó ra sao, những yếu tố nào sẽ ảnh hưởng đến kết quả
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯƠNG NGUYỄN HOÀI LINH
NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ CÁC PHƯƠNG PHÁP SỬA VAN BA LÁ TRONG PHẪU THUẬT BỆNH VAN HAI LÁ
Chuyên ngành: Ngoại lồng ngực
Mã số: 62720124
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2015
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học:
Vào hồi giờ … phút, ngày … tháng … năm ……
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện khoa học Tổng hợp TP.HCM
- Thư viện Đại học Y Dược TP.HCM
Footer Page 2 of 148.
Trang 3GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1 Đặt vấn đề
Bệnh van ba lá thường phối hợp với bệnh van tim bên trái như: bệnh
lý van van hai lá hoặc bệnh lý động mạch chủ hoặc phối hợp cả ba van Phẫu thuật van ba lá hiếm khi được thực hiện riêng lẻ (trừ trường hợp thương tổn van ba lá đơn thuần như trong bệnh lý Ebstein), thông thường thương tổn của van ba lá sẽ được thực hiện sửa chữa cùng lúc khi tiến hành phẫu thuật van hai lá và/hoặc van động mạch chủ Phẫu thuật sửa chữa van ba lá được chỉ định khi có thương tổn thực thể trên van ba lá hoặc thương tổn cơ năng do giãn vòng van ba lá đơn thuần nhưng không
có thương tổn thực thể trên lá van
Kỹ thuật sửa chữa van ba lá tùy theo thương tổn của van ba lá gồm: sửa van trong trường hợp giải phẫu van phù hợp và thay van nhân tạo trong trường hợp không thể sửa được van, có thể là thay van nhân tạo cơ học hoặc sinh học Có rất nhiều kỹ thuật sửa chữa van ba lá, tuy nhiên cần phải đánh giá chính xác thương tổn của van ba lá khi tiến hành phẫu thuật để có thể lựa chọn kỹ thuật thích hợp nhằm tránh tình trạng hở van
ba lá nặng lên sau phẫu thuật
Ngoài ra việc lựa chọn kỹ thuật sửa chữa van ba lá còn tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố khác như: mức độ hở van ba lá, kích thước vòng van
ba lá, kích thước thất phải, áp lực động mạch phổi, rung nhĩ… Việc đánh giá thương tổn của van ba lá trước và trong lúc phẫu thuật đồng thời với phẫu thuật van hai lá giúp cho phẫu thuật viện lựa chọn phương pháp sửa van ba lá thích hợp nhằm ngăn ngừa diễn tiến của hở van ba lá nặng về lâu dài sau phẫu thuật van hai lá Theo ghi nhận của một số tác giả nước ngoài, sau phẫu thuật sửa hoặc thay van hai lá, một số bệnh nhân không có hở van ba lá nặng trước phẫu thuật bị hở van ba lá nặng mới xuất hiện sau phẫu thuật Nguyên nhân của tình trạng này là do phẫu thuật viên không đánh giá chính xác thương tổn của van ba lá trước và trong lúc phẫu thuật van hai lá Do đó, thương tổn của van ba lá không được xử trí hoặc được xử trí không thích hợp Ngoài ra, hở van ba lá nặng lên sau phẫu thuật có thể do thấp tim tái phát gây tổn thương trực tiếp van ba lá hoặc gây tái hẹp/hở van hai lá dẫn đến tăng áp động mạch phổi, giãn thất phải và hở van ba lá cơ năng tăng nặng Rối loạn hoạt động van hai lá nhân tạo cũng có thể dẫn đến hở van ba lá tăng nặng qua
cơ chế tương tự
Header Page 3 of 148.
Trang 4Tại Việt Nam hiện vẫn chưa có công trình nghiên cứu đánh giá kết quả dài hạn của phẫu thuật sửa van ba lá đồng thời với phẫu thuật van hai lá cũng như xác định các yếu tố dự báo kết quả dài hạn của phương pháp sửa van ba lá Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài này với mục tiêu là: đánh giá kết quả dài hạn của phương pháp sửa van ba lá và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả dài hạn của phương pháp sửa van ba lá đồng thời với phẫu thuật van hai lá
2 Tính cấp thiết của đề tài
Quan niệm trước đây cho rằng hở van ba lá là tình trạng hở van ba lá
cơ năng và rất ít khi gây ra những ảnh hưởng lớn đến chức năng tim và tình trạng của bệnh nhân Từ quan niệm này, nhiều bệnh nhân đã không được sửa van ba lá hay không được sửa van ba lá với một kỹ thuật thích hợp trong lúc phẫu thuật điều trị bệnh van hai lá Không ít nhà nghiên cứu trên thế giới đã quan tâm đến vấn đề này Ở Việt Nam cũng đã có công trình nghiên cứu nói lên ảnh hưởng của tình trạng không được sửa van ba lá trong phẫu thuật van hai lá trên tình trạng tim mạch cũng như
tử vong của bệnh nhân Tuy nhiên, vấn đề cần được quan tâm sâu hơn là khi sửa van ba lá thì nên sửa theo phương pháp nào, hiệu quả của từng phương pháp sửa đó ra sao, những yếu tố nào sẽ ảnh hưởng đến kết quả lâu dài của phẫu thuật là những câu hỏi cần được trả lời trong hoàn cảnh của nước ta còn rất nhiều bệnh nhân phải trải qua phẫu thuật van hai lá
có hở van ba lá đi kèm Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu có tính cần thiết,
có tính thực tiễn
3 Những đóng góp mới của luận án
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam về đánh giá kết quả dài hạn (trên 10 năm), được thực hiện trên một số lượng lớn bệnh nhân (652 bệnh nhân) về kết quả của phương pháp sửa van ba lá đồng thời với phẫu thuật van hai lá Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại chỉ định, phương pháp phẫu thuật van ba lá đi kèm van hai lá vẫn chưa được thống nhất Câu hỏi đặt ra là với mức độ hở van ba lá nào thì cần chỉ định sửa van và khi đã chỉ định sửa van ba lá thì cần phẫu thuật theo phương pháp nào, có dùng hay không dùng van nhân tạo trong tạo hình van ba lá, nghiên cứu này đã trả lời được 2 câu hỏi trên bằng cách chứng minh dự hậu khác nhau của việc sửa và không sửa van ba lá cũng như chứng minh tính ưu việt của kỹ thuật tạo hình van ba lá có sử dụng vòng van nhân tạo so với kỹ thuật tạo hình không sử dụng vòng van trong sửa chữa bệnh van ba lá đi kèm với bệnh van hai lá
Header Page 4 of 148.
Footer Page 4 of 148.
Trang 5Đề tài nghiên cứu này mở ra triển vọng tìm được chỉ định thích hợp trong phẫu thuật điều trị bệnh lý van ba lá đi kèm với bệnh lý van hai lá
để phòng ngừa hở van ba lá nặng về lâu dài sau phẫu thuật van hai lá
4 Bố cục luận án
Luận án gồm 128 trang Bao gồm phần mở đầu 2 trang, tổng quan tài liệu 35 trang, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 15 trang, kết quả nghiên cứu 42 trang, bàn luận 31 trang, kết luận và kiến nghị 2 trang Có
28 bảng, 15 biểu đồ, 12 hình và 144 tài liệu tham khảo (19 tiếng Việt,
124 tiếng Anh và 1 tiếng Pháp)
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giải phẫu học van ba lá
Van ba lá phân chia tâm nhĩ phải và tâm thất phải Về mặt cấu trúc
và chức năng, tâm thất phải gồm 3 phần là buồng tiếp nhận được tạo thành bởi các thành phần của van ba lá, phần cơ bè và buồng tống được tạo thành bởi phần phểu và van động mạch phổi Các thành phần của van
ba lá gồm: vòng van, các lá van, dây chằng và các trụ cơ Ba lá van gồm
lá trước, lá sau và lá vách
1.2 Cơ chế bệnh hở van ba lá
* Hở cơ năng: là hậu quả của dãn vòng van ba lá, còn các lá van và
hệ dây chằng có cấu trúc bình thường
* Hở thực thể: là các dạng có tổn thương thực thể của các lá van và/hoặc hệ thống dưới van
1.3 Sinh lý bệnh hở van ba lá
Hở van ba lá làm tăng áp lực trong nhĩ phải dẫn đến tăng áp lực trong hệ tĩnh mạch chủ và tăng áp lực của tất cả các cơ quan
1.4 Bệnh van ba lá
1.4.1 Đại cương về bệnh hở van ba lá
Bệnh cảnh lâm sàng của hở van ba lá đã được mô tả lần đầu tiên bởi Homberg (1764), sau đó bởi Hope (1825)
Năm 1946, Rivero-Carvallo đã mô tả sự tăng cường độ của âm thổi tâm thu khi hít sâu (dấu hiệu Carvallo)
Header Page 5 of 148.
Trang 61.4.2 Lâm sàng của hở van ba lá: Nếu có suy tim phải, bệnh nhân có
các triệu chứng gan to, phù chân, báng bụng, tràn dịch màng phổi
1.4.3 Chẩn đoán cận lâm sàng hở van ba lá: ECG, X-quang ngực,
Siêu âm tim
1.5 Điều trị ngoại khoa bệnh hở van ba lá
1.5.1 Chỉ định sửa van ba lá đồng thời trong phẫu thuật van hai lá
Phẫu thuật sửa van ba lá được chỉ định khi có hở van ba lá từ vừa đến nặng Sửa van ba lá hiếm khi thực hiện một cách đơn độc mà chủ yếu được thực hiện trong quá trình phẫu thuật van tim bên trái
1.5.2 Các kỹ thuật sửa van ba lá: nói chung có 2 kỹ thuật sửa van ba lá
phổ biến là kỹ thuật tạo hình van ba lá có đặt vòng van và kỹ thuật tạo hình van ba lá không đặt vòng van
1.6 Tình hình nghiên cứu về hở van ba lá trên thế giới và trong nước
* Các nghiên cứu trên thế giới về kết quả trung hạn và dài hạn của các phương pháp sửa van ba lá:
Tác giả Matsuyama và cộng sự (2001) so sánh kết quả phẫu thuật sửa van ba lá trung hạn (3 năm) ở 2 nhóm: Nhóm sử dụng kỹ thuật tạo hình van ba lá có đặt vòng van Carpentier Edward và nhóm sử dụng kỹ thuật tạo hình van ba lá không đặt vòng van theo De Vega Các tác giả ghi nhận tỷ lệ tử vong sớm ở nhóm có đặt vòng van là 6,25% và không đặt vòng van là 0% Mức độ hở van ba lá (≥ 2+) tiến triển sau 3 năm ở nhóm De Vega (45%), ở nhóm có đặt vòng van Carpentier Edward (6%) Tác giả khuyến cáo nên sử dụng vòng Carpentier Edward nhằm làm giảm tiến triển hở van ba lá về lâu dài
Năm 2004 McCarthy và cộng sự công bố một nghiên cứu trên 790 bệnh nhân hở van ba lá vừa-nặng được sửa van bằng những phương pháp khác nhau và được theo dõi đánh giá kết quả dài hạn bằng siêu âm tim Nghiên cứu này cho thấy ở những bệnh nhân được đặt vòng van nhân tạo cứng của Carpentier hoặc vòng van nhân tạo mềm của Cosgrove mức độ
hở van ba lá sau phẫu thuật được duy trì ổn định theo thời gian, trong khi
ở những bệnh nhân được sửa van theo phương pháp De Vega hoặc khâu dãi băng màng ngoài tim mức độ hở van ba lá sau phẫu thuật tăng dần theo thời gian Dựa vào kết quả này, các tác giả khuyến cáo không nên dùng các phương pháp De Vega và khâu dãi băng màng ngoài tim cho những bệnh nhân hở van ba lá vừa-nặng
Header Page 6 of 148.
Footer Page 6 of 148.
Trang 7* Tần suất và cơ chế của hở van ba lá trong bệnh van hai lá:
Theo Dreyfus và cộng sự, đối với các bệnh nhân phải trải qua phẫu thuật tạo hình van hai lá, tác giả thấy rằng vòng van ba lá bị dãn một cách bất bình thường ở khoảng 50% các bệnh nhân, thậm chí khi không
có hở van ba lá Năm 1994, Duran báo cáo có từ 30% đến 50% người bệnh van hai lá hậu thấp nói chung bị hở van ba lá, riêng ở những người
hở van hai lá hoặc hẹp van hai lá nặng tần suất này còn cao hơn
* Hở van ba lá xuất hiện trễ sau phẫu thuật van hai lá: Sự xuất
hiện trễ của hở van ba lá nặng kèm theo các triệu chứng suy tim phải là một nguyên nhân quan trọng của tăng tử vong và tật bệnh sau phẫu thuật van hai lá
* Các yếu tố dự báo hở van ba lá nặng xuất hiện trễ sau phẫu thuật van hai lá:
Nghiên cứu của Chan và cộng sự trên những bệnh nhân được thay van hai lá không kèm sửa van ba lá cho thấy có 2 yếu tố dự báo hở van
ba lá tăng nặng sau phẫu thuật là giới nữ (OR = 10,3; p = 0,03) và áp lực tâm thu thất phải trước phẫu thuật ≥ 50 mm Hg (OR = 8,1 ; p = 0,05)
* Tình hình nghiên cứu bệnh van ba lá tại Việt Nam:
Từ tháng 10/2007 đến tháng 10/2010: 01 đề tài luận án Tiến sĩ Y Học của tác giả Hồ Huỳnh Quang Trí "Nghiên cứu về tiến triển của hở van ba lá sau phẫu thuật van hai lá ở người bệnh van tim hậu thấp tại Viện Tim Tp.HCM, 2010" trên một số lượng lớn bệnh nhân 1037 người bệnh van tim hậu thấp không có hở van ba lá nặng được phẫu thuật van hai lá nhưng không kèm sửa van ba lá Tác giả rút ra các kết luận sau:
- Tỉ lệ hở van ba lá nặng xuất hiện sau phẫu thuật là 10,7% sau thời gian theo dõi trung bình 73,9 tháng, hầu hết các trường hợp hở van ba lá
cơ năng tăng nặng
- Các yếu tố dự báo hở van ba lá nặng xuất hiện sau phẫu thuật là:
hở van ba lá nặng-vừa và rung nhĩ có từ trước mổ
01 đề tài Luận Văn Thạc Sĩ Y Học của tác giả Đoàn Văn Phụng
"Đánh giá kết quả chu phẫu phẫu thuật tạo hình van ba lá bằng phương pháp De VeGa, 2007" điều trị bệnh lý van ba lá tại bệnh viện Chợ Rẫy,
2007 Tuy nhiên trong công trình nghiên cứu của tác giả Đoàn Văn Phụng chỉ đánh giá kết quả ngắn hạn (chu phẫu) trên 64 bệnh nhân được sửa van ba lá theo phương pháp tạo hình van ba lá không vòng van của Header Page 7 of 148.
Trang 8De Vega phối hợp với thay van hai lá cơ học, tác giả chỉ rút ra kết luận các yếu tố ảnh hưởng lên kết quả chu phẫu
Tác giả Đoàn Quốc Hưng và cộng sự nghiên cứu kết quả của 234
BN được sửa van ba lá trong phẫu thuật bệnh van tim mắc phải tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ 2008 đến 2011 Tác giả rút ra kết luận: sửa van ba lá trên BN phẫu thuật van tim đem lại kết quả tốt, cải thiện triệu chứng lâm sàng rõ rệt, sớm sau mổ Tiến triển hở van ba lá sau mổ cần theo dõi trong thời gian dài Để duy trì kết quả lâu dài cần cân nhắc phương pháp sửa van ba lá thích hợp, ưu tiên sử dụng phương pháp sửa van ba lá có đặt vòng van Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này chỉ đánh giá được kết quả trung hạn của phương sửa van ba lá (thời gian theo dõi trung bình 26,48±15,33 tháng; dài nhất 52 tháng; ngắn nhất 6 tháng)
Chương 2:
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm 581 bệnh nhân đã được phẫu thuật sửa van ba lá đồng thời với phẫu thuật van hai lá, trong đó có 279 bệnh nhân đã được phẫu thuật sửa van ba lá với kỹ thuật tạo hình van ba lá có đặt vòng van và 302 bệnh nhân đã được phẫu thuật sửa van ba lá với kỹ thuật tạo hình van ba
lá không đặt vòng van nhân tạo tại Viện Tim TP.HCM từ năm 2000 -
2012
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh:
Dân số nghiên cứu là những bệnh nhân đã được can thiệp phẫu thuật van ba lá theo kỹ thuật tạo hình van ba lá có đặt vòng van và không đặt vòng van đồng thời với phẫu thuật van hai lá từ năm 2000 – 2012
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ:
- Các bệnh nhân hở van ba lá phối hợp với các bệnh tim bẩm sinh,
hở van ba lá trong bệnh Ebstein
- Những bệnh nhân có hở van ba lá mà không được can thiệp phẫu thuật đồng thời với phẫu thuật van hai lá
- Những bệnh nhân tử vong sớm sau tạo hình van ba lá có đặt vòng van và tạo hình van ba lá không đặt vòng van đồng thời với phẫu thuật
van hai lá
Header Page 8 of 148.
Footer Page 8 of 148.
Trang 92.2 Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu
2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu: được tính theo công thức ước lượng 1 tỉ lệ
2 2
2 1
1
d
p p Z
Theo tác giả Duran báo cáo có từ 30% đến 50% người bệnh van hai
lá bị hở van ba lá, do đó chúng tôi chọn p = 0,5 và mức ý nghĩa 5%, cỡ mẫu tính được n = 384 bệnh nhân
2.2.3 Thu thập số liệu: Các số liệu trước phẫu thuật, trong phẫu thuật,
sau phẫu thuật và theo dõi tái khám
2.3 Các tiêu chuẩn đánh giá kết quả phẫu thuật:
- Kết quả tốt: Không có hoặc hở van ba lá rất nhẹ 1+(1/4), áp lực động mạch phổi, đường kính thất phải, đường kính thất trái trở về bình thường và phân độ suy tim theo NYHA I
- Kết quả trung bình: Hở van ba lá 2+(2/4), áp lực động mạch phổi
và đường kính thất phải, đường kính thất trái bình thường và phân độ suy tim theo NYHA II
- Kết quả xấu: Hở van ba lá 3+(3/4) hoặc 4+(4/4), có các dấu hiệu suy tim theo phân độ NYHA (NYHA ≥ III, cao áp động mạch phổi, đường kính thất phải, thất trái có giá trị cao hơn ngưỡng bình thường)
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Các đặc điểm chung của dân số nghiên cứu
3.1.1 Phân bố bệnh nhân theo giới tính
Trong tổng số 581 BN được phẫu thuật sửa van ba lá đồng thời với phẫu thuật van hai lá có 381 BN nữ, tỷ lệ nữ giới chiếm 65,64% cao hơn nam giới (34,36%)
3.1.2 Phân bố bệnh nhân theo tuổi độ tuổi trung niên chiếm đa số với tuổi trung bình là 46,85 tuổi
Header Page 9 of 148.
Trang 103.1.3 Phân bố bệnh nhân theo kỹ thuật can thiệp van ba lá: 581 BN được can thiệp van ba lá theo kỹ thuật phẫu thuật, ghi nhận có 279 BN được tạo hình van ba lá có kèm theo đặt vòng van (48,02%) và có 302 BN tạo hình van ba lá không đặt vòng van (51,98%)
3.2 Kết quả lâm sàng và cận lâm sàng
Biểu đồ 3.4: Khảo sát nhịp tim trước mổ
Tỷ lệ BN bị rung nhĩ trước phẫu thuật cao hơn nhịp xoang (60,92%
áp lực ở ngưỡng cao (trên 70 mmHg) chiếm tỷ lệ khá cao (30,8%)
3.3 Các trường hợp tử vong
Số ca tử vong trước khi xuất viện (trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật) là 36 chiếm tỷ lệ 6,19% Trong 36 ca tử vong ghi nhận sau phẫu thuật (trong vòng 1 tháng), chúng tôi ghi nhận 27 ca tử vong ở nhóm bệnh nhân phẫu thuật van hai lá kèm sửa van ba lá với kỹ thuật có đặt Header Page 10 of 148.
Footer Page 10 of 148.
Trang 11vòng van (27 ca/ 279 ca, chiếm tỉ lệ 9,67%) và 9 ca tử vong ở nhóm bệnh nhân sửa van ba lá với kỹ thuật không đặt vòng van (9 ca/302 ca, chiếm
tỉ lệ 2,98%) Tỉ lệ tử vong ở hai nhóm chênh lệch nhau nhưng không thể
so sánh hai tỉ lệ này hay đưa ra nhận định về tỉ lệ tử vong do kỹ thuật sửa van ba lá, lý do tình trạng bệnh của các các bệnh nhân khác nhau giữa 2 nhóm bệnh nhân này Nhóm bệnh nhân có đặt vòng van trong nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ tử vong cao hơn so với nhóm không có đặt vòng van là do đa số các bệnh nhân ở nhóm có đặt vòng van trong nghiên cứu này có tình trạng bệnh rất nặng trước phẫu thuật: tình trạng suy tim theo phân độ NYHA III, IV; Áp lực động mạch phổi tăng cao, mức độ hở van ba lá rất nặng, kèm theo các bệnh lý khác như suy thận, tâm phế mạn,…
Vì vậy, tình trạng bệnh giữa 2 nhóm bệnh nhân này rất khác biệt trước phẫu thuật Sau khi loại trừ các bệnh nhân tử vong sớm và các
bệnh nhân không can thiệp van ba lá, số lượng bệnh nhân còn lại là 545
được theo dõi theo thời gian Thời gian theo dõi sau mổ trung bình 6,16 năm
Kết quả khảo sát so sánh các đặc điểm lâm sàng giữa 2 nhóm bệnh nhân trước phẫu thuật ghi nhận các đặc điểm (phân độ suy tim theo NYHA, mức độ hở van ba lá và áp lực ĐMP tâm thu) tương đồng và không khác biệt thống kê ở nhóm hở ba lá thực thể Tuy nhiên ở nhóm
hở ba lá cơ năng thì có sự khác biệt ý nghĩa thống kê về các đặc điểm với p<0,05, điều này cho thấy những bệnh nhân có tình trạng bệnh nặng thì
tỷ lệ được can thiệp với kỹ thuật sửa van ba lá có đặt vòng van cao hơn
so với kỹ thuật không đặt vòng van (Bảng 3.16)
3.4 So sánh kết quả dài hạn của điều trị phẫu thuật van ba lá:
Kết quả điều trị phẫu thuật bệnh lý nền van hai lá theo thời gian là
ổn định ở thời điểm 12 tháng sau lần phẫu thuật đầu tiên Chúng tôi không ghi nhận các trường hợp bất thường về bệnh van hai lá ở 545 bệnh nhân sau 12 tháng phẫu thuật
Do đó, chúng tôi tiếp tục theo dõi để tiến hành khảo sát các đặc điểm dân số sau phẫu thuật liên quan đến bệnh hở van ba lá (trên 545 bệnh nhân có bệnh lý nền là bệnh van hai lá đã ổn định sau 12 tháng) để làm cơ sở cho việc so sánh và kết quả được ghi nhận ở bảng 3.19
Qua bảng 3.19, chúng tôi ghi nhận có sự cải thiện về chỉ số lâm sàng
và cận lâm sàng của 2 nhóm so với kết quả trước phẫu thuật (đối chiếu bảng 3.16) Những đặc điểm giữa 2 nhóm trước phẫu thuật có khác biệt Header Page 11 of 148.
Trang 12thì sau phẫu thuật các đặc điểm này cải thiện và tương đồng giữa 2 nhóm, cụ thể phân độ suy tim theo theo NYHA, áp lực ĐMP tâm thu Về mức độ hở van ba lá ghi nhận sau phẫu thuật vẫn có sự khác biệt thống
kê giữa 2 nhóm, tuy nhiên, khi xét so sánh riêng từng nhóm riêng lẻ (nhóm không đặt vòng van và nhóm có đặt vòng van) thì điều có sự cải thiện mức độ hở van ba lá Ghi nhận ở 2 nhóm bệnh nhân hở van ba lá (thực thể và cơ năng) đều có khác biệt về mức độ hở van ba lá Do đó, chúng tôi tiến hành gộp lại toàn bộ dân số nghiên cứu để tiến hành so sánh kết quả dài hạn, nghĩa là toàn bộ dân số được phân theo kỹ thuật có đặt vòng van và không có đặt vòng van
Bảng 3.16: So sánh đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng giữa 2 nhóm bệnh nhân theo loại hở van ba lá trước phẫu thuật
Nhóm hở van ba lá thực thể Không vòng van
n= 64
Có vòng van
n=167
Giá trị p
Trang 13Bảng 3.19: So sánh đặc điểm của 2 nhóm bệnh nhân (tạo hình van ba lá không đặt vòng van và có đặt vòng van) sau phẫu thuật