ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÙNG CHIẾN TRƯỜNG BẠCH ĐẰNG NĂM 1288 Trần Đức Thạnh Viện Tài nguyên và Môi trường biển – Viện Hàn Lâm KH&CN Việt Nam MỞ ĐẦU Chiến trường Bạch Đằng
Trang 1Trần Đức Thạnh, 2013 Đặc trưng cơ bản về điều kiện tự nhiên vùng chiến trường Bạch Đằng năm 1288 Kỷ yếu Hội thảo khoa học 725 năm Chiến thắng Bạch Đằng Quảng Yên ngày 27/3/2013 Tr.14 – 31
ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÙNG CHIẾN
TRƯỜNG BẠCH ĐẰNG NĂM 1288
Trần Đức Thạnh Viện Tài nguyên và Môi trường biển – Viện Hàn Lâm KH&CN Việt Nam
MỞ ĐẦU
Chiến trường Bạch Đằng năm 1288 nằm ở khu trung tâm của vùng cửa sông (VCS) Bạch Đằng, tại vùng chuyển tiếp giữa tỉnh Quảng Ninh và Thành phố Hải Phòng Khu vực tả ngạn chủ yếu thuộc địa phận Thị xã Quảng Yên, một phần liên quan đến thành phố Uông Bí và Huyện Hoành Bồ (Quảng Ninh); khu vực hữu ngạn chủ yếu thuộc về huyện Thuỷ Nguyên, Cát Hải và các quận nội thành của Thành phố Hải Phòng Để làm nên chiến thắng lẫy lừng, chắc chắn cha ông ta phải tìm hiểu và đã nắm rõ đặc điểm tự nhiên vùng chiến trường này Để hiểu rõ về quy mô và diễn biến trận đánh, chúng ta cũng cần nghiên cứu hoàn cảnh tự nhiên của chiến trận trên cơ sở hoàn cảnh hiện tại và khả năng thay đổi qua thời gian hơn bảy thế kỷ
I BẢN CHẤT CẤU TRÚC VÀ TIẾN HÓA VÙNG CỬA SÔNG BẠCH ĐẰNG
1 Vị trí
VCS Bạch Đằng có toạ độ địa lý: 106°37'-107°00' E và 20°37'-21°00'N và diện tích trong ô toạ độ 1650km2, có đỉnh ở Bến Triều, đường bờ cơ bản chạy ven Phù Long - Cát Hải - Đồ Sơn và rìa ngoài đới bờ ngầm cửa sông đi theo đường đẳng sâu 6m từ mũi Đồ Sơn đến tây nam đảo Cát Bà [9]
VCS nằm trên dải ven bờ tây Vịnh Bắc Bộ, có ranh giới tự nhiên ở bán đảo Hải Vân (Thừa Thiên Huế) và ranh giới pháp lý ở Mũi Lạy (cực nam Quảng Bình) Dải ven bờ tây vịnh Bắc Bộ được chia thành 4 vùng: Móng Cái - Đồ Sơn; Đồ Sơn - Lạch Trường; Lạch Trường - mũi Ròn; Mũi Ròn – Hải Vân [8]
VCS Bạch Đằng thuộc vùng ven bờ Móng Cái - Đồ Sơn, tiếp giáp vùng ven
bờ châu thổ sông Hồng hiện đại (Đồ Sơn – Lạch Trường) qua dải phân cách Kiến An -
Đồ Sơn Trong phạm vi hẹp hơn, VCS nằm giữa khu vực vịnh đảo ở phía Đông Bắc được bắt đầu từ quần thể đảo – vịnh là Cát Bà - Hạ Long – Lan Hạ và khu vực ven
bờ châu thổ phía tây nam bán đảo Đồ Sơn Trên 250km bờ biển kể từ biên giới Việt – Trung, đây VCS đầu tiên có đường thủy đạo thông nối với kinh thành Thăng Long
Với vị trí và tính chất chuyển tiếp của VCS trong hai vùng tự nhiên lớn ở dải ven bờ biển phía bắc Việt Nam và hình thể, cấu trúc đặc biệt VCS Bạch Đằng có vị thế đặc biệt về địa chính trị và địa quân sự
2 Cấu trúc
VCS Bạch Đằng có bản chất cấu trúc là một Estuary [7, 9] – vùng cửa sông hình phễu [6, 15] Nó được hình thành trên cơ sở tương tác giữa quá trình phát triển của một graben đang sụt chìm với sự nâng cao của mực nước chân tĩnh, sự thiếu hụt bồi tích và thuỷ triều có biên độ lớn Nó được định vị ở vị trí rìa đông bắc châu thổ sông Hồng, nơi dòng bồi tích tổng hợp dọc bờ hướng về phía tây nam VCS Bạch
Trang 2Đằng là một vực có cấu trúc nửa kín, nơi thuỷ triều là yếu tố động lực ngoại sinh ưu thế, quy định các đặc trưng về địa hình và trầm tích Đó là một vực nước lợ-mặn, hoà trộn nước sông-biển khá tốt, phân tầng yếu Mặc dù lượng bồi tích sông tham gia đáng
kể nhưng dòng bồi tích di chuyển nội tại là chủ đạo Với cấu trúc phân tầng yếu, cân bằng bồi xói VCS nghiêng về xói lở, xâm thực Đây là trường hợp điển hình trên thế giới về một cửa sông hình phễu nhiệt đới [4] phát triển trong điều kiện nhật triều biên
độ lớn [9]
Cấu trúc nửa kín của VCS và sự phân cách tương đối của nó với biển là nhờ quần đảo Cát Bà che chắn ở phía đông, đông nam, bán đảo Đồ Sơn ở phía tây VCS thông với biển ở phía nam và phần ngầm tới độ sâu 6m Với cấu trúc như vậy, chỉ có sóng hướng nam và đông nam mới có khả năng lan truyền từ biển vào với độ cao không quá 3m, kể cả khi có bão
Cấu trúc nửa kín của Estuary Bạch Đằng hiện nay do các kiến trúc tân kiến tạo
và kiến tạo hiện đại (TKT và KTHĐ) quy định Phần trung tâm của VCS nằm trên đới võng hạ tương đối với KTHĐ và đới võng hạ khá mạnh trong Holocen có dạng graben Vai trò vô cùng quan trọng của chuyển động KTHĐ đối với sự hình thành Estuary Bạch Đằng không chỉ là vận động hạ thẳng đứng trong Holocen, mà còn tạo ra tiền
đề một vùng võng hạ tương đối có cấu trúc nửa kín khi biển tiến chân tĩnh tràn ngập
Hình 1 Vùng cửa sông Bạch Đằng (ảnh vệ tinh Spot ngày 01/3/2008)
Địa hình VCS hết sức phức tạp và đa dạng, gồm nhiều kiểu, dạng có nguồn gốc khác nhau và được chia thành bốn nhóm: Địa hình đồi và núi thấp, đồng bằng không ngập triều, đồng bằng ngập triều tự nhiên và địa hình bờ ngầm- luồng lạch ngập nước thường xuyên Một phần lớn diện tích đồng bằng ngập triều tự nhiên hiện nằm trong
đê biển hoặc bị san lấp, hiện không còn chịu ảnh hưởng trực tiếp của biển Diện tích trong ô toạ độ của VCS là 1650km2 [9], trong đó: Đồi và núi thấp: 12,38%; Đồng bằng: 13,89%; Đê cát và thềm cát: 0,72%; Vùng đầm lầy biển: 32,62%; Bãi (bồi) triều
Trang 3thấp: 9,30%; Sông và lạch triều: 7,25%; Vùng bờ ngầm: 15,70%; Vùng biển nông ven bờ: 8,09%
Về phương diện địa hình và cảnh quan với các bãi triều lầy rậm rạp thực vật ngập mặn tự nhiên, hệ lạch triều, kênh triều dày đặc, các doi cát triều nằm dọc ven bờ luồng, các thềm mài mòn phát triển ở đới triều thấp trên nền trầm tích bở rời VCS Bạch Đằng cũng khác hẳn triều ven bờ châu thổ sông Hồng
3 Tiến hóa
Quá trình hình thành và tiến hoá của VCS Bạch Đằng trong Holocen trải qua 3 thời kỳ và 7 giai đoạn như sau [9]:
Thời kỳ thứ nhất: Holocen sớm - giữa (11 – 3 nghìn năm trước) Biên tiến chân
tĩnh giữ vai trò chủ đạo gây ngập chìm, nhanh chóng làm thay đổi môi trường từ lục địa sang ven bờ, đường bờ bị đẩy lùi xa nhất Vào cuối thời kỳ, mực nước chân tĩnh dâng chậm hẳn, vai trò của kiến tạo và trầm tích được tăng cường, đường mở mở lấn
về phía biển, biển lùi
Giai đoạn 1: Môi trường lục địa Holocen sớm - đầu Holocen giữa
Giai đoạn 2: Môi trường vũng - vịnh Holocen giữa
Giai đoạn 3: Môi trường đầm lầy rìa châu thổ cuối Holocen giữa
Thời kỳ thứ hai: Holocen muộn (3 đến 0,5 – 0,7 nghìn năm trước) Vai trò
chuyển động kiến tạo, đặc biệt ở các đới kiến trúc nâng, tham gia quyết định vào các quá trình ngập chìm, nổi cao Quá trình trầm tích tích cực có ảnh hưởng đến di chuyển đường bờ Vào cuối thời kỳ, do bồi tụ mạnh, đường bờ di chuyển ra phía biển, qua cả trung tâm sụt hạ khá mạnh
Giai đoạn 4: Môi trường vịnh - vụng đầu Holocen muộn
Giai đoạn 5: Môi trường vụng biển giữa Holocen muộn
Giai đoạn 6: Môi trường cửa sông châu thổ cuối Holocen muộn
Thời kỳ thứ ba: Cuối Holocen muộn (khoảng 0,5 – 0,7 nghìn năm qua), chỉ
gồm một giai đoạn đang tiếp tục với một đợt biển lấn mới, đường bờ di chuyển về phía lục địa, ngập chìm không đền bù trầm tích và thuỷ triều có vai trò quan trọng
Trong 5-7 trăm năm qua, mực nướcchân tĩnh tiếp tục nâng cao xấp xỉ 1mm/năm
và đạt 1-1,5mm/năm trrong thế kỷ qua Do phù sa sông ít, xâm thực của thuỷ triều mạnh, nhiều nơi đã không lắng đọng trầm tích Ngập chìm không đền bù do thiếu hụt bồi tích xẩy ra đã hình thành VCS hình phễu như hiện nay
Nguyên nhân gây ra sự thiếu hụt bồi tích bao gồm: 1- Khoảng 5-7 trăm năm trước bán đảo Đồ Sơn nối liền với đồng bằng vừa bồi lấn mở rộng ở rìa tây nam VCS
đã ngăn không cho bồi tích dọc bờ tây nam đi lên 2- Trong quá trình phát triển, nhiều nhánh nối ngang sông Hồng với hệ thông sông Cầu -Bạch Đằng bị tàn làm giảm nguồn bồi tích bổ sung từ sông Hồng 3- Thuỷ triều lớn, dòng triều mạnh dần lên đã tăng cường phân tán bồi tích lơ lửng ra khỏi VCS 4- Dòng chảy tổng hợp ven bờ hướng thống trị TB-ĐN có xu hướng đưa bồi tích xuống phía tây nam
Biển lấn hiện đại là đặc điểm cơ bản nhất của VCS Bạch Đằng hiện nay, thể hiện sự thắng thế của biển trong quan hệ tương tác sông-biển Các hậu quả của biển lấn là xói lở ưu thế so với bồi tụ, đường bờ bị đẩy lùi về phía lục địa và bị chia cắt phức tạp; mực nước trung bình thực tế đang dâng cao, hiện tượng đầm lầy hoá, nhiễm
Trang 4mặn và truyền triều sâu vào lục địa v.v và cả khu hệ động thực vật thích nghi điều kiện tự nhiên lợ mặn Tốc độ dâng cao mực biển 2,24mm/năm trong khoảng thời gian
1957 – 1989 đã được ghi nhận tại trạm Hòn Dấu
II.NHỮNG NÉT CƠ BẢN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÙNG CHIẾN TRƯỜNG BẠCH ĐẰNG NĂM 1288.
1 Hình thái địa hình
Đồi núi.
Địa hình đồi và núi thấp phân bố chủ yếu ở Hoành Bồ, Quảng Yên, Uông Bí, Thuỷ Nguyên, Kiến An và Đồ Sơn, được cấu tạo chủ yếu từ đá trầm tích lục nguyên
và đá vôi tuổi Cổ sinh và Trung sinh, năm ở vùng rìa hoặc xen kẽ dạng đồi đảo trên nền đồng bằng hoặc đầm lầy trong vùng cửa sông Độ cao đồi núi phổ biến 40-100m, cao nhất 200m Các điểm cao như Núi Đèo (146m), Ngọc Sơn (125m), Mã Tràng (114m), Doãn Lại (109m) có ý nghĩa lớn về quân sự khi có chiến tranh
Địa hình đồi núi hiện nay cơ bản được tạo nên nhờ các chuyển động nâng kiến tạo từ cuối Đệ tam kéo dài tới Pleistocen Trong Pleistocen, môi trường lục địa kéo dài
và có những lần biển lấn, rõ nhất là vào nửa sau Pleistocen muộn, khoảng 3-5 vạn năm trước Vào tận cuối Pleistocen muộn, do băng hà lần cuối cùng, mực biển hạ thấp hơn hiện nay 100-120m Biển tiến Holocen mở rộng cực đại ứng với mực biển cổ +4-6m vào 5-6 nghìn năm trước, sau đó nâng hạ tương đối một số lần và dâng cao dần từ khoảng 1 nghìn năm trước cho đến nay
Đồng bằng
Đồng bằng chủ yếu có nguồn gốc bồi tụ châu thổ có độ cao bề mặt 0,5-4m Đồng bằng bị chia cắt bởi hệ thống sông, lạch, ao, hồ khá dày đặc và các hệ thống đê cát cổ cao 2-2,5m đến 5-6m tạo thành các dải song song với bờ biển hiện nay Đồng bằng có hầu hết diện tích được đê bao ngăn lũ và mặn Đồng bằng không đồng nhất
về hình thái, nguồn gốc, tuổi và có thể phân biệt thành các bậc: tích tụ sông - biển tuổi Pleistocen muộn, tạo thành dải hẹp cao 8-12m; tích tụ sông - biển Holocen sớm-giữa,
bề mặt cao 2-4m, phân bố thành các mảng lớn; tích tụ sông - biển, đầm lầy - biển Holocen muộn khá rộng và thoải, cao 0,5-1,5m, không bị ngập triều là nhờ có đê bao
Tại rìa đồng bằng giáp đồi núi có mặt các thềm tích tụ biển gồm ba bậc Thềm bậc III, cao 10-15m, tuổi Pleistocen muộn Thềm bậc II, cao 4 - 6m, tuổi Holocen giữa Thềm tích bậc I, cao 3-3,5m, tuổi Holocen muộn Trên bề mặt đồng bằn có mặt 5
hệ thống đê cát biển cổ và hiện đại cấu tạo bằng cát, sạn Hệ 1 cao 4-6m; Hệ 2 cao 3-3,5m; Hệ 3 cao 2-2,5m; Hệ 4 cao 2,5-3m; Hệ đê 5 cao 3-3,5m Hệ 1 tuổi Holocen giữa và các hệ còn lại tuổi Holocen muộn, trẻ dần ra phia biển (hình 2) Chúng ít bị ngập lụt và có chứa nước ngầm nhạt tầng nông nên thường là nơi tập trung dân cư
Hệ thống sông lạch
Ba cửa sông chính đổ ra biển là Lạch Huyện, Nam Triệu, Cấm -Lạch Tray (hình 3) Sông Bạch Đằng là phần hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình bắt nguồn từ vùng núi Đông Bắc Các sông Lục Nam, Thương, Cầu và Đuống sau khi hợp lưu ở gần Phả Lại, cách biển 90km đã phân thành hai nhánh chính là sông Kinh Thầy và Thái Bình Sông Thái Bình tiếp tục phân thành hai nhánh là Thái Bình và Văn úc trước khi
đổ ra vùng biển tây nam Đồ Sơn Đến khoảng Bến Triều, cách biển chừng 48km, sông Kinh Thầy cũng phân thành hai nhánh chính là sông Đá Bạch và sông Kinh Thầy Gần sát biển, hai nhánh này hợp lưu và rồi lại phân lưu thành sông Chanh đổ ra cửa Lạch
Trang 5Huyện, sông Bạch Đằng đổ ra cửa Nam Triệu, sông Cấm và sông Lạch Tray đổ ra cửa
Ba Lạch
Hình 2 Hệ thống đê cát cổ và đường bờ cổ ven bờ Bắc Bộ [10]
Hình 3 Quan hệ giữa sông Bạch Đằng với thành Thăng Long
trong hệ thống thuỷ đạo đồng bằng sông Hồng và lân cận [1]
Vùng Sông Bạch Đằng dài 42km, trung bình rộng 1km, sâu 8m; sông Cấm dài 37km, trung bình rộng 400m, sâu 7m; sông Lạch Tray dài 43km, trung bình rộng 120m, sâu 4m Trong hệ thống sông Bạch Đằng, còn có một số nhánh nối ngang như
Trang 6sông Tam Bạc nối Cấm và Lạch Tray, sông Ruột Lợn nối sông Cấm với sông Bạch Đằng Ngoài ra, còn có sông Yên Lập bắt nguồn từ vùng núi Quảng Ninh, ra đến biển phân thành nhánh sông Bình Hương đổ ra vịnh Hạ Long và Gành Sy đổ ra cửa Lạch Huyện Lòng các sông Gành Sy, Bình Hương, Chanh và Bạch Đằng được mở rất rộng trước khi đổ ra biển, thường 500-800m, có nơi trên 1km như ở sông Bạch Đằng
Vùng Vùng triều cửa sông
VCS có cấu trúc nửa kín, thuỷ triều là động lực ưu thế, là một vực nước lợ-mặn, hoà trộn nước sông-biển khá tốt, phân tầng nước yếu, cân bằng bồi xói nghiêng về xói
lở, xâm thực Các bãi triều lầy rậm rạp thực vật ngập mặn tự nhiên, hệ lạch triều, kênh triều dày đặc (hình 4), các doi cát triều nằm dọc ven bờ các luồng sâu rộng là những dạng địa hình nguồn gốc triều đặc trưng Các tích tụ đầm lầy biển tuổi Hollocen giữa - muộn, cao 0,5 – 1,5m và tuổi Holocen muộn cao 0-1,0m Nhiều nơi, dưới bề mặt các đầm lầy sú vẹt gặp rất nhiều di tích mảnh gốm sứ thời phong kiến Đó là bằng chứng biển lấn vào các khu dân cư xưa
Hình 4 Hệ thống lạch triều ở VCS Bạch Đằng
Phía ngoài vùng cửa sông là vùng biển nông ven bờ, có độ sâu khoảng 5 - 6m đến 25 - 30m nằm trong phạm vi tác động rõ của sóng đến đáy biển và là vùng đồng bằng đáy biển tích tụ - bào mòn dưới tác dụng của dòng hải lưu ven bờ [11]
2 Khí hậu
VCS nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa Mùa hè nóng ấm trùng vào mùa gió tây nam với các hướng thịnh hành đông và đông nam, thường có bão và áp thấp nhiệt đới với tốc độ gió cực đại đạt 35 - 50m/s Mùa đông trùng vào mùa gió đông bắc với các hướng thịnh hành là bắc, đông bắc Gió hướng đông ưu thế trong các tháng 12-4, tốc
Trang 7độ trung bình 5,4 - 5,9m/s; gió đông nam và nam ưu thế vào các tháng 5 - 8, trung bình 5,5 - 6m/s và gió bắc và đông bắc ưu thế vào tháng 9 - 11, trung bình 5,6 - 6,3m/s
Mỗi tháng mùa đông có 3 - 4 đợt, có khi 5 - 6 đợt gió mùa đông bắc, mỗi đợt kéo dài 3 - 5 ngày, sức gió rất mạnh, nhiều khi đạt đến cấp 7, 8 Gió mùa đông bắc kèm theo giá lạnh, mưa phùn Hàng năm có 24 ngày mưa phùn và 15 - 20 ngày sương mù Mưa phùn vào tháng 12 - 4, nhiều nhất vào các tháng 2, 3, gây ẩm ướt, nhiều khi kèm theo lạnh buốt Sương mù chủ yếu vào mùa đông, khoảng tháng 11-4, có khi kéo dài đến tháng 6, mật độ cao từ 5-8 giờ sáng và càng ra khơi, số ngày sương mù càng tăng, làm tầm nhìn rất thấp, có khi chỉ vài mét, gây nhiều trở ngại cho giao thông
Chế độ gió ảnh hưởng rất lớn đến các vật thể trôi Tại VCS, quanh năm gió hướng Đ và ĐĐN chiếm ưu thế (hình 5 và 6) Đặc biệt trong mùa khô (mùa Đông), các hướng này càng chiếm ưu thế (tổng tần xuất chiếm 42,35%) và phân bố ở các khoảng tốc độ gió cao Trong khi đó, các hướng gió liên quan đến hướng Tây (T, TTB
và TB) chiếm tần xuất rất nhỏ, chỉ 3,26% và thường phân bố ở khoảng tốc độ gió nhỏ (bảng 1) Như vậy, về mùa đông, các vật thể trôi chủ yếu trôi từ phía bờ Đông sang phía bờ tây sông Bạch Đằng
Bảng 1 Tần suất vận tốc gió và các hướng trong mùa khô (tháng 12-3) tại Hòn Dáu
(1960-2011) [13]
số (%)
1.0 - 2.0 2.0 - 3.0 3.0 - 4.0 4.0 - 5.0 5.0 - 6.0 6.0 - 7.0 >= 7.0
Lượng mưa khoảng 1500 - 1800mm/năm, với 120 ngày có mưa trong năm Mùa mưa trùng mùa hè nóng, tháng 5-10, chiếm 80 - 90% lượng mưa cả năm và nhiều nhất vào các tháng 7, 8 và 9 Mùa khô từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau, cơ bản trùng mùa lạnh Tháng 12 và tháng 1 mưa ít nhất, chủ yếu là mưa phùn
Trang 8Hình 5 Hoa gió trong nhiều năm
(1960-2011) tại Hòn Dấu [13] Hình 6 Hoa gió trung bình nhiều năm vào mùa khô (1960-2011) tại Hòn Dấu [13]
3 Thủy văn
a Thủy văn sông
Vùng có ba cửa sông chính đổ ra biển là Lạch Huyện, Nam Triệu, Lạch Tray và
có bốn sông chính là Sông Yên Lập (nay thành hồ chứa), sông Bạch Đằng (dài 42km, trung bình rộng 1km, sâu 8m); Sông Cấm (dài 37km, trung bình rộng 400m, sâu 7m)
và Sông Lạch Tray (dài 43km, trung bình rộng 120m, sâu 4m)
Hàng năm các sông đổ ra biển khoảng 14 km3 nước và 5 triệu tấn bùn cát chủ yếu qua cửa Nam Triệu Trong đó, sông Cấm có lưu lượng lớn nhất trong vùng, mỗi năm đổ ra biển 10 – 11 km3 và gần 4 triệu tấn bùn cát, sông Lạch Tray 1,5 km3 nước
và khoảng 1 triệu tấn bùn cát, sông Đá Bạch khoảng 1 km3 nước mỗi năm Trong mùa mưa lũ (tháng 6 - 10), tải lượng nước chiếm 75 - 85% và tải lượng bùn cát chiếm 90 - 95% tổng lượng cả năm
VCS Bạch Đằng là một vực nước lợ mặn có độ mặn thay đổi trong khoảng 0,5-32%0 (0,5-25%0 về mùa mưa, 0,5-32%0 về mùa khô) Độ mặn 0,5-20%0 đặc trưng cho khu cửa Cấm - Nam Triệu Độ mặn 10-23%0 đặc trưng cho khu Lạch Huyện-Yên Lập
b Sóng biển
Do cấu trúc nửa kín, sóng biển nói chung không lớn, trừ những dịp bão, tần xuất lặng sóng đạt 20 - 21% Độ cao sóng lớn nhất 2 - 3m, sóng bão đạt 4 - 5m, cực đại 5,6m Vào mùa đông, khoảng tháng 9 – tháng sóng có độ cao trung bình 0,5 - 0,75m, thịnh hành hướng đông với tần xuất 34% và đông bắc với tần xuất 14% Vào mùa hè,
từ tháng 3 đến tháng 8, sóng có độ cao trung bình 0,7 - 0,9m, thịnh hành hướng đông nam với tần xuất 27% và hướng nam với tần xuất 22% Vào các tháng chuyển tiếp 4
và 10, sóng hướng đông và đông nam ưu thế, độ cao trung bình 0,75m
c Thủy triều và mực nước
Thuỷ triều kiểu nhật triều đều điển hình (hình 7) với hầu hết số ngày trong tháng là nhật triều Trong một pha triều 25 giờ có một lần nước lớn và một lần nước ròng Trong một tháng mặt trăng có hai kỳ nước cường, mỗi kỳ 11 - 13 ngày, độ lớn triều dao động 2,6 - 3,6m và hai kỳ nước kém, xen kẽ, mỗi kỳ 3 - 4 ngày có độ lớn triều 0,5 - 1,0m Mùa hè, triều mạnh vào các tháng 5, 6, 7, yếu vào các tháng 8, 9 và thường dâng cao vào buổi chiều Mùa đông, triều mạnh vào các tháng 10, 11, 12, yếu
Trang 9vào các tháng 3, 4 và thường dâng cao vào buổi sáng Độ lớn thuỷ triều thuộc loại lớn
ở nước ta, trung bình 3,0m, cực đại 4,18m, cực tiểu 1,75m
Hình 7 Dao động mực nước tại Hòn Dâu tháng 1/2007 [3]
Tại Hòn Dấu:
Mực triều cực đại 4,0m Mực triều thấp nước kém 1,1m Mực triều cao nước cường 3,6m Mực triều thấp nước cường 0,4m Mực triều cao nước kém 2,4m Mực triều thấp nhất 0,0m Mực triều trung bình 1,86m
Mực nước trung bình trên các sông so với mực biển thấp nhất tại Hòn Dáu khoảng 210-256 cm, có thể vượt 4,5m khi có lũ Ảnh hưởng thuỷ triều trên các sông rất lớn, chi phối mực nước-dòng chảy và truyền mặn sâu vào lục địa Sóng triều truyền sâu đến tận Phả Lại, cách biển 90km và biểu hiện đến tận Phủ Lạng Thương, cách biển 140km Tuy nhiên, giới hạn truyền mặn 10/00 chỉ đến Bến Triều, cách biển 48km Tương quan thời gian chảy lên và xuống trên sông Đá Bạch- Bạch Đằng là 9-10 giờ/16
- 15giờ vào mùa hè; 11 - 12/13-14 giờ vào mùa đông; trên sông Cấm là 12/13 giờ ở cả hai mùa Tốc độ dòng ở cửa sông mùa khô trung bình 10-15cm/s, hiếm khi vượt 50cm/s và bị dòng triều lấn át Vào ngày lũ, dòng chảy sông lớn, thường trên 100cm/s, đạt tới 1,8-2,5m/s, lấn át dòng triều và chảy xuống chiếm hầu hết thời gian trong ngày
d Dòng chảy
Dòng chảy có thành phần dòng nhật triều quyết định, nên có tính thuận nghịch trong ngày, phụ thuộc vào địa hình bờ, hướng bờ, luồng lạch và cửa sông [2] Dòng chảy mạnh vào các tháng 6, 7, 12, 1, yếu vào các tháng 3, 4, 8, 9 và mạnh nhất khi mực nước dao động lên - xuống ngang qua mực triều trung bình Tốc độ dòng trong khoảng rất rộng từ 0,1-1,8m/s, trung bình 10-30cm/s Tại cửa Nam Triệu, tốc độ dòng chảy xuống cực đại 90cm/s và chảy lên cực đại 60cm/s Phía ngoài VCS, dòng chảy triều yếu đi và vai trò dòng chảy mùa thể hiện rõ ràng Mùa hè, dòng chảy hướng đông bắc tốc độ 10 -15cm/s, mùa đông dòng chảy hướng tây nam, tốc độ 20 - 30cm/s
Trang 10Hình 8 Mô hình dòng chảy (Delf -3D) sông Bạch Đằng tại tầng mặt giữa pha
triều xuống mùa Đông (kỳ nước cường 7h, 20/3/2009) [14]
Hình 9 Hoa dòng chảy thực đo tầng giữa trạm BR1(Bến Rừng) vào mùa Đông
(tháng 01/ 2007) [5]
Chế độ dòng chảy nước mặt khu vực Bến Rừng được tính cho mùa khô (01/2007 và 3/2009) và mùa mựa (6/2007 và 8/2009): tốc độ dòng chảy trong mùa mưa có xu thế chung lớn gấp 2-3 lần mùa khô, thậm chí đến 5 lần tại khu vực sông Ruột Lợn khi triều xuống [5, 14] Mùa khô, tốc độ dòng chảy có giá trị trung bình 20 -
35 cm/s, giá trị cực đại có thể đạt 80 cm/s, hướng dòng chảy theo trục lòng dẫn Thời gian chảy xuống chiếm 60 - 70%, tốc độ dòng chảy xuống cũng giảm hẳn Tốc độ dòng chảy hầu hết tại các khu vực hơn nhau không đáng kể, phía khu vực thượng lưu của sông Bạch Bằng có giá trị lớn nhất Khu vực phía hạ lưu dòng chảy xuống có hướng NTN và dòng chảy lên có hướng ngược lại Vào mùa khô, tại khu vực phân lưu