1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN Phương pháp giúp học sinh lớp 9 viết tốt bài tập làm văn

22 1,3K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 195 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy tôi chọn một khía cạnh nhỏ của bộ môn Ngữ văn để nghiên cứu nhằmmục đích giúp các em học sinh đạt hiệu quả cao nhất trong việc học tập đó là : “giúp học sinh lớp 9 viết tốt bài tậ

Trang 1

I PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn học là phương tiện giáo dục con người nhạy bén nhất, hiệu quả nhất Ởđâu có con người và giáo dục thì ở đó không thể thiếu văn học Học tốt môn Ngữvăn sẽ giúp học sinh rất nhiều trong giao tiếp xã hội, gia đình và bạn bè Ngữ văn

sẽ giúp con người sống tự lập, tư duy, sáng tạo, có năng lực cảm thụ, có lòng say

mê, nhiệt tình đem tài trí của mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổquốc

Trong những môn học ở nhà trường THCS, môn Ngữ Văn giữ một vai trò rấtquan trọng Bởi vì đó là môn học bồi dưỡng vốn sống thực tế, vốn tri thức nhiềumặt cho học sinh Đặc biệt qua việc giảng dạy phần Tập làm văn giáo dục được ýthức, tình cảm và thái độ tích cực và kĩ năng sống trong cuộc sống của các em

Có thể thấy phần Tập làm văn trong Ngữ Văn 9 tập trung vào 3 nội dung lớn:Một là tiếp tục học về Thuyết minh với yêu cầu kết hợp phương thức biểu đạt nàyvới các phương thức biều đạt khác (Thuyết minh kết hợp với miêu tả và nghị luận);hai là tiếp tục học về văn bản Tự sự với các nội dung phát triển cao hơn so với cáclớp dưới, sự kết hợp các yếu tố : miêu tả nội tâm, nghị luận, đối thoại, độc thoại vàngười kể chuyện; ba là Nghị luận xã hội và nghị luận văn học Tuy nhiên, mụcđích, nhiệm vụ chính mà phần Tập làm văn hướng tới là giúp học sinh biết vậndụng các kiến thức và kĩ năng đã học vào việc tạo lập văn bản, nghĩa là cuối cùnghọc sinh phải biết vận dụng những kiến thức và kĩ năng cơ bản để viết được mộtkiểu văn bản nào đó đáp ứng yêu cầu cuộc sống

Qua nhiều năm giảng dạy bộ môn Ngữ Văn, tôi nhận thấy có một vài giảipháp thích hợp và thiết thực trong việc truyền đạt đầy đủ kiến thức, rèn luyện cụthể để giúp học sinh (đặc biệt là học sinh yếu, kém) có kĩ năng viết văn cơ bản vàtốt hơn nữa, có kết quả cao hơn, nhất là chuẩn bị được kiến thức cơ bản để bướcvào THPT Đồng thời cũng góp phần nâng cao hiệu quả và cải thiện chất lượng bộmôn Ngữ Văn 9 nói riêng và chất lượng giáo dục của nhà trường nói chung

Vì vậy tôi chọn một khía cạnh nhỏ của bộ môn Ngữ văn để nghiên cứu nhằmmục đích giúp các em học sinh đạt hiệu quả cao nhất trong việc học tập đó là : “giúp học sinh lớp 9 viết tốt bài tập làm văn”

2 Mục đích nghiên cứu

Thông qua các tiết dạy thực hành, phân tích, tìm hiểu, các tiết trả bài viết, tiết

ôn tập Tập làm văn, giáo viên giúp học sinh cảm nhận được đầy đủ nội dung kiếnthức - kĩ năng về các kiểu bài; củng cố, khắc sâu nội dung kiến thức đã học Họcsinh hiểu rộng hơn nữa về kiến thức mà hiện trong sách giáo khoa không có Từ đó

có thể cải thiện chất lượng học tập của học sinh yếu kém và nâng cao kết quả họcsinh khá, giỏi

Trang 2

Vận dụng Công nghệ thông tin nhằm tạo được hứng thú cho học sinh đồngthời tạo cho các em có một thái độ tích cực, ý thức ham muốn trong giờ học Tậplàm văn Tự mình có thể trình bày một vấn đề trong cuộc sống hoặc bộc lộ nhữngtâm tư, tình cảm của bản thân qua một số kiểu bài mà các em đã học Rèn các kĩnăng viết đoạn xây dựng đoạn để từ đó học sinh viết tốt bài tập làm văn lớp 9 Trong quá trình thực hiện đề tài này tôi đã thực hiện các phương phápnghiên cứu lí luận như : tìm hiểu, nghiên cứu một số tài liệu tham khảo về giảngdạy Ngữ Văn 9 (SGV, Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kì II, III…) để phântích, đúc rút những mặt tích cực và những mặt còn hạn chế trong quá trình dạy-học.Phương pháp điều tra thực tế : Khảo sát để nắm bắt tình hình học tập và thái độ họcvăn của các em, khảo sát để biết được thực chất cách viết, chất lượng bài viết văncủa học sinh.

3 Thời gian, địa điểm :

Trong chương trình Trung học cơ sở, môn Ngữ Văn 9, Tập làm văn trongNgữ Văn 9 tập trung vào 3 nội dung lớn : Một là tiếp tục học về Thuyết minh vớiyêu cầu kết hợp phương thức biểu đạt này với các phương thức biều đạt khác(Thuyết minh kết hợp với miêu tả và nghị luận; hai là tiếp tục học về văn bản Tự sựvới các nội dung phát triển cao hơn so với các lớp dưới, sự kết hợp các yếu tố: miêu

tả nội tâm, nghị luận, đối thoại, độc thoại và người kể chuyện; ba là Nghị luận xãhội và nghị luận văn học Chính vì thế trong sáng kiến kinh nghiệm này, tôi chỉ đềcập đến “Phương pháp giúp học sinh lớp 9 viết tốt bài tập làm văn”

Thời gian mà tôi nghiên cứu và thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này là trongnăm học 2013 – 2014, tại trường THCS Mạo Khê I, thị trấn Mạo Khê, huyện ĐôngTriều, tỉnh Quảng Ninh; đối tượng là học sinh khối 9

4 Đóng góp mới về mặt thực tiễn :

Khi đặt ra vấn đề : Làm thế nào để giúp học sinh viết tốt bài tập làm văn lớp 9nhằm nâng cao chất lượng dạy và học văn ở bậc THCS ? tôi muốn các đồng nghiệpchia sẽ cùng tôi những kinh nghiệm giảng dạy, trao đổi bàn luận để tìm ra biệnpháp thiết thực, khả thi nhất, giải quyết triệt để tình trạng học sinh chỉ chú ý đếnmôn học tự nhiên hơn môn học xã hội, bộc lộ tình cảm, cảm xúc một cách hạn chế.Mục đích cuối cùng của người viết sáng kiến này là mỗi giáo viên văn sẽ đào tạocho đất nước những thế hệ học sinh, không chỉ thành thục về kĩ năng mà còn giàu

có về cảm xúc, có tâm hồn trong sáng, nhân ái, biết vươn tới Chân – Thiện – Mĩ.Trong quá trình thực hiện chúng tôi đã nhận thấy có nhiều học sinh rất lúngtúng khi viết phần mở bài, phần thân bài sơ sài, nhiều học sinh viết “câu cụt, câuquè”, diễn đạt vụng về Kĩ năng viết bài của học sinh còn chưa tốt

Việc đổi mới phương pháp dạy học là chủ trương của Đảng và Nhà nước nó

có ý nghĩa lâu dài nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Để đáp ứng yêucầu của ngành giáo dục trong giai đoạn hiện nay, việc nâng cao chất lượng giáo dục

Trang 3

ở các trường phổ thông là một việc làm cấp thiết, đòi hỏi sự tích cực cải tiến cácphương pháp, biện pháp đổi mới trong dạy - học và kiểm tra đánh giá Có như vậy,chất lượng bộ môn Ngữ Văn 9 mới dần được cải thiện và nâng cao.

Trong quá trình giảng dạy các tiết Tập làm văn như : Tìm hiểu…, xây dựngdàn ý…, cách làm bài…hoặc các tiết trả bài viết, ôn tập, luyện tập…, giáo viên cầnchú ý đến đặc điểm của học sinh, phải bảo đảm tính tích cực, tự lực, sáng tạo củahọc sinh Việc thực hiện phải chính xác với nội dung, phương pháp giảng dạy, phảitìm ra phương pháp cũng như cách truyền đạt sao cho phù hợp với đặc điểm và khảnăng tiếp thu bài của các em

Trong quá trình giảng dạy cần phát huy tính sáng tạo, kích thích sự say mêmôn học và rèn luyện kĩ năng cảm nhận và viết văn cho học sinh Qua các tiết kiểmtra bài viết, các tiết trả bài viết giúp học sinh đúc rút những kinh nghiệm khi viếtbài tập làm văn và cần kết hợp đồng bộ, nhịp nhàng các phương pháp dạy - học

II PHẦN NỘI DUNG

1 CHƯƠNG I : TỔNG QUAN

1.1 Cơ sở lí luận :

Với Văn học nghệ thuật, đồng chí Phạm Văn Đồng đã từng nói : “ Văn họcnghệ thuật là một vũ khí vô song” Với những tác phẩm của Nguyễn Trãi, nhất lànhững thư dụ hàng tướng giặc, nhiều khi được đánh giá có sức mạnh như một đạoquân mười vạn người Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực xã hội, là món ăntinh thần không thể thiếu của mỗi con người Nó làm cho tâm hồn tư tưởng tìnhcảm thêm phong phú, nhạy cảm trước cái đẹp, cái thiện của cuộc đời Văn sẽ giúpcon người hoàn thiện nhân cách, sống tốt hơn, cao thượng hơn, biết yêu thươngmọi người và có ích cho mọi người Đại văn hào Nga Mác Xim Gor ki nói : “ Họcvăn là học làm người” Học sinh học tốt môn Ngữ văn có tác động đến các môn họckhác

Việc học sinh học tốt môn ngữ văn nói chung và viết tốt bài tập làm văn nóiriêng sẽ giúp các em rất nhiều trong việc hình thành tính cách, bồi dưỡng tinh thầnđoàn kết, lòng nhân ái … Nó giúp các em có tư duy lôgic hơn cũng đồng thời giúpcác em cảm thụ văn chương sâu hơn Việc giúp học sinh viết tốt bài tập làm vănlớp 9 đòi hỏi người thầy phải có kiến thức sâu rộng ở nhiều mặt, cả những kiếnthức trong sách và thực tế ở ngoài đời Nó cũng đòi hỏi sự tâm huyết ở người thầy,người thầy cần phải kiên trì, tận tâm và cần có các phương pháp linh hoạt cho cáccách hướng dẫn cho từng bài cụ thể

Trang 4

II), điều này cũng gây khó khăn cho học sinh trong quá trình học tập nắm vữngkiến thức, nhất là đối với học sinh yếu, kém.

Việc tìm và đưa ngữ liệu vào việc viết văn cũng còn nhiều hạn chế Đó làhiện nay học sinh ít quan tâm đến việc đọc văn bản, lười biếng hoặc chỉ đọc qua loađối phó; một bộ phận học sinh lại quá ỷ lại sách tham khảo, sách bài văn mẫu Cóthể thấy chỉ cần trên dưới vài chục ngàn là các em có ngay sách bài văn mẫu để làm

“ bảo bối” trong các tiết viết bài tập làm văn, kiểm tra học kì

Đối với người dạy, đa số giáo viên đều tận tụy với công tác giảng dạy, chăm

lo quan tâm đến học sinh nhưng vẫn còn những mặt hạn chế sau :

- Giáo viên khó có thể thực hiện đầy đủ, trọn vẹn việc truyền đạt kiến thức - kĩnăng cho từng đối tượng học sinh về cách viết bài văn, xây dựng đoạn văn, tách

đoạn văn, liên kết đoạn văn bởi vì thời lượng không cho phép Ở các tiết Trả bài viết Tập làm văn, tiết Ôn tập , tiết Luyện nói nhiều khi giáo viên còn hời hợt,

hướng dẫn chưa được cụ thể cho các em xây dựng được bố cục của bài viết

- Việc ứng dụng Công nghệ thông tin vào việc giảng dạy Tập làm văn cũng còn hạnchế, chưa hợp lí… nên ít nhiều cũng ảnh hưởng đến viếc gây hứng thú và việc tiếpthu kiến thức của học sinh

2 CHƯƠNG II : NỘI DUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Thực trạng :

Qua quá trình điều tra, khảo sát chúng tôi thấy :

Về phía giáo viên : một số giáo viên có phương pháp giảng dạy chưa thực sựphù hợp với một bộ phận không nhỏ học sinh yếu kém dẫn đến chất lượng chưacao Do điều kiện khách quan nên việc sử dụng đồ dùng dạy học, phương pháp trựcquan vào tiết học hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng tiếp thu bài của học sinh Một

số giáo viên chưa thực sự tâm huyết với nghề, chưa khơi gợi được mạch nguồn cảmxúc ẩn sau mỗi trái tim người học Nhiều giáo viên còn rất ngại khi rèn các kĩ năngviết bài cho học sinh hoặc khi trả bài chỉ nhận xét qua loa, không giúp một cách tậntình để các em có thể viết tốt các bài văn sau đó

Đối với học sinh : Một số học sinh vì lười học, chán học nên không chuẩn bịtốt tâm thế cho giờ học Ngữ văn Vì trường nằm trên địa bàn có nhiều tụ điểm vuichơi như công viên, hồ bơi, siêu thị, các quán điện tử…nên nhiều học sinh bị thu

Trang 5

hút vào các trò chơi mà sao nhãng việc học hành Đời sống văn hóa tinh thần ngàymột nâng cao, một số nhu cầu giải trí như xem ti vi, chơi game…ngày càng nhiềulàm cho một số em chưa có ý thức học bị lôi cuốn, sao nhãng việc học.

Một số học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn, kinh tế khó khăn nên các

em phải phụ giúp gia đình ngoài giờ lên lớp, thời gian học không nhiều Một số họcsinh có hoàn cảnh bố mẹ ly hôn, người ở với mẹ, người ở với bố, có học sinh ở vớiông bà, nên sự quan tâm của gia đình cho việc học của các em chưa đều, chưa cao.Ngay khả năng diễn đạt bằng lời nói các em cũng không được gia đình luyện rèn.Nhiều học sinh lười hoặc không bao giờ đọc sách, kể cả văn bản trong SGK, cómột số học sinh rất lười đọc thuộc thơ Từ những thực trạng trên, tôi đã xây dựngđược một số giải pháp để thúc đẩy tốt hơn việc giúp học sinh viết tốt bài tập làmvăn

2.2 Các giải pháp :

a Rèn kĩ năng cảm thụ văn học :

Trong quá trình giảng dạy , giáo viên tích hợp giữa tiết dạy Văn bản với tiếtdạy Tập làm văn một cách có hiệu quả bằng việc rèn luyện cảm thụ văn học chohọc sinh trong dạy đọc hiểu văn bản, cụ thể:

+ Đọc diễn cảm: Đọc diễn cảm là thể hiện sáng tạo tác phẩm văn học trong giọngđọc nhằm tác động đến những người nghe Nếu giáo viên đọc diễn cảm tốt thì sẽtạo nên bầu không khí tươi mát trong giờ học Học sinh có thể thưởng thức giọngđọc và dễ sản sinh những ấn tượng, xúc động tự nhiên về văn bản Diễn cảm ở đâyhoàn toàn không phải là ở sự uốn éo đầu lưỡi mà thể hiện những cảm xúc nội tạicủa tâm hồn Những cảm xúc này không phải giả tạo mà phải là cảm xúc chânthành, sâu sắc về văn bản Nói đọc diễn cảm thuộc nghệ thuật trình diễn trước hếtkhông phải là “khoe giọng” mà là sự thể hiện xúc động của trái tim Chính vì thế,giáo viên sử dụng thích đáng biện pháp này sẽ tạo cho học sinh những ấn tượngtươi mới, những xúc động mạnh mẽ về văn bản; đồng thời nó có khả năng kíchthích liên tưởng, tưởng tượng tạo sự thâm nhập thuận lợi vào thế giới nghệ thuậtcủa văn bản

+ Đưa các câu hỏi gợi cảm xúc, liên tưởng, tưởng tượng Trước hết là những câu

hỏi gợi cảm xúc, ở dạng đơn giản nhất chúng là những câu hỏi trắc nghiệm tìnhcảm Những câu hỏi này có thể kiểm tra phản ứng tình cảm của học sinh; mặt khác

nó thúc đẩy sự đồng cảm, khuyến khích các em lắng nghe tiếng nói của trái tim

Chẳng hạn, sau khi đọc diễn cảm, giáo viên có thể hỏi: Em ấn tượng thế nào về đoạn thơ ( khổ thơ, câu thơ…trong bài thơ; hay hành động, ngôn ngữ, tích cách nhân vật… trong truyện)? Hay để bình giá về chi tiết anh thanh niên trong Lặng lẽ

Sa Pa của Nguyễn Thành Long vì “thèm người” nên ngáng gỗ dọc đường không

cho xe đi qua để gặp và trò chuyện cùng những người qua đường, giáo viên có thể

hỏi học sinh: Có thể hiểu thèm người là cảm giác mà ai cũng có khi phải ở hoàn cảnh một mình hay cô đơn không? Tại sao tác giả không nói anh rất cô đơn, rất

Trang 6

muốn gặp ai đó để nói chuyện mà lại nói là “thèm người”? Và các em đã bao giờ trải qua cảm giác này hay chưa? Em nghĩ gì về anh thanh niên? Những câu hỏi

dạng này khiến học sinh phải huy động kinh ngiệm bản thân để soi sáng bản chấtnhân vật, dễ đồng cảm sâu sắc với tình huống và cảnh ngộ của nó Ngoài ra, giáoviên có thể dùng những câu hỏi khơi gợi tưởng tượng của học sinh Cho nênthưởng thức văn bản văn học đòi hỏi phải huy động tưởng tượng, hình thức tưởngtượng để làm nổi bật lên bức tranh đời sống trong văn bản thường được gọi làtưởng tượng tái tạo Khả năng tưởng tượng càng cao thì sự thâm nhập vào văn bảncàng sâu sắc, và người đọc có xu hướng quên đi thế giới thực tại, sống bằng thếgiới tưởng tượng do nhà văn sáng tạo nên Nhưng tưởng tượng trong cảm thụ vănhọc còn có hình thức khác đó chính là sự nhập thân vào nhân vật, làm sống lại trênchính bản thân mình những cảm xúc nhân vật trải qua

+ Dùng lời bình: Dùng những lời bình hấp dẫn và đúng chỗ có tác dụng rất lớn

trong việc rèn luyện cảm thụ cho học sinh Trước hết, nó khiến học sinh có những

ấn tượng sâu sắc khó phai mờ về vẻ đẹp của văn chương Biện pháp này cho phépgiáo viên phát huy phẩm chất nghệ sĩ của mình; và cũng vì thế kích thích mầm sángtạo của học sinh, tạo nên sự giao lưu về tình cảm trong giờ văn Nhưng tuyệt nhiêngiáo viên không được lạm dụng biện pháp này, bởi nhiệm vụ chính của giáo viên là

tổ chức để học sinh cảm thụ và lĩnh hội giá trị của văn bản chứ không phải là trổ tàitrình diễn để thôi miên học sinh Do đó, giáo viên chỉ tung ra lời bình khi học sinhcảm nhận chưa tới, đánh giá chưa xác đáng và những lời bình lúc đó có tác dụng hỗtrợ, tiến tới khắc sâu ấn tượng cho học sinh, tạo nên những khoái cảm thẩm mỹ Lờibình vì thế, trước hết phải giàu cảm xúc, là sản phẩm của sự xúc động sâu sắc trước

vẻ đẹp của văn bản Mặt khác, nó phải độc đáo, giáo viên phải chọn cách nói ấntượng, ưu tiên tiên những lối diễn đạt giàu hình ảnh nhằm tác động mạnh đến họcsinh Hơn nữa, giáo viên chọn bình những chi tiết nào là điểm sáng nghệ thuật củatác phẩm và việc bình giá nó giúp học sinh nắm được thần thái, linh hồn của vănbản ở đây, tôi muốn nói đến những lời bình có khả năng đánh thức liên tưởng củahọc sinh, nó tựa con đường dẫn học sinh thâm nhập tự nhiên vào thế giới nghệthuật văn bản

b Luyện tập xây dựng lập luận cho một đoạn văn nghị luận :

Mục đích luyện tập

- Từ các nội dung đã được chuẩn bị trước, HS biết cách tổ chức thành một lập luậnhoàn chỉnh theo các thao tác lôgíc Cụ thể là:

+ Xây dựng được lập luận trong đoạn văn theo cách phân tích

+ Xây dựng được một lập luận trong đoạn văn theo cách tổng hợp

+ Xây dựng được một lập luận trong đoạn văn theo cách tổng hợp - phân tích

- tổng hợp (tổng phân hợp)

+ Biết cách chuyển đổi từ kiểu lập luận này sang kiểu lập luận khác theo cácthao tác lôgíc

Trang 7

- Từ nội dung đã được chuẩn bị trước, HS biết cách tổ chức thành môt lậpluận hoàn chỉnh theo các thao tác trình bày Cụ thể là:

+ Xây dựng được lập luận trong đoạn văntheo cách giải thích

+ Xây dựng được lập luận trong đoạn văn theo cách chứng minh

+ Xây dựng được lập luận trong đoạn văn theo các bình luận

+ Xây dựng được lập luận trong đoạn văn theo cách so sánh

+ Xây dựng được lập luận trong đoạn văntheo cách nhân quả

+ Biết cách chuyển đổi từ kiểu lập luận này sang kiểu lập luận khác theo cácthao tác trình bày

* Nội dung kiến thức cần nắm vững trước khi luyên tập

1 Các thao tác lôgíc

a phân tích: Đó là sự phân chia đối tượng thành những bộ phận nhỏ, những

khía cạnh nhỏ để lần lượt khảo sát xem xét

b Tổng hợp: Đó là việc hợp các bộ phận nhỏ lại thành cái chung, cái toàn

thể

c Tổng phân hợp: Lập luận theo cách tổng phân hợp được hiểu là cách thức

trình bày lập luận theo kiểu tổng hợp, phân tích rồi lại tổng hợp và được hiểu đơngiản là quy nạp và diễn dịch

2 Các thao tác trình bày

a Giải thích: Là làm sáng rõ một vấn đề nào đó để giúp người khác hiểu

một cách rõ ràng hơn, sâu sắc hơn

b Chứng minh: Là làm sáng tỏ vấn đề bằng các dẫn chứng và lí lẽ để người

đọc, người nghe tin vào vấn đề trình bày

c Bình luận: Là bày tỏ ý kiến về một vấn đề, đánh giá bản chất, ý nghĩa của

vấn đề, khẳng định tính đúng sai, mở rộng vấn đề giải quyết vấn đề một cách triệt

để và toàn diện

d So sánh:

+ Lập luận so sánh bằng cách tương đồng

+ Lập luận so sánh bằng cách tương phản

e Nhân quả: Nhân quả là cách thức lập luận đi từ nguyên nhân đến kết quả,

hoặc đi từ kết quả rồi chỉ ra nguyên nhân hoặc chỉ ra mối quan hệ nhân quả theocách liên hoàn

Trang 8

(1) Truyện Kiều cũng nói lên lòng xót thương vô hạn của Nguyễn Du đốivới những tầng lớp người bị áp bức, đau khổ.

(2) Nhưng qua Truyện Kiều, Nguyễn Du đã mô tả một cách sâu săc xã hộiphong kiến thối nát của thời đại ông, đã tố cáo, phê phán những thủ đoạn tàn nhẫnbất công chà đạp lên vận mệnh con người

(3).Truyện Kiều còn bị hạn chế trong ý thức hệ phong kiến mà biểu hiện tậptrung nhất là tư tưởng định mệnh

Bài 2

Cho trước kết luận: “Nói đến nghệ thuật Truyện Kiều là nói đến nghệ

thuật sáng tạo ra một thế giới có thật” và các luận cứ:

Trong Truyện Kiều, nhiều con người, nhiều cảnh vật, nhiều tâm trạng đượcNguyễn Du thể hiện một cách thành công Đó là thân hình đồ sộ đẫy đá của Tú Bà;dáng dấp hào hoa phong nhã của Kim Trọng; cái lẩm nhẩm gật đầu ám muội của

Sở Khanh; cái cười sảng khoái của Từ Hải; bộ mặt đen sì ngơ ngẩn vì tình của HồTôn Hiến Hay sự tinh tế của ánh trăng đến những rung cảm sâu thẳm trong lòngngười đều được Nguyễn Du thể hiện chính xác

Hãy dựa vào đó xây dựng thành lập luận hoàn chỉnh theo kiểu diễn dịch, quy nạp và tổng – phân - hợp.

Bài tập luyện xây dựng đoạn văn theo các thao tác trình bày

(Mỗi dạng so sánh, giải thích, chứng minh, bình luận, nhân quả tuỳ từng đối tượng học sinh mà người dạy lựa chọn bài tập phù hợp.)

Bài 1

Sau đây là một cách lập luận tổng phân hợp:

(1) Trong hoàn cảnh “trăm dâu đổ đầu tằm” ta thấy chị Dậu là một phụ nữđảm đang tháo vát (2) Một mình chị phải giải quyết mọi khó khăn đột xuất của giađình, phải đương đầu với thế lực tàn bạo: quan lại, cường hào, địa chủ và tay saicủa chúng, (3) Chị có khóc lóc, có kêu trời nhưng chị không nhắm mắt khoanh tay

mà tích cực tìm cách cứu chồng ra khỏi cơn hoạn nạn, (4) Hình ảnh chị Dậu hiệnlên vững chãi như một chỗ dựa chắc chắn của gia đình

(Theo Nguyễn Đăng Mạnh)

Có thể biến đổi đoạn văn trên thành đoạn văn lập luận theo cáh diễn dịch hay quy nạp được không? Hãy trình bày cụ thể cách chuyển đó.

Bài 2

Cho đoạn văn:

(1)Múc một gáo nước, biển cả không vì thế mà vơi, thêm một gáo nước biển

cả không vì thế mà đầy (2)Người từng trải không vì công nhỏ mà vội mừng, cũngkhông vì thất bại mà nản chí.(3) Cho nên ai muốn trưởng thành thì phải khiêm tốn

và bền gan

Trang 9

Triết lí trong lập luận trên có phù hợp với nhiều việc ở đời không?

Hãy tạo một đoạn văn có cách lập luận tương tự để phát biểu quan niệm của

em đối với sự học tập tu dưỡng của bản thân.

c Xây dựng dàn ý và cách viết đoạn ở mỗi kiểu bài :

- Ở mỗi kiểu bài Tập làm văn, giáo viên cần xây dựng cho học sinh nắm vững yêucầu - nội dung của mỗi kiểu bài Học sinh phải nhớ thật cụ thể bố cục dàn ý đạicương của mỗi kiểu bài, nhiệm vụ của mỗi phần trong dàn ý là gì, cách làm như thếnào, dẫn dắt ra làm sao…Có như vậy, khi đứng trước một đề bài Tập làm văn các

em có thể xác định được ngay kiểu bài, yêu cầu, dàn ý để làm tốt bài văn

Việc xây dựng dàn ý cũng như tìm hiểu yêu cầu của bài Tập làm văn cũng cần

phải được thực hiện đầy đủ, rõ ràng ở các tiết Trả bài viết Tập làm văn, các tiết Ôn tập Tập làm văn Chẳng hạn ở tiết 25 : Trả bài viết Tập làm văn số 1 – Văn thuyết minh ( Ngữ văn 9- Tập I)

Giáo viên nhất thiết cần phải giúp học sinh thực hiện các yêu cầu sau:

1/ Tìm hiểu đề bài ( Phân tích đề)

- Yêu cầu ( thể loại): Thuyết minh ( Thuyết minh là gì ? Phương pháp nào cần được vận dụng ?)

- Nội dung: Đề bài yêu cầu thuyết minh về cái gì ?

- Phương hướng, phạm vi tư liệu: Lựa chọn phương pháp thuyết minh, chuẩn

bị tri thức về đối tượng ở những phạm vi nào )

- Lưu ý vận dụng các yếu tố, cách liên kết đoạn, chuyển đoạn.

c/ Kết bài: Ý nghĩa của đối tượng hoặc bài học thực tế, xã hội, văn hoá…

3/ Nhận xét về cách trình bày: Giáo viên nhận xét về cách viết đoạn văn, liên kết đoạn văn, cách dùng từ của học sinh.

Thực hiện được những điều này trước khi viết bài Tập làm văn sẽ giúp họcsinh tránh được việc làm lạc đề, lệch đề, thể hiện được đầy đủ nội dung bài viết mộtcách đầy đủ, trọn vẹn, súc tích về nội dung và chặt chẽ, mạch lạc về hình thức Rènluyện được kĩ năng viết cũng như thói quen tốt trước khi làm bài viết Bởi vì cónhiều em sau khi đọc xong đề bài là ào ào viết chẳng cần phải suy nghĩ gì, rồi nhiều

em học sinh yếu thì lúng túng, không biết phải bắt đầu từ đâu cho nên kết quả chắcchắn sẽ không cao

Hoặc khi dạy các bài thực hành kĩ năng về cách làm bài văn Nghị luận cũngvậy, giáo viên cần xây dựng cho các em nhận biết, khắc sâu được dàn ý đại cương

Trang 10

của một bài nghị luận Chẳng hạn ở tiết 120 : Cách làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) – SGK NV 9, tập II

Giáo viên xây dựng cho học sinh cách phân tích đề bài, dàn ý đại cương về kiểubài Nghị luận văn học

1/ Phân tích đề:

- Yêu cầu ( thể loại): Nghị luận văn học

- Nội dung: Đề bài yêu cầu nghị luận về tác phẩm nào, đoạn trích nào

- Phương hướng, phạm vi tư liệu: Phân tích, chứng minh hay bình luận về nội dung giá trị tác phẩm? hoặc về nhân vật ? Phạm vi tư liệu- dẫn chứng như thế nào ?

2/ Tìm ý: Dựa vào nội dung, yêu cầu của đề bài để tìm ý ( chú ý vào những từ ngữ quan trọng trong đề bài)

3/ Lập dàn ý:

a/ Đặt vấn đề:

- Giới thiệu được nội dung vấn đề cần giải quyết.

- Nêu xuất xứ của vấn đề hoặc nêu đặc điểm của vấn đề ( nhân vật)

b/ Giải quyết vấn đề :

- Lần lượt phân tích, chứng minh từng khía cạnh, từng mặt của vấn đề

- Nhận xét, đánh giá, thái độ của người viết.

* Lưu ý:Khi viết cần;

+ Vận dụng các yếu tố, các biện pháp nghệ thuật, cách liên kết đoạn, chuyển đoạn.

+ Khi phân tích tác phẩm truyện cần chú ý : Tình huống truyện, cốt truyện, nhân vật ( hành động, suy nghĩ, thái độ) và những nét đặc sắc nghệ thuật

c/ Kết thúc vấn đề:

- Nhận xét khái quát ( hoặc khẳng định) vấn đề đã phân tích, tìm hiểu.

- Rút ra bài học cho bản thân hoặc nêu cảm nghĩ…

Hoặc khi dạy tiết 78,79 : Ôn tập - Tập làm văn ( Ngữ văn 9, tập 1) theo tôi, giáo

viên cần giúp các em chuẩn bị tốt việc nắm vững trọng tâm của đề cương ôn tập,kiến thức và kĩ năng làm bài tập làm văn

-Phương hướng, ngữ liệu làm bài: Xác định những phương thức biểu đạt, các yếu

tố kết hợp, ngôi kể, tư liệu như thế nào ?

2/ Tìm ý: Dựa vào nội dung, yêu cầu của đề bài để tìm ý (chú ý vào những từ ngữ quan trọng trong đề bài)

3/ Lập dàn ý:

Trang 11

a/ Mở bài:

- Giới thiệu nhân vật, sự việc mang chủ đề chính

- Nêu xuất xứ của vấn đề hoặc nêu đặc điểm của vấn đề ( nhân vật)

b/ Thân bài : Phát triển câu chuyện

- Lần lượt ghi lại những chi tiết, tình tiết của nhân vật (Suy nghĩ, lời nói, cử chỉ, hành động) xoay quanh chủ đề chính

- Nhận xét, đánh giá, thái độ của người viết.

- Nhận xét khái quát ( hoặc khẳng định) ý nghĩa, chủ đề đề đã kể.

- Rút ra bài học cho bản thân hoặc nêu cảm nghĩ…

- Một điểm nữa là bên cạnh việc xây dựng bố cục dàn ý các kiều bài Tập làm văn,

giáo viên cũng cần hướng dẫn cho học sinh cách viết đoạn văn, cách triển khai vấn

đề, luận điểm Ở các tiết dạy về Ôn tập Tập làm văn hoặc Cách làm bài nghị luận…giáo viên giúp các em xác định được câu chủ đề (câu chứa luận điểm) trong

mỗi đoạn văn, trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch hay quy nạp, mỗi đoạn văndiễn đạt một ý như thế nào…Đồng thời cũng cần chú ý đến các phép liên kết vănbản thường gặp trong quá trình viết bài Tập làm văn, như: Phép lặp, phép thế, phépnối…để bài văn được liên kết một cách logic, chặt chẽ hơn Giáo viên hướng dẫnhọc sinh viết các phần Đặt vấn đề, Giải quyết vấn đề và Kết thúc vấn đề ở kiểu bàiNghị luận

* Viết phần đặt vấn đề :

Đây phần đến với người đọc đầu tiên, do đó, phần này gây cho người đọc cảm giác,

ấn tượng ban đầu rất quan trọng Vì vậy, cần đặt vấn đề gọn gàng, hấp dẫn sẽ tạo rahứng thú ở người đọc, gây không khí tâm lí thuận lợi cho việc tiếp xúc các phầnsau Thông thường, phần đặt vấn đề ( kể cả trực khởi hay lung khởi) có các bộ phậnsau: Gợi mở vào đề: nều xuất xứ, lí do dẫn đến bài viết Giới thiệu nội dung vấn đề

Họ đều là những con người đáng yêu mến, quý trọng Đặc biệt là anh thanh niên làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu đã gây được thiện cảm và ấn tượng sâu sắc trong lòng mỗi người đọc, nhất là thế hệ trẻ

Ngày đăng: 07/03/2017, 23:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w