1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhu cầu tin của người dùng tin khiếm thị trên địa bàn Hà Nội

83 595 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đưa ra các giải pháp nhằm góp phần đápứng nhu cầu tin cho người khiếm thị tại các thư viện trên địa bàn Hà Nội hiệu quảhơn.. - Phò

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới: Các cán bộ thư viện tại Thư viện HàNội, các thầy cô giáo và học sinh Trường Nguyễn Đình Chiểu, các hội viên củaHội người mù thành phố Hà Nội

Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong Khoa Thông tin – Thưviện, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn Th.s Trần Thị Thanh Vân đã nhiệt tình giúp đỡ

em hoàn thành khóa luận này

Trong quá trình thực hiện khóa luận với thời gian ngắn và trình độ, khảnăng có hạn của một sinh viên, dù đã rất cố gắng song chắc chắn không tránh khỏinhững hạn chế về trình độ kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tiễn Em rất mongnhận được sự đóng góp của thầy cô giáo, các cán bộ thư viện, các chuyên gia, cácnhà nghiên cứu và những người quan tâm tới đề tài này để làm cơ sở cho em có thểhoàn thiện đề tài của mình và mang tính thực tiễn hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 24 tháng 02 năm 2014

Sinh viên

Trần Thị Liêm

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan Khóa luận “Nhu cầu tin của người dùng tin khiếm thị trên địa bàn Hà Nội” là công trình nghiên cứu của em thực hiện dưới sự hướng dẫn

nhiệt tình của Th.s Trần Thị Thanh Vân và những người tôi đã cảm ơn

Những thông tin trong công trình em đã nghiên cứu là sát với thực tế, thựchiện đúng các nguyên tắc của nghiên cứu khoa học và chưa từng được công bố bởi

ai khác bằng bất cứ hình thức phổ biến nào

Hà Nội, ngày 24 tháng 02 năm 2014

Sinh viên

Trần Thị Liêm

Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

* Ghi chú: Cụm từ “Thư viện Hà Nội” trong Khóa luận chỉ dùng cho Thư viện

Hà Nội cơ sở 1 tại 47 Bà Triệu, không bao gồm Thư viện Tỉnh Hà Tây cũ

Trang 4

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 1: Mục đích sử dụng tài liệu của học sinh khiếm thị tại

Thư viện trường học Nguyễn Đình Chiểu Error: Reference source not foundBiểu đồ biểu thị nhu cầu tin của học sinh khiếm thị tại Thư viện trường học

Nguyễn Đình Chiểu Error: Reference source not foundBảng 2: Mục đích sử dụng tài liệu của người khiếm thị

tại Thư viện Hà Nội Error: Reference source not foundBiểu đồ biểu thị mục đích sử dụng tài liệu tại Thư viện Hà Nội Error: Reference source not found

Bảng 3: Mục đích sử dụng tài liệu của người khiếm thị

tại Hội người mù Hà Nội Error: Reference source not foundBảng 4: Thời gian cho việc sử dụng tài liệu của người khiếm thị

tại Thư viện Hà Nội Error: Reference source not foundBảng 5: Nhu cầu về nội dung tài liệu tại Thư viện trường học

Nguyễn Đình Chiểu Error: Reference source not foundBảng 6: Nhu cầu về nội dung tài liệu tại Thư viện Hà NộiError: Reference sourcenot found

Biểu đồ biểu thị nhu cầu về nội dung tài liệu tại Thư viện Hà Nội Error: Reference source not found

Bảng 7: Nhu cầu tin về nội dung tài liệu của người khiếm thị tại

Hội người mù thành phố Hà Nội Error: Reference source not found

Trang 5

Biểu đồ biểu thị nhu cầu tin về nội dung tài liệu của người khiếm thị

tại Hội người mù thành phố Hà Nội Error: Reference source not foundBảng 8: Nhu cầu về sử dụng ngôn ngữ tài liệu Error: Reference source not foundBảng 9: Nhu cầu về loại hình tài liệu Error: Reference source not foundBiểu đồ biểu thị nhu cầu về loại hình tài liệu Error: Reference source not found

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ iv

MỤC LỤC vi

MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI KHIẾM THỊ 7

TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 7

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHU CẦU TIN CỦA NGƯỜI KHIẾM THỊ 20

TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 20

33

KẾT LUẬN 58

PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, con người sử dụng thông tin như một nguồn lực quan trọng đặcbiệt để lao động, học tập, nghiên cứu, giải trí…nhằm nâng cao chất lượng cuộcsống

Theo Abraham Maslow nhu cầu của con người tăng dần theo 05 cấp độ sau:

- Nhu cầu “sinh lý” hoặc “sinh tồn” là những nhu cầu cơ bản trong cuộc sống,

đó là cơm ăn, áo mặc, chỗ ở…

- Nhu cầu an toàn là nhu cầu con người muốn được bảo vệ, được đảm bảo antoàn muốn ổn định để phát triển

- Nhu cầu xã hội là nhu cầu khẳng định cái tôi của cá nhân trong xã hội Nhucầu này được thể hiện trong mỗi cá nhân con người: họ muốn được yêu,muốn được nhận ra và tôn trọng bởi cộng đồng, muốn được tham gia cáchoạt động xã hội, muốn đóng góp bản thân cho cộng đồng…

- Nhu cầu tự trọng là nhu cầu được người khác tôn trọng, ngưỡng mộ Nhucầu này nói đến con người muốn vinh danh của bản thân trong xã hội vàvươn tới địa vị xã hội Mặc dù địa vị kinh tế thường liên quan tới tài sản đểđạt địa vị xã hội Sự thỏa mãn các nhu cầu tự trọng thường đi cùng hoặc saukhi thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế

- Nhu cầu thể hiện bản thân là nhu cầu căn bản nhất Khi nhu cầu này đượcthỏa mãn, con người mong muốn các nhu cầu khác cao hơn

Trong xã hội không phải ai cũng hoàn toàn có đầy đủ mọi điều kiện cần và

đủ về sức khỏe, kinh tế, tài chính, môi trường sống,… để tiếp cận tới nguồn thôngtin tài liệu Có một số lượng người dùng tin không hoặc chưa đủ điều kiện về sức

Trang 8

khỏe để tiếp cận nguồn thông tin đó là những người có khiếm khuyết về mắt – bộphận quan trọng tiếp nhận thông tin.

Đáp ứng nhu cầu tin cho NKT là một vấn đề đang được Đảng và Nhà nướcquan tâm Chính vì thế, các chính sách, đường lối đối với thư viện nhằm phục vụbạn đọc khiếm thị ngày càng tốt hơn NKT là một đối tượng người dùng tin đặcbiệt và hầu như có hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống Tuy nhiên, nhu cầu tincủa họ cũng rất đa dạng và phong phú Vì vậy, các sản phẩm và dịch vụ phục vụnhu cầu tin của họ cũng được quan tâm đúng mức Hệ thống thư viện từ trungương tới làng xã, thư viện chuyên ngành… đã được phát triển nhằm mục đích nângcao nhận thức, hiểu biết của con người, giúp họ giải trí, phục vụ học tập, nghiêncứu, giảng dạy,…Nguồn tin là vấn đề quan trọng đầu tiên của các thư viện và cầnphải phát triển để đáp ứng nhu cầu tin đa dạng, phong phú cho người dùng tin Thư viện luôn đáp ứng đầy đủ tốt nhất nhu cầu tin cho người dùng tin và chủyếu là người sáng mắt, khỏe mạnh, có thể thường xuyên đến thư viện Vậy đối vớingười khuyết tật và đặc biệt là bạn đọc khiếm thị thì sao? Họ cũng cần được đihọc, được trau dồi kiến thức, cũng cần thông tin như bao nhiêu người bình thườngkhác Để có được những điều trên họ phải gặp không ít khó khăn rào cản trongviệc tra cứu thông tin và sử dụng chúng vào đúng mục đích của mình

Hà Nội là nơi tập trung nhiều cơ quan Thông tin – Thư viện và Hội người mùcủa đất nước Hiện nay, các cơ quan TT – TV và các cơ sở HNM này đang phục vụcác đối tượng khác nhau, trong đó có người khiếm thị NKT là nhóm người dùngtin mà hệ thống thư viện và đặc biệt là hệ thống thư viện công cộng có trách nhiệmphục vụ Công cuộc xóa nạn mù chữ không chỉ dừng lại đối với người sáng mắt màcòn với cả những người có khiếm khuyết về mắt Theo thống kê cho thấy tỉ lệngười bị mù lòa hiện nay ngày càng tăng, gây ảnh hưởng đến phát triển kinh tế -văn hóa - xã hội Do vậy, vấn đề xóa mù chữ, nâng cao nhận thức cho NKT là mộtvấn đề quan trọng

Trang 9

Theo thống kê cho thấy tỉ lệ người bị mù lòa hiện nay ngày càng tăng, gâyảnh hưởng đến phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội Do vậy, vấn đề xóa mù chữ,nâng cao nhận thức cho NKT là một vấn đề quan trọng Ngoài việc phục vụ nguồntin cho NKT về nhu cầu học tập, nghiên cứu thì cần cung cấp các nguồn tin giải trícho họ để hòa nhập với môi trường xung quanh và tự tin hơn trong cuộc sống Đáp ứng nhu cầu tin cho người khiếm thị không chỉ là nhiệm vụ đáp ứngđúng và đủ thông tin mà nó còn mang ý nghĩa nhân văn vì con người, đảm bảocông bằng xã hội là vô cùng lớn.

Nhận thức được vấn đề trên đây, em đã chọn đề tài “Nhu cầu tin của ngườidùng tin khiếm thị trên địa bàn Hà Nội”

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đưa ra các giải pháp nhằm góp phần đápứng nhu cầu tin cho người khiếm thị tại các thư viện trên địa bàn Hà Nội hiệu quảhơn

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu những vấn đề chung về người khiếm thị trên địa bàn Hà Nội

- Nhiệm vụ 2: Nghiên cứu thực trạng nhu cầu tin của người khiếm thị trênđịa bàn Hà Nội

- Nhiệm vụ 3: Đưa ra một số nhận xét và các giải pháp đáp ứng nhu cầu tincủa người khiếm thị trên địa bàn Hà Nội

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Nhu cầu thông tin của người khiếm thị tại Hà Nội

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian:

Trang 10

Tìm hiểu nhu cầu tin của người khiếm thị hiện nay tại 03 nơi:

+ Thư viện trường học Nguyễn Đình Chiểu (Số 21 – Lạc Trung – Hai BàTrưng)

+ Thư viện Hà Nội (cơ sở 47 Bà Triệu)

+ Hội người mù thành phố Hà Nội (số 22 – Lý Thái Tổ - Quận HoànKiếm)

- Về thời gian: Nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng tin ở Hà Nội khiếmthị trong giai đoạn hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành công trình nghiên cứu này em đã sử dụng những phươngpháp nghiên cứu cơ bản sau:

- Phương pháp nghiên cứu, tổng hợp và phân tích tài liệu

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp khảo sát điều tra thực tế

- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp

5 Tình hình nghiên cứu theo hướng của đề tài

Theo hướng nghiên cứu của đề tài đã có một số công trình nghiên cứu, bàibáo đăng trên các tạp chí khoa học và các kỷ yếu hội thảo khoa học của ngành TT– TV

Trong và ngoài nước có nhiều công trình nghiên cứu như: Báo cáo Tăngcường tiếp cận thông tin cho người khiếm thị (10 năm hợp tác giữa Việt Nam vàquỹ FORCE 2000-2010) Sau các cuộc Hội thảo tổ chức ở trong và ngoài nước đềcập tới chủ đề đảm bảo thông tin cho người khiếm thị Sau 10 năm dự án kết thúc,hai tài liệu về người khiếm thị đã được công bố là “Các dịch vụ cho người khiếmthị cẩm nang thực hành tốt nhất” và “ Thiết lập bộ sưu tập minh họa nổi cho người

mù và khiếm thị”

Các đề tài chuyên ngành TT – TV về đối tượng NKT đều được các tác giảnghiên cứu và đề cập dưới nhiều góc độ và từng mức độ khác nhau Gần đây cómột số đề tài Khóa luận của Sinh viên Khoa TT – TV, Trường Đại học Khoa học

Trang 11

Xã hội và Nhân văn nghiên cứu về bạn đọc khiếm thị, song chủ yếu chỉ tập trung

về NKT tại một thư viện cụ thể Sau đây, có thể nêu một số bài báo cáo khoa học,công trình nghiên cứu, Khóa luận tốt nghiệp của các tác giả nghiên cứu các khíacạnh như:

- “Tìm hiểu hoạt động của một số phòng đọc sách tiêu biểu dành cho người khiếm thị ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh” Báo cáo khoa

học của Nguyễn Thị Đào, K44 Chính quy, 2003

- “Tìm hiểu nhu cầu tin và đảm bảo thông tin tại Thư viện Hà Nội” Khóa

luận tốt nghiệp của Hồ Thị Thúy Chinh, K48 Chính quy, 2007

- “Nguồn tin cho người khiếm thị tại Việt Nam – Thực trạng và phát triển” Khóa luận tốt nghiệp của Bùi Thị Thảo Trinh, K53 Chính quy,

2012

- “Công tác phục vụ bạn đọc khiếm thị tại Thư viện thành phố Hà Nội”.

Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Diệp Hà, K50 Chính quy, 2009

- Hội nghị “Tổng kết 10 năm hợp tác giữa Việt Nam và quỹ FORCE giai đoạn 2000 – 2010” vào tháng 11 năm 2010.

- Cuốn sách “Dịch vụ thư viện cho người khiếm thị: Cẩm nang thực hành tốt nhất” do tác giả Nguyễn Thị Bắc chủ trì và biên soạn năm 2005.

Ngoài ra còn có một số bài viết đăng trên tạp chí khoa học của ngành như

“Phòng đọc dành cho người khiếm thị - bước đột phá mới” của TS Nguyễn Việt Bắc đăng trên tạp chí Thông tin và Thư viện phía Nam, số 18 năm 2003 Bài “Thư viện nói dành cho người khiếm thị” của tác giả Trần Thị Thanh Vân đăng trên tập san thư viện, số 1 năm 2000; Bài “Phát triển văn hóa đọc cho trẻ em khuyết tật, những vấn đề lý luận và gợi ý cho hoạt động của hệ thống thư viện công cộng Việt Nam” của tác giả Trần Thị Quý, Trần Thị Thanh Vân đăng trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Tăng cường công tác phục vụ thư viện thiếu nhi của hệ thống thư viện

Trang 12

công cộng” do Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch tổ chức tháng 7 năm 2011 tại

thành phố Hồ Chí Minh,…

Với những thay đổi về phạm vi địa lý cũng như hiện trạng thực tế Có thểthấy những bài báo cáo khoa học, những công trình nghiên cứu, khóa luận tốtnghiệp trên chỉ đề cập đến những khía cạnh khác nhau về người khiếm thị và ở tạimột thư viện cụ thể Do đó, đề tài “Nhu cầu tin của người dùng tin khiếm thị trênđịa bàn Hà Nội” là đề tài mới, không trùng lặp với những đề tài trước đó đã côngbố

6 Đóng góp về mặt khoa học của khóa luận

6.1 Đóng góp về lý luận

Đề tài làm rõ được nhu cầu tin và tầm quan trọng của nguồn tin đối vớingười khiếm thị Đồng thời dựa vào nhu cầu đó nhằm đáp ứng được thông tin phùhợp với NKT

- Đưa ra một vài đóng góp và gợi ý ban đầu cho việc phát triển

- Đóng góp vào giá trị nhân đạo, tuyên truyền, giới thiệu nhiều hơn về hoạtđộng phục vụ sách báo cho người khiếm thị

7 Bố cục khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bố cục củaKhóa luận gồm 3 chương:

- Chương 1: Những vấn đề chung về người khiếm thị trên địa bàn Hà Nội.

- Chương 2: Thực trạng nhu cầu tin của người khiếm thị trên địa bàn

Hà Nội

- Chương 3: Một số nhận xét và các giải pháp đáp ứng nhu cầu tin của

người khiếm thị trên địa bàn Hà Nội

Trang 13

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI KHIẾM THỊ

TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 1.1 Những khái niệm chung

1.1.1 Khái niệm chung về người dùng tin

Người dùng tin là yếu tố cơ bản của mọi hệ thống thông tin Đó là đối tượngphục vụ của công tác thông tin tư liệu Người dùng tin vừa là khách hàng của cácdịch vụ thông tin, đồng thời họ cũng là người sản sinh ra thông tin mới

Người dùng tin giữ vai trò quan trọng trong các hệ thống thông tin Họ như làyếu tố tương tác hai chiều với các đơn vị thông tin Vai trò đó thể hiện trên các mặtsau:

Người dùng tin luôn là cơ sở để định hướng các hoạt động của đơn vị thôngtin

Người dùng tin tham gia vào hầu hết các công đoạn của dây chuyền thông tin

Họ biết các nguồn thông tin và có thể thông báo hoặc đánh giá các nguồn tin đó.Chính sách bổ sung phụ thuộc vào yêu cầu của người dùng tin

Trang 14

1.1.2 Khái niệm chung về người khiếm thị

Trong cộng đồng người dùng tin của xã hội, không phải ai cũng được maymắn có đầy đủ các điều kiện cần và đủ (về sức khỏe, về kinh tế, về môi trườngsống, môi trường làm việc, môi trường nghề nghiệp, điều kiện tuổi tác, giới tính )

để tiếp cận tới nguồn tin/tài liệu phong phú, đa dạng trong xã hội Có một bộ phậnkhông nhỏ người dùng tin không đủ điều kiện về sức khỏe để tiếp cận nguồn thôngtin đó là những người khuyết tật nói chung và những người khuyết tật về thị giác -

bộ phận vô cùng quan trọng trong việc tiếp nhận và trao đổi thông tin nói riêng (cóthể gọi chung là người khiếm thị) Những người khiếm thị bị hạn chế khả năng tiếpnhận và trao đổi thông tin với thế giới bên ngoài

Theo Tiến sĩ Gillian Burrington – nguyên giảng viên Khoa Thông tin –Thư viện của Trường Đại học Bách Khoa Manchester, người đã viết và điều hànhnhiều chương trình tập huấn về công tác quản lý trong đó có cả vấn đề ngườikhuyết tật quan niệm rằng: “Thuật ngữ “khiếm thị” dùng để mô tả tình trạng thị lựckhông thể điều chỉnh bằng kính hay phẫu thuật Nó bao gồm những người mắcbệnh thị lực chỉ còn một phần và những người bị mù hoàn toàn Một số ngườikhiếm thị khó nhìn thấy những vật ngay trước mặt nhưng có thể nhìn thấy các vậttrên sàn nhà hoặc ở hai bên, một số khác lại có thể nhìn thấy những vật ngay trướcmắt nhưng không nhìn thấy gì ở hai bên Một số trường hợp bệnh lý có thể gây thịlực chỉ nhìn thấy lốm đốm từng vùng, một số bệnh lý khác ảnh hưởng tới sự nhậnbiết mầu sắc hoặc khả năng nhận biết khoảng cách Cũng có một số người rất khókhăn khi gặp ánh nắng chói chang và một số khác rất khó khăn khi gặp ánh nắngsáng yếu

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Người khiếm thị là người có khiếm khuyết về thịgiác, mất khả năng nhìn hoặc chỉ nhìn được rất kém, không rõ ràng”

Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia: “Người khiếm thị là người sau khi điềutrị hoặc điều chỉnh khúc xạ mà thị lực bên mắt tối vẫn còn dưới 3/10 đến trên mức

Trang 15

không nhận thức được sáng tối và bệnh nhân vẫn còn khả năng tận dụng thị lựcnày để lên kế hoạch thực thi các hoạt động hàng ngày”.

Như vậy, khái niệm người mù và khái niệm người khiếm thị là hai khái niệmhoàn toàn khác nhau Để chỉ chung người khiếm thị và người mù người ta còndùng khái niệm người mù lòa (visually impaired) hay người bị suy giảm thị lực Vìvậy, các cơ quan thông tin thư viện phải lưu ý tới đặc điểm khả năng thị lực của cảhai đối tượng người khiếm thị này để tạo dựng các sản phẩm và tổ chức các dịch

vụ phù hợp

1.1.3 Khái niệm chung về nhu cầu tin

Nhu cầu tin là đòi hỏi khách quan của con người đối với việc tiếp nhận và

sử dụng thông tin nhằm duy trì hoạt động thông tin – thư viện, đồng thời luôn biếnđổi, phát triển dưới ảnh hưởng của nhiều yếu tố, đặc biệt là ảnh hưởng của môitrường sống cũng như nghề nghiệp của người dùng tin Vì thế, nắm vững đặc điểmnhu cầu tin sẽ góp phần định hướng công tác xây dựng và phát triển nguồn tin,nâng cao chất lượng phục vụ

Nhu cầu tin có thể chia làm 3 giai đoạn chủ yếu trong vòng đời của conngười:

- Nhu cầu tin ở tuổi chưa đến trường

- Nhu cầu tin trong quá trình được đào tạo

- Nhu cầu tin trong quá trình làm việc

Trong thông tin học, người ta chia nhu cầu tin thành 3 nhóm chủ yếu Đó là:Nhu cầu tin cá nhân, nhu cầu tin tập thể và nhu cầu tin cộng đồng Nhu cầu tin cánhân là sự phản ánh một phần cụ thể của nhu cầu tin tập thể và nhu cầu tin cộngđồng Nhu cầu tin của tập thể và cộng đồng không tồn tại bên ngoài hoặc bên cạnhnhu cầu tin cá nhân

Trang 16

Vậy nhu cầu tin là loại nhu cầu tinh thần đặc biệt mang tính khách quan,không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người và là động lực để thúc đẩy sựphát triển của xã hội.

1.2 Đặc điểm của người khiếm thị tại Việt Nam nói chung và ở Hà Nội

nói riêng.

1.2.1 Đặc điểm của người khiếm thị tại Việt Nam nói chung

Theo Vụ Thư viện (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch): cộng đồng ngườikhiếm thị ở nước ta chiếm tỷ lệ trên 1% dân số Theo thống kê của Bộ Lao động –Thương binh xã hội và Viên Mắt Trung ương: hiện nay Việt Nam có trên 5,1 triệungười tàn tật và trẻ mồ côi, trong đó có trên 900.000 NKT, bao gồm khoảng600.000 người mù Nhưng chỉ 40.000 NKT đăng ký là thành viên của HNM và cóthể nhận được các hỗ trợ Đa phần NKT thường ngại giao tiếp, mặc cảm với bảnthân và cam chịu Hầu hết NKT lớn tuổi sống với gia đình, hoặc đăng ký thànhviên HNM tại địa phương, trong khi đó nhiều em khiếm thị được sống tập trung tạicác mái ấm tình thương, hoặc các trường đặc biệt dành cho trẻ em khiếm thị Cácmái ấm thường nhận tiền hoặc vật phẩm tài trợ từ các tổ chức hoặc từ các cá nhân

từ thiện để giúp họ có điều kiện sống, học tập và làm việc cùng nhau

Mức sống của NKT còn thấp, những NKT có khả năng sống và trang trải chiphí sinh hoạt tự lập là khoảng 50% Số hộ nghèo có NKT trên toàn quốc là 29%.Cuộc sống của NKT gặp rất nhiều khó khăn, không có việc làm ổn định hoặc thunhập thấp Với chức năng chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần cho hội viên vàngười mù trong cả nước, HNM Việt Nam (thành lập ngày 17/04/1969) đã tổ chứccác lớp dạy chữ, dạy nghề, thành lập nhiều cơ sở sản xuất Chương trình vay vốn

từ quỹ quốc gia phát triển đã tạo điều kiện cho hàng chục hội viên có việc làm vàthu nhập ổn định hơn, góp phần xóa đói giảm nghèo

Phần lớn NKT có trình độ văn hóa thấp so với mặt bằng xã hội, nhất là khuvực nông thôn.Vấn đề giáo dục, đào tạo, dạy nghề cho NKT là khâu quan trọng

Trang 17

nhất để tạo điều kiện cho họ hòa nhập với cộng đồng.Hàng vạn hội viên HNM đãđược hội tổ chức học chữ Braille để nâng cao trình độ, hòa nhập xã hội Cho đếnnay đã có hàng ngàn thanh thiếu niên mù trong cả nước được học tập hòa nhập tạicác trường phổ thông công lập hoặc trường phổ thông đặc biệt.

1.2.2 Đặc điểm của người khiếm thị tại Hà Nội nói riêng

Tại Hà Nội, số lượng NKT là trên 10.000 người, số hộ nghèo 10 – 15% (trênthực tế tỷ lệ người nghèo là NKT còn cao hơn, đó chính là thành phần những NKTchưa có hộ nghèo) Nghề nghiệp chủ yếu của họ là làm kinh tế gia đình bằng chănnuôi, trồng trọt là chủ yếu (60%); Xoa bóp: 100 người; Làm thủ công (tăm chổiđan lát); cho thuê nhà… Hơn 100 sinh viên mù đã và đang theo học tại các trườngĐại học, Cao đẳng Trình độ văn hóa, giáo dục của NKT tại Hà Nội ngày càng caocùng với điều kiện và nhu cầu học tập của họ Trong đó: Tốt nghiệp phổ thông từ

25 – 30%; khoảng 40 người có trình độ đại học

1.3 Tính chất chung của nhu cầu tin nói chung và nhu cầu tin của người khiếm thị nói riêng

1.3.1 Tính chất chung của nhu cầu tin nói chung

Theo quan điểm của các nhà thông tin học hiện đại: Nhu cầu tin là loại nhucầu tinh thần đặc biệt đòi hỏi khách quan của con người đối với sự tiếp nhận và sửdụng thông tin nhằm duy trì hoạt động sống của con người [3]

Nhu cầu tin của người dùng tin hình thành và phát triển dưới sự tác động của hainhân tố khách quan và chủ quan

- Nhân tố khách quan: Xu thế phát triển chung của thời đại; Đường lối pháttriển Kinh tế - Xã hội của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn phát triển củalịch sử; Trình độ phát triển kinh tế; Sự phát triển của Khoa học và Công

Trang 18

nghệ; Môi trường sinh thái; Sự phát triển của văn hóa và tính chất của nềngiáo dục,…

- Nhân tố chủ quan: Nghề nghiệp; Trình độ hiểu biết; Trình độ văn hóa; Tâm

lý cá nhân; Môi trường sống gia đình; Truyền thống của dòng tộc và cả cácđiều kiện vật chất của cá nhân người dùng tin,…

Qua sự phân tích trên có thể kết luận: Nhu cầu tin của người dùng tin trong

xã hội là loại nhu cầu tinh thần đặc biệt, mang tính khách quan, không lệ thuộc vào

ý thức chủ quan của con người, nó chịu sự tác động trực tiếp và mạnh mẽ của cácnhân tố khách quan và chủ quan, là cơ sở, mục tiêu, động lực phát triển của conngười xã hội nói chung, đặc biệt là hoạt động thông tin và dịch vụ thông tin khoahọc và công nghệ

1.3.2 Nhu cầu tin của người khiếm thị nói riêng

Nhu cầu tin của người khiếm thị cũng giống nhu cầu tin của người dùng tinkhác Tuy nhiên, họ cũng có một số khác biệt là rất cần sự hỗ trợ nhiệt tình của cán

bộ thư viện

Về nội dung: Đa dạng về mọi lĩnh vực khoa học xã hội, khoa học tự nhiên,

ngoại ngữ, nghệ thuật, y học

Về hình thức: Tài liệu đa dạng về hình thức, gồm tài liệu truyền thống như

sách chữ nổi, sách xúc giác, mô hình và các tài liệu điện tử: băng từ, đĩa từ, CD,MP3, CSDL, trang web dành cho người khiếm thị có thể sử dụng được

Phương tiện hỗ trợ đọc: Người khiếm thị cần các sản phẩm hỗ trợ đặc thù

riêng như: Máy cassettes, máy trợ thị Smart-View, máy đọc sách nói kỹ thuật sốVictor Reader, đọc tiếng nước ngoài Jaws, đọc tiếng Việt như NDC, VCL,Mata và các phần mềm chuyên dụng và máy tính hỗ trợ chữ nổi

1.4 Vài nét về những cơ sở đáp ứng nhu cầu tin cho người khiếm thị tại

Trang 19

Hà Nội.

1.4.1 Vài nét về trường học Nguyễn Đình Chiểu Hà Nội

Thư viện trường học Nguyễn Đình Chiểu Hà Nội là trường nuôi dạy trẻkhiếm thị của thành phố Hà Nội, trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội đượcthành lập năm 1982 theo Quyết định của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội

Từ năm 1982 – 1988: Trường chú trọng thực hiện chương trình giáo dụcchuyên biệt cho trẻ khiếm thị Trong những ngày đầu thành lập, Trường được đặttại trụ sở của Hội người mù Thành phố Hà Nội ở 195 phố Lê Duẩn Trường chỉ có

1 giáo viên và 7 học sinh mù, 1 chuyên viên của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nộikiêm hiệu trưởng của Trường Sau đó Trường chuyển địa điểm về trường mẫu giáo

ở số 12 phố Đào Duy Từ Cuối cùng Trường chuyển về số 7 Hàng Phèn, Hà Nộiđến 1988

Từ năm 1988 đến nay Nhà trường thực hiện chương trình giáo dục hòa nhậpcho người khiếm thị

Năm 1988, được sự giúp đỡ của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội và tổchức Christoffel – Blindenmison (Cộng hòa dân chủ Đức), Trường hiện nay đượcxây dựng tại 21 Lạc Trung – Hai Bà Trưng – Hà Nội, là 1 trường nội trú cho trẻkhiếm thị Các em ăn ở tại trường và về thăm nhà vào dịp lễ và tết Từ năm 1988,Trường bắt đầu nhận học sinh sáng mắt vào học, thực hiện chương trình giáo dụchòa nhập cho học sinh khiếm thị

Bên cạnh chương trình giáo dục phổ thông, chương trình hướng nghiệp dạynghề cũng là một phần trong chương trình giáo dục của Trường Chương trình sẽgiúp các em có nhiều cơ hội tự lập trong cuộc sống sau này

* Về cơ sở vật chất:

Thư viện có 2 phòng và 1 số trang thiết bị cần thiết gồm:

Trang 20

- Phòng 1: phòng phục vụ bạn đọc khiếm thị có diện tích là 30m2 với chứcnăng chính là kho tài liệu lưu trữ sách chữ nổi.

- Phòng 2: có diện tích 25m2 là phòng đọc phục vụ tại chỗ cho học sinh sángmắt đến đọc sách, mượn đĩa, nghe đài tại chỗ, được trang bị 10 chiếc đài và

* Về đối tượng người dùng tin tại thư viện:

Trường hiện có hơn 1000 học sinh sáng mắt học cùng với khoảng 140 họcsinh khuyết tật mà hầu hết là học sinh khiếm thị và mù hoàn toàn, trong đó 47%học sinh nhìn kém và 53% học sinh mù hoàn toàn Hiện nay nhiều học sinh cũ củatrường đang học tại các trường trung học phổ thông, đại học và cao đẳng trên cảnước

Như vậy ta có thể thấy, hầu hết các đối tượng người dùng tin tại thư việnNguyễn Đình Chiểu là các em học sinh khiếm thị Các em không chỉ được học vănhóa mà còn được học nghề để có thể nuôi sống bản thân sau khi ra trường hoặc tiếptục học lên cao đẳng, đại học Vì vậy, khi phục vụ bạn đọc khiếm thị ngoài các tàiliệu về văn hóa cán bộ thư viện cần cập nhật các tài liệu mang tính hướng nghiệp,dạy nghề tại thư viện

1.4.2 Vài nét về Thư viện Hà Nội

Trang 21

Thư viện Hà Nội được thành lập ngày 15/10/1956 với tên gọi ban đầu là

“Phòng đọc sách nhân dân”.Thư viện đã qua nhiều lần thay đổi địa điểm Đến tháng 1/1959, Thư viện chính thức đóng tại 47 Bà Triệu và mang tên “Thư viện nhân dân Hà Nội”, nay là Thư viện Thành phố Hà Nội.

Số lượng cán bộ trong những ngày đầu vừa thành lập chỉ có 4 người, với sốlượng tài liệu ít ỏi vài ngàn cuốn từ kháng chiến chuyển về, ngoài ra là một số báo,tạp chí, cơ sở vật chất của thư viện còn nghèo nàn Tuy nhiên, cán bộ thư viện đãtìm mọi cách để khắc phục khó khăn, từng bước đưa Thư viện Thành phố Hà Nội

đi lên

Thư viện Hà Nội được đầu tư hiện đại gồm 8 tầng nổi và 1 tầng hầm, cao29,7m.Diện tích sàn 6.161 m2 với hệ thống trang thiết bị đồng bộ, phụ trợ tốt chohoạt động phục vụ người đọc

Sau gần 55 năm hoạt động, Thư viện Hà Nội đã góp phần đáng kể vào sựnghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ thủ đô cũng như “nâng cao dân trí, đào tạonhân lực, bồi dưỡng nhân tài” Vì thế, Thư viện Hà Nội đã vinh dự được Đảng vàNhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý như: Huân chương lao động (1991,

1996, 2001); Huân chương Độc lập hạng Ba (2006), được Thủ tướng Chính phủtặng bằng khen ba năm liền (1977, 1978, 1979) Bên cạnh đó, Thư viện Hà Nộicũng được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) vàUBND Thành phố tặng 5 cờ thi đua xuất sắc dẫn đầu (1997, 2000, 2002, 2004 và2005) và nhiều bằng khen khác

Thư viện đang lưu giữ một kho tàng thư tịch khá đồ sộ của Thủ đô và nhânloại, nhiều loại hình tài liệu cho người sáng mắt và người khiếm thị; có phòng tracứu, phòng địa chí về Thăng Long – Hà Nội

Trang 22

Năm 2008, Quốc hội thông qua Nghị quyết điều chỉnh mở rộng địa giớihành chính Thủ đô Hà Nội.Vì vậy, từ ngày 01/08/2009, Thư viện Hà Nội chínhthức được hợp nhất với Thư viện tỉnh Hà Tây.

Tháng 2/2009, Thư viện tỉnh Hà Tây (thành lập năm 1957) chính thức sápnhập vào Thư viện Hà Nội, đổi tên là “Thư viện Hà Nội cơ sở 2” Tên hành chínhchung của 2 cơ sở là “Thư viện Thành phố Hà Nội”

TVHN đã tổ chức tốt mọi hoạt động tại cơ sở 2 – Số 2 Quang Trung, HàĐông và luân chuyển sách xuống các quận, huyện nội, ngoại thành Hà Nội

● TVTPHN có chức năng lưu trữ, bảo quản và bổ sung các loại sách báo, Thưviện vừa phục vụ bạn đọc rộng rãi từ đối tượng độc giả là thiếu nhi đếnnhững người nghiên cứu khoa học kỹ thuật Vì vậy, TVTPHN vừa là mộtThư viện khoa học tổng hợp, vừa có chức năng nghiên cứu và hướng dẫnnghiệp vụ thư viện cơ sở, duy trì và phát triển văn hóa đọc trong nhân dân

● TVTPHN có nhiệm vụ sau:

- Hoàn thành tốt vai trò là trung tâm nghiên cứu và hướng dẫn phương pháphoạt động của hệ thống thư viện, tủ sách và phong trào đọc sách của quầnchúng, đề xuất phương hướng nội dung, kế hoạch tổ chức và hoạt động củatừng loại hình thư viện, tủ sách đối với từng đối tượng bạn đọc

- Bảo quản và bổ sung các loại sách báo cũ và mới xuất bản ở trong và ngoàinước phù hợp với đặc điểm và phương hướng phát triển kinh tế, văn hóa, xãhội nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu, nâng cao kiến thức văn hóa choquần chúng

- Tổ chức giới thiệu và tuyên truyền sách báo với người dùng tin

- Tổ chức việc đọc sách tại chỗ và luân chuyển cho mượn sách báo rộng rãitrong quần chúng Bảo vệ, bảo quản kho sách báo, tài sản của thư viện

- Hướng dẫn nghiệp vụ cho thư viện cơ sở

Trang 23

- Nghiên cứu khoa học và ứng dụng thông tin vào công tác thư viện.

Để đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao của NKT, các cơ sở người mùtại Thành hội và Quận (Huyện) hội đã thành lập và xây dựng các câu lạc bộ vănnghệ, câu lạc bộ thường xuyên nghe băng, đọc báo

Nhận thức được tầm quan trọng của việc đưa “ánh sáng tri thức” tới NKT,phòng khiếm thị của Thư viện Hà Nội đã ra đời và ngay lập tức trở thành sự kiệnđối với người khiếm thị, góp phần đáng kể vào việc đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, cảithiện đời sống văn hóa, giáo dục cho NKT

Từ khi ra đời và hoạt động, Thư viện Hà Nội đã làm phong phú và đa dạng

về loại hình sản phẩm và dịch vụ

- Sản phẩm Thông tin – Thư viện gồm có: sách chữ nổi, băng sách nói, các loại

CD – VCD, máy đọc Victor Reader, máy nhược thị và bản thư mục bằng chữBraille

- Dịch vụ Thông tin – Thư viện: đọc tại chỗ, mượn về nhà và phục vụ lưuđộng

Như đã đề cập ở trên NKT cũng có nhu cầu tin đa dạng và phong phú Vìvậy, công tác phục vụ người dùng tin khiếm thị luôn là bài toán đặt ra cho Bangiám đốc để đánh giá được khả năng đáp ứng của thư viện tới nhu cầu tin củaNKT

Về vốn tài liệu:

* Sách nói:

- CD ROM: khoảng 300 đĩa

- Băng cassette: 2000 băng đĩa bằng hình thức thư viện tự sản xuất Từ năm

2008 do chuyển trụ sở từ Thành cổ nên đã không sản xuất tiếp và không có kinh phíhoạt động

Trang 24

Tuy nhiên, đến năm 2010 khi tiếp nhận trụ sở mới, TVHN đã thí điểm chuyểndạng từ đĩa sang băng, tiết kiệm được kinh phí và cũng góp phần đáp ứng được nhucầu của những người thích nghe băng Và hiện nay, số lượng băng tăng lên đáng kểnhằm phục vụ tốt cho NKT.

* Sách chữ nổi: Thư viện hiện có 3000 tên sách chữ nổi và tiến hành đặt tại Thành

Hội người mù sản xuất với giá thành 300đ/1trang Tính bình quân 1 trang sáchtương đương với 4 trang chữ nổi Ngôn ngữ tài liệu được chuyển từ chữ sáng sangchữ nổi bằng tiếng Việt

Sách có 1 kho riêng và được cán bộ sắp xếp theo Số Đăng ký Cá biệt

Năm 2010 quỹ ADB đã tài trợ cho phòng khiếm thị 50 cuốn sách chữBraille bằng tiếng Anh Tuy nhiên, hệ thống ký hiệu chưa nhất quán về ngôn ngữgiữa tiếng Anh và tiếng Việt nên những tài liệu bằng tiếng nước ngoài không đượcđưa ra cho bạn đọc sử dụng, mặc dù nhu cầu đọc của bạn đọc tương đối cao

Với số lượng như thế, có thể thấy so với nhu cầu thì vốn tài liệu còn quá ít, vìbên cạnh việc phục vụ bạn đọc khiếm thị còn phải tiến hành phục vụ lưu động nữa

1.4.3 Vài nét về Hội người mù thành phố Hà Nội

Hội người mù Hà Nội với bề dày lịch sử hơn 40 năm hoạt động toàn bộ cán

bộ, hội viên luôn cùng nhau đoàn kết, nổ lực phát triển để NKT từng bước hòa

nhập vào cuộc sống cộng đồng tô thắm tốt đẹp lên tinh thần “tàn nhưng không phế”.

Đại hội đại biểu HNM thành phố lần thứ VIII diễn ra trong bối cảnh thủ đô

Hà Nội thực hiện Nghị quyết của Quốc hội lần thứ XV của Quốc hội khóa XII Thủ

đô Hà Nội được mở rộng về đơn vị hành chính Ngay từ đầu nhiệm kỳ Ban ChấpHành mới đã bàn bạc thống nhất xây dựng chương trình làm việc của toàn khóa

trên cơ sở Nghị Quyết Đại hội của hai tỉnh Thành hội theo phương châm “Hướng

Trang 25

về cơ sở, phát triển phong trào đồng đều, chỉ đạo nhất quán, đổi mới phương pháp

lề lối làm việc bằng sự năng động, sáng tạo, kiên quyết, đồng bộ và hiệu quả”

Theo đó Hội người mù thành phố tiếp tục củng cố, phát triển tổ chức Hội đổi mớiphương thức hoạt động, chú trọng nâng cao trình độ hội viên tạo điều kiện choNKT xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống, hòa nhập cộng đồng Đểthực hiện được những mục tiêu đó công tác kiện toàn tổ chức phát triển và nângcao đội ngũ hội viên được đặt lên hàng đầu để NKT nhận được sự giúp đỡ, chăm lotốt nhất của tổ chức Hội Thành hội người mù đã quyết tâm đưa phong trào vàohoạt động hướng về cơ sở, phân chia 29 Quận (Huyện)/Thị/ Hội thành 6 cụm thiđua để các đơn vị phát huy tính chủ động triển khai các hoạt động chung, trao đổikinh nghiệm, hỗ trợ nhau cùng phát triển Kết quả đã thành lập ra được 47 chi hộimới nâng tổng số lên 314 chi hội Bên cạnh đó, Thành hội còn chủ động đào tạo,bồi dưỡng cán bộ bằng những hình thức như: mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng nângcao các kỹ năng công tác quản lý và điều hành của các cấp hội Các cấp hội đã luônbám sát địa bàn, nắm bắt thông tin, có nhiều phương pháp tiếp cận thuyết phục giađình, vận động anh chị em tham gia sinh hoạt hội nhất là những vùng xa xôi thuộc

các huyện ngoại thành Cuộc vận động “ Hai vượt, bốn rèn, năm phấn đấu” với

những chỉ tiêu rõ ràng đã thu hút được đông đảo hội viên tham gia Năm năm quatoàn Thành hội đã kết nạp được them 727 hội viên mới, nâng tổng số hội viênthường xuyên sinh hoạt lên 5.716 người chiếm trên 70% số lượng thống kê củangành Lao động – Thương binh – Xã hội Vận động những người bị hỏng mắttham gia hoạt động và nêu ra lợi ích khi sinh hoạt tại Hội, để họ gặp gỡ nhữngngười cùng cảnh ngộ và vẫn cảm thấy mình vẫn có ích cho xã hội và tự nuôi sốngbản thân, giúp cho họ có cái nhìn lạc quan tiếp tục cống hiến cho xã hội

Từ rất nhiều năm qua lời dạy “Tàn nhưng không phế” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã trở thành kim chỉ nam trong cuộc sống của NKT Vì thế, ngay sau khi bộ chính

trị phát động cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí

Trang 26

Minh” toàn thể cán bộ, hội viên Thành hội Hà Nội đã hưởng ứng và tham gia nhiệt tình “Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sáng ngời và cao cả” nhưng cũng hết sức

bình dị và gần gũi mọi người ai cũng học tập và làm theo

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHU CẦU TIN CỦA NGƯỜI KHIẾM THỊ

TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu tin của người khiếm thị

2.1.1 Các yếu tố về hoàn cảnh lịch sử xã hội

Khi bị mù, con người mất khả năng nhìn – mất đi cơ quan chủ yếu họ nhậnthức thế giới bên ngoài Bởi lẽ, mắt là cơ quan chủ yếu giữ vai trò chính trong việcphản ánh thế giới hữu hình với lượng thông tin khổng lồ, phản ánh với tốc độ cựcnhanh từ gần đến xa Đối với họ, cảm giác nghe âm thanh và cảm giác sờ có giá trịsống còn: Cảm giác âm thanh giúp họ giao tiếp, định hướng bản thân trong mọihoạt động; cảm giác sờ là tổng hợp của nhiều loại cảm giác, nó bao gồm cảm giác

áp lực, xúc giác trực tiếp, cảm giác nhiệt, cảm giác đau,… Tuy nhiên, cần nhậnthức rằng quá trình tri giác đòi hỏi sự tham gia của cả một hệ thống cơ quan phântích tri giác Tùy theo từng đối tượng và nhiệm vụ của tri giác mà cơ quan nào sẽđóng vai trò chính Việt Nam chưa có cơ sở hạ tầng như là những lối đi trong công

Trang 27

viên công cộng dành cho người khuyết tật và hệ thống giao thông hữu ích để ngườikhuyết tật có thể đi ra ngoài mà không cần nhiều đến sự trợ giúp của người nhà.

2.1.2 Yếu tố pháp lý

Pháp lý là yếu tố quan trọng ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhu cầu tin của ngườikhiếm thị Hiện nay,ở nước ta đã có những văn bản Luật đối với người khuyết tậtnói chung và người khiếm thị nói riêng; Ngày càng hoàn thiện hệ thống pháp luật

và chính sách về người khuyết tật

Khi pháp luật ngày càng quan tâm và đưa ra những văn bản, chính sách có lợicho người khuyết tật thì nhu cầu thông tin của họ cũng sẽ được đáp ứng tốt hơn Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến những người tàn tậtnói chung và người khiếm thị nói riêng về mọi mặt không chỉ trong việc đảm bảosức khoẻ, cuộc sống vật chất mà cả những vấn đề về văn hoá, tinh thần, quyền lợitiếp cận thông tin/tri thức của nhân loại cho họ Gần đây, hàng loạt các văn bảnmang tính pháp quy đã được ra đời như: “Pháp lệnh về người tàn tật” (năm 1998)tại Điều 3, Khoản 1 có nêu: Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi chongười tàn tật thực hiện bình đẳng các quyền về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội vàphát huy khả năng của mình để ổn định đời sống, hòa nhập cộng đồng, tham giacác hoạt động xã hội

“Pháp lệnh Thư viện” (năm 2000) tại Điều 6, Khoản 4 có nêu: Người khiếmthị được tạo điều kiện sử dụng tài liệu thư viện bằng chữ nổi hoặc các vật mang tinđặc biệt.Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, nhiều lĩnh vực hoạt động của

xã hội, trong đó có hoạt động thông tin - thư viện đã chú trọng đến những ngườikhuyết tật nói chung và người khiếm thị nói riêng

2.1.3 Yếu tố kinh tế, tài chính

Trang 28

Người khiếm thị gặp rất nhiều khó khăn trong việc đi lại vì họ có khiếmkhuyết về mắt, chỉ cảm nhận thế giới xung quanh theo cảm giác và sờ bằng tay.Chủ yếu người khiếm thị là những người thuộc những hộ nghèo hoặc cận nghèo,khó khăn về kinh tế, tài chính Họ chủ yếu sống với gia đình hoặc anh (em), bạn bènên vấn đề tài chính chủ yếu là do những người cưu mang họ chi trả Việc đi lạigặp nhiều khó khăn và phải có người dẫn đường nên họ không thể chủ động làmviệc mà không có sự hướng dẫn của người khác.

NKT cần có nghề trong tay để có thể tự nuôi bản thân mình và thu nhập ổnđịnh hàng tháng Nhu cầu thông tin đối với họ là rất cần thiết nhưng để có đượcnguồn thông tin để học tập, giải trí, nghiên cứu khoa học, học nghề thì NKT phải

bỏ ra số tiền không hề nhỏ Vì hiện nay, tài liệu chữ nổi, sách nói số lượng hạn chế

và rất đắt

2.1.4 Yếu tố trình độ học vấn

Nhu cầu tin của người dùng tin cũng tăng dần theo trình độ học vấn Ngườikhiếm thị ít có điều kiện để học tập như người sáng mắt vì thế trình độ NKT cótrình độ văn hóa cấp I chiếm khá cao và nhiều hơn so với học sinh cấp II,III

Nếu với học sinh tiểu học thì nhu cầu của họ sẽ là học tập và giải trí; Đối với họcsinh Trung học cơ sở sẽ có thêm nhu cầu thông tin để nghiên cứu khoa học.Đối vớinhững người có trình độ đại học, cao đẳng ngoài những nhu cầu thông tin trên còngiúp họ phục vụ công việc tốt hơn

Vấn đề giáo dục, đào tạo, dạy nghề cho người tàn tật, khâu quan trọngnhất để tạo điều kiện cho người tàn tật có thể tham gia hòa nhập với cộng đồng

ở Việt Nam còn là một nhiệm vụ rất lớn và nặng nề

Vì vậy, hiện nay Đảng và Nhà nước có nhiều chính sách quan tâm đếnngười khuyết tật lập ra các cơ sở người mù trong Quận (Huyện) thành phố nhằm

Trang 29

nâng cao trình độ học vấn cho NKT Đặc biệt, chú trọng đến việc dạy nghề cho

họ nhằm tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho NKT

2.1.5 Yếu tố lứa tuổi, giới tính

Người dùng tin nói chung và người khiếm thị nói riêng có nhu cầu tin đadạng khác nhau và lứa tuổi cũng là yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tin của họ

Bởi theo từng lứa tuổi thì trình độ nhận thức của họ càng khác nhau Trẻ em khiếmthị sẽ có nhu cầu về các nguồn tin như tranh ảnh, sách nổi về truyện thiếu nhi,truyện trinh thám…

Đối với NKT là người lớn thì những thông tin Kinh tế - Xã hội, giáo dục…được quan tâm

2.1.6 Yếu tố nghề nghiệp

Việc đào tào nghề cho người khiếm thị là rất quan trọng đối với họ Đây làmột nhiệm vụ cấp bách cần được đề cập trong các chương trình, dự án hỗ trợ ngườitàn tật để giúp họ có điều kiện hòa nhập vào cộng đồng

Người bị tàn tật đa số là do bẩm sinh, bệnh tật và tai nạn lao động Đặc biệt,những người khuyết tậ vừa câm, vừa điếc hoặc bị khiếm khuyết cả về vận động, thịgiác, trí tuệ Sức khoẻ yếu, lại không được học hành đầy đủ nên cơ hội kiếm việclàm của họ gần như không có.Đây là nguyên nhân chính khiến họ không tìm đượcviệc làm, phải sống dựa vào gia đình và trợ cấp xã hội

Trang 30

2.2 Hiện trạng nhu cầu tin của người khiếm thị ở Hà Nội hiện nay

Nhu cầu tin của người khiếm thị cũng đa dạng, phong phú như người dùngtin khác Tuy nhiên, họ cũng có một số khác biệt là rất cần sự hỗ trợ nhiệt tìnhcủa cán bộ thư viện Cũng giống như những đối tượng người dùng tin khác,người khiếm thị có quyền được tiếp nhận thông tin và giao lưu thông tin Chính

vì vậy, việc tổ chức các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin, truyền bá trithức cho người khiếm thị là một trong những hoạt động mang tính xã hội vànhân văn mà ngành Thông tin - Thư viện có chức năng, nhiệm vụ thực hiện.Đây là con số không nhỏ về dân số sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của mụctiêu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước Hơn nữa, nhu cầu thông tin và hiểu biết là một trong những nhu cầu thiếtyếu, không thể thiếu trong cuộc sống của mọi người nói chung và những ngườikhiếm thị nói riêng

Để nắm rõ nhu cầu tin của người khiếm thị tại các cơ sở ở Hà Nội, tác giả đãtiến hành điều tra 120 người khiếm thị và phân chia nhu cầu tin như sau:

2.2.1 Mục đích sử dụng tài liệu

- Thư viện trường học Nguyễn Đình Chiểu:

Học sinh khiếm thị tại thư viện trường học Nguyễn Đình Chiểu chủ yếu sửdụng tài liệu nhằm mục đích học tập và giải trí Cụ thể như bảng số liệu và sơ đồsau:

Bảng 1: Mục đích sử dụng tài liệu của học sinh khiếm thịtại

Thư viện trường học Nguyễn Đình Chiểu Mục đích

sử dụng tài liệu Số lượng Tỷ lệ

Trang 31

em Ngoài ra còn phục vụ hoạt động khác như sử dụng tài liệu để cảm nhận vănhọc, nghệ thuật,…

- Thư viện Hà Nội:

Bảng 2: Mục đích sử dụng tài liệu của người khiếm thị

Trang 32

tại Thư viện Hà Nội Mục đích sử dụng tài liệu Số lượng Tỷ lệ

Biểu đồ biểu thị mục đích sử dụng tài liệu tại Thư viện Hà Nội

Dựa vào số liệu đã thống kê, ta thấy mục đích sử dụng tài liệu của ngườikhiếm thị khá phong phú Tài liệu được họ sử dụng vào học tập, giải trí, nghiêncứu khoa học, phục vụ công việc,…Tuy nhiên, số người khiếm thị sử dụng thôngtin vào mục đích học tập, nghiên cứu khoa học và giải trí chiếm tỷ lệ phần trămlớn Cụ thể: Mục đích học tập chiếm 70%, giải trí chiếm 31.67% và nghiên cứu

Trang 33

khoa học chiếm 39.17% Mục đích vào công việc và mục đích khác cũng chiếm tỷ

lệ phần trăm khá cao từ 21.67% đến 27.5%

- Hội người mù thành phố Hà Nội:

Bảng 3: Mục đích sử dụng tài liệu của người khiếm thị

tại Hội người mù Hà Nội Mục đích sử dụng

Biểu đồ biểu thị mục đích sử dụng tài liệu của người khiếm thị

tại Hội người mù thành phố Hà Nội

Qua bảng số liệu trên ta thấy người khiếm thị ở Hội người mù thành phố HàNội nhu cầu tin theo mục đích sử dụng tà liệu chủ yếu phục vụ công việc chiếm75% Thực tế cũng cho thấy, người dùng tin ở Hội chủ yếu tìm kiếm thông tin

Trang 34

nhằm phục vụ cho việc học nghề Hội người mù thành phố sẽ chuyển các tài liệunày xuống các cơ sở người mù ở các Quận (Huyện) nhằm phục vụ cho việc đào tạonghề truyền thống, thủ công như chổi tre, tăm tre… cho các nghề như xoa bóp, tẩmquất… Nên mục đích sử dụng vào học tập và giải trí cũng ít hơn mục đích sử dụngnguồn tin của NKT ở thư viện trường Nguyễn Đình Chiểu và Thư viện Hà Nội Tóm lại, nhu cầu tin dựa vào mục đích sử dụng tài liệu ở cả ba cơ sở đềuphục vụ học tập, giải trí Tuy nhiên, đối với Hội người mù thành phố Hà Nội có thểthấy việc đào tạo nghề cho NKT được chú trọng hơn.

2.2.2 Thời gian dành cho việc sử dụng tài liệu

Thư viện trường học Nguyễn Đình Chiểu do đối tượng là NDT học sinhkhiếm thị nên thời gian cho việc sử dụng tài liệu của học sinh khiếm thị tại trường

là rất ít

Thời gian phục vụ của thư viện cũng hạn chế chủ yếu vào thứ 6 và chủ nhật

mà việc sử dụng tài liệu vào việc giải trí, học tập hoặc tìm hiểu thông tin xã hội củahọc sinh khiếm thị

Thư viện Hà Nội thì thời gian cho việc sử dụng tài liệu qua khảo sát như sau:

Bảng 4: Thời gian cho việc sử dụng tài liệu của người khiếm thị

tại Thư viện Hà Nội

Trang 35

Biểu đồ biểu thị thời gian cho việc sử dụng tài liệu của người khiếm thị

tại Thư viện Hà Nội

Đa số người khiếm thị ở Thư viện Hà Nội chủ yếu dành thời gian cho việc sửdụng tài liệu là 1h – 2h (30.83%) và từ 2h – 3h (35%) Vì họ không như nhữngngười mắt sáng mà họ không có khả năng nhìn nên phần lớn họ đọc để phục vụmục đích theo sở thích cá nhân

Hội người mù thành phố Hà Nội khi hỏi những người khiếm thị ở đây thì câutrả lời là hầu như họ đọc tài liệu tại nhà và mỗi tháng đến Hội 1-2 lần giao lưu Tóm lại, người khiếm thị không có khả năng nhìn nên họ đọc tài liệu chữ nổibằng tay và nghe sách nói Vì thế họ chỉ có thể sử dụng thời gian từ 1h – 2h và từ2h – 3h là nhiều Thư viện trường Nguyễn Đình Chiểu thì chỉ dành thời gian đọctài liệu vào thứ 6 và chủ nhật Còn ở Hội người mù chủ yếu là đi giao lưu tại Hội

và đọc tài liệu tại nhà

Trang 36

2.2.3 Thói quen tra cứu

Học sinh khiếm thị tại thư viện trường Nguyễn Đình Chiểu tra cứu bằng danhmục các tài liệu mới, sách chữ nổi mới để phục vụ cho việc tìm kiếm tài liệu theonhu cầu

Người khiếm thị tại Thư viện Hà Nội tra cứu thông tin thông qua danh mụcsách mới và nhờ sự giúp đỡ của cán bộ thư viện

Hội người mù thành phố Hà Nội tại các cơ sở người mù ở các Quận/Huyệnngười khiếm thị cũng tra cứu thông tin dựa vào danh mục sách mới về Hội vàchuyển xuống các cơ sở

2.2.4 Nhu cầu về nội dung tài liệu

- Thư viện trường học Nguyễn Đình Chiểu:

Bảng 5: Nhu cầu về nội dung tài liệu tại Thư viện trường học

Nguyễn Đình Chiểu

Trang 37

Biểu đồ biểu thị Nhu cầu về nội dung tài liệu tại Thư viện trường học

Nguyễn Đình Chiểu

Về nội dung của tài liệu thì nhu cầu của học sinh khiếm thị cũng đa dạng nhưhọc sinh sáng mắt trong trường như thông tin về tự nhiên, xã hội nhân văn, các tàiliệu phục vụ học tập, sách giáo khoa, âm nhạc, hội họa, từ điển, các tài liệu liênquan đến hướng nghiệp cho các em khi ra trường để có thể tự nuôi sống bản thân Các tài liệu về tự nhiên; Xã hội và nhân văn; Văn hóa nghệ thuật… Cụ thểtài liệu về tự nhiên chiếm 60%; Xã hội và nhân văn (35%); Văn hóa nghệ thuật(12%)

Trang 38

- Thư viện Hà Nội:

Bảng 6: Nhu cầu về nội dung tài liệu tại Thư viện Hà Nội

Trang 39

Biểu đồ biểu thị nhu cầu về nội dung tài liệu tại Thư viện Hà Nội

Như bảng thống kê trên, ta thấy nhu cầu về nội dung tài liệu của người khiếmthị ở thư viện Hà Nội rất đa dạng và phong phú Nội dung tài liệu của người khiếmthị quan tâm chủ yếu về các lĩnh vực như tự nhiên, chính trị, văn hóa nghệ thuật Theo nghề nghiệp khác nhau, những người khiếm thị cũng chú ý đến nội dungtài liệu theo những lĩnh vực khác nhau Vấn đề về tự nhiên, chính trị hầu như đượctất cả nghề nghiệp của người khiếm thị quan tâm.Bởi chính trị và tự nhiên đềuquan trọng đối với họ vì trong hoàn cảnh nào thì đây là hai vấn đề được quantâm.Chính trị cũng ảnh hưởng đến tư tưởng của NKT, chính trị ổn định thì mọichính sách với người khiếm thị cũng được quan tâm

- Hội người mù thành phố Hà Nội:

Bảng 7: Nhu cầu tin về nội dung tài liệu của người khiếm thị tại

Hội người mù thành phố Hà Nội

Trang 40

Nội dung tài liệu Tỷ lệ

Biểu đồ biểu thị nhu cầu tin về nội dung tài liệu của người khiếm thị

tại Hội người mù thành phố Hà Nội

Qua khảo sát ta thấy NKT tại Hội người mù thành phố Hà Nội chủ yếu phục

vụ công việc chiếm 70% Vì Hội tổ chức đào tạo nghề cho các hội viên nên nhucầu tin của NKT cũng có xu hướng đọc những tài liệu hướng nghiệp Và các tàiliệu về chính trị, văn hóa nghệ thuật cũng được người khiếm thị có nhu cầu tươngđối giữa các cơ sở

Ngày đăng: 07/03/2017, 23:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Mục đích sử dụng tài liệu của người khiếm thị - Nhu cầu tin của người dùng tin khiếm thị trên địa bàn Hà Nội
Bảng 2 Mục đích sử dụng tài liệu của người khiếm thị (Trang 31)
Bảng 3: Mục đích sử dụng tài liệu của người khiếm thị - Nhu cầu tin của người dùng tin khiếm thị trên địa bàn Hà Nội
Bảng 3 Mục đích sử dụng tài liệu của người khiếm thị (Trang 33)
Bảng 4: Thời gian cho việc sử dụng tài liệu của người khiếm thị - Nhu cầu tin của người dùng tin khiếm thị trên địa bàn Hà Nội
Bảng 4 Thời gian cho việc sử dụng tài liệu của người khiếm thị (Trang 34)
Bảng 6: Nhu cầu về nội dung tài liệu tại Thư viện Hà Nội - Nhu cầu tin của người dùng tin khiếm thị trên địa bàn Hà Nội
Bảng 6 Nhu cầu về nội dung tài liệu tại Thư viện Hà Nội (Trang 38)
Bảng 7: Nhu cầu tin về nội dung tài liệu của người khiếm thị tại - Nhu cầu tin của người dùng tin khiếm thị trên địa bàn Hà Nội
Bảng 7 Nhu cầu tin về nội dung tài liệu của người khiếm thị tại (Trang 39)
Bảng 9: Nhu cầu về loại hình tài lệu - Nhu cầu tin của người dùng tin khiếm thị trên địa bàn Hà Nội
Bảng 9 Nhu cầu về loại hình tài lệu (Trang 42)
Bảng chữ cái Braille tiếng Việt - Nhu cầu tin của người dùng tin khiếm thị trên địa bàn Hà Nội
Bảng ch ữ cái Braille tiếng Việt (Trang 70)
BẢNG HỎI ĐIỀU TRA NHU CẦU TIN - Nhu cầu tin của người dùng tin khiếm thị trên địa bàn Hà Nội
BẢNG HỎI ĐIỀU TRA NHU CẦU TIN (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w