1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận thức của sinh viên hiện nay về hành vi Xâm phạm quyền Sao chép Tác phẩm (Nghiên cứu trường hợp tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn - Đại học Quốc Gia Hà Nội)

74 4,2K 23
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhận thức của sinh viên hiện nay về hành vi xâm phạm quyền sao chép tác phẩm
Tác giả Lê Văn Trưởng
Người hướng dẫn Cô Hoàng Thị Hải Yến, Cô Hoàng Lan Phương
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 2,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Nhận thức của sinh viên hiện nay về hành vi Xâm phạm quyền Sao chép Tác phẩm (Nghiên cứu trường hợp tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn - Đại học Quốc Gia Hà Nội)

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành nghiên cứu này không chỉ là sự nỗ lực của bản thân,

mà còn là sự quan tâm giúp đỡ từ Gia đình, Thầy cô và sự động viên của bạnbè

Tác giả xin chân thành cảm ơn cô Hoàng Thị Hải Yến, là người đã gợi ý, vàkhích lệ tác giả trong nghiên cứu này Đặc biệt tác giả xin gửi lời cảm ơn sâusắc tới cô Hoàng Lan Phương, người đã tạo điều kiện và tận tình hướng dẫn tácgiả trong quá trình thực hiện đề tài này

Tác giả cũng bày tỏ lòng cảm ơn tới các Thầy, Cô giáo trong và ngoài khoaKhoa học quản lý -Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội, những người đã trang

bị cho chúng tôi những kiến thức bổ ích trong suốt quá trình học tập tại Trường.Tác giả xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã dành cho tác giả mọi sựquan tâm, giúp đỡ, chia sẻ để tôi hoàn thành nghiên cứu này

Một lần nữa, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất!

Hà Nội, ngày 15 tháng 3 năm 2011 Tác giả

Lê Văn Trưởng

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT………

………4

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Lịch sử nghiên cứu 7

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

5 Vấn đề nghiên cứu/Câu hỏi nghiên cứu 11

6 Giả thuyết nghiên cứu 11

7 Phương pháp nghiên cứu 11

8 Kết cấu của Đề tài 12

PHẦN NỘI DUNG 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN SAO CHÉP VÀ CÁC HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SAO CHÉP TÁC PHẨM 13

1.1 Quyền Tác giả 13

1.1.1 Khái niệm về quyền Tác giả 13

1.1.2 Đặc điểm của quyền tác giả 14

1.1.3 Nội dung của quyền tác giả 14

1.2 Quyền sao chép tác phẩm 16

1.2.2 Khái niệm về quyền sao chép tác phẩm 19

1.2.3 Cơ quan thực thi về quyền sao chép tác phẩm 20

1.2.4 Các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền sao chép tác phẩm 21

1.2.5 Ngoại lệ của quyền sao chép tác phẩm 22

1.2.6 Một số bất cập trong các quy định pháp luật Việt Nam về quyền sao chép tác phẩm 23

CHƯƠNG 2 NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY VỀ CÁC HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SAO CHÉP TÁC PHẨM 26

2.1 Khái quát về Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội 26

2.2 Công tác Đào tạo, giảng dạy, tuyên truyền kiến thức về Sở hữu trí tuệ tại trường khoa học xã hội và nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội hiện nay 27

2.2.1.Thực trạng công tác Đào tạo sở hữu trí tuệ tại Trường Khoa học xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội 27

2.2.2 Bài học kinh nghiệm về đào tạo nhân lực SHTT tại trường Đại Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội 28

Trang 3

2.3 Nhận thức của sinh viên Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội về quyền tác

giả 30

2.3.1 Đối với những sinh viên đã được học những kiến thức về sở hữu trí tuệ

30

2.3.2 Đối với những sinh viên chưa được học những kiến thức về sở hữu trí truệ 30

2.4 Nhận thức của sinh viên về quyền sao chép tác phẩm 33

2.5 Nhận thức của sinh viên về hành vi xâm phạm quyền sao chép tác phẩm 35 2.6 Nguyên nhân dẫn tới việc nhận thức của sinh viên về các hành vi xâm phạm quyền sao chép tác phẩm còn hạn chế 37

2.7 Nhu cầu được hiểu biết về sở hữu trí tuệ, quyền sao chép tác phẩm 40

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY VỀ QUYỀN SAO CHÉP TÁC PHẨM 43

3.1 Những kinh nghiệm, giải pháp đã được đề cập đến 43

3.2 Một số khuyến nghị nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên hiện nay về quyền sao chép tác phẩm 44

3.2.1 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước 44

3.2.2 Đối với nhà trường 46

3.2.3 Đối với giảng viên 48

3.2.4 Đối với sinh viên 48

KẾT LUẬN 50

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

PHỤ LỤC 53

Trang 4

Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới

Tổ chức Thương mại Thế giới Khoa học xã hội và Nhân văn

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

Luật SHTT có hiệu lực từ ngày 01/7/2006 và sửa đổi bổ sung 2009 nhưngtình trạng vi phạm pháp luật về SHTT chung và hành vi xâm phạm QSC tácphẩm nói riêng không hề giảm đi mà vẫn đang có chiều hướng gia tăng, mộttrong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là do nhận thức của xã hội vềSHTT còn hạn chế, trong đó phải kể đến những nhà quản lý, người nghiên cứu,đặc biệt là nhận thức của sinh viên về SHTT nói chung về QSC tác phẩm nóiriêng còn nhiều điều đáng nói

Trường Đại học KHXH & NV Hà Nội là một ngôi trường giàu truyền thống,hiện đại Với đặc thù là một trong những trường đào tạo về lĩnh vực khoa học

xã hội hàng đầu của nước, hàng năm cung cấp cho xã hội hàng nghìn cử nhântốt nghiệp, hệ cao học và tại chức chất lượng đóng góp to lớn vào sự phát triểnđất nước Hiện nay nhà trường đã thực hiện chuyển đổi mô hình từ niên chếsang mô hình đào tạo theo tín chỉ buộc người học phải chủ động trong việc học,tiếp cận các nguồn tài liệu khác nhau, do số lượng các môn học cũng như thờilượng chương trình dạy nên một trong những hình thức phổ biến đó là việcgiảng viên giao cho sinh viên những bài kiểm tra tiểu luận, các bài thi tự luậncuối kỳ, các đề tài nghiên cứu, báo cáo thực tập.v.v khiến việc tìm kiếm,nghiên cứu tài liệu của mỗi một sinh viên là vô cùng cần thiết bởi nó quyết địnhđến chất lượng của các bài làm đó

Nhưng một thực tế hiện nay đó là việc nhận thức của sinh viên về hành vixâm phạm QSC tác phẩm còn rất nhiều hạn chế: Như những bài tiểu luậnthường không trích dẫn nguồn của tác phẩm, sao chép các bài nghiên cứu khoahọc và chỉnh sửa biến nó thành của mình.v.v hiện chỉ có khoa Khoa học quản

lý là đào tạo chuyên sâu về SHTT còn hầu hết các khoa chưa thực sự quan tâm

và hiểu đúng về vai trò của những kiến thức này đối với công tác đào tạo trong

Trang 6

nhà trường Việc nhận thức không được đầy đủ về hành vi xâm phạm đến QSCtác phẩm, bên cạnh đó những thói quen, những cách nhận thức sai lệch sẽ dẫnđến những hành vi đi ngược lại với chuẩn mực đạo đức, với các quy định củapháp luật về QSC tác phẩm

Mặt khác nếu không thay đổi nhận thức của sinh viên ngay trong trường đạihọc, thì sau khi rời khỏi giảng đường đại học họ sẽ trở thành những công dân,những người thực thi pháp luật, những nhà sáng tác, làm nghệ thuật.v.v thì sựthiếu hiểu biết, quan tâm về hành vi xâm phạm QSC tác phẩm của những thế hệcông dân toàn cầu hóa sẽ như thế nào Vì thế đã đến lúc chúng ta cần nhìn nhậnlại thực tế và hành động làm từ những việc nhỏ để thay đổi nhận thức của sinhviên để có cải thiện vi được tình trạng vi phạm pháp luật về SHTT nói chung vàhành vi xâm phạm QSC tác phẩm nói riêng tràn lan như hiện nay Và tránhnhững vụ tranh chấp đáng tiếc nhất là phạm vi quốc tế

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên đã gợi ý cho tác giả ý tưởng lựa chọn

nghiên cứu đề tài: “Nhận thức của sinh viên hiện nay về hành vi Xâm phạm quyền Sao chép Tác phẩm (Nghiên cứu trường hợp tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn - Đại học Quốc Gia Hà Nội)” Với mong muốn sẽ góp

phần lý giải nhiều vấn đề cả về lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao nhậnthức của sinh hiện nay về quyền SHTT nói chung và về QSC tác phẩm nóiriêng

Ý nghĩa lý luận của đề tài:

Đề tài của tác giả sẽ góp phần làm sáng tỏ, bổ sung, nâng cao những kiếnthức mà tác giả đã học, đồng thời với mong muốn làm sáng tỏ về phương diện

lý luận về QTG, QSC tác phẩm, những chồng chéo trong các văn bản luật.v.v

và tầm quan trọng của việc bảo hộ QTG nói chung và QSC tác phẩm nói riêngtrong nền kinh tế tri thức hiện nay

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:

Trang 7

Kết quả nghiên cứu của đề tài với mong muốn góp phần nâng cao nhận thứccủa sinh viên trường Đại học KHXH & NV Hà Nội đối với luật SHTT nóichung, và QSC tác phẩm nói riêng và từ đó khẳng định tầm quan trọng cần có

sự thay đổi nhận thức trong sinh viên trong các trường đại học hiện nay, đặcbiệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

Những luận cứ khoa học và thực tiễn được trình bày có thể được sử dụnglàm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy khối kiến thức về SHTT nóichung và QSC tác phẩm nói riêng, những kết luận, khuyến nghị có thể đượctham khảo trong hướng dẫn thi hành và áp dụng pháp luật ở Việt Nam Quantrọng hơn hết đó là sự tự giác chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật vềSHTT không chỉ là sinh viên, những người làm nghiên cứu nói riêng mà là việccủa toàn xã hội

2 Lịch sử nghiên cứu.

Ở Việt Nam đã diễn ra rất nhiều hội thảo liên quan tới QSC tác phẩm, bêncạnh đó rất nhiều các bài nghiên cứu, các bài báo.v.v của các tác giả khác nhauvới các khía cạnh nhìn nhận khác nhau về vấn đề này, tiêu biểu phải kể đếnnhư:

Thứ Tư, 23/06/2010, tại Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đã

tổ chức hội thảo “Bảo vệ quyền tác giả trong trường đại học” để các chuyên gia,nhà quản lý, giảng viên nhằm tìm giải pháp cho vấn đề QTG ở nước ta hiệnnay Tại hội thảo TS Lê Văn Hưng - Trưởng khoa luật kinh tế trường đại họcKinh tế TP.HCM cho rằng “Không dẫn nguồn trong các công trình nghiên cứunhư một thói quen tồn tại nhiều năm Đáng nói hơn, nội dung đó xuất hiện đượctác giả sử dụng nhiều lần và lâu dần trở thành.v.v của mình” Đồng tình với ýkiến đó TS Vũ Mạnh Chu, cục trưởng Cục Bản quyền tác giả (Bộ Khoa học-công nghệ), cho rằng câu chuyện vi phạm bản quyền tác giả không phải mớinhưng luôn luôn không cũ

Trang 8

Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội vừa qua cũng tổ chức hội thảo quốc tế

“Thực thi Quyền SHTT ở Việt Nam sau khi ra nhập tổ chức Thương mại Thếgiới-WT0” có một số tác phẩm đáng chú ý của: TS Trần văn Hải & ThS TrầnĐiệp Thành (2010): “Giảng dạy quyền SHTT ở trường Đại học- kinh nghiệmcủa trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn”, ở bài viết này các tác giả đãnêu lên khái quát được kinh nghiệm đào tạo nhân lực SHTT của một số nướctrên thế giới và một số các trường Đại học ở nước ta Đặc biệt nhấn mạnh đếnthực trạng công tác đào tạo tuyên truyền những kiến thức SHTT trong TrườngĐại học KHXH & NV Hà Nội với những kinh nghiệm quí báu, tuy nhiên tácphẩm vẫn chưa đưa ra được hiện trạng nhận thức của sinh viên Đại học KHXH

& NV Hà Nội về hành vi xâm phạm QSC tác phẩm hiện nay như thế nào, cónhững điểm gì hạn chế

- TS.Trần Văn Hải (2009): “Bài giảng Tổng quan về Sở hữu trí tuệ”, Bộmôn sở hữu trí tuệ, khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học KHXH&NV HàNội Ở tác phẩm này tác giả đã đưa ra những kiến thức cơ bản của pháp luật vềSHTT, bao gồm: Quyền sở hữu tài sản, các khái niệm cơ bản nhất trong lĩnhvực SHTT, sơ lược lịch sử phát triển SHTT thế giới, sơ lược lịch sử phát triểnSHTT Việt Nam, chuẩn mực quốc tế Đặc biệt nói về bảo hộ QTG, quyền liênquan, tác giả đã đưa ra các điều luật, nhấn mạnh các thuật ngữ trong các điềuluật và vận dụng đưa ra các ví dụ thực tế từ đó sinh viên rất dễ hiểu, hứng thúvới tác phẩm này Bên cạnh đó còn đề cập tới các quyền về SHTT khác

- TS Trần văn Hải (2009): “Bài giảng Quyền tác giả và Quyền liên quan”

Bộ môn sở hữu trí tuệ, khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học KHXH&NV

Hà Nội Ở tác phẩm này tác giả đã trình bày một cách tổng quan về QTG vàquyền liên quan, và đưa vào những ví dụ thực tế minh họa Tuy nhiên tác phẩmnày mới chỉ đưa ra các điều luật và ví dụ chứng minh các trường hợp vi phạmquyền SHTT nói chung và QTG Theo tác giả thì tác phẩm này nên có phần

Trang 9

khuyến nghị đối với sinh viên quyền và trách nhiệm pháp lý phải chịu nếu viphạm các quy định pháp luật về QSC tác phẩm.

- TS Trần văn Hải (2010): “Những bất cập trong qui định của pháp luậtSHTT Việt Nam hiện hành về Quyền tác giả, Quyền liên quan”, Tạp chí luậthọc, số 7/2010 Ở tác phẩm này tác giả đã đi phân tích làm rõ, đưa ra khuyếnnghị một số thuật ngữ như: “tác giả; đồng tác giả; chủ sở hữu quyền tác giả”,đối tượng quyền liên quan.v.v và một số bất cập khác Những nội dung nàyđươc tác giả sử dụng làm nguồn tài liệu tham khảo cho nghiên cứu của mình

- TS Vũ Thị Hải Yến (2010): “Bàn về qui định của luật SHTT Việt Namliên quan đến giới hạn Quyền tác giả, Quyền liên quan”, Tạp chí luật học, số7/2010 Ở tác phẩm này tác giả đi bàn đến giới hạn QTG, QLQ tác giả đã đưa racác ví dụ chứng minh Tuy nhiên tác phẩm này cũng chưa đề cập cụ thể quyềnhay giới hạn của sinh viên về QTG là gì và ngôn từ sử dụng còn nhiều Nhưngđây cũng là một nghiên cứu mà tác giả thấy rất tâm đắc

- TS Lê Nết (2006): “Quyền sở hữu trí tuệ” Trường Đại học luật thành phố

Hồ Chí Minh, nhà xuất bản Đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh Tácphẩm đã trình bày các đối tượng của quyền SHTT dựa trên các điều luật quốc tế

và trong nước, có sự so sánh, với các ví dụ minh họa Với quan điểm của tác giảcho rằng những số liệu này chưa được được cập nhập và các ví dụ còn khó hiểucho người không phải là những người hiểu biết về luật

Ngoài ra còn các bài bài báo, bình luận trên Internet, các phương tiên thôngtin đại chúng về QSC tác phẩm.v.v

Các tác giả chủ yếu đề cập đến các vấn đề liên quan tới khái niệm QTG,QSC tác phẩm, giới thiệu các qui định pháp luật trong và ngoài nước về QTG,QSC tác phẩm và vai trò của việc nâng cao nhận thức của sinh viên hiện nay vềQTG, QSC tác phẩm, nêu lên thực trạng, có kiến nghị và giải pháp.v.v nhưngnhìn chung chưa có đề tài nào chuyên sâu và toàn diện và có hệ thống về thực

Trang 10

trạng nhận thực của sinh viên hiện nay nói chung và sinh viên Trường Đại họcKHXH & NV Hà Nội nói riêng.

Trong đề tài này, Tác giả đã kế thừa những nghiên cứu của một số các tác

giả nói trên và đi sâu vào nghiên cứu đề tài: “Nhận thức của sinh viên hiện nay

về hành vi xâm phạm quyền sao chép tác phẩm (Nghiên cứu trường hợp tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn - Đại học Quốc Gia Hà Nội”.

Trong đề tài này tác giả chỉ ra những hạn chế trong nhận thức của sinh viên vềQSC tác phẩm, nguyên nhân dẫn đến nhận thức sai, cũng như đưa ra nhữngkhuyến nghị, nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên Tác giả mong muốn sẽ làtiền đề cho những nghiên cứu của mình về SHTT trong giai đoạn sắp tới

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.

Mục tiêu chung:

Nghiên cứu thực trạng nhận thức của sinh viện hiện nay về hành vi xâmphạm QSC tác phẩm tại Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội và đưa ra một sốkhuyến nghị nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên hiện nay về QSC tácphẩm

Trang 11

trong khi khai thác và sử dụng tác phẩm; Đề xuất những khuyến nghị nhằmnâng cao hiệu quả nhận thức của sinh viên về QSC tác phẩm.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nhận thức của sinh viên vể hành vi xâm phạm QSC tác phẩm

- Phạm vi thời gian:

Công ước Berne ra đời 1886 (công ước Berne được ký kết tại Berne (Thụysĩ) ngày 9/9/1986 là Công ước quốc tế đa phương đầu tiên về bảo hộ quyền tácgiả)

Nhưng ở đề tài này tác giả chỉ nghiên cứu các văn bản pháp luật về SHTT từ

2005 đến 2010 liên quan tới các quy định pháp luật về QSC tác phẩm

5 Vấn đề nghiên cứu/Câu hỏi nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, một số vấn đề sau đây được đưa ra để xem xét:

- Nhận thức của sinh viên hiện nay về hành vi xâm phạm QSC tác phẩm nhưthế nào.?

Trang 12

- Nguyên nhân nào dẫn đến nhận thức hạn chế của sinh viên về QSC tácphẩm.?

- Để nâng cao nhận thức của sinh viên hiện nay về hành vi xâm phạm QSCtác phẩm thì các cơ quan quản lý nhà nước, nhà trường, giảng viên, sinh viêncần phải làm những gì.?

6 Giả thuyết nghiên cứu.

Để giải quyết những vấn đề trên đây, tác giả sơ bộ đưa ra một số giả thuyếtsau:

- Trước hết nhận thức của sinh hiện nay về hành vi xâm phạm QSC tácphẩm còn nhiều hạn chế như: Rất nhiều sinh viên chưa nghe đến QSC tácphẩm, tình trạng sao chép thường không trích dẫn nguồn của tác phẩm, cònnhầm lẫn không phân biệt được khái niệm về hành vi vi phạm và hành vi xâmphạm QSC tác phẩm.v.v

- Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do pháp luật về SHTT còn rất mới

mẻ, tính phổ biến của luật chưa được rộng rãi, do nhà trường chưa định hướng

và có những quy chế cụ thể, do nhận thức của giảng viên, thói quen của sinhviên.v.v

- Để nâng cao nhận thức của sinh viên về hành vi xâm phạm QSC tác phẩm:Cần thay đổi nhận thức của các cấp quản lý, giảng viên, sinh viên về tầm quantrọng của SHTT nói chung và QSC tác phẩm nói riêng trong trường Đại học.Nhà trường cần đưa những môn học về SHTT liên quan tới QSC tác phẩm vàochương trình giảng dạy, có chính sách khen thưởng cho cá nhân, tổ chức cónhiều đóng góp trong lĩnh vực này.v.v

7 Phương pháp nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu tác giả lựa chọn như:

- Phân tích tài liệu: Từ các qui định pháp luật, các đề tài nghiên cứu của cáctác giả, trên các phương tiện Internet, báo chí.v.v

Trang 13

- Điều tra bảng hỏi: Tác giả khảo sát với số lượng 100 sinh viên ở một sốkhoa trong trường như: Khảo sát 40 sinh viên khóa k53 và một số sinh viênkhóa k54 tại khoa Khoa học quản lý, ở khoa Văn Học tác giả khảo sát 30 sinhviên ở lớp k53 chất lượng cao và một số sinh viên khóa k55, tại khoa Quốc tếhọc khảo sát 30 sinh viên khóa k53.

- Tổng hợp phân tích: Hệ thống văn bản pháp luật về QTG, QSC tác phẩmcủa quốc tế và Việt Nam

Về việc tìm tài liệu, ngoài các tài liệu được giảng viên hướng dẫn cung cấp,tác giả tham khảo những ý kiến đóng góp của một số giảng viên các môn học.Bên cạnh đó còn dựa vào một nguồn quan trọng là Internet, và một phươngpháp quan sát thực tế Đây là một phương pháp mất nhiều thời gian và côngsức, nhiều khi lại không có được những kết quả ưng ý về mặt pháp lý nhưng lànhững số liệu thực tiễn rất quý giá

8 Kết cấu của Đề tài

Ngoài phần mục lục, danh mục từ viết tắt, kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo, phụ lục, đề tài gồm 3 chương và 11 tiết

Chương 1 Cơ sở lý luận về quyền tác giả, quyền sao chép và hành vi xâmphạm quyền sao chép

Chương 2 Nhận thức của sinh viên về quyền tác giả, hành vi xâm phạmquyền sao chép tác phẩm

Chương 3 Một số khuyến nghị nhằm nâng cao nhận thức của sinh viênhiện nay về quyền sao chép tác phẩm

Trang 14

1.1.1 Khái niệm về quyền Tác giả.

Khi nào một người được gọi là tác giả và khi được gọi là tác giả thì họ cónhững quyền gì.?

Trước hết phải khẳng định: để một người được gọi là tác giả khi: “Là ngườitrực tiếp sáng tạo ra toàn bộ hay một phần tác phẩm văn học, nghê thuật vàkhoa học” [7; Điều 8] Trong định nghĩa trên ta chú ý đến cụm từ “trực tiếpsáng tạo” điều này là rất quan trọng bởi nó sẽ tránh cho việc ngộ nhận sản phẩmtrí truệ của người khác hay đánh cắp tác phẩm Đối tượng bảo hộ QTG là tácphẩm văn học, nghệ thuật và khoa học [6; Điều 14 ]

QTG được hiểu là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mìnhsáng tạo ra hoặc sở hữu [6; Điều 4 khoản 2] Bên cạnh đó dưới góc độ kinh tế:QTG là quyền cho phép tác giả và chủ sở hữu tác phẩm độc quyền khai thácquyền tài sản đối với tác phẩm” Mặt khác xét dưới góc độ pháp lý: thì quyềnnày là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định bảo vệ quyền nhân thân vàquyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm”1

Như vậy hiểu một cách đơn giản, là những quyền giành cho những ngườisáng tạo ra tác phẩm, là độc quyền của tác giả trong việc sử dụng và cho phépngười khác sử dụng tác phẩm của mình QTG được dùng để bảo vệ các sảnphẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện thể hiệndưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng,

1 TS.Trần Văn Hải (2009): “Bài giảng Tổng quan về Sở hữu trí tuệ”, Bộ môn sở hữu trí tuệ, khoa Khoa học quản

lý, Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội.

Trang 15

hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng kýhay chưa đăng ký

Trang 16

1.1.2 Đặc điểm của quyền tác giả.

Thứ nhất, QTG chỉ bảo hộ hình thức sáng tạo, không bảo hộ nội dung sángtạo, QTG phát sinh kể từ khi tác phẩm được thể hiện dưới một hình thức nhấtđịnh Nói cách khác căn cứ phát sinh QHPLDS về QTG là các hành vi pháp lý.Thứ hai, tác phẩm bảo hộ phải có tính nguyên gốc, tức là không sao chép,bắt chước tác phẩm khác

1.1.3 Nội dung của quyền tác giả.

Quyền tác giả bao gồm các quyền sau:

A Quyền nhân thân

Quyền nhân thân có thể được chia thành quyền nhân thân không thể chuyểngiao tại [6; [khoản 1, 2, 4 Điều 19] và quyền có thể chuyển giao quy định tại [6;khoản 3 Điều 19] Quyền nhân thân không thể chuyển giao được bảo hộ vô thờihạn và tồn tại vĩnh viễn cùng với tác phẩm 2

a Quyền nhân thân không thể chuyển giao.

Quyền này được quy định tại [6; Điều 19] luật SHTT cụ thể gồm quyền:

- Đặt tên cho tác phẩm;

- Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bútdanh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; Điều đó có nghĩa khi một tác phẩmđược công bố, tác phẩm đó có quyền quyết định có nêu tên mình hay không và

có quyền quyết định sử dụng tên thật hay bút danh của mình Tác giả cũng cóquyền tương tự khi tác phẩm phái sinh được công bố Quyền này không cónghĩa là tên của tác giả bắt buộc phải được nêu trên tác phẩm;

- Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xénhoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự

và uy tín của tác giả Hay quyền này có nghĩa “Tác giả sẽ có quyền bảo vệ sự

2 Xem: TS Trần văn Hải (2010): “Những bất cập trong qui định của pháp luật SHTT Việt Nam hiện hành về Quyền tác giả, Quyền liên quan”, Tạp chí luật học số 7/2010.

Trang 17

toàn vẹn tác phẩm của mình và tên tác phẩm để tác phẩm không bị xuyên tạc,cắt xén hoặc sửa đổi trái phép theo ý muốn của Tác giả”.

Thời gian bảo hộ cho quyền nhân thân không thể chuyển giao là vĩnh viễntồn tại cùng với tác phẩm

b Quyền nhân thân có thể chuyển giao

Quyền này được quy đinh tại [6; Điều 19] cụ thể là quyền công bố tác phẩmhoặc cho phép người khác công bố tác phẩm Quyền này thuộc về tác giả đồngthời là chủ sở hữu tác phẩm, nó được chuyển giao cho chủ sở hữu tác phẩm nếutác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm

Thời gian bảo hộ cho quyền nhân thân có thể chuyển giao là suốt cuộc đờitác giả và 50 năm sau ngày tác giả mất

B Quyền tài sản

Theo [6; Điều 20] thì quyền tài sản bao gồm các quyền sau đây: làm tácphẩm phái sinh; Biểu diễn tác phẩm trước công chúng; Sao chép tác phẩm;Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; Truyền đạt tác phẩm đếncông chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặcbất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác; Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩmđiện ảnh, chương trình máy tính Tại điều này có rất nhiều quy định liên quanđến quyền tài sản nhưng trong đó đáng chú ý đó là QSC, đây có lẽ là một trongnhững quyền quan trọng nhất trong quyền tài sản của tác giả Các quy định tạikhoản này do tác giả, chủ sở hữu QTG độc quyền thực hiện hoặc cho phépngười khác thực hiện theo quy định của luật này

Trong các quyền về tài sản nói trên thì có thể nói QSC được coi là quyền tàisản cơ bản và quan trọng nhất của tác giả, và đây cũng là vấn đề mà tác giảmuốn đề cập đến trong nghiên cứu này

Ví dụ: như các bài viết về khoa học hay văn học, nghệ thuật QTG bảo vệcác quyền lợi cá nhân và quyền lợi kinh tế của tác giả Để được hưởng QTG chỉ

Trang 18

cần người ta sáng tạo ra tác phẩm và thể hiện nó dưới một hình thức vật chất màkhông phải thông qua thủ tục đăng ký với cơ quan quản lý về QTG, đăng kýkhông phải là thủ tục bắt buộc song vẫn được khuyến khích nên đăng kí để bảo

vệ quyền của tác giả tránh khỏi những tranh chấp và sao chép trong thời đại kỹthuật số

Trang 19

1.2 Quyền sao chép tác phẩm.

Trước tiên cần khẳng định rằng QSC tác phẩm là một trong những quyền tàisản cơ bản và quan trọng nhất của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm và quyền nàyđược bảo hộ cả từ góc độ pháp luật quốc tế, cả từ góc độ pháp luật quốc gia Đểlàm rõ QSC tác phẩm cần làm rõ những vấn đề sau:

1.2.1 Khái niệm về sao chép.

a Định nghĩa sao chép.

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về sao chép như:

Theo cẩm nang Châu Á về QSC thì sao chép có nghĩa là “Sao chép là mộtcách hữu hiệu bằng các phương tiện in ấn, sao chụp, ghi âm, ghi hình, hoặcbằng phương thức khác, nói một cách đơn giản thì Sao chép có nghĩa là sử dụngmột phần hoặc toàn bộ tác phẩm để làm ra một sản phẩm khác, sao chép thànhmột bản khác hoặc ghi âm hay ghi hình.v.v

Tiếp đến theo từ điển thuật ngữ chuyên ngành vi tính (1999), nhà xuất bảnthống kê Hà Nội, thì sao chép là : “Sao chép thông tin, là chuyển nó từ một vịtrí này sang một vị trí khác mà không làm thay đổi bản gốc Trong nhiều phầnmềm và đồ họa, sao chép có một trong hai nghĩa sau: “1 Sao chép tài liệu từchồ này sang chỗ khác, 2 Sao chép từ văn bản đang soạn thảo vào một chỗ vàsau đó có thể lấy ra để dán vào bất kỳ chỗ nào bạn muốn”

Cũng theo cách nghĩ đó, từ điển Tiếng Việt đã đưa ra định nghĩa về saochép Sao chép là: “1.Tạo nên bản sao của tài liệu hay phân biệt chức năng saochép hay các đối tượng lựa chọn bằng các sử dụng tính năng cắt/ sao chép/ dán

cá lệnh có sẵn trong hầu hết các chương trình xử lý từ và đưa vào văn bản 2.Thuật ngữ chế bản văn bản và xử lý để mô tả văn bản trong tài liệu” 3

3 Xem: Gia tiên, Việt Anh, cường thịnh : Từ điển tiếng việt, nhà xuất bản Đồng Nai

Trang 20

Nghị định 100/2006/ NĐ-CP tiếp tục khẳng định “Sao chép là việc tạo rabản sao của tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cảviệc lưu trữ thường xuyên hoặc tạm thời dưới hình thức điện tử” [7; Điều 23.2].

Ví dụ: Tôi vào một trang Web trên mạng download một một phần mềm nào

đó Như vậy theo [7; Điều 23.2] và [6; Điều 4] luật SHTT thì tôi xâm phạmQTG bởi hành vi sao chép mà không được sự đồng ý của tác giả

Còn theo nghị định số 105/2006/NĐ-CP nói đến khái niệm Copy nếu xétnghĩa là động từ thì Copy là một hành động chỉ: “1.Sao lại, chép lại, bắt chước,phỏng theo, mô phỏng 2 Quay cóp” [8; Điều 156]

Nhưng tựu chung lại chúng ta có thể hiểu “Sao chép” là việc tạo ra một hoặcnhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiệnhay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo bản sao dưới hình thức điện tử [6; Điều4.10]

Ví dụ: Việc ghi âm, ghi hình các bài giảng cũng được coi là việc thực hiệnQSC Trên thực tế, quyền này bao trùm rất nhiều hoạt động, bao gồm việc saochép nội dung hay hình ảnh bằng máy quét hay máy photocopy.v.v

Phân loại sao chép.

Phân theo hình thức thể hiện thì có

- Sao chép trực tiếp là hình thức sao chép bằng tay mà không thông quamáy móc trợ giúp

Ví dụ: Khi A sao chép lại một tác phẩm nào đó bằng tay mà không thôngqua máy móc trợ giúp hay khi A nghe trực tiếp từ một người nào đó rồi ghichép lại

- Sao chép gián tiếp là hình thức thông qua máy móc, kỹ thuật

Ví dụ: A nghe một bài hát trên Đài và ghi chép lại

Phân biệt sao chép với: Sao chụp, Trích dẫn, Ghi âm tại nhà

Để hiểu rõ về “sao chép” tác giả đi phân biệt với một số loại hình sau:

Trang 21

- Sao chụp được hiểu là việc dùng phương tiện kỹ thuật để chụp lại y nguyênmột phần hay toàn bộ tác phẩm “Sao chụp tác phẩm là hành vi sao chép ynguyên tác phẩm hoặc một phần tác phẩm bằng cách photocopy, chụp ảnh haycác cách thức tương tự khác” [9; Mục 1.5] Nó khác với Sao chép ở chỗ Saochép ở chỗ hình thức sao chép có thể bằng bất kỳ phương tiện hay hình thứcnào (có thể Sao chép trực tiếp bằng tay), còn sao chụp phải thông qua gián tiếpbằng các phương tiện có chức năng sao chụp như: những máy chụp ảnh kỹthuật số, nó cho phép người ta chụp được mọi thứ trong một thiết bị, máy chụpchữ, chụp hình trên bản viết, bản điện tử

Như vậy việc sao chụp toàn bộ tác phẩm thì cũng là sao chép tác phẩm Hiệnnay trên thị trường có rất nhiều Việc sao chụp này là y nguyên Sao chụp làmột dạng thức của sao chép, dùng phương tiện cụ thể để làm nên các bản sao

- Trích dẫn: Về mặt ngữ nghĩa thì trích dẫn được hiểu là việc dẫn ra, lấy ramột phần của tác phẩm Theo “Phần trích dẫn chỉ nhằm mục đích giới thiệu,bình luận, hoặc làm sáng tỏ vấn đề được đề cập trong tác phẩm của mình” [7;Điều 24.1.b] Đặc biệt khi trích dẫn không được làm sai ý của tác giả khi bìnhluận Còn đối với sao chép là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao khác nhau

Ví dụ: Yêu cầu của một bài văn cần trích dẫn khổ thơ A để phân tích khácvới việc tạo ra một hoặc nhiều khổ thơ giống A

- Ghi âm tại nhà là việc sao chép các tác phẩm nghe nhìn, các băng đĩa tạigia đình cho mục đích sử dụng cá nhân Mục đích của ghi âm tại nhà khác vớisao chép thông thường ở chỗ ghi âm tại nhà chủ yếu được sử dụng đối với cáctác phẩm giải trí như âm nhạc Còn sao chép chủ yếu là sao chép các tài liệu sửdụng cho học tập, nghiên cứu Đó chủ yếu là các tác phẩm viết tay, hầu như làliên quan đến quyền tác giả

b) Định nghĩa về bản sao.

Trang 22

Kết quả của sao chép là việc tạo ra các bản sao, vậy bản sao là gì? TheoNghị định 100/2006 NĐ-CP: “Bản sao là bản sao chép trực tiếp hoặc gián tiếpmột phần hoặc toàn bộ tác phẩm Bản sao chụp tác phẩm cũng là bản sao tácphẩm” [7; Điều 4.4] Nhờ có các bản sao mà người thứ ba có thể tiếp cận và sửdụng tác phẩm không thông qua tác phẩm gốc nhờ có bản sao mà chúng ta mới

có thể xác định người hưởng QTG và nếu như bản gốc không còn tồn tại, nhờ

có bản sao mà tác giả thu được tiền do việc sử dụng, phân phối, nhân bản.v.v.tác phẩm Việc tạo ra bản sao như thế nào? Số lượng bao nhiêu cho chúng tathấy được tác phẩm đó đến với công chúng quan tâm như thế nào, cũng qua đóbiết được sự tiến bộ của khoa học, công nghệ thông tin để có những sự điềuchỉnh mới cho phù Làm bản sao là tạo nên một, hoặc hàng chục, hàng trăm,hàng triệu và vô số bản sao, đó là làm kinh tế, thu lợi nhuận trên công sức củangười sáng tạo một cách hợp hoặc bất hợp pháp Thế nhưng việc quản lý việcngười thứ ba tạo ra các bản sao là một điều khó có thể thực hiện được trong tìnhhình hiện nay, ngay cả trong luật cũng quy đinh bản sao không phù hợp

* Đặc trưng của bản sao:

+ Từ dạng vật liệu trên đó tác phẩm có thể được cảm nhận tái bản phổ biến.+ Trực tiếp với sự giúp đỡ của máy móc, thiết bị

Tạo nên bản sao là việc khai thác, sử dụng quyền tài sản của tác giả, chủ sởhữu Vì thế hành vi đó không nằm trong ngoại lệ của QSC hoặc không được sựđồng ý của tác giả, chủ sở hữu QTG thì đều coi đó là vi phạm quyền tác giả Đểhiều rõ điều này ta sẽ quay trở lại với những quy định về sao chép

1.2.2 Khái niệm về quyền sao chép tác phẩm.

Trước hết ta có thể hiểu thuật ngữ “quyền” là cái được pháp luật cho phépthực hiện một điều gì đó: Quyền đi bầu cử, quyền được sống, quyền cánhân.v.v

Trang 23

Dưới góc độ pháp luật Việt Nam, QSC tác phẩm được quy định tại Bộ luậtDân sự năm 2005 (BLDS 2005) và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (Luật SHTT).Điều 738 BLDS 2005 và Điều 20 Luật SHTT đều quy định một trong nhữngquyền tài sản của tác giả được pháp luật bảo hộ là QSC tác phẩm

Pháp luật Việt Nam định nghĩa QSC tác phẩm là “quyền của chủ sở hữuquyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo

ra bản sao của tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cảviệc lưu trữ thường xuyên hoặc tạm thời tác phẩm dưới hình thức điện tử” [7;điểm c khoản 1 Điều 20]

Như vậy QSC tác phẩm được hiểu là quyền được phép tạo ra các bản sao.Quyền này do pháp luật thừa nhận Thực hiện QSC tác phẩm không làm ảnhhưởng đến ai, không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường của tác giả,chủ sở hữu tác phẩm

Thuật ngữ này trong tiếng Anh có nghĩa là “COPYRIGHT” viết tắt của từ

“right of copy” là QSC đây quyền duy nhất do chính phủ trao cho tác giả hoặcthừa nhận đối với tác giả một tác phẩm nhằm ngăn chặn những người kháckhông được phép in sao, sửa đổi, phát hành ra công chúng, biểu diễn hay trìnhdiễn trước công chúng Với pháp luật các nước Anh-Mỹ thì coi trọng QSC đếnmức nó bao trùm cả QTG (bản quyền) và khi nhắc đến bản quyền thì quyền tàisản được xem là QSC 4

* Những ai được quyền Sao chép tác phẩm

1 Chủ sở hữu quyền tác giả [6; Điều 36]

1 Chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả [6; Điều 37]

2 Chủ sở hữu quyền tác giả là các đồng tác giả [6; Điều 38]

3 Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giảhoặc giao kết hợp đồng với tác giả [6; Điều 39]

4 Xem thêm: http://vi.wikipedia.org/wiki/

Trang 24

4 Chủ sở hữu quyền tác giả là người thừa kế [6; Điều 40]

5 Chủ sở hữu quyền tác giả là người được chuyển giao quyền [6; Điều 41]

6 Cá nhân, tổ chức được pháp luật cho phép tại [6; Điều 25, Điều 43]

1.2.3 Cơ quan thực thi về quyền sao chép tác phẩm.

“ Hiệp hội Quyền sao chép Việt Nam (Vietrro) thành lập ngày 21/5/2010.Đây là một sự kiện quan trọng nhằm ngăn chặn các hành vi sao chụp tác phẩmtrái phép đang lan tràn tại Việt Nam

Hiệp hội QSC Việt Nam là tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tự nguyện, phi lợinhuận, đại diện cho các công dân, tổ chức của Việt Nam hoạt động trong lĩnhvực văn hóa - nghệ thuật, khoa học và giáo dục nhằm mục đích tự bảo vệ QTGtheo quy định pháp luật Vai trò của Hiệp hội là góp phần thúc đẩy sáng tạo,phổ biến các giá trị văn hóa, nghệ thuật, khoa học và giáo dục tới công chúng.Hiệp hội sẽ thay mặt các hội viên thực hiện việc quản lý tập thể đối vớiquyền cho phép sử dụng tác phẩm dưới hình thức sao chụp, nhằm khai thác cóhiệu quả giá trị kinh tế của tác phẩm được bảo hộ QTG, theo sự ủy quyền củacác hội viên và qui định của pháp luật

Cụ thể, Hiệp hội có nhiệm vụ theo dõi hoạt động sao chụp, để biết được tácphẩm nào được sử dụng, ai sử dụng, sử dụng ở đâu, sử dụng khi nào, sử dụngnhư thế nào (mục đích, phạm vi), để có cơ sở thu tiền thù lao sử dụng tác phẩm

và phân phối tiền thù lao cho người nắm giữ quyền, tương xứng với mức độ tácphẩm của họ được sử dụng trên thực tế

Ngoài ra, Hiệp hội cũng sẽ hợp tác với các tổ chức trong và ngoài nướcnhằm đảm bảo quyền lợi và lợi ích của hội viên, đồng thời cung cấp cho người

sử dụng dịch vụ cần thiết để tiếp cận tác phẩm mà họ có nhu cầu một cách hợppháp với chi phí hợp lý”5

5Xem thêm: http://vneconomy.vn/20100521022615398p0c19/ra-mat-hiep-hoi-quyen-sao-chep-viet-nam.htm

Trang 25

1.2.4 Các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền sao chép tác phẩm.

Có rất nhiều văn bản pháp luật quy đinh về QSC tác phẩm như:

QSC tác phẩm được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS 2005) vàLuật SHTT năm 2005 và Tại Kỳ họp thứ 5, Khóa XII, Quốc hội đã thông quaLuật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT năm 2009 Luật này có hiệulực thi hành từ ngày 1-1-2010 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của SHTT tuệ

đã giải quyết được các vấn đề bất cập về pháp luật và thực thi quyền SHTT.Việc sửa đổi và bổ sung lần này đáp ứng các yêu cầu phát sinh của thực tiễn,thỏa mãn các nội dung của các điều ước quốc tế mà nước ta đã tham gia, đồngthời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể quyền SHTT Việt Nambình đẳng với các chủ thể quyền SHTT của các nước thành viên các điều ướcquốc tế về SHTT Riêng về quy đinh về QSC thì [6; khoản 2, khoản 3 Điều 20]quy định: “Các quyền quy định tại khoản 1 điều này do tác giả, chủ sở hữuquyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện theoquy định của Luật này 2 Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một sốhoặc toàn bộ các quyền quy định tại [6; khoản 1 và khoản 3 Điều 19] của luậtnày phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác chochủ sở hữu quyền tác giả”

Trong năm 2009, một số văn bản pháp luật về xử phạt hành chính và hình sựcác vi phạm về quyền tác giả, quyền liên quan cũng được ban hành như:

Nghị định 47/2009/NÐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về QTG vàquyền liên quan, quy định phạt tiền tới 500 triệu đồng đối với hành vi xâmphạm QTG, quyền liên quan Ngoài ra, tổ chức hoặc cá nhân vi phạm còn phảichịu các hình thức xử phạt bổ sung như tịch thu hàng hóa vi phạm về QTG,quyền liên quan; tịch thu nguyên liệu, vật liệu, phương tiện và thiết bị được sửdụng để sản xuất, kinh doanh hàng hóa vi phạm về QTG, quyền liên quan; đìnhchỉ hoạt động kinh doanh từ ba đến sáu tháng Các tổ chức, cá nhân vi phạm

Trang 26

cũng phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả như dỡ bỏ bản sao tác phẩmdưới hình thức điện tử trên mạng Internet, trong các thiết bị điện tử tin học Các luật Hình sự, Luật Hải quan, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính cũng

có các quy định quan hệ tới QTG và các quyền liên quan tùy theo tính chất vàphạm vi điều chỉnh của mỗi luật

Các luật chuyên ngành như Luật Xuất bản (năm 2004) dành hẳn một điều(Điều 19) quy định QTG trong lĩnh vực xuất bản: “Việc xuất bản tác phẩm, táibản xuất bản phẩm chỉ được thực hiện sau khi có hợp đồng với tác giả hoặc chủ

sở hữu tác phẩm theo quy định của pháp luật” Còn Khoản 1, Điều 5 quy định:

"Nhà nước bảo đảm quyền phổ biến tác phẩm dưới hình thức xuất bản phẩmthông qua nhà xuất bản và bảo hộ quyền tác giả” và Khoản 3, Điều 6 quy định:

“Nhà nước mua bản thảo đối với những tác phẩm có giá trị nhưng thời điểmxuất bản chưa thích hợp hoặc đối tượng sử dụng hạn chế; hỗ trợ mua bản quyềnđối với tác phẩm trong nước và nước ngoài có giá trị phục vụ phát triển kinh tế,văn hoá, xã hội” Đây là lần đầu tiên Luật xuất bản Việt Nam đề cập nhiều điềuliên quan đến việc bảo hộ quyền tác giả Tuy nhiên, so sánh với Luật xuất bảncủa nhiều quốc gia khác trên thế giới thì Luật xuất bản Việt Nam mới chỉ đề cậpđến những quy định chung nhất về quyền tác giả trong lĩnh vực xuất bản.Ngoài ra còn có Luật Báo chí, Luật Di sản văn hóa, Luật Ðiện ảnh, Pháp lệnhQuảng cáo và Pháp lệnh Thư viện có các quy định liên quan tới QSC của riêngtừng ngành, lĩnh vực khác nhau

1.2.5 Ngoại lệ của quyền sao chép tác phẩm

Ngoại lệ của quyền sao chép đáng chú ý ở mấy điểm sau đây

Thứ nhất: Luật SHTT Việt Nam quy định “Các trường hợp sử dụng tácphẩm đã công bố không phải xin phép, trả tiền thù lao” (Điều 25), ngoại lệ chỉdành cho một số trường hợp sử dụng tác phẩm đáp ứng ba điều kiện sau:

Trang 27

1) Việc sử dụng hoàn toàn vào mục đích phi thương mại như: Nghiên cứukhoa học, giảng dạy, sử dụng riêng hay để cung cấp thông tin;

2) Việc sử dụng tác phẩm không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bìnhthường tác phẩm

3) Khi sử dụng phải tôn trọng các quyền tác giả, chủ thể của quyền liên quan(như thông tin về tác giả, tác phẩm.v.v tại [6; Điều 25] quy định một trongnhững trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, khôngphải trả tiền nhuận bút, thù lao là “tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiêncứu khoa học, giảng dạy của cá nhân” và “sao chép tác phẩm để lưu trữ trongthư viện với mục đích nghiên cứu”

Thứ hai: Tác giả đã chết cách đây 50 năm tuy nhiên công chúng chỉ đượckhai thác các giá trị tài sản mà không làm ảnh hưởng tới quyền nhân thân củatác giả, mọi sự thay đổi phải được sự đồng ý của người thừa kế (có thể là cánhân, tổ chức Nếu trong trường hợp không để lại di chúc thì tác phẩm đó thuộc

về Nhà nước)

Thứ ba: Còn đối với thư viện thì theo quy định tại [khoản 2 Điều 25] Nghịđịnh 100/2006/NĐ-CP, thư viện chỉ có quyền sao chép không quá một bảnnhằm mục đích nghiên cứu và thư viện không được sao chép, phân phối bản saotác phẩm tới công chúng, kể cả bản sao kỹ thuật số

1.2.6 Một số bất cập trong các quy định pháp luật Việt Nam về quyền sao chép tác phẩm.

Thứ nhất: Tại [6; Điều 4.10] Sao chép là việc tạo ra một hoặc nhiều bản saocủa tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thứcnào, bao gồm cả việc tạo bản sao dưới hình thức điện tử Ở điều này ta thấyrằng việc tạo “bản sao dưới hình thức điện tử” bao hàm cả việc lưu giữ tạm thời

và thường xuyên điều này là một bất cập

Trang 28

Ví dụ: A mở máy tính lên máy tính đã tự lưu giữ tạm thời chương trình đó,nến sao chép để cất giữ gọi là sao chép thường xuyên Như vậy để tránh hành vixâm phạm QTG A chỉ còn cách tự ghi chép một bản riêng cho mình điều này sẽtốn rất nhiều thời gian và không hiệu quả.

Thứ hai: Tại [7; Điều 4 khoản 4] của Nghị định số 100/2006-CP quy định:

“Bản sao tác phẩm là bản sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp một phần hoặc toàn

bộ tác phẩm”

Như vậy ở đây không thể coi bản sao một phần của tác phẩm là bản saođược bởi việc trích dẫn hợp lý một phần của tác phẩm thì không bị pháp luậtngăn cấm như điều đã quy định tại điều 25 của luật SHTT

Thứ ba: Trong khi Điều 25.2 luật SHTT quy định: “Tổ chức, cá nhân sửdụng tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này không được làm ảnh hưởng đếnviệc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền củatác giả, chủ sở hữu QTG; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứcủa tác phẩm” Nhưng tại điều khoản 1 lại quy định có thể “Tự sao chép mộtbản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân” Đây là mộtbất cập trong quy đinh pháp luật vì giả định rằng việc các giảng viên cho sinhviên mượn đi photocopy hành loạt cho mỗi sinh viên một quyển sách nhằm mụcđích cá nhân để học tập không thể nói là việc làm đó không gây phương hại đếntác giả, chủ sở hữu tác phẩm được

Thứ tư: Cũng tại điều 25.1.d Luật SHTT cho phép sao chép tác phẩm để lưutrữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu, nhưng điều 25.3 Nghị đinh100/NĐ-CP lại quy định thư viện không được sao chép và phân phối bản saotác phẩm tới công chúng, kể cả bản sao kỹ thuật số Như vậy rõ ràng sự chồngchéo lẫn nhau gây khó khăn cho người thực thi

Thứ 5: Tại điều 24.3 NĐ 100/2006/NĐ-CP Việc sử dụng tác phẩm trong cáctrường hợp quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật SHTT không áp dụng đối với

Trang 29

việc sao lại tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính Sựbất cập điều này ở chỗ nếu trong mỗi máy tính cá nhân có bản sao sự phòng thì

sẽ giải quyết thế nào và có ảnh hưởng đến sự khai thác bình thường của tác giảkhông.?

Thứ 6: Theo quy định của [6; Điều 25 và Điều 32 ], các trường hợp trích dẫnhợp lí tác phẩm để bình luận hoặc minh họa; để viết báo; dung trong phát thanhtruyền hình.v.v là các trường hợp sử dụng tác phẩm, sử dụng quyền liên quankhông phải sin phép, không phải trả nhuận bút, thù lao Tuy nhiên, như thế nào

là “trích dẫn hợp lí” vẫn là nhiều tranh cãi

Kết luận chương 1:

Tóm lại ở chương 1 tác giả đã đi vào tìm hiểu vấn đề lý luận liên quan tớiQSC tác phẩm phân tích, đưa ra một số những hạn chế và ngoại lệ của phápluật nước ta về QSC tác phẩm Đáng chú ý nhấn mạnh ở những điểm sau:

Tác giả cũng đưa ra khái niệm QTG, đặc điểm, nội dung của QTG

Đặc biệt tác giả đi vào tìm hiểu những nội dung liên quan tới QSC tác phẩm:tác giả đi vào tìm hiểu những khái niệm khác nhau về “Sao chép” dưới các khíacạnh khác nhau và phân biệt với một số hình thức khác, làm rõ khái niệm “ Bảnsao”

Tiếp đến tác giả đi vào tìm hiểu “QSC”, cơ quan thực thi về QSC tác phẩm,đồng thời đưa ra các quy định của pháp luật Việt Nam về QSC tác phẩm, ngoại

lệ của QSC tác phẩm và Một số bất cập trong các quy định pháp luật Việt Nam

về QSC tác phẩm

Tuy nhiên tác giả không tránh khỏi những sai sót trong cách trình bày

Trang 30

CHƯƠNG 2 NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY VỀ CÁC HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SAO CHÉP TÁC PHẨM 2.1 Khái quát về Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.

Tổ chức tiền thân của Trường KHXH &NV Hà Nội là Trường Đại học Vănkhoa Hà Nội (thành lập theo sắc lệnh số 45 do Chủ tịch Hồ Chí Minh kí ngày10/10/1945), tiếp đó là Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (thành lập ngày05.06.1956) Ngày 10/12/1993, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định97/CP thành lập Đại học Quốc gia Hà Nội, trong đó có Trường KHXH &NV,được thành lập trên cơ sở các khoa xã hội của Trường Đại học Tổng hợp HàNội

Trong hơn sáu mươi năm xây dựng và phát triển, Trường KHXH &NV HàNội luôn được nhà nước Việt Nam coi là một trung tâm đào tạo và nghiên cứukhoa học xã hội nhân văn lớn nhất của đất nước, có nhiệm vụ đào tạo đội ngũcán bộ khoa học cơ bản trình độ cao, phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc

Thành tích về đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà trường được thể hiệnthông qua các danh hiệu: Huân chương Lao động hạng Nhất năm (1981), Huânchương Độc lập hạng Nhất (2001), danh hiệu Anh hùng Lao động thời kì đổimới (2005), Huân chương Hồ Chí Minh (2010); 8 nhà giáo được tặng Giảithưởng Hồ Chí Minh và 13 nhà giáo được tặng Giải thưởng Nhà nước về khoahọc, công nghệ; 25 nhà giáo được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân và

56 nhà giáo được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú

Trung kiên và tiên phong, chuẩn mực và sáng tạo là những giá trị truyềnthống cốt lõi của nhà trường, luôn được các thế hệ cán bộ, sinh viên giữ gìn vàphát huy

* Sứ mệnh và mục tiêu phát triển

Trang 31

-Sứ mệnh: Là một trường đại học trọng điểm, đầu ngành, có uy tín và truyềnthống lâu đời, Trường KHXH &NV Hà Nội có sứ mệnh đi đầu trong sáng tạo,truyền bá tri thức và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về khoa học xã hội

và nhân văn, phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước

Trang 32

* Tầm nhìn đến 2020

+ Mục tiêu đến năm 2020

Xây dựng trường thành một đại học đứng đầu đất nước về khoa học xã hội

và nhân văn, ngang tầm với các đại học danh tiếng trong khu vực, phục vụ đắclực sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước

+ Định hướng phát triển

Tập trung xây dựng và phát triển một số ngành, chuyên ngành đạt trình độquốc tế trên cơ sở quốc tế hoá các chương trình đào tạo, đẩy mạnh các hoạtđộng học thuật và mở rộng quan hệ hợp tác với các trường đại học đẳng cấp cao

ở khu vực và trên thế giới 6

2.2 Công tác Đào tạo, giảng dạy, tuyên truyền kiến thức về Sở hữu trí tuệ tại trường khoa học xã hội và nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội hiện nay.

2.2.1.Thực trạng công tác Đào tạo sở hữu trí tuệ tại Trường Khoa học

xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.

“Trong bối cảnh chung về đào tạo nhận lực SHTT trong các trường đại học

ở Việt Nam như hiện nay, thì Trường KHXH &NV Hà Nội có cách đi riêngtrong việc đào tạo SHTT

Hiện nay, trường có 3 khoa có đào tạo về SHTT, đó là: Khoa Thông tin –Thư viện giảng dạy môn học bắt buộc “Thông tin khoa học sở hữu côngnghiệp” với thời lượng 3 tín chỉ, nội dung chủ yếu đề cập đến kỹ năng tra cứuthông tin sở hữu công nghiệp khoa Quốc tế học chỉ học ngoại khóa về SHTTvới thời lượng 10 tiết

Khoa Khoa học quản lý là đơn vị có quy mô lớn và loại hình đào tạo phongphú về SHTT, hiện nay Khoa đang đào tạo:

6 Theo http://ussh.edu.vn/category/introduction

Trang 33

- Môn “Tổng quan về sở hữu trí tuệ” với thời lượng 3 tín chỉ cho đào tạo Cửnhân Khoa học quản lý hệ chuẩn, là môn nâng cao cho hệ chất lượng cao, đồngthời là môn bắt buộc trong chương tình bổ túc kiến thức thi chuyên ngành Thạc

- Đào tạo Cử nhân Khoa học quản lý chuyên ngành SHTT gồm 11 môn học

và chuyên đề về SHTT với tổng thời lượng là 32 tín chỉ Sinh viên ra trườngđược nhận bằng Cử nhân khoa học quản lý chuyên ngành này, các sinh viên nàyhiện đang làm việc tại Cục SHTT, Hội SHTT, Trung tâm bảo vệ QTG âm nhạcViệt Nam, các văn phòng, công ty Luật SHTT, các đơn vị khác có liên quan đếnSHTT, một số sinh viên đã trở thành giảng viên trường Trường KHXH &NV

Hà Nội, Trường Đại học KHXH&NV TP Hồ Chí Minh, Đại học TháiNguyên…

- Hiện nay khoa Khoa học quản lý có đào tạo cấp chứng chỉ trình độ C vềpháp luật và nghiệp vụ SHTT với tổng thời lượng là 43 tín chỉ, từ năm 2003, đãđào tạo được 6 khóa với trên 400 học viên được cấp chứng chỉ C, những ngườinày hiện đang công tác tại các văn phòng, Công ty Luật SHTT, Cục SHTT, HộiSHTT, quản lý thị trường, cảnh sát kinh tế, hải quan, các đơn vị khác có liênquan đến SHTT…

2.2.2 Bài học kinh nghiệm về đào tạo nhân lực SHTT tại trường Đại

Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.

* Nhận thức được yêu cầu của đất nước về Sở hữu trí tuệ.

Ngay từ năm 1999, trong giai đoạn Việt Nam đang chuẩn bị các điều kiện đểgia nhập WTO, lãnh đạo nhà trường đã quan tâm và chuẩn bị các điều kiện để

Trang 34

đào tạo SHTT Được sự phối hợp, giúp đỡ của Cục Sở hữu công nghiệp (nay làcục SHTT), Hội SHTT Việt Nam và một vị lãnh đạo thuộc Cục bản quyền tácgiả Văn học và Nghệ thuật, vào năm 2003 Trường đã xây dựng xong và đưavào đào tạo chương trình pháp luật và Nghiệp vụ SHTT, năm 2005 bắt đầu đàotạo cử nhân khoa học quản lý chuyên ngành SHTT.

Từ thực tế đào tạo SHTT tại trường, từ sự tiếp nhận của thị trường lao độngđối với nhân lực SHTT do Nhà trường đào tạo đã chứng minh bước đi đúng đắncủa lãnh đạo Nhà trường

* Sự hợp tác, giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức.

Nhà trường đã nhận được sự giúp đỡ rất lớn của các chuyên gia hàng đầu vềSHTT, đó là các chuyên gia của Cục SHTT, Cục Bản quyền tác giả về Văn học

và Nghệ thuật, Hội SHTT Việt Nam và của nhiều văn phòng đại diện SHTTtrên địa bàn Hà Nội

Những chuyên gia này đã giúp đỡ Nhà trường về mặt xây dựng chương trìnhđào tạo, bài giảng, đào tạo giảng viên SHTT cho Nhà trường và trực tiếp thamgia giảng dạy phần lớn các môn học trong chương trình đào tạo, Các cơ quannói trên cũng giúp

nhà trường về nơi thực tập cho sinh viên, về trang thiết bị trong đào tạo kỹ năngthực hành về SHTT Kinh phí chi đào tạo không lớn, nhưng các chuyên gia vẫntham gia giúp đỡ Nhà trường rất nhiệt tình và có hiệu quả

* Thành lập Bộ môn Sở hữu trí tuệ và chủ động đào tạo Giảng viên.

Số lượng người được đào tạo về SHTT của trường rất ít, chỉ có 01 ngườiđược đào tạo chính quy từ đại học đến tiến sĩ tại nước ngoài, 2 người nữa đanglàm nghiên cứu sinh tại nước ngoài, một số có bằng cử nhân và thạc sĩ ở trongnước, nhưng Lãnh đạo nhà trường vẫn chủ trương thành lập Bộ môn SHTTthuộc khoa Khoa học quản lý Đây có thể nỏi là Bộ môn chuyên về SHTT đầutiên trong các trường Đại học ở Việt Nam

Trang 35

Nhà trường đã chủ động thúc đẩy việc đào tạo giảng viên SHTT cho mình,bằng cách đào tạo tại chỗ, gửi cán bộ đi làm nghiên cứu sinh, đi học tập ở nướcngoài và ở các đơn vị khác trong nước Tạo nguồn giảng viên từ sinh viênchuyên ngành SHTT tốt nghiệp đại học loại giỏi, tuyển dụng giảng viên từnhững người đã được đào tạo về SHTT.

* Hoạt động tuyên truyền về Sở hữu trí tuệ.

Câu lạc bộ Nhà quản lý trẻ thuộc khoa Khoa học quản lý được Hội các Nhàquản trị doanh nghiệp đỡ đầu Câu lạc bộ đã tiến hành các hoạt động tuyêntruyền, phổ biến kiến thức SHTT trong sinh viên, hoạt động này đã được tổchức thường xuyên tại Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội, hằng năm trường

đã tổ chức các cuộc thi về SHTT thu hút sự tham gia của sinh viên các TrườngĐại học Kinh tế Quốc Dân, Đại học thương mại, Học viện Báo chí tuyêntruyền Các hoạt động này được sự tài trợ về kinh phí của Hội các Nhà quản trịDoanh nghiệp.v.v

Từ năm 2009, khoa Khoa học quản lý đã tổ chức riêng Hội nghị Khoa họcsinh viên về SHTT”.7

2.3 Nhận thức của sinh viên Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội về quyền tác giả.

2.3.1 Đối với những sinh viên đã được học những kiến thức về sở hữu trí tuệ.

Khảo sát sinh viên khóa k53, và một số sinh viên khóa k54 khoa Khoa họcquản lý đã được học môn học “Tổng quan về SHTT” tác giả thu được: 100% sốsinh viên được hỏi cho rằng đã nghe về QTG và trong chương trình học củamình có môn học liên quan tới SHTT và có 97,5% số sinh viên đã được học

7 Xem thêm: TS.Trần Văn Hải, Ths.Trần Điệp Thành (2010): “Đào tạo SHTT trong các trường Đại học- Từ kinh nghiệm của trường ĐHKHXH&NV”, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn

Trang 36

môn học liên quan tới QTG Bên cạnh đó khi được hỏi QTG bao gồm nhữngquyền nào thì kết quả cho thấy 97% số sinh viên được hỏi cho rằng bao gồm 2quyền là: quyền tài sản và quyền nhân thân

Từ số liệu này cho ta biết được thực trạng nhận thức của sinh viên đã đượchọc môn học về SHTT có thể nói là rất đầy đủ, điều này nói lên sự quan tâmcủa lãnh đạo khoa, các giảng viên trong việc đào tạo, tuyên truyền phổ biếnnhững quy định pháp luật về SHTT đến sinh viên là rất tốt, bên cạnh đó còn là

sự chủ động của chính sinh viên nắm được tầm quan trọng việc hiểu biết vềSHTT nói chung và QSC tác phẩm nói riêng

2.3.2 Đối với những sinh viên chưa được học những kiến thức về sở

hữu trí truệ.

Tác giả tiến hành khảo sát đối với những sinh viên khoa Văn học, và khoaQuốc tế học nhận thấy rằng nhận thức của sinh viên ở những khoa này cònnhiều hạn chế, và không đồng đều

- Tác giả tiến hành khảo sát 30 sinh viên ở lớp k53 Chất lượng cao Văn học

và một số sinh viên k55 tại khoa Văn học Kết quả thu được cho thấy có 70% sốsinh viên được hỏi cho rằng đã nghe tới QTG và 30% trong số đó chưa ngheđến QTG bao giờ, nhưng có đến 90% số sinh viên cho rằng không được họcmôn học nào liên quan tới QTG và có tới 56,7% số sinh viên nhận định rằngQTG chỉ bao gồm quyền tài sản

Như vậy có thể thấy được ngay những nhận thức cơ bản nhất về QTG sinhviên cũng không được hiểu rõ, không có trong chương trình đào tạo, sinh viênkhông hiểu ý nghĩa tầm quan trọng của QTG, dẫn đến việc nhận thức đã có sựhạn chế

Khảo sát tại 30 sinh viên khóa k53 khoa Quốc tế học Kết quả thu được là cả100% số sinh viên đều cho rằng đã nghe đến QTG, nhưng khi hỏi về trongchương trình đào tạo có môn học nào liên quan tới SHTT hay không thì có tới

Trang 37

80% cho rằng chưa có môn học nào tác giả vẫn xếp nhóm đối tượng này vàonhóm chưa được học Tiếp đến có 86,6% số sinh viên được hỏi cho rằngchưa được học môn học nào liên quan tới QTG và đặc biệt có nhận thức khácnhau về QTG: chỉ 11 ý kiến cho rằng QTG bao gồm quyền nhân thân và tài sảntương đương với 36,6% số còn lại đưa ra những nhận định không đúng về nộidung QTG Ở đây có một điều đáng nói tuy Khoa có tổ chức học ngoại khóa vềSHTT với thời lượng 10 tiết nhưng nó là quá ít để sinh viên có thể hiểu vềnhững kiến thức SHTT Như vậy thì việc không hiểu rõ các quy định về QTG

đã dẫn đến sự nhận thức còn hạn chế

Ngày đăng: 25/06/2013, 11:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10) TS.Trần văn Hải (2009): “Bài giảng Tổng quan về Sở hữu trí tuệ”, Bộ môn sở hữu trí tuệ, khoa KHQL, trường Đại học KHXH&NV Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Tổng quan về Sở hữu trí tuệ
Tác giả: TS.Trần văn Hải
Năm: 2009
11) TS.Trần văn Hải (2010): “Những bất cập trong qui định của pháp Luật SHTT Việt Nam hiện hành về Quyền tác giả, Quyền liên quan”. Tạp Chí luật học số 7/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bất cập trong qui định của pháp Luật SHTT Việt Nam hiện hành về Quyền tác giả, Quyền liên quan
Tác giả: TS.Trần văn Hải
Năm: 2010
12) TS. Trần văn Hải (2009): “Bài giảng Quyền tác giả và Quyền liên quan” Bộ môn sở hữu trí tuệ, khoa Khoa học quản lý , trường Đại học KHXH&NV Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Quyền tác giả và Quyền liên quan
Tác giả: TS. Trần văn Hải
Năm: 2009
13) TS. Lê Nết (2006): “Quyền sở hữu trí tuệ”, Trường đại học luật thành phố Hồ Chí Minh, nxb Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền sở hữu trí tuệ
Tác giả: TS. Lê Nết
Nhà XB: nxb Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh
Năm: 2006
14) TS. Vũ Thi Hải Yến, “Bàn về qui định của luật SHTT Việt Nam liên quan đến giới hạn Quyền tác giả, Quyền liên quan”. Tạp Chí Luật học số 7/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về qui định của luật SHTT Việt Nam liên quan đến giới hạn Quyền tác giả, Quyền liên quan
1) Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm Văn học và Nghệ thuật ( Đạo luật Paris, ngày 24 tháng 7 năm 1971 Khác
3) Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: Hiến pháp năm 1992 và sửa đổi, bổ sung năm 2001 Khác
4) Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: Luật Dân sự 2005 Khác
5) Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: Luật Hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 Khác
6) Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 được thông qua vào ngày 19/06/2009 và bắt đầu có hiệu lực 01/01/2010 Khác
7) Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Nghị định 100/2006/ NĐ-CP Khác
8) Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 Khác
9) Bộ văn hóa thông tin: Thông tư của Bộ văn hóa thông tin số 27/2001/TT- BVHTT ngày 29/11/1996, Nghị định số 60/CP ngày 06/6/1997 hướng dẫn thi hành một số quy định về QTG trong bộ luật dân sự.Các bài nghiên cứu Khác
15) Gia tiên, Việt Anh, cường thịnh : Từ điển tiếng việt, nhà xuất bản Đồng NaiCác trang web Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w