1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Tính Hiệu Lực Của Công Tác Quản Lý Nhà Nước Nhằm Mục Đích Đảm Bảo An Toàn Trong Thương Mại Điện Tử

184 635 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 184
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ATA Asia - Pacific Trustmark Alliance Liên minh các tổ chức cấp chứng nhậnwebsite thương mại điện tử uy tín Châu Á - Thái Bình Dương ATM Automatic Teller Machine Máy rút tiền

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, được xuất pháttừ yêu cầu thực tế và những đòi hỏi trong công việc để hình thành hướng nghiêncứu luận án Luận án nghiên cứu: “Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nướcđảm bảo an toàn trong thương mại điện tử ở Việt Nam” được thực hiện bằng các sốliệu nghiên cứu có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo tuân thủ đúng nguyên tắc và kết quảnghiên cứu là trung thực chưa từng được tập thể và cá nhân nào công bố trước đây

NGHIÊN CỨU SINH

Nguyễn Đức Tài

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

Trang 1

2

Trang 2

DANH MỤC HÌNH, BIỂU, BẢNG, HỘP

MỞ ĐẦU

7 8 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHỦ YẾU VỀ HIỆU LỰC QUẢN LÝ

NHÀ NƯỚC ĐẢM BẢO AN TOÀN TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

14

1.1 Tổng quan về thương mại điện tử và khuôn khổ pháp lý

1.1.1 Khái niệm về thương mại điện tử

1.1.2 Các loại hình giao dịch trong thương mại điện tử

1.1.3 Vai trò của các chủ thể trong việc phát triển thương mại điện tử

1.1.4 Thách thức và ảnh hưởng của thương mại điện tử

1.1.5 Khuôn khổ về pháp lý cho thương mại điện tử

1.1.6 Chính sách phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam

1.2 Hiệu lực quản lý nhà nước trong thương mại điện tử

1.2.1 Khái niệm, nội dung và nguyên tắc quản lý nhà nước

1.2.2 Quản lý nhà nước đảm bảo an toàn nhìn dưới góc độ kỹ thuật

1.2.3 Hiệu lực quản lý nhà nước trong thương mại điện tử

1.3 An toàn trong thương mại điện tử

1.3.1 Khái niệm về an toàn trong thương mại điện tử

1.3.2 Những hành vi gây mất an toàn trong thanh toán trực tuyến

1.3.3 Chính sách bảo mật đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử

1.4 Chiến lược, chính sách quản lý nhà nước về TMĐT ở Hàn Quốc

1.4.1 Chính sách phát triển và đảm bảo an toàn TMĐT ở Hàn Quốc

1.4.2 Bài học kinh nghiệm về quản lý nhà nước phát triển TMĐT

14

141820242935

41

414952

55

555761

64

6468

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẢM

BẢO SỰ AN TOÀN TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

70

2.1 Tổng quan các quy định pháp luật về hoạt động quản lý TMĐT

2.1.1 Khung pháp lý quản lý hoạt động thương mại điện tử

2.1.2 Các quy định liên quan đến giao dịch điện tử trong các văn bản

pháp luật về dân sự- thương mại

2.1.3 Các quy định về giao dịch điện tử và công nghệ thông tin

70

7073

76

Trang 3

2.2 Thực trạng về chính sách quản lý đảm bảo an toàn TMĐT tại

doanh nghiệp

2.2.1 Thực trạng chính sách phát triển hạ tầng CNTT & Internet

2.2.2 Bảo đảm an toàn thông tin và bảo vệ thông tin cá nhân

2.2.3 Nguồn nhân lực trong quản lý TMĐT tại doanh nghiệp

2.2.4 Đầu tư cho CNTT và TMĐT của doanh nghiệp

2.2.5 Một số những trở ngại trong việc ứng dụng TMĐT

2.2.6 Kiến nghị từ phía doanh nghiệp đối với các cơ quan quản lý

2.3 Thực trạng về hạ tầng liên quan đến an toàn trong TMĐT

2.3.1 An toàn thông tin mức hạ tầng

2.3.2 An toàn thông tin mức ứng dụng

2.3.3 An toàn dữ liệu trong các giao dịch điện tử

2.3.4 Các mối đe dọa an toàn thông tin điển hình trong giao dịch

2.3.5 Một số chính sách, cơ chế, biện pháp quản lý đảm bảo an toàn

2.3.6 Các chính sách tự bảo vệ của doanh nghiệp

2.3.7 Giải quyết tranh chấp trong thương mại điện tử

2.3.8 Thống kê thương mại điện tử

2.3.9 Một số quy định được áp dụng trong thương mại điện tử

2.4 Đánh giá tổng quát hiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn

thương mại điện tử ở Việt Nam

2.4.1 Những thành tựu chung và kết quả đạt được

2.4.2 Những tồn tại cần khắc phục và nguyên nhân

92

9294959798100

104

104105106107113121124126128

132

132134

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU LỰC

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẢM BẢO AN TOÀN TRONG THƯƠNG MẠI

ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

137

3 1 Dự báo phát triển, cảnh báo nguy cơ đe dọa an toàn trong TMĐT

3.1.1 Xu thế phát triển thương mại điện tử trên thế giới

3.1.2 Dự báo về nhu cầu thị trường thương mại điện tử ở Việt Nam

3.1.3 Dự báo các nhân tố tác động tới sự phát triển thương mại điện tử

137

137138140

Trang 4

trong tương lai và các mối đe dọa an ninh an toàn thông tin điển hình

3.2 Quan điểm, mục tiêu và yêu cầu đặt ra đối với nâng cao hiệu lực

quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử

3.2.1 Quan điểm, mục tiêu về công tác quản lý nhà nước

3.2.2 Yêu cầu đặt ra đối với quản lý nhà nước đảm bảo an toàn

3.2.3 Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn

3.3 Một số giải pháp, khuyến nghị về chính sách quản lý TMĐT

3.3.1 Nâng cao hiệu lực, năng lực công nghệ, nguồn nhân lực thực thi

quản lý nhà nước đảm bảo an toàn

3.3.2 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước

3.3.3 Đối với các doanh nghiệp

3.3.4 Đối với người tiêu dùng

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

145

145147151

157

161

169171174

177 180 181

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nguyên bản Tiếng Anh Nguyên bản Tiếng Việt

ADSL Asymmetric Digital Subscriber

Line

Đường thuê bao số không đối xứng

APEC Asia - Pacific Economic

Cooperation Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương

Trang 5

ATA Asia - Pacific Trustmark Alliance Liên minh các tổ chức cấp chứng nhận

website thương mại điện tử uy tín Châu Á - Thái Bình Dương

ATM Automatic Teller Machine Máy rút tiền tự động

B2B Business to Business Giao dịch giữa doanh nghiệp với

doanh nghiệp

B2C Business to Consumer Giao dịch giữa doanh nghiệp với cá

nhân

BKIS Bach Khoa Internet Security Trung tâm an ninh mạng Đại học

Bách khoa Hà Nội

eC/O Electronic Certificate of Origin Chứng nhận xuất xứ điện tử

C2C Consumer to Consumer Giao dịch thương mại điện tử giữa cá

nhân với cá nhân

CNTT Information Technology Công nghệ thông tin

CP Content Provider Nhà cung cấp dịch vụ nội dung

Ecombiz Forum e-commerce Expo Viet

EDI Electronic Data Interchange Trao đổi dữ liệu điện tử

ERP Enterprise Resources Planning Giải pháp hoạch định nguồn lực

doanh nghiệp

FTA Free Trade Area Hiệp định Khu vực thương mại tự do

G2B Government to Business Giao dịch thương mại điện tử giữa

chính phủ, doanh nghiệp

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm nội địa

ICANN Organization of International

domain names

Tổ chức tên miền quốc tế

Trang 6

IP Internet Protocol Giao thức Internet

ISP Internet Service Provider Nhà cung cấp dịch vụ Internet

IXP Internet Provider Dịch vụ kết nối Internet

OSP Online Service Provider Nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến

DBMS Database Management System Hệ quản trị cơ sở dữ liệu

TMĐT E- commerce Thương mại điện tử

UNCITRAL United nation Commission on

International Trade Law

Uỷ ban Liên Hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế

VCCI Champer of commerce and

Industry of VietNam

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

VNCERT Center for Computer Emegency

Response Team VietNam

Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp Máy tính Việt Nam

VNNIC VietNam Internet Network

Information Center Trung tâm Internet Việt Nam

WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới

XML Extensible Markup Language Ngôn ngữ đánh dấu mở rộng

DANH MỤC BẢNG, HÌNH, HỘP

Bảng 1.1 Phân loại doanh nghiệp có nguy cơ bị gian lận trực tuyến

Bảng 2.1 Các văn bản liên quan đến khung pháp lý của giao dịch điện tử

Hộp 2.1 Tài liệu điện tử thừa nhận giá trị pháp lý trong Bộ luật dân sự và

Luật thương mại

Hộp 2.2 Quy định hợp đồng điện tử trong Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Hộp 2.3 Quy định liên quan tới việc lưu trữ và truyền đạt tác phẩm bằng

58

7073

7475

Trang 7

phương tiện điện tử trong Luật sở hữu trí tuệ

Hình 2.1 Hệ thống Luật, Nghị định về giao dịch điện tử và CNTT

Hình 2.2 Các văn bản về xử phạt hành chính áp dụng xử lý vi phạm

Hộp 2.4 Những hành vi xâm phạm đến quyền lợi người tiêu dùng trong

TMĐT

Hộp 2.5 Các hành vi tội phạm về CNTT tại Bộ Luật hình sự năm 1995

Hộp 2.6 Các hành vi tội phạm về CNTT và TMĐT trong Luật sửa đổi, bổ

sung Bộ luật hình sự năm 2009

Hình 2.3 Tần suất sử dụng Internet của hộ gia đình tại Hà Nội năm 2010

Hình 2.4 Các biện pháp bảo đảm an toàn thông tin quy mô doanh nghiệp

Hình 2.5 Tỷ lệ cán bộ chuyên trách về TMĐT theo các lĩnh vực

Hình 2.6 Thống kê của VNISA về các hình thức tấn công Internet

Hình 2.7 Thống kê của VNISA về công nghệ đảm bảo an toàn

Hình 2.8 Các tấn công mà tổ chức gặp phải kể từ tháng 1/2008

Hình 2.9 Kết quả thăm dò hoạt động gửi tin nhắn rác

Hộp 2.7 Một số quy định liên quan đến bảo vệ thông tin cá nhân

Hình 2.10 Đánh giá mức trở ngại với ứng dụng TMĐT 2010

778485

8890

939496105106107109119136

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án

Ngày nay, giao dịch điện tử trong hoạt động thương mại đã trở thành mộtphần tất yếu của cuộc sống trên toàn thế giới Công nghệ thông tin, Internet ra đờivà phát triển, đồng thời thương mại điện tử cũng xuất hiện, phát triển với tốc độ rấtnhanh dù ở các hình thức, các mức độ khác nhau tuỳ theo từng quốc gia, từng khuvực Từ khi xuất hiện khái niệm và thuật ngữ “thương mại điện tử”, nó luôn trở

Trang 8

thành một chủ đề mang tính thời sự trong đời sống kinh tế trên phạm vi toàn cầu Sựxuất hiện và phổ biến thương mại điện tử ở Việt Nam cũng trở thành một phần tấtyếu của một đất nước với gần 90 triệu dân và hàng trăm triệu thuê bao điện thoạicùng hệ thống hạ tầng tương đối rộng khắp Muốn gọi một dịch vụ nào đó, người tacó thể nhấc điện thoại lên gọi và thế là một giao dịch được hình thành hay muốnmua một món đồ gì đó, có thể là dịch vụ hay sản phẩm cụ thể, hay thậm chí là sảnphẩm số hóa người ta cũng chỉ cần một cú “nhấp chuột” trên trang Web là đã có thểsở hữu sản phẩm hay thụ hưởng dịch vụ mình mong muốn một cách rất nhanhchóng và thuận tiện Do sự phát triển nhanh, tính phổ cập, tính thanh toán quốc tếnên thương mại điện tử đem lại những lợi ích to lớn như sự tiếp cận, tìm kiếm dịch

vụ nhanh chóng cho khách hàng là doanh nghiệp tư nhân thậm chí cả chính phủ vàbên cung cấp dịch vụ cũng tiếp cận khách hàng nhanh trong môi trường không biêngiới, xóa nhòa khoảng cách về địa lý, thời gian Điều này cũng tạo ra một mặt tráicủa thương mại điện tử là hiện tượng tội phạm sử dụng công nghệ cao ở tại bất cứkhu vực nào trên thế giới có kết nối Internet đều có thể tạo ra những thông tinthương mại sai lệch hoặc lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng nhiều hình thức, thủ đoạntinh vi, luôn được cập nhật và trao đổi trên các diễn đàn có mục đích xấu Có rấtnhiều ví dụ tại Việt Nam như lừa đảo trúng thưởng qua tin nhắn điện thoại di động,trộm cắp mật khẩu, chiếm quyền truy nhập địa chỉ các thư điện tử, lừa đảo trựctuyến hoặc lắp đặt các thiết bị theo dõi các thông tin cá nhân trên hệ thống ATM đểsản xuất thẻ giả nhằm chiếm đoạt tiền hoặc thanh toán mua hàng bất hợp pháp.Nguy hiểm hơn, do cạnh tranh không lành mạnh, giới tội phạm công nghệ cao cóthể đánh sập các trang web hay các sàn giao dịch thương mại điện tử

Đặt trong thực trạng các điều kiện để hình thành Chính phủ điện tử tại ViệtNam, tội phạm công nghệ cao trên môi trường mạng vẫn tiếp tục gia tăng với xuhướng có tính quốc tế rõ rệt, việc tấn công cơ sở dữ liệu của các cơ quan nhà nước,e-banking, các công ty thương mại điện tử liên tục xảy ra Số lượng lớn các vụ tấncông gây thiệt hại về kinh tế nhưng rất khó ước tính cũng trở thành mối đe doạ cho

sự cạnh tranh, phát triển của nền kinh tế Ngoài ra, sự phổ biến của web 2.0 với các

Trang 9

mạng xã hội như Facebook, Twitter… cũng làm nảy sinh hàng loạt thách thức chođảm bảo an toàn thông tin và giao dịch trực tuyến đối với người dùng cá nhân trongcác tổ chức, doanh nghiệp Trong thời gian qua, Cục An ninh thông tin truyềnthông, Tổng cục an ninh II, Bộ Công An đã phát hiện một số trang web trên mạngInternet bán hàng loạt thông tin cá nhân, cụ thể là họ tên, tuổi, nơi làm việc, địa chỉ,

số điện thoại di động của cả trăm nghìn người, hành vi này có dấu hiệu vi phạmđiều 226 Bộ Luật hình sự Trước một loại hình tội phạm rất mới này, Tổng cục Anninh II kiến nghị xử lý và đẩy mạnh việc kiểm soát các băng nhóm phạm pháp hình

sự tiến hành mua bán thông tin cá nhân trên mạng Internet để sử dụng trong mụcđích phạm tội như: tống tiền, đe dọa, ăn cắp… Bên cạnh đó là những lo lắng về vấn

đề bảo mật, về an ninh, an toàn trong thanh toán trực tuyến qua ngân hàng khi tiếnhành giao dịch thương mại điện tử khiến cho các chủ thể tham gia trở thành nạnnhân của gian lận trực tuyến và mất an toàn thông tin Mỗi sự cố, dù là nhỏ nhưngqua các phương tiện truyền thông sẽ lan tỏa và làm giảm lòng tin của khách hàng

Trước những nguy cơ, rủi ro về sự mất an toàn trong thương mại điện tử, cầnthiết phải hoàn chỉnh khung pháp lý đủ mạnh, các biện pháp thực thi có hiệu quả,các công tác thanh, kiểm tra, giám sát chặt chẽ để nhằm xử lý, răn đe, phòng ngừanhững đối tượng là tội phạm trong nước và quốc tế lấy Việt Nam làm nơi thực hiệnhoạt động phạm pháp Vì thế, đòi hỏi sự nghiên cứu, thống nhất về mặt lý luận, làmrõ các vấn đề liên quan đến tính hiệu lực của công tác quản lý nhà nước trong việcđảm bảo an toàn trong các hoạt động giao dịch thương mại điện tử ở Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu

Thương mại điện tử đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tổ chứcquốc tế trên thế giới và đông đảo các nhà nghiên cứu, các viện nghiên cứu, cáctrường đại học rất chú ý quan tâm tới thương mại điện tử

Liên hiệp quốc cũng đã nghiên cứu và phổ biến về “Chính phủ điện tử vàThương mại điện tử” thông qua tài liệu giảng dạy tới các quốc gia do Trung tâm đàotạo phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Châu Á- Thái Bình Dương(APCICT) nghiên cứu với mục tiêu truyền đạt các kiến thức cho các nhà lãnh đạo

Trang 10

Chính phủ tại các Quốc gia Châu Á- Thái Bình Dương nhằm hoạch định chính sáchquản lý và các sáng kiến về chính phủ điện tử và thương mại điện tử một cách hiệuquả hơn Ủy ban Châu Âu- Viện bảo vệ và an ninh công dân thuộc Trung tâmnghiên cứu hỗn hợp ISPRA- Italia cũng đã nghiên cứu về: “Chiến lược tin cậy và antoàn B2C trong thương mại điện tử” Nghiên cứu này đã đi sâu phân tích một cáchcó hệ thống về mối quan hệ giữa công nghệ, xã hội, kinh tế và chính sách nhằmđem lại sự an toàn và tin tưởng trong thương mại điện tử Stayling Wen, một doanhnhân Đài Loan cũng nghiên cứu và cho ra đời cuốn sách “Tương lai của thương mạiđiện tử” Cùng với rất nhiều các tác giả khác trên thế giới cũng có các công trìnhnghiên cứu về về mạng xã hội, kinh doanh, công cụ trực tuyến, công cụ tìm kiếm,

an ninh mạng, bảo mật, khung pháp lý, công nghệ và cơ sở hạ tầng cho thương mạiđiện tử của các quốc gia trên thế giới

Việt Nam đã thống nhất về mặt quản lý nhà nước về thương mại điện tử bằngviệc thành lập Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin thuộc Bộ CôngThương Nhiều công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động thương mại điện tửđược Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin cùng các Tổ chức, Hiệp hộithực hiện Tuy nhiên, nghiên cứu cụ thể về quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trongthương mại điện tử thì chưa có nhiều Một số công trình nghiên cứu thương mạiđiện tử về bảo mật, an toàn và pháp lý đã được biết tới như: Báo cáo đề tài nhánhKC01-05 của Ban cơ yếu Chính phủ năm 2004: “Nghiên cứu, xây dựng giải phápbảo mật thông tin trong thương mại điện tử” Đề tài: “Pháp luật về thương mại điệntử tại Việt Nam: thực trạng và một số khuyến nghị” do Tiến sĩ Nguyễn Anh Sơn –Phó vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Công Thương Công trình: “Luật thương mại quốc

tế, các văn bản nền tảng của Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tếcủa UNCITRAL Sách kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế “Thương mại điện tử vàphát triển nguồn nhân lực” do Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Quyền- Phó Cục trưởng CụcThương mại điện tử và Công nghệ thông tin chủ biên Các công trình nghiên cứu vềthương mại điện tử hiện nay có nhiều nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu vềhiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử

Trang 11

Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật giao dịch điện tử, Luật Công nghệthông tin, Quốc hội khóa XII thông qua Luật Bảo vệ người tiêu dùng Trên cơ sởđó, Chính phủ cũng phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử2006-2010 (Quyết định số 222/2005/QĐ-TTg), giai đoạn 2011-2015 (Quyết định số1073/ QĐ-TTg) để xác định rõ kế hoạch thực hiện triển khai thương mại điện tử ởViệt Nam Tổng quan tình hình nghiên cứu như trên có thể đánh giá rằng cần thiếtphải có những nghiên cứu cụ thể đánh giá về tính hiệu lực công tác quản lý nhànước để đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử Với mong muốn đi sâu nghiêncứu vấn đề đó đồng thời dự báo sự phát triển thương mại điện tử, quản lý nhà nướcmột cách hiệu lực nhằm đảm bảo an toàn, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài “Giải phápnâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử ởViệt Nam” để nghiên cứu luận án tiến sĩ.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở khoa học, lý luận về hiệulực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử ở Việt Nam từ đóluận án đề xuất một số giải pháp và nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lýnhà nước đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử Song song với việc nghiên cứulàm rõ các giá trị nội hàm về quản lý nhà nước, hiệu lực quản lý nhà nước, về antoàn trong thương mại điện tử, luận án cũng dự báo về sự phát triển thương mạiđiện tử và vấn đề quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này ở Việt Nam, với mục tiêu:

“Quản lý phải theo kịp với sự phát triển”

Nhiệm vụ cụ thể của Nghiên cứu sinh đặt ra trong luận án là:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận, khoa học về các nội dung quản lý nhà nước và an toàn trong thương mại điện tử Đánh giá thực trạng về hiệu lực công tác quản lý nhànước để đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử ở Việt Nam

- Tiếp cận vấn đề nghiên cứu luận án dưới góc độ doanh nghiệp đánh giá vềvấn đề quản lý nhà nước và những kiến nghị từ phía doanh nghiệp đối với cơ quanxây dựng chính sách, thực thi pháp luật để nhằm nâng cao hiệu lực của quản lý nhànước đảm bảo an toàn cho thương mại điện tử

Trang 12

- Nghiên cứu, đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lýnhà nước nhằm tăng cường độ an toàn trong thương mại điện tử để tạo môi trường,điều kiện phát triển cho thương mại điện tử ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhậpkinh tế quốc tế.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là hiệu lực của công tác quản lý nhànước nhằm giảm thiểu rủi ro trong thương mại điện tử ở Việt Nam Vì thương mạilà hoạt động mang tính toàn cầu, chịu sự điều khiển, chi phối của hệ thống luật phápnhiều quốc gia liên quan nên đối tượng nghiên cứu còn là các quy định, luật phápquốc tế liên quan đến thương mại điện tử

Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu về tính hiệu lực của công tác quản lýnhà nước nhằm mục đích đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử Nghiên cứunhìn dưới góc độ doanh nghiệp và hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước

Luận án nghiên cứu hiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trong thươngmại điện tử kể từ năm 2000 cho đến nay Khi đề xuất các giải pháp, luận án lấy mốctừ năm 2005- Luật giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 được Quốc hội thông quangày 29/11/2005 đồng thời cũng là năm Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạchtổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006-2010 theo Quyết định số222/2005/QĐ-TTg, ngày 27/12/2005 căn cứ theo Chỉ thị số 58/CT-TW, ngày17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh và ứng dụng công nghệ thông tin trong

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận án, nghiên cứu sinh ứng dụng đồng thời và hài hòa nhữngphương pháp nghiên cứu chủ đạo trong kinh tế chính trị như: Phương pháp duy vậtbiện chứng và phương pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lê Nin

Trong đó, chú trọng sử dụng các phương pháp để thu thập số liệu như:Phương pháp điều tra, khảo sát đánh giá thực tiễn, nghiên cứu định tính; Phươngpháp thống kê, so sánh, diễn giải, quy nạp, phân tích và phỏng vấn sâu chuyên gia

Trang 13

Do lượng thông tin dàn trải, vấn đề nghiên cứu mới, khá phức tạp, đa phầntính pháp lý, thương mại cùng kết hợp với công nghệ, hơn nữa các tài liệu nhiều vàphân tán, việc thu thập thông tin, tài liệu có khó khăn nên việc phân tích các số liệuchủ yếu dựa trên các phân tích thông tin mang tính chất định tính được thu thập quanghiên cứu thực địa và phỏng vấn sâu các chuyên gia về vấn đề này.

6 Những đóng góp mới của luận án

Là một công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về hiệu lực quảnlý nhà nước nhằm đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử ở Việt Nam, luận áncó những đóng góp sau: Thứ nhất là, hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về cơ sở lýluận quản lý nhà nước, hiệu lực quản lý nhà nước, hiệu quả của pháp lý tạo sựchuyển biến sâu về an toàn trong giao dịch Thứ hai là, phân tích và làm rõ nội hàmcủa phạm trù: “An toàn trong giao dịch thương mại điện tử ở Việt Nam” cùng thựctrạng về hiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử ở ViệtNam, giai đoạn 2006-2012 Thứ ba là, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lựcquản lý nhà nước đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử ở Việt Nam

7 Bố cục của luận án

Nội dung của luận án được kết cầu gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước và an toàn trong thương mại điện tử.Chương 2: Thực trạng về hiệu lực quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trongthương mại điện tử

Chương 3: Giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhànước đảm bảo an toàn trong thương mại điện tử

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHỦ YẾU VỀ HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẢM

BẢO AN TOÀN TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1.1 Tổng quan về thương mại điện tử và khuôn khổ pháp lý

1.1.1 Khái niệm về thương mại điện tử

Thương mại điện tử, hiểu theo nghĩa thông thường nhất là giao dịch thươngmại thông qua môi trường điện tử Xét về mặt kỹ thuật đó là nhờ thành quả của

Trang 14

cuộc cách mạng khoa học công nghệ, sự phát triển nhanh của công nghệ thông tinvà truyền thông, đặc biệt là mạng Internet, sự ra đời của các sản phẩm kỹ thuật sốcầm tay hay các thiết bị di động Xét về mặt phát triển kinh tế thì công nghệ thôngtin vừa là sản phẩm, vừa là công cụ tất yếu cho sự phát triển kinh tế thế giới trongquá trình toàn cầu hóa dần hướng tới một nền kinh tế tri thức trong đó thông tin làyếu tố chủ đạo

Lịch sử ra đời và phát triển thương mại điện tử gắn liền tới tiến bộ của côngnghệ thúc đẩy thế giới theo xu thế toàn cầu hóa Công nghệ thông tin và truyềnthông, đặc biệt là sự phát triển mạnh của công nghệ lưu trữ dành cho máy tính cánhân đã tạo ra cơ sở hạ tầng là mạng máy tính toàn cầu cho phép kết nối Internetliên tục dẫn đến sự thu hẹp không gian và thời gian cho các hoạt động giao dịchthương mại, kinh tế Người làm thương mại cần các giao dịch thỏa thuận giữa ngườimua và người bán đã nhanh chóng áp dụng công nghệ này tạo ra những giao dịchnhanh chóng, thuận tiện, không bị giới hạn bởi thời gian, khoảng cách địa lý, địađiểm giao dịch Do đó, công nghệ thông tin mà nền tảng là Internet đã đem lại nhiềuyếu tố thuận lợi để thay đổi phương thức giao dịch cũ tạo ra một chương mới tronglịch sử thương mại, đó là một thành quả công nghệ sẽ được ứng dụng rộng rãi trongtương lai của ngành thương mại điện tử

Hiện nay, ngoài Inetrnet, các phương thức truyền dẫn khác cũng là môitrường cho sự phát triển của thương mại điện tử Ví dụ: Truyền hình cáp trả tiền,truyền hình kỹ thuật số mặt đất, công nghệ viễn thông 3G… Thương mại điện tử rađời đã và đang tiếp tục phát triển và hoàn thiện các dịch vụ của mình trên Internettheo các mục đích kinh doanh khác nhau: trò chuyện trực tuyến, video trực tuyến,mở gian hàng ảo trưng bày sản phẩm, trao đổi đàm phán qua thư điện tử, ký hợpđồng mua bán có sử dụng chữ ký điện tử, thanh toán trực tuyến quốc tế các dịch vụsau bán hàng Thương mại điện tử cũng góp phần thúc đẩy số người sử dụngInternet tạo ra một môi trường mới cho thương mại, điều đó phát sinh nhu cầu thực

tế về việc nghiên cứu thói quen tiêu dùng theo nhóm người, độ tuổi, nghiên cứu thịtrường trên mạng…Internet ra đời cho khả năng kết nối rộng rãi, với chi phí thấp

Trang 15

hơn nhiều so với các mạng chuyên dụng trước kia tạo ra những thuật ngữ và kháiniệm khác nhau để mô tả phương thức mua bán qua mạng Buôn bán qua phươngtiện điện tử, buôn bán trong không gian điều khiển học, thương mại không cần giấy,thương mại điện tử, kinh doanh điện tử Mỗi thuật ngữ đều phản ảnh một khía cạnhcủa một phương thức kinh doanh thương mại mới trên cơ sở là nền tảng kỹ thuậtcông nghệ thông tin Khái niệm thương mại điện tử là khái niệm được nhiều ngườisử dụng nhất, nhiều những thuật ngữ khá cũng được sử dụng phản ảnh các khíacạnh của khái niệm thương mại điện tử Đó là các giao dịch B2B chỉ các giao dịchgiữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, B2C chỉ giao dịch giữa doanh nghiệp vàngười tiêu dùng, G2C chỉ giao dịch giữa các cơ quan chính phủ với người tiêu dùng.Bán lẻ điện tử là một khái niệm trong thương mại điện tử chỉ doanh nghiệp áp dụnghình thức bán trưng bày, quảng bá, giới thiệu sản phẩm qua mạng đến người có nhucầu và giao hàng hóa cụ thể tận tay người tiêu dùng.

Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về “thương mại điện tử” nhưng tựutrung lại có hai quan điểm lớn trên thế giới

Thương mại điện tử theo nghĩa rộng được định nghĩa trong Luật mẫu vềThương mại điện tử của Ủy ban Liên Hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế(UNCITRAL): “Thuật ngữ Thương mại cần được diễn giải theo nghĩa rộng để baoquát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có haykhông có hợp đồng Các quan hệ mang tính thương mại bao gồm các giao dịch sauđây: bất cứ giao dịch thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịchvụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng; chothuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư; cấp vốn;ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh các hình thứckhác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành

khách bằng đường biển, đường không, đường sắt, đường bộ” Như vậy, có thể thấy

rằng phạm vi của thương mại điện tử rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạtđộng kinh tế, việc mua bán hàng hóa, dịch vụ chỉ là một trong hàng ngàn lĩnh vựcáp dụng của thương mại điện tử

Trang 16

Ủy ban Châu Âu đưa ra định nghĩa về Thương mại điện tử như sau: “Thươngmại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiệnđiện tử Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới dạng text, âm thanh vàhình ảnh Thương mại điện tử gồm nhiều hành vi trong đó hoạt động mua bán hànghóa và dịch vụ qua phương tiện điện tử, giao nhận các nội dung kỹ thuật số trênmạng, chuyển tiền điện tử, mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử, đấu giáthương mại, hợp tác thiết kế, tài nguyên mạng, mua sắm công cộng, tiếp thị trực tiếp

tới người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng” Thương mại điện tử được thực

hiện đối với cả thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ; các hoạt động nhưchăm sóc sức khỏe, giáo dục và các hoạt động mới như siêu thị ảo Tóm lại, theonghĩa rộng thì thương mại điện tử có thể được hiểu là các giao dịch tài chính vàthương mại bằng phương tiện điện tử như: trao đổi dữ liệu điện tử; chuyển tiền điệntử và các hoạt động gửi rút tiền bằng thẻ tín dụng

Thương mại điện tử theo nghĩa hẹp bao gồm các hoạt động thương mại đượcthực hiện thông qua mạng Internet Các tổ chức như: Tổ chức Thương mại thế giới(WTO), Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế đưa ra các khái niệm về thương mại điệntử theo hướng này Thương mại điện tử được nói đến ở đây là hình thức mua bánhàng hóa được bày tại các trang Web trên Internet với phương thức thanh toán bằngthẻ tín dụng Có thể nói rằng Thương mại điện tử đang trở thành một cuộc cáchmạng làm thay đổi cách thức mua sắm của con người

Theo Tổ chức Thương mại Thế giới: “Thương mại điện tử bao gồm việc sảnxuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trênmạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình cả các sản phẩm được giaonhận cũng như những thông tin số hóa thông qua mạng Internet”

Khái niệm về Thương mại điện tử do Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế củaLiên Hợp quốc đưa ra là: “Thương mại điện tử được định nghĩa sơ bộ là các giao

dịch thương mại dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như Internet”

Theo các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu được rằng theo nghĩa hẹpThương mại điện tử chỉ bao gồm những hoạt động thương mại được thực hiện

Trang 17

thông qua mạng Internet Qua nghiên cứu các khái niệm về thương mại điện tử nhưtrên, hiểu theo nghĩa rộng thì hoạt động thương mại được thực hiện thông qua cácphương tiện thông tin liên lạc đã tồn tại hàng chục, thậm chí hàng trăm năm naynhư: điện thoại, fax, telex Theo nghĩa hẹp thì thương mại điện tử chỉ mới tồn tạiđược khoảng thời gian chưa lâu nhưng nhờ tiến bộ công nghệ đã đạt được nhữngkết quả rất đáng quan tâm Trên thực tế, chính các hoạt động thương mại thông quamạng Internet đã làm phát sinh thuật ngữ “Thương mại điện tử” Ngoài ra, từ cácgiác độ khác nhau, người ta có những khái niệm khác nhau về thương mại điện tử.

Từ góc độ viễn thông: “Là sự cung cấp thông tin sản phẩm, hàng hóa, dịch

vụ hay thanh toán các sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa thông qua mạng máy tính haycác phương tiện điện tử khác”

Từ góc độ quản trị kinh doanh: “Là sự ứng dụng công nghệ hướng tới việc tựđộng hóa trong những giao dịch thương mại và quản lý”

Từ góc độ dịch vụ: “Là một công cụ mà qua đó có thể gửi đơn hàng của các

hãng, của khách hàng để giảm chi phí và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa vàdịch vụ, giảm thời gian vận chuyển hàng hóa, dịch vụ tới tay người tiêu dùng”

Từ viễn cảnh trực tuyến: “Thương mại điện tử là khả năng mua bán trao đổicác sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trên Internet”

Trong thương mại điện tử, khái niệm thương mại được mở rộng hơn kháiniệm thương mại truyền thống Phạm vi của thương mại điện tử rất rộng Nó phảnảnh xu thế phát triển của nền kinh tế số hóa trong đó mọi hình thái hoạt động kinh tếđang có xu hướng được hội tụ trên mạng máy tính Tuy nhiên, khái niệm thươngmại điện tử được nghiên cứu trong luận án chỉ hạn chế vào nội dung mua bán hànghóa trực tuyến và dịch vụ qua mạng

1.1.2 Các loại hình giao dịch trong thương mại điện tử

Mọi tổ chức hay bất kỳ cá nhân nào đều có thể tham gia thương mại điện tửnếu sử dụng thiết bị đầu cuối có thể kết nối mạng Tuy nhiên, nếu phân loại cácthành phần tham gia thương mại điện tử có thể chia làm 3 thành phần cơ bản thamgia: người tiêu dùng, doanh nghiệp và các cơ quan chính phủ

Trang 18

Người tiêu dùng là chủ thể quan trọng nhất, có vai trò quyết định đến sự pháttriển của thương mại điện tử Là điểm cuối trong chuỗi tiêu thụ hàng hóa và cácdịch vụ, mục tiêu và đối tượng để doanh nghiệp và cơ quan chính phủ phục vụnhằm thỏa mãn ngày càng cao các nhu cầu chính đáng của cá nhân hoặc cộng đồng.

Doanh nghiệp là các tổ chức kinh doanh hàng hóa hoặc tạo ra các sản phẩmhàng hóa cũng như dịch vụ phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng và cộng đồng.Doanh nghiệp giữ vai trò chủ động tiên phong trong tham gia thương mại điện tử

Các cơ quan chính phủ vừa là người tiêu thụ hàng hóa, vừa là người cungcấp hàng hóa là dịch vụ công trong thương mại điện tử cũng là người quản lý điềuchỉnh các hoạt động thương mại điện tử thông qua hệ thống pháp luật

Dưới đây là mối quan hệ tác động giữa các chủ thể với nhau trong môitrường mạng máy tính hình thành các phạm trù giao dịch khác nhau trong thươngmại điện tử:

- Giao dịch giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp (B2B): Đây là giao dịch mua

bán các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ giữa các doanh nghiệp trong quá trình sảnxuất kinh doanh kèm theo các dịch vụ tư vấn, bảo trì, nâng cấp sau bán hàng Doanhnghiệp cần lựa chọn nguồn hàng, đặt hàng từ các nhà cung cấp, nhận hóa đơn vàthanh toán Các quá trình trên trước đây mất rất nhiều thời gian và nhân công dophải làm việc, đàm phán và gặp mặt trực tiếp, nay toàn bộ quá trình trên đều có thểthực hiện tại bất cứ đâu và vào bất cứ thời gian nào được cho là phù hợp với hai bênthông qua mạng Internet Điều này giúp giảm thiểu chi phí, tận dụng thời gian, nângcao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Thực tế, loại giao dịch này đã được sửdụng từ nhiều năm ở các mức độ khác nhau, trước khi ra đời mạng Internet, ví dụnhư giao dịch thanh toán điện tử EDI đã được sử dụng trên các mạng riêng từ năm

1970 tại Mỹ B2B giúp các doanh nghiệp tiết kiệm được nhiều chi phí, lựa chọn đầuvào tốt hơn, quản lý tốt việc cung tiêu hàng hóa, thay đổi nhanh sản phẩm mẫu mã,đưa hàng ra thị trường Sau này, xuất hiện website trung gian để các doanh nghiệpgiới thiệu, báo giá sản phẩm, tạo sân chơi mua bán hàng hóa, trang web này đượcgọi là sàn giao dịch điện tử Bên cạnh việc tạo ra một sân chơi cho các doanh

Trang 19

nghiệp thực hiện việc mua bán, sàn giao dịch có thể thực hiện các giá trị gia tăngnhư cung cấp thông tin cần thiết do các doanh nghiệp tự quảng bá, tổ chức hội thảo,cung cấp các nghiên cứu điều tra thị trường cho doanh nghiệp.

- Giao dịch giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng (B2C): Đây là giao dịch

mà ở đó người tiêu dùng mua hàng trực tiếp và các doanh nghiệp thực hiện việc bán

lẻ qua mạng thông qua website của doanh nghiệp hoặc sàn giao dịch Các giao dịchB2C không chỉ dừng ở mục tiêu cung cấp sản phẩm tới tận tay người tiêu dùng màmở rộng thêm các hoạt động dịch vụ như thông tin chất lượng sản phẩm, độ tin cậythông qua các diễn đàn thuộc sàn giao dịch, ngân hàng, đấu giá, bất động sản, dulịch Hình thức bán lẻ điện tử ngày càng được các doanh nghiệp chú ý và đầu tưtriển khai áp dụng vì tiếp cận khách hàng nhanh chóng và thuận lợi Bán hàng trongB2C khác với B2B bởi giá cả thường cố định, doanh nghiệp chỉ cần xây dựngcatalog, hệ thống duyệt dễ dàng cho khách hàng thăm quan, tìm kiếm sản phẩm, tìm

ra giải pháp thu tiền bằng nhiều hình thức thanh toán để giao hàng nhanh, hiệu quảđến tận khách hàng

- Giao dịch giữa doanh nghiệp và cơ quan chính phủ (B2G): Đây là các giao

dịch giữa các doanh nghiệp và chính phủ Các cơ quan chính phủ có thể thực hiệnmua sắm trang thiết bị, hàng hóa dạng kỹ thuật số như phần mềm, ứng dụng chochính phủ thông qua mạng như người tiêu dùng Các doanh nghiệp thực hiện nộpbáo cáo, khai tờ khai hải quan điện tử, nộp hồ sơ xin phép đăng ký kinh doanh quamạng thông qua các dịch vụ công mà các cơ quan chính phủ cung cấp Khi đó, các

cơ quan chính phủ giữ vai trò người cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cho doanhnghiệp cũng như công dân Để thúc đẩy doanh nghiệp nhanh chóng tham gia thươngmại điện tử, chính phủ lên kế hoạch xây dựng chính phủ điện tử để tăng cường cácgiao dịch giữa chính phủ và doanh nghiệp cũng như công dân qua đó nâng cao hiệuquả quản lý của nhà nước Giao dịch loại này phụ thuộc vào chiến lược phát triểnkinh tế xã hội của chính phủ, vấn đề về nhận thức và quyết tâm áp dụng công nghệthông tin trong các hoạt động quản lý, thúc đẩy thương mại điện tử nhằm giảm chiphí cho xã hội

Trang 20

- Các giao dịch người tiêu dùng (công dân) với chính phủ (C2G): Đây là các

giao dịch cung cấp thông tin chính sách, trả lương hưu, trợ cấp, giải đáp thắc mắc,xin giấy phép…mà các cơ quan thuộc chính phủ sử dụng phương thức thương mạiđiện tử làm phương tiện Điều đó hình thành một chính phủ mở, tương tác 2 chiềugiữa Chính phủ và người dân thông qua mạng Internet, nó chính là một phần củachính phủ điện tử

- Giao dịch giữa người tiêu dùng với người tiêu dùng (C2C): Đây là các giao

dịch giữa các người tiêu dùng có nhu cầu mua hoặc bán các hàng hóa dịch vụ màmình sở hữu Thương mại điện tử cho phép thông qua website của cá nhân tổ chứccác sàn đấu giá Các giao dịch dân sự như tìm việc, cho thuê nhà, cần thuê nhà, muabán ô tô, xe máy, sửa chữa đồ điện tử, gia dụng cũng được đưa lên mạng Internetthông qua website cá nhân hoặc trung gian

- Giao dịch giữa các cơ quan chính phủ (G2G): Đây là các giao dịch giữa

các cơ quan chính phủ giữa các ngành các cấp với nhau để trao đổi, quản lý thôngtin phục vụ công tác điều hành, quản lý vĩ mô Đó là các giao dịch như các báo cáothống kê, xuất nhập khẩu, tra cứu đối chiếu thông tin, nhận, gửi, trả các công văn,thông báo quyết định…Các giao dịch này là một bộ phận của Chính phủ điện tử

1.1.3 Vai trò của các chủ thể tham gia thương mại điện tử

1.1.3.1 Vai trò của các doanh nghiệp

Doanh nghiệp đóng một vai trò chủ động, thúc đẩy thương mại điện tử pháttriển Với đặc tính năng động, luôn tìm cách giảm thiểu chi phí, tối ưu hóa phươngthức hoạt động, nâng cao hiệu quả, tạo lợi thế cạnh tranh nên doanh nghiệp luônphải tìm tòi đổi mới các phương thức kinh doanh Với điều kiện cơ sở hạ tầng thôngtin phát triển, kèm theo an ninh, an toàn, hạ tầng các doanh nghiệp sẽ nhận thức tốthơn về lợi ích của thương mại điện tử và từ đó nhanh chóng tìm hiểu nắm bắt côngnghệ tạo xu hướng tích cực đầu tư triển khai thương mại điện tử theo cách củamình Thương mại điện tử sẽ cung cấp cho doanh nghiệp thông tin phong phú vềcác nhà sản xuất kinh doanh, thị trường đầu vào, đầu ra tiếp cận nhanh với các phảnhồi của khách hàng từ đó giúp cho doanh nghiệp xây dựng chiến lược sản xuất kinh

Trang 21

doanh thích hợp với nhu cầu thị trường, thậm chí sản xuất theo đơn hàng nhằmgiảm thiểu chi phí tồn kho, đây là xu thế phát triển của ngành hàng trong khu vực vàthế giới Thông qua thương mại điện tử, doanh nghiệp tìm kiếm nắm bắt được côngnghệ sản xuất mới, nhanh, tìm đối tác, nắm chắc thông tin thị trường từ đó tác độnglại quá trình sản xuất, nâng cao hiệu quả hoạt động với mức chi phí phù hợp

Thương mại điện tử giúp doanh nghiệp điều hành sản xuất, loại bỏ nhiềukhâu trung gian, tiết kiệm chi phí đi lại, thông tin liên lạc Nó mở ra cho doanhnghiệp một kênh bán hàng mới, quy mô toàn cầu bằng cách thiết lập trang web trênmạng, giới thiệu hàng hóa và dịch vụ của mình 24/24 để khách hàng vào thăm trangweb và có được thông tin cần thiết, đầy đủ

Thương mại điện tử tạo ra sự thay đổi trong mối quan hệ với khách hàng, đólà mối quan hệ trực tuyến, đến từng khách hàng cá nhân, từng đối tác doanh nghiệpvới các đặc điểm khác nhau Doanh nghiệp biết được nhu cầu, thị hiếu của kháchhàng với các sản phẩm để từ đó có những cải tiến cần thiết để nâng cao chất lượnghàng hóa và dịch vụ Khi nhận thức được những lợi ích to lớn của thương mại điệntử, các doanh nghiệp sẽ là người đi tiên phong trong một môi trường mở, năngđộng, hiệu quả của thương mại điện tử

1.1.3.2 Vai trò của nhà nước trong phát triển thương mại điện tử

Nhà nước trong vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế, nên là một yếu tố quantrọng quyết định đối với việc phát triển thương mại điện tử Bằng các công cụ quảnlý, Nhà nước xây dựng hành lang pháp lý cho giao dịch thương mại điện tử Tại cácnước phát triển, khi cơ sở hạ tầng của thương mại điện tử phát triển, các nhà lậppháp quan tâm tới việc tạo dựng các hành lang pháp lý điều chỉnh các quan hệ giaodịch trên mạng, tạo ra môi trường an toàn, công bằng, hạn chế các rủi ro hay tranhchấp thương mại Bằng cách đó khuyến khích các doanh nghiệp chủ động tham giathương mại điện tử, tìm kiếm kênh bán hàng mới

Thương mại điện tử là việc thực hiện các giao dịch mua bán, thanh toàn quamạng nên đặt ra nhiều vấn đề pháp lý mà Nhà nước phải là người đứng ra giảiquyết Tính pháp lý của chứng từ điện tử, hợp đồng điện tử, chữ ký điện tử, thanh

Trang 22

toán điện tử phải được thực nhận thông qua các dự luật liên quan, gọi chung là đạoluật thương mại điện tử Ngoài ra, một số khía cạnh pháp lý mà Nhà nước cần điềuchỉnh đó là Luật sở hữu trí tuệ, vấn đề bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ sự riêng tư,chống gian lận mua bán, chống tin tặc và những vấn đề khác có thể xảy ra tronggiao dịch thương mại là những vấn đề được nhà nước xem xét xây dựng thành bộluật để điều chỉnh các quan hệ giao dịch thương mại và người sử dụng dịch vụ.Thương mại điện tử đòi hỏi một cơ sở hạ tầng pháp lý nhằm điều chỉnh các giaodịch trong và ngoài nước

Việc điều tiết nền kinh tế vĩ mô của nhà nước còn thể hiện trong việc xâydựng các dự án cụ thể để phát huy sức mạnh thúc đẩy phát triển thương mại côngnghệ cao Đó là các chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển hạ tầng bằng các công cụ vềthuế, ưu đãi dự án của nhà nước trong từng thời kỳ để phát triển thương mại điện tử.Thông qua các chính sách đó, nhà nước tạo ra những đòn bẩy tăng hiệu quả cho nềnkinh tế, cho doanh nghiệp và khiến người tiêu dùng tham gia tích cực hơn vào môitrường thương mại điện tử

1.1.3.3 Vai trò của người tiêu dùng trong phát triển thương mại điện tử

Người tiêu dùng trong thương mại điện tử là người trực tiếp sử dụng mạngInternet để tìm kiếm mua hàng hóa Số lượng cá nhân tham gia thương mại điện tửluôn phụ thuộc vào số người sử dụng Internet Lượng cá nhân tham gia thương mạiđiện tử càng lớn thì mức độ xã hội hóa càng cao Điều này tạo ra một thị trườngrộng lớn hơn cho các doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp thấy cần thiết khi lựa chọnthương mại điện tử để thực hiện phân phối sản phẩm của mình Chính vì thế, pháttriển số người tiêu dùng trong thương mại điện tử thực chất phụ thuộc vào sự pháttriển cơ sở hạ tầng viễn thông hiện đại và khả năng phủ rộng của mạng Internet

Thương mại điện tử cho phép người tiêu dùng mua sắm mọi nơi, mọi lúc trênkhắp thế giới, không có giới hạn về không gian và thời gian Người dùng được tiếpcận nhiều lựa chọn về sản phẩm, dịch vụ, giá cả ở khắp mọi nơi trên thế giới với chiphí thấp nhất Thương mại điện tử cho phép các cá nhân tham gia có nhiều lựa chọnhơn vì tiếp cận được nhiều nguồn cung cấp Do thông tin thuận tiện, dễ dàng và

Trang 23

phong phú hơn nên đa phần người tiêu dùng chỉ cần một cú nhấp chuột là có thể so

sánh giá cả giữa các nguồn hàng và từ đó tìm được mức giá phù hợp nhất Đối với

các sản phẩm số hóa được như phim, nhạc, sách điện tử, phần mềm,v.v việc giaohàng và thanh toán được thực hiện một cách dễ dàng thông qua mạng Internet

Thông tin trên Internet phong phú, thuận tiện, được cập nhật thường xuyên,chất lượng cao do vậy người sử dụng có thể dễ dàng tìm được vấn đề quan tâmthông qua các công cụ tìm kiếm Thương mại điện tử giúp cho các cá nhân dễ dàngtham gia mô hình đấu giá trực tuyến, mua và bán trên các sàn đấu giá cũng như tìmkiếm, sưu tầm những món hàng quan tâm tại hầu hết các quốc gia trên thế giới

1.1.3.3 Vai trò của xã hội

Mặc dù lúc đầu chỉ là một hiện tượng kinh tế, thương mại điện tử nay đã trởthành bộ phận của cả quá trình cải biến xã hội rộng lớn trên nền tảng xu thế toàncầu hoá, của quá trình dịch chuyển nền kinh tế theo xu hướng cơ sở tri thức vàthông tin, công nghệ phát triển nhanh chóng, thời gian từ nghiên cứu đến ứng dụngngày càng rút ngắn Có ít nhất hai yếu tố xã hội dùng để xem xét trình độ phát triển

và hiệu quả của thương mại điện tử: một là, khả năng liên kết bởi thương mại điện tử; hai là, niềm tin về thương mại điện tử.

Các điều kiện để sử dụng Internet và máy tính ảnh hưởng tới mức độ chấpnhận của xã hội và của nền kinh tế, đặc biệt là các điều kiện cho các doanh nghiệpvừa và nhỏ ở cả các nền kinh tế phát triển và đang phát triển Do đó nhà nước cũngcần có những chính sách phù hợp hơn nhằm nâng cao số lượng người có đủ khảnăng truy cập, điều này sẽ được trình bày rõ hơn trong phần kiến nghị và giải pháp.Thương mại điện tử giúp giảm thời gian giao dịch, dẫn tới nhiều thay đổi quantrọng và thời gian trong hoạt động kinh tế và xã hội Đối với xã hội, các hoạt độngtrực tuyến tạo ra môi trường để làm việc, mua sắm, giao dịch,v.v… từ xa nên giảmviệc đi lại, ô nhiễm, tai nạn Mức sống được nâng cao do việc tiếp cận một cách đadạng nhiều hàng hóa, nhiều nhà cung cấp, điều này gây nên áp lực giảm giá cạnhtranh, do đó khả năng và nhu cầu mua sắm của khách hàng cao hơn Thương mại

Trang 24

điện tử nếu làm tăng thêm lòng tin của người dân thì sẽ tạo điều kiện cho các dịch

vụ khác phát triển

Dịch vụ trong thương mại điện tử đem lại lợi ích cho các nước nghèo thôngqua việc tiếp cận với các sản phẩm, dịch vụ từ các nước phát triển hơn qua Internet.Việc học tập kinh nghiệm, kỹ năng,v.v… thông qua việc đào tạo qua mạng cũng trởnên dễ dàng hơn Thương mại điện tử cũng làm cho dịch vụ công được cung cấpmột cách thuận tiện Các dịch vụ như y tế, giáo dục, các dịch vụ công của chínhphủ,v.v… được thực hiện qua mạng với chi phí thấp, thuận tiện Việc tương tác đểcấp và được cấp các loại giấy phép qua mạng, tư vấn y tế,v.v là các ví dụ thànhcông điển hình về lợi ích đối với xã hội của thương mại điện tử Tuy nhiên, mặt tráicủa nó là một xã hội với những người dân ít vận động, một số giới trẻ ham mê cáctrò chơi trực tuyến, đôi khi việc truyền bá những tư tưởng, kiến thức không lànhmạnh cũng là một yếu tố khiến nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam buộc phảidùng một số biện pháp cứng rắn hơn trong việc ngăn chặn nguy cơ Điều này sẽđược phân tích sâu hơn trong phần kiến nghị và giải pháp

1.1.4 Thách thức và ảnh hưởng của thương mại điện tử

1.1.4.1 Thách thức của thương mại điện tử

Do sự phổ cập tạo nên tốc độ toàn cầu hóa nhanh chóng, việc áp dụngthương mại điện tử không còn là điều tùy chọn mà là lựa chọn duy nhất lien quantới sự phát triển của nhiều doanh nghiệp Thách thức lớn nhất mang yếu tố quyếtđịnh tới sự phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam là việc Chính phủ ứng dụngthương mại điện tử như thế nào dưới các quy định về luật pháp do chính mình đặt

ra, ngoài một số các rào cản tạo nên những thách thức đối với sự phát triển thươngmại điện tử ở Việt Nam Những thách thức ngoài chính sách, pháp luật còn là độ tincậy của hệ thống bao gồm nhà cung cấp ứng dụng, cung cấp đường truyền, khảnăng chất lượng của thiết bị đầu cuối điều này là nhân tố quan trọng trong vấn đềcảm nhận độ an toàn hay mức độ rủi ro mà xã hội chấp nhận được Thứ hai là cácvấn đề liên quan tới nhân lực và trình độ nhân lực, các nhà quản lý lập trình hệthống để đưa ra những sản phẩm thương mại dễ sử dụng, tương tác tố, an toàn và

Trang 25

phòng ngừa rủi ro tới mức thấp nhất Vấn đề nhân sự còn thể hiện ở việc xã hội hóađào tạo và tự đào tạo trong môi trường công nghệ nói riêng, điều này sẽ được đề cậprõ hơn trong phần thực trạng và giải pháp Thứ ba là, về văn hóa đôi khi xã hội thiếu

sự tin tưởng vào một vấn đề khi chưa có kiểm chứng thực tế thói quen tiêu dùng, sự

e ngại trong tiếp cận công nghệ mới, sự lo lắng rủi ro và khả năng kiểm soát rủi rokhiến một bộ phận trong xã hội còn dè dặt trong sử dụng thương mại điện tử Điềunày được củng cố và chứng thực bởi các gian lận thương mại qua môi trường điệntử ngày càng tăng về số lượng cũng như giá trị Đây là vấn đề nhạy cảm cần cókhung pháp lý và chế tài răn đe đủ mạnh để tạo sự tin tưởng của xã hội trong vấn đềthương mại điện tử Thứ tư là, chúng ta còn gặp nhiều vướng mắc bởi các rào cảnthương mại quốc tế, các rào cản về thuế quan trong thương mại truyền thống, nhưngtrong thương mại điện tử có thực tế là một số trang web không chấp nhận các truycập có xuất xứ từ Việt Nam do lo ngại tính thanh khoản hay lừa đảo Tất nhiên, mấuchốt của vấn đề là việc xây dựng mối quan hệ giữa bên cung cấp hàng hóa và bêntiêu thụ hàng hóa, trong thương mại điện tử, mối quan hệ này thường diễn ra trêntrang Web của doanh nghiệp với những nội dung và có thể tìm kiếm một cách thuậntiện Nội dung trang Web của daonh nghiệp luôn phải được cập nhật, chăm sóc vàcó nhiều bài viết mang tính chuyên nghiệp nhằm thu hút độc giả để tự quảng báhình ảnh người thăm quan Web Điều này ngoài một số doanh nghiệp lớn trong lĩnhvực tài chính, văn phòng luật, báo chí thì đa phần doanh nghiệp vừa và nhỏ khôngchú trọng, chưa quan tâm tới nội dung, hình thức, cập nhật và đặc biệt chưa có nhânviên chuyên nghiệp trong lĩnh vực này Điều đó khiến cho một bộ phận lớn kháchhàng tiềm năng tìm kiếm thị trường từ các tổ chức, cá nhân khác

Thách thức cho sự phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam trong khu vựccác doanh nghiệp vừa và nhỏ, nơi mà ở đó sử dụng tới 60-70% lực lượng lao độngcủa xã hội Chính các doanh nghiệp thuộc nhóm này có khả năng thay đổi côngnghệ mới nhanh hơn các công ty lớn, tính linh động cao nên cạnh tranh tốt và cónhu cầu phát triển để tồn tại Đầu những năm 2000, các chuyên gia hay đề cập tớinhững điểm hạn chế của thương mại điện tử gồm vấn đề an ninh, mức độ rủi ro,

Trang 26

trình độ khai thác, mô hình kinh doanh, rào cản văn hóa, sự hạn hẹp về đối tượng,gian lận thương mại nhưng quan trọng nhất vẫn là chính sách chưa đồng bộ, chưacó được những chuẩn mực quốc tế Tuy nhiên, ngày nay các chuyên gia nhận diệnnhu cầu phát triển thương mại điện tử dưới những thách thức khác Trước hết lànăng lực tiếp cận của mỗi doanh nghiệp, thứ hai là vai trò tiên phong của chính phủtrong việc ứng dụng thương mại điện tử trong lĩnh vực công, cuối cùng là kỹ năngxây dựng chiến lược phát triển thương mại điện tử hợp lý cho mỗi doanh nghiệpdựa trên những điểm đặc thù Cả ba thách thức này phải được giải quyết thì mới đạtđược kết quả tốt nhất Không phải tất cả các doanh nghiệp hay ngành kinh tế cócùng năng lực tiếp nhận thương mại điện tử giống nhau vào cùng thời điểm và vớicùng phương cách như nhau Thực tế cho thấy rằng các ngành có mối quan hệ mậtthiết với thông tin và công nghệ thông tin có điều kiện triển khai thương mại điện tử

dễ dàng hơn Đó là các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, giáo dục, tư vấn và nhất làdịch vụ công từ hành chính đến thuế vụ, từ đấu thầu đến mua sắm công Trong lĩnhvực sản xuất, các nhà máy công nghiệp nặng và các nhà sản xuất hàng hóa dễ vỡhay dễ thay đổi giá lại tập trung thương mại điện tử vào dây chuyền tiếp liệu và hệthống phân phối, song song với việc sẵn sàng điều chỉnh chất lượng và kiểu dángđáp ứng nhu cầu cạnh tranh

Nền tảng của môi trường kinh doanh là tập quán văn hóa, thói quen thươngmại và hệ thống pháp luật nhà nước Hiện nay, Chính Phủ nhận thấy rằng phát huythương mại điện tử là nhu cầu của mỗi quốc gia nhằm góp phần vào sự tăng trưởngkinh tế bền vững và sự ổn định của thị trường chống lại các biến động giá đột ngột

do thiếu thông tin hoặc bị đầu cơ Thách thức hiện tại là chính phủ có điều chỉnh hệthống luật kịp thời để đáp ứng yêu cầu môi trường kinh doanh của xã hội cũng nhưcác dịch vụ mà Chính phủ cung cấp qua phát triển chính phủ điện tử Sự thách thứcnày căn bản dựa trên ba luận điểm: Chính Phủ là người mua sắm lớn nhất, là nhàcung cấp dịch vụ nhiều nhất và là người có quyền thay đổi các luật lệ thương mại.Trong thập kỷ trước các chính phủ Romania, Philippines, Chile, Nga… đã đi đầutrong vai trò ứng dụng thương mại điện tử Một số Chính Phủ khác tập trung vào cải

Trang 27

cách hành chính để thực hiện chính phủ điện tử song song với việc thúc đẩy thươngmại điện tử Thành công nhất trong các nước lân cận Việt Nam là Nhật Bản, HànQuốc và Singapore Ở đó mọi việc mua sắm công và các dịch vụ công đều đượcthực hiện trực tuyến Chữ ký số không chỉ được khuyến khích mà còn là quy địnhtrong mọi giao dịch nhà nước

1.1.4.2 Ảnh hưởng của thương mại điện tử đối với doanh nghiệp

Một là, sự tác động đến hoạt động marketing Một mặt thương mại điện tửhoàn thiện, nâng cao hiệu quả các hoạt động nghiên cứu thị trường truyền thống,một mặt tạo ra các hoạt động mới giúp nghiên cứu thị trường hiệu quả hơn Cáchoạt động như phỏng vấn theo nhóm, phỏng vấn sâu được thực hiện trực tuyếnthông qua Internet, điều tra bằng bảng câu hỏi được thực hiện nhanh và chính xáchơn Hành vi khách hàng trong thương mại điện tử thay đổi nhiều so với trongthương mại truyền thống do đặc thù của môi trường kinh doanh mới Các giai đoạnxác định nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá lựa chọn, hành động mua và phảnứng sau khi mua hàng đều bị tác động bởi Internet và Web Các tiêu chí để lựa chọnthị trường mục tiêu dựa vào tuổi tác, giới tính, giáo dục, thu nhập, vùng địa lý…được bổ sung thêm bởi các tiêu chí đặc biệt khác của thương mại điện tử như mức

độ sử dụng Internet, thư điện tử, dịch vụ trên web…Bên cạnh các tiêu chí để định vịsản phẩm như giá rẻ nhất, chất lượng cao nhất, dịch vụ tốt nhất, phân phối nhanhnhất, việc định vị sản phẩm ngày nay còn được bổ sung thêm những tiêu chí riêngcủa thương mại điện tử như nhiều sản phẩm nhất, đáp ứng nhu cầu của cá nhân vàdoanh nghiệp nhanh nhất Bốn chính sách của marketing là sản phẩm, giá, phânphối, xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh cũng bị tác động của thương mại điện tử Việcthiết kế sản phẩm mới hiệu quả hơn, nhanh hơn, nhiều ý tưởng mới hơn nhờ sự phốihợp và chia sẻ thông tin giữa nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà cung cấp và kháchhàng.Việc định giá cũng chịu tác động của thương mại điện tử khi doanh nghiệptiếp cận được thị trường toàn cầu, đồng thời đối thủ cạnh tranh và khách hàng cũngtiếp cận được nguồn thông tin toàn cầu đòi hỏi chính sách giá toàn cầu và nội địacần thay đổi để có sự thống nhất và phù hợp giữa các thị trường Việc phân phối đối

Trang 28

với hàng hóa hữu hình và vô hình được thực hiện nhanh hơn hẳn so với thương mạitruyền thống Đặc biệt hoạt động xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh có sự tiến bộ vượtbậc với các hoạt động mới như quảng cáo trên website, quảng cáo bằng e-mail, diễnđàn cho khách hàng trên mạng, dịch vụ hỗ trợ khách hàng 24/7,v.v…

Hai là, tác động đến mô hình và hoạt động sản xuất, kinh doanh Việc xuấthiện thương mại điện tử đã dẫn đến trào lưu hàng loạt doanh nghiệp phát triển các

mô hình kinh doanh từ truyền thống sang mô hình kinh doanh thương mại điện tử.Bên cạnh đó cũng đã hình thành các sàn giao dịch điện tử dạng B2B Việc áp dụngthương mại điện tử vào các hoạt động sản xuất kinh doanh đã giúp công ty giảmlượng hàng lưu kho và độ trễ trong phân phối hàng hoá Hệ thống cửa hàng giớithiệu sản phẩm được thay thế hoặc hỗ trợ bởi các showroom trên mạng, tiết kiệmđược rất nhiều chi phí từ giảm chi phí lưu kho Với mô hình của của doanh nghiệpbán hàng trên Internet, mua hàng theo nhóm hay đấu giá sản phẩm qua mạng đếncác sàn giao dịch B2B là điển hình của những thành công từ việc tạo ra các lợi thếvà giá trị mới cho khách hàng bằng thương mại điện tử Các hãng sản xuất lớn nhờứng dụng thương mại điện tử có thể giảm chi phí sản xuất đáng kể, một số mô hìnhphát huy rõ hiệu quả của thương mại điện tử trong sản xuất Hàng loạt các dịch vụngân hàng điện tử được hình thành và phát triển mở ra cơ hội mới cho cả các ngânhàng và khách hàng như Internet banking, thanh toán thẻ tín dụng trực tuyến, thanhtoán bằng thẻ thông minh, mobile banking, v.v… Do đặc thù của Internet là rộnglớn trên toàn cầu, rất phù hợp với các giao dịch thương mại quốc tế Mọi hoạt độngtrong quy trình kinh doanh thương mại quốc tế đều chịu tác động và ảnh hưởng sâusắc của thương mại điện tử

1.1.5 Khuôn khổ pháp lý cho thương mại điện tử

Trong bối cảnh công nghệ phát triển với một tốc độ nhanh chóng, pháp luậtcần phải được xây dựng để kịp thời điều chỉnh những hiện tượng xã hội mới phátsinh Việc thiếu khung khổ pháp lý trong nhiều hệ thống xét xử để điều chỉnh nhữngvấn đề liên quan tới hiệu lực pháp lý của các giao dịch điện tử là rào cản rất lớn đốivới sự phát triển của thương mại điện tử Thực tế, trong những giao dịch thương

Trang 29

mại điện tử, chào hàng, đặt hàng hoặc hợp đồng được giao kết bằng phương tiệnđiện tử đã tạo nên một giao dịch điện tử hoàn chỉnh Tuy nhiên, rất nhiều quy địnhpháp lý, liên quan tới hợp đồng và những giao dịch thương mại khác đưa ra đòi hỏitài liệu phải ở dạng văn bản, được ký, lưu trữ hoặc dưới hình thức bản gốc.

1.1.5.1 Luật mẫu về thương mại điện tử của UNCITRAL

Nhằm tạo khung pháp lý cho phát triển thương mại điện tử, năm 1996 Uỷban Luật Thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL) đã soạn thảo mộtluật mẫu về thương mại điện tử, hình thành những quy định mẫu về thừa nhận giátrị pháp lý của các thông điệp dữ liệu nhằm bảo vệ về mặt pháp lý cho những tổchức, cá nhân mong muốn tham gia thương mại điện tử Luật mẫu có thể được sửdụng như một tài liệu tham khảo cho các nước trong quá trình xây dựng pháp luật

về thương mại điện tử của mình Tinh thần của Luật mẫu là bảo đảm những giaodịch thương mại điện tử được thừa nhận giá trị pháp lý và nếu cần thiết thì sẽ cónhững hành động thích hợp để tăng cường khả năng thi hành cho những giao dịchbằng phương tiện điện tử

Luật mẫu được soạn thảo dựa trên sáu nguyên tắc cơ bản, gồm:

- Tương đương thuộc tính: tài liệu điện tử có thể được coi có giá trị pháp lýnhư tài liệu ở dạng văn bản nếu thoả mãn các yêu cầu kỹ thuật nhất định;

- Tự do thoả thuận hợp đồng;

- Tôn trọng việc sử dụng tự nguyện phương thức truyền thông điện tử;

- Giá trị pháp lý của hợp đồng và tính ưu việt của những quy định pháp lý vềhình thức hợp đồng: những đòi hỏi đối với hợp đồng để có giá trị pháp lý và khảnăng được thi hành phải được tôn trọng;

- Áp dụng về mặt hình thức hơn là quan tâm tới nội dung: luật chỉ áp dụngđối với hình thức hợp đồng, mà không đề cập nội dung, trên cơ sở phải thoả mãnnhững đòi hỏi pháp lý nhất định;

- Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng phải đi trước Nhiều quốc gia đã thểhiện các nguyên tắc và nội dung của Luật mẫu UNCITRAL vào hệ thống pháp luậtquốc gia của mình

Trang 30

Bên cạnh đó, các nghiên cứu trên thế giới đã khái quát năm vấn đề pháp lý

về thương mại điện tử cần được quy định trong pháp luật quốc gia gồm:

- Thừa nhận các thông điệp dữ liệu: đưa ra các quy định pháp lý đối với cácnội dung giao dịch thương mại qua các phương tiện điện tử;

- Quy định kỹ thuật về chữ ký điện tử nhằm bảo đảm tính xác thực, toàn vẹn,bảo mật của thông tin được trao đổi trong thương mại điện tử;

- Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử;

- Bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử;

- Tội phạm và vi phạm trong thương mại điện tử

1.1.5.2 Sự thừa nhận pháp lý đối với thông điệp dữ liệu

Thông điệp dữ liệu là hình thức thông tin được trao đổi qua phương tiện điệntử trong các giao dịch thương mại điện tử Thừa nhận giá trị pháp lý của các thôngđiệp dữ liệu là cơ sở cho việc thừa nhận các giao dịch thương mại điện tử, thể hiệndưới các khía cạnh: có thể thay thế văn bản giấy (hoặc văn bản kèm chữ ký), có giátrị như bản gốc, có giá trị lưu trữ và chứng cứ, xác định trách nhiệm các bên và thờigian, địa điểm gửi, nhận thông điệp dữ liệu Tài liệu giấy thông thường luôn đượccoi là cơ sở pháp lý đáng tin cậy, sao chụp được và không thể biến đổi trong cácgiao dịch sử dụng nó Những cơ sở nêu trên cũng được thừa nhận đối với một tàiliệu điện tử khi thoả mãn những quy định pháp luật yêu cầu thông tin phải dướidạng chữ viết và có thể truy cập được Để bảo đảm khả năng truy cập được, phầnmềm sử dụng cho việc truy cập phải có khả năng bảo đảm việc lưu giữ tài liệu đó.Nhằm chứng minh ý định giao kết hợp đồng dưới dạng văn bản thông thường, toàán có thể căn cứ vào các bằng chứng ngoài hợp đồng như biên bản ghi những cuộcđàm phán giữa các bên Theo cách này, pháp luật cần thừa nhận giá trị bằng chứngcủa thư điện tử hoặc bản ghi được lưu trữ trên phương tiện điện tử thể hiện ý địnhgiao kết hợp đồng giữa các bên

Để xác định thời điểm và địa điểm gửi, nhận thông tin bằng phương tiện điệntử, pháp luật đưa ra phương pháp giả định Theo đó, thời gian gửi tài liệu điện tửphụ thuộc việc người nhận có thông báo với người gửi về hệ thống thông tin được

Trang 31

chỉ định trước hay không Nếu có chỉ định trước, tài liệu điện tử sẽ được truyền theothoả thuận đó, tài liệu coi là được nhận khi nó vào hệ thống thông tin được chỉ định.Trong các trường hợp khác, tài liệu sẽ được nhận khi nó lọt vào phạm vi kiểm soátcủa người nhận Vị trí gửi, nhận được xác định là tại trụ sở kinh doanh Việc gửi tàiliệu điện tử sẽ được coi là diễn ra tại trụ sở kinh doanh của người gửi (hoặc nơi cưtrú trong trường hợp không có trụ sở kinh doanh) Tương tự, việc nhận tài liệu đượccoi là diễn ra tại trụ sở kinh doanh của người nhận Nếu một bên có nhiều trụ sởkinh doanh, vị trí gửi hoặc nhận sẽ là trụ sở kinh doanh có quan hệ gần gũi nhất vớigiao dịch được thực hiện.

1.1.5.3 Quy định về chữ ký điện tử

Chữ ký điện tử là một công nghệ cho phép xác nhận người gửi và bảo đảmtính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu Về bản chất, chữ ký điện tử tương đương chữký tay, có các thuộc tính như: khả năng nhận dạng một người, tạo tính chắc chắn vềmối quan hệ của người đó với hành vi ký và cho thấy việc người đó chấp nhận nộidung tài liệu ký Có nhiều loại chữ ký điện tử khác nhau như chữ ký số, chữ ký sinhtrắc học, chữ ký dựa trên số nhận dạng cá nhân (số PIN), chữ ký tạo bằng thẻ thôngminh … Pháp luật thương mại điện tử cần có các quy định thừa nhận giá trị pháp lýcủa chữ ký điện tử, cụ thể hoá các tiêu chí kỹ thuật và xác định trách nhiệm của nhàcung cấp dịch vụ chứng thực điện tử Có hai phương pháp xây dựng pháp luật vềchữ ký điện tử: quy định chung dựa trên nguyên tắc trung lập về mặt công nghệ vàquy định cụ thể về chữ ký số UNCITRAL khuyến nghị sử dụng phương pháp thứnhất để dự trù khả năng hình thành các công nghệ chữ ký điện tử mới Hầu hết cácnước theo khuyến nghị này

1 1.5.4 Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử

Với sự xuất hiện của nhiều công nghệ mới, đặc biệt là các ứng dụng côngnghệ thông tin, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có ý nghĩa quan trọng Phần lớn cácđối tượng thuộc quyền sở hữu trí tuệ như tác phẩm văn học - nghệ thuật, tài liệukhoa học - kỹ thuật, chương trình máy tính, cơ sở dữ liệu có tính sáng tạo, nhãn hiệuthương mại, bí mật thương mại, chỉ dẫn địa lý, thiết kế kiểu dáng công nghiệp …

Trang 32

đều có thể xuất hiện dưới hình thức cho phép truyền tải dễ dàng qua Internet và cácmạng mở khác Nhiều vấn đề mới liên quan tới tên miền; tính năng liên kết, dẫnchiếu giữa các tài liệu trên môi trường nối mạng, trách nhiệm của các nhà cung cấpdịch vụ mạng… khiến các quy định về phạm vi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trướcđây không còn phù hợp.

Để có thể bảo hộ tốt trong thương mại điện tử, pháp luật về sở hữu trí tuệ cầnđược điều chỉnh Thứ nhất, việc hình thành những đối tượng quyền sở hữu trí tuệmới như phần mềm máy tính và cơ sở dữ liệu nguồn đòi hỏi phải có những quy địnhmới thừa nhận và bảo hộ chúng, cách thức bảo hộ có thể như với đối tượng củaquyền tác giả hay quyền sở hữu công nghiệp Pháp luật cần chỉ rõ các thuộc tính cơbản phân biệt với các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ khác, xác lập các quyền nhânthân, quyền sở hữu và các nghĩa vụ liên quan, đưa ra các giới hạn, ngoại lệ đối vớicác quyền và nghĩa vụ, hình thành cơ chế xử lý vi phạm Thứ hai, nhiều đối tượngquyền sở hữu trí tuệ có thể được biểu hiện dưới dạng các ứng dụng công nghệ thôngtin như tên miền, giao diện website, từ khoá sử dụng để tìm kiếm thông tin và cácứng dụng công nghệ thông tin khác Do pháp luật chưa quy định cụ thể (chưa xácđịnh chúng thuộc đối tượng quyền sở hữu trí tuệ nào) nên không biết cơ chế bảo hộ

Ví dụ: website có nên coi là hình thức biểu hiện của một tác phẩm nghệ thuậtkhông? Tên miền của một công ty có được hưởng các cơ chế bảo hộ như nhãn hiệuthương mại không?

Ngoài ra, Internet và các mạng mở khác là môi trường lý tưởng cho việc traođổi, chia sẻ các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ Một tác phẩm văn học có thểnhanh chóng bị phát tán trên Internet; các bí mật kinh doanh được lưu trên máy tínhmột công ty có thể bị tiết lộ ra bên ngoài qua kết nối Internet; một bản nhạc mớiđược phát hành, nếu đưa lên mạng thì ai cũng có thể tải về sử dụng… Môi trườngmới tác động đến các quyền và nghĩa vụ liên quan tới mọi đối tượng quyền sở hữutrí tuệ Vì vậy, pháp luật sở hữu trí tuệ phải hình thành các quy định thêm về giớihạn, ngoại lệ thực hiện các quyền và nghĩa vụ cho phù hợp

Trang 33

Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) đã có những nghiên cứu sâu về tácđộng của môi trường số hoá đối với các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ Năm

1996, WIPO đã thông qua hai hiệp định là Hiệp định về Quyền tác giả và Hiệp định

về Tín hiệu ghi âm và biểu diễn, cùng có đủ thành viên tham gia và bắt đầu có hiệulực trong năm 2002 Các hiệp định này có điều chỉnh những vấn đề mới nảy sinhtrong môi trường Internet Nhiều quốc gia đã chuyển tải các quy định của WIPOvào pháp luậtquốc gia như Mỹ, châu Âu, Canađa

1.1.5.5 Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Các đối tác tham gia vào một giao dịch thương mại điện tử trên Internet hoặccác mạng mở khác không nhất thiết hoặc không thể gặp mặt nhau, họ tiến hành cácgiao dịch chủ yếu thông qua những công nghệ mới và trong một môi trường khácbiệt so với truyền thống Thông thường, người tiêu dùng không biết rõ các thông tin

về hàng hoá, dịch vụ được cung cấp như người bán, khả năng bị thiệt hại cao hơn,vì vậy cần có những quy định pháp luật bảo vệ họ

Năm 2000, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã ban hànhHướng dẫn về Bảo vệ người tiêu dùng trong bối cảnh thương mại điện tử với nhữngnguyên tắc cơ bản sau:

- Bảo vệ minh bạch và hiệu quả;

- Phù hợp với thông lệ thị trường, quảng cáo và kinh doanh trung thực;

- Cung cấp các thông tin rõ ràng về doanh nghiệp, hàng hoá, dịch vụ, chi tiếtgiao dịch, quy trình xác nhận;

- Cơ chế thanh toán an toàn, dễ sử dụng và phải thông tin cho khách hàng vềmức độ an toàn của cơ chế đó;

- Có các quy định về giải quyết tranh chấp và được bảo vệ bí mật cá nhân

1.1.5.6 Tội phạm và những vi phạm trong thương mại điện tử

Mạng Internet là một trong những thành tựu lớn nhất của loài người Viễnthông, hệ thống ngân hàng, tiện ích công cộng và hệ thống xử lý khẩn cấp đều hoạtđộng trên mạng Nhưng có những người sử dụng Internet vào mục đích xấu Lịch sửtồn tại chưa lâu của Internet đã chứng kiến nhiều hành vi vi phạm Mặc dù thường

Trang 34

rất khó để xác định những động cơ của những hành vi vi phạm này, nhưng hậu quảcủa chúng làm giảm niềm tin vào hệ thống Internet.

Tội phạm trên mạng là những hành vi xâm phạm tới quyền và lợi ích hợppháp của người khác thông qua việc sử dụng máy tính Tội phạm trên mạng có thểđược phân thành: tội phạm trên mạng chống lại con người, tài sản và chính phủ

Tội phạm trên mạng chống lại con người bao gồm việc truyền gửi những vănhoá phẩm đồi truỵ hoặc quấy rối tình dục có sử dụng một máy tính Tội phạm trênmạng chống lại tài sản bao gồm việc xâm phạm máy tính bất hợp pháp qua khônggian trên mạng, phá hoại hệ thống máy tính, truyền gửi những chương trình gây hại,sở hữu những thông tin máy tính bất hợp pháp

Hiện đang nổi lên những loại hình tội phạm chống lại chính phủ như nạnkhủng bố trên mạng, những tổ chức, cá nhân xâm nhập vào website của cơ quancông quyền để đe doạ chính phủ và khủng bố người dân của một nước Hành vixâm phạm có mức độ nhẹ hơn gọi là các vi phạm trên mạng và bị xử lý hành chính

1.1.5.7 Tình hình luật thương mại điện tử trên thế giới

Trong thương mại điện tử, người mua và người bán giao tiếp trong thế giớiảo, họ không thấy mặt nhau, không biết rõ về nhau, vậy, làm sao họ có thể tin tưởngmà giao dịch với nhau? Cho nên, trong thương mại điện tử cần có 3 yếu tố sau đểđảm bảo sự tin tưởng và minh bạch:

- Tính rõ ràng (Transparency): trên website của người bán phải đăng tải mọithông tin về các điều khoản mua bán và người mua cũng nên đọc kỹ những thôngtin này trước khi quyết định mua

- Tính tin cậy (Reliability): bao gồm tính tin cậy trong thông tin đăng tải(người bán phải nỗ lực trong việc đưa tin trung thực và cập nhật những thông tinnày thường xuyên), tính tin cậy trong giao dịch điện tử (người bán phải đảm bảo sửdụng công nghệ truyền tin an toàn), tính tin cậy về hệ thống hoạt động (đảm bảokhông gây ra sai sót nghiêm trọng) và tính tin cậy trong vấn đề chứng thực (như chữký điện tử, hợp đồng điện tử)

Trang 35

- Tính bảo mật và riêng tư (Confidentiality và Privacy): những thông tin vềkhách hàng, đặc biệt là những thông tin quan trọng như thẻ tín dụng, email, điệnthoại v.v… phải được bảo mật và tôn trọng, có nghĩa người bán không được tự ýlưu trữ và bán hay sử dụng trái phép những thông tin này.

Ngoài ra, quyền sở hữu trí tuệ hay bản quyền là những vấn đề đang đượcquan tâm rất nhiều trên mạng

Có 4 yêu cầu đảm bảo cho một giao dịch thành công, an toàn đó là:

- Privacy (tính riêng tư): làm sao để đảm bảo rằng thông tin truyền tải trênmạng không được copy hay truy cập bởi bên thứ ba ngoài người nhận và người gửi?Giải pháp: mã hóa và giải mã ở người nhận

- Integrity (tính trọn vẹn): làm sao đảm bảo rằng thông tin gửi đi không bịthay đổi trong quá trình gửi?

- Authentication (sự chứng thực): làm sao để người nhận và người gửi có thểchứng thực tư cách của nhau? Giải pháp: chữ ký số (digital signature)

- Non-repudiation (sự không thể phủ nhận): làm sao chứng minh thông điệp

đã được gửi hay đã được nhận?

Bốn yêu cầu trên chính là những vấn đề cốt lõi của luật thương mại điện tử

1.1.6 Chính sách và pháp luật của Việt Nam về thương mại điện tử

1.1.6.1 Chính sách phát triển chung về thương mại điện tử

Thương mại điện tử đã được nhắc tới trong những văn kiện quan trọng củaĐảng và Nhà nước, thể hiện chủ trương phát triển thương mại điện tử như mộtphương thức quan trọng thúc đẩy kinh tế trong nước và hội nhập với thế giới Tháng10-2000, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 58-CT/TW về việc đẩy mạnh ứngdụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá, trong đó yêu cầu tập trung phát triển các dịch vụ điện tử trong các lĩnh vựcdịch vụ và thương mại Tháng 4-2001, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX,thương mại điện tử đã được nhắc tới như một yếu tố thị trường quan trọng cần pháttriển nhằm hỗ trợ các ngành thương mại, dịch vụ khác, thể hiện trong văn kiện vềđịnh hướng phát triểnkinh tế, xác định tư tưởng chỉ đạo của Đảng đối với thương

Trang 36

mại điện tử Tháng 5-2001, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 81/2001/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hành động, triển khai Chỉ thị số 58-CT/TW Vănbản này đặt mục tiêu, đề xuất các biện pháp, chương trình, kế hoạch, xác định tráchnhiệm các bộ, ngành trong việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, trongđó bao gồm việc phát triển thương mại điện tử

Ngày 25-7-2002, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định95/2002/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch tổng thể về ứng dụng và phát triển công nghệthông tin ở Việt Nam đến năm 2005

Ngày 06-10-2005, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triểncông nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đếnnăm 2020 (246/2005/QĐ-TTg)

Tháng 1/2002, Bộ Thương mại chủ trì xây dựng Pháp lệnh thương mại điệntử nhằm hình thành cơ sở pháp lý toàn diện cho thương mại điện tử

Ngày 15-9-2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định phê duyệt “Kếhoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006-2010” (222/2005/QĐ-TTg) Quyết định 1073/QĐ-TTg, ngày 12/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt “Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2011-2015”

“Luật Giao dịch điện tử” được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông quangày 29/11/2005

“Luật Công nghệ thông tin” được Quốc hội khóa XI, thông qua ngày29/6/2006

Ngày 9-6-2006 Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành "Nghị định về thươngmại điện tử" (57/2006/NĐ-CP) Tiếp theo, từ 2006-2011, 12 Nghị định nữa Thủtướng Chính phủ được ban hành với các quy định về quản lý và xử phạt liên quanđến thương mại điện tử

Các văn bản cụ thể hoá chủ trương, đường lối phát triển các ứng dụng côngnghệ thông tin và thương mại điện tử đã được xây dựng là Chiến lược phát triểnCông nghệ thông tin và Truyền thông, Kế hoạch tổng thể phát triển Chính phủ điện

Trang 37

tử tới năm 2010 và Kế hoạch tổng thể phát triển Thương mại điện tử giai đoạn2006-2010, 2011-2015.

1.1.6.2 Luật giao dịch điện tử

Đầu năm 2004, Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hộikhởi động dự án xây dựng Luật Giao dịch điện tử Tới tháng 5-2005, Ban Soạn thảo

đã hoàn thành dự thảo 8 với cấu trúc gồm tám chương, 55 điều, quy định về: Giá trịpháp lý của thông điệp dữ liệu; Giá trị pháp lý của chữ ký điện tử và thị trườngchứng thực điện tử; Hợp đồng điện tử; Giao dịch điện tử của các cơ quan nhà nước;Vấn đề bảo mật, an toàn, an ninh; Vấn đề sở hữu trí tuệ trong giao dịch điện tửthuộc các lĩnh vực dân sự, thương mại, hành chính và lĩnh vực khác do pháp luậtquy định Luật Giao dịch điện tử đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông quavà có hiệu lực từ ngày 1/3/2006, với 8 chương, 54 điều Đây được coi là thời điểmlịch sử của các giao dịch điện tử tại Việt Nam, bao gồm các giao dịch điện tử tronglĩnh vực thương mại Luật Giao dịch điện tử sẽ thừa nhận giá trị pháp lý của cácthông điệp dữ liệu và chữ ký điện tử được sử dụng trong các quan hệ dân sự, thươngmại và hành chính; đồng thời cụ thể hoá các quy định áp dụng cho hợp đồng điện tửvà các giao dịch điện tử của khối cơ quan nhà nước Tổ chức, cá nhân sẽ yên tâmkhi tiến hành các giao dịch điện tử, vừa giảm các chi phí giao dịch, tiết kiệm thờigian xử lý và vẫn có thể yêu cầu toà án bảo vệ quyền lợi của mình một khi có tranhchấp xảy ra Nguyên tắc chung tiến hành giao dịch điện tử được quy định trongĐiều 5 của Luật Giao dịch điện tử là:

- Tự nguyện lựa chọn sử dụng phương tiện điện tử để thực hiện giao dịch

- Tự thỏa thuận việc lựa chọn loại công nghệ để thực hiện giao dịch điện tử

- Không có công nghệ nào được xem là duy nhất trong giao dịch điện tử

- Bảo đảm sự bình đẳng và an toàn trong giao dịch điện tử

- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, lợi ích củaNhà nước, lợi ích công cộng

- Giao dịch điện tử của cơ quan nhà nước phải tuân thủ các nguyên tắc quyđịnh tại Điều 40 của Luật giao dịch điện tử

Trang 38

1.1.6.3 Các văn bản dưới luật nhằm hướng dẫn thi hành Luật GDĐT

Nghị định về Thương mại điện tử là nghị định đầu tiên hướng dẫn Luật Giaodịch điện tử, được ban hành vào ngày 9/6/2006 Với việc thừa nhận chứng từ điệntử có giá trị pháp lý tương đương chứng từ truyền thống trong mọi hoạt độngthương mại từ chào hàng, chấp nhận chào hàng, giao kết hợp đồng cho đến thựchiện hợp đồng, Nghị định này đã tạo hành làng pháp lý để các doanh nghiệp yêntâm tiến hành giao dịch thương mại điện tử, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củacác bên tham gia, đồng thời cũng là căn cứ pháp lý để xét xử khi có tranh chấp liênquan đến hoạt động thương mại điện tử

Trong năm 2007 các cơ quan quản lý nhà nước đã tiến hành soạn thảo haithông tư hướng dẫn Nghị định Thương mại điện tử Đó là Thông tư của Bộ CôngThương về giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử và Thông tư liên tịch

Bộ Công Thương – Bộ Y tế hướng dẫn việc bán buôn thuốc qua các phương tiệnđiện tử Đến cuối năm 2007, hai thông tư này đã cơ bản hoàn thành về mặt nội dungvà được đưa ra xin ý kiến rộng rãi của doanh nghiệp trước khi chính thức ban hành.Thông tư hướng dẫn Nghị định Thương mại điện tử về giao kết hợp đồng trênwebsite thương mại điện tử được xây dựng trong bối cảnh số lượng website thươngmại điện tử đang gia tăng nhanh chóng tại Việt Nam Tuy nhiên, hệ thống pháp luậthiện vẫn chưa điều chỉnh về quy tắc giao dịch cũng như mô hình hoạt động của cácwebsite thương mại điện tử Mọi giao dịch được tiến hành một cách tự phát vàkhông có cơ sở pháp lý để giải quyết những tranh chấp phát sinh Vì vậy, Thông tưđược xây dựng nhằm thiết lập những nguyên tắc và chuẩn mực chung cho cácwebsite thương mại điện tử, nâng cao tính minh bạch của môi trường giao dịch,đồng thời giúp bảo vệ và cân bằng lợi ích của các bên tham gia

Văn bản thứ hai hướng dẫn Nghị định về Thương mại điện tử được xây dựngtrong năm 2007 là Thông tư liên tịch Bộ Công Thương – Bộ Y tế hướng dẫn việcbán buôn thuốc qua các phương tiện điện tử Thuốc là mặt hàng thích hợp cho muabán trực tuyến vì có giá trị cao, khối lượng nhỏ Việc bán thuốc và công khai giáthuốc trên mạng Internet sẽ giúp người dân cũng như doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận

Trang 39

các nguồn thuốc khác nhau, góp phần bình ổn giá thuốc trên thị trường Mặt khác,thuốc chữa bệnh là mặt hành kinh doanh đặc biệt, trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏevà tính mạng con người nên cũng cần có những quy định riêng, tránh việc lợi dụngbán thuốc qua mạng để có hành vi gian lận, lừa dối khách hàng Cho tới nay đã cómột số doanh nghiệp đầu tư thiết lập website bán thuốc qua mạng Tuy nhiên, dochưa có cơ sở pháp lý để điều chỉnh hoạt động bán thuốc qua mạng nên nhữngdoanh nghiệp này mặc dù đã thiết lập website vẫn chưa thể tiến hành kinh doanhtrong thực tế.

Nghị định số 26/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điệntử về Chữ ký số và Dịch vụ chứng thực chữ ký số được ban hành ngày 15/2/2007.Nghị định này quy định về chữ ký số và các nội dung cần thiết liên quan đến sửdụng chữ ký số, bao gồm chứng thư số và việc quản lý, cung cấp và sử dụng dịch

vụ chứng thực chữ ký số Đây là những quy định nền tảng để thiết lập một cơ chếđảm bảo an ninh an toàn cũng như độ tin cậy của các giao dịch điện tử, thúc đẩythương mại điện tử phát triển mạnh mẽ hơn

Với chủ trương của Ban soạn thảo xây dựng Nghị định thật chi tiết để có thểđưa vào triển khai ngay trong thực tế mà không cần các văn bản hướng dẫn thihành, Nghị định này đi sâu vào những vấn đề mang tính kỹ thuật về quản lý và cungcấp dịch vụ chứng thực chữ ký số

Giá trị pháp lý của chữ ký số: Chữ ký số là dạng chữ ký điện tử cho phép xácnhận sự chấp thuận của người ký đối với nội dung thông điệp, đồng thời chứng thực

sự toàn vẹn của thông điệp dữ liệu từ thời điểm được ký Điều 8 Nghị định về Chữký số và Dịch vụ chứng thực chữ ký số đã chính thức thừa nhận giá trị pháp lý củachữ ký số trong các giao dịch điện tử: “Trong trường hợp pháp luật quy định vănbản cần có chữ ký thì yêu cầu đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứngnếu thông điệp dữ liệu đó được ký bằng chữ ký số”

Nghị định về Giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính ngày 23/2/2007,được Chính phủ ban hành Nghị định số 27/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hànhLuật Giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính Nghị định này ra đời nhằm đảm

Trang 40

bảo các điều kiện cần thiết để hình thành và phát triển một môi trường giao dịchđiện tử an toàn, hiệu quả, giúp Chính phủ quản lý được giao dịch điện tử trong hoạtđộng nghiệp vụ tài chính, giảm thiểu hậu quả xấu phát sinh trong giao dịch điện tửnhư trốn thuế, gian lận khi lập hóa đơn chứng từ, v.v…, đồng thời tạo điều kiệnthuận lợi cho tiến trình cải cách của ngành tài chính trên nền tảng ứng dụng côngnghệ thông tin.

Nghị định số 35/2007/NĐ-CP ngày 8/3/2007 về Giao dịch điện tử trong hoạtđộng ngân hàng là nghị định thứ ba liên tiếp được ban hành trong năm 2007 nhằmhướng dẫn Luật Giao dịch điện tử Nghị định này tập trung hướng dẫn việc áp dụngLuật Giao dịch điện tử cho các hoạt động ngân hàng cụ thể, bảo đảm những điềukiện cần thiết về môi trường pháp lý để củng cố, phát triển các giao dịch điện tử antoàn và hiệu quả đối với hệ thống ngân hàng

Ngày 10/4/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 64/2007/NĐ-CP về Ứngdụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước Đây là văn bảnhướng dẫn đồng thời Luật Giao dịch điện tử và Luật Công nghệ thông tin với phạm

vi rất rộng, bao gồm xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, đầu tư cho ứngdụng và hoạt động của cơ quan nhà nước trên môi trường mạng Nghị định về ứngdụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước đưa ra những quy định mangtính nguyên tắc nhằm đẩy mạnh giao dịch điện tử trong khu vực hành chính công.Các quy định về cung cấp, tiếp nhận thông tin trên môi trường mạng, kết nối và chia

sẻ thông tin số, tăng cường sử dụng văn bản điện tử, bảo đảm truy nhập thông tin vàkhai thác dịch vụ hành chính công, v.v… góp phần đẩy nhanh quá trình cải cáchhành chính, minh bạch hóa môi trường giao dịch, đẩy nhanh việc cung cấp trựctuyến các dịch vụ công và qua đó thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử

1.2 Hiệu lực quản lý nhà nước trong thương mại điện tử

1.2.1 Khái niệm, nội dung và nguyên tắc quản lý nhà nước

1.2.1.1 Khái niệm, nội dung quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, gắn vớichức năng, vai trò của nhà nước trong xã hội có giai cấp Quản lý nhà nước tiếp cận

Ngày đăng: 07/03/2017, 15:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Nguyễn Đăng Đào (2012), Triển khai giải pháp chứng thực chữ ký số và hệ thống chứng thực trong các cơ quan Chính phủ, Ban cơ yếu Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển khai giải pháp chứng thực chữ ký số và hệ thống chứng thực trong các cơ quan Chính phủ
Tác giả: Nguyễn Đăng Đào
Nhà XB: Ban cơ yếu Chính phủ
Năm: 2012
17. Dương Đình Giám (2010), Tập huấn kỹ năng quản lý nhà nước về thương mại điện tử cho cán bộ quản lý nhà nước thuộc dự án hỗ trợ thương mại đa biên, Chiến lược ứng dụng thương mại điện tử cho doanh nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập huấn kỹ năng quản lý nhà nước về thương mại điện tử cho cán bộ quản lý nhà nước thuộc dự án hỗ trợ thương mại đa biên
Tác giả: Dương Đình Giám
Nhà XB: Chiến lược ứng dụng thương mại điện tử cho doanh nghiệp
Năm: 2010
18. Nguyễn Đăng Hậu (2004), Kiến thức thương mại điện tử, Viện đào tạo công nghệ và quản lý quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức thương mại điện tử
Tác giả: Nguyễn Đăng Hậu
Năm: 2004
19. Đinh Duy Hòa (2012), Cải cách hành chính hướng tới nền hành chính phục vụ, Vụ Cải cách hành chính – Bộ Nội vụ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách hành chính hướng tới nền hành chính phục vụ
Tác giả: Đinh Duy Hòa
Năm: 2012
20. Trần Hữu Linh (2010), Tập huấn kỹ năng quản lý nhà nước về thương mại điện tử cho cán bộ quản lý nhà nước thuộc dự án hỗ trợ thương mại đa biên, Chiến lược ứng dụng thương mại điện tử cho doanh nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập huấn kỹ năng quản lý nhà nước về thương mại điện tử cho cán bộ quản lý nhà nước thuộc dự án hỗ trợ thương mại đa biên
Tác giả: Trần Hữu Linh
Nhà XB: Chiến lược ứng dụng thương mại điện tử cho doanh nghiệp
Năm: 2010
21. Lê Văn Lợi (2012), Doanh nghiệp điện tử: Mô hình khung cho kết nối Chính phủ- Doanh nghiệp, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam- VCCI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp điện tử: Mô hình khung cho kết nối Chính phủ- Doanh nghiệp
Tác giả: Lê Văn Lợi
Nhà XB: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam- VCCI
Năm: 2012
23. Nguyễn Thành Phúc (2012), Hiện trạng triển khai và định hướng ứng dụng CNTT trong hoạt động của Cơ quan nhà nước, Cục ứng dụng CNTT- Bộ TTTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng triển khai và định hướng ứng dụng CNTT trong hoạt động của Cơ quan nhà nước
Tác giả: Nguyễn Thành Phúc
Nhà XB: Cục ứng dụng CNTT- Bộ TTTT
Năm: 2012
24. Nguyễn Mạnh Quyền (2010), Kỷ yếu hội thảo quốc tế Thương mại điện tử vàphát triển nguồn nhân lực, Toàn cảnh thương mại điện tử ở Việt Nam và định hướng công tác phát triển nguồn nhân lực, Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin- Bộ Công Thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo quốc tế Thương mại điện tử và phát triển nguồn nhân lực, Toàn cảnh thương mại điện tử ở Việt Nam và định hướng công tác phát triển nguồn nhân lực
Tác giả: Nguyễn Mạnh Quyền
Nhà XB: Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin- Bộ Công Thương
Năm: 2010
25. Trần Công Sách (2002), Kỷ yếu hội thảo khoa học thương mại điện tử với đổi mới và phát triển đào tạo kinh tế, quản trị kinh doanh của các trường đại học ởnước ta: Một số vấn đề về luật pháp và chính sách đối với phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam, Viện nghiên cứu thương mại, Bộ Công Thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo khoa học thương mại điện tử với đổi mới và phát triển đào tạo kinh tế, quản trị kinh doanh của các trường đại học ởnước ta: Một số vấn đề về luật pháp và chính sách đối với phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam
Tác giả: Trần Công Sách
Nhà XB: Viện nghiên cứu thương mại
Năm: 2002
26. Nguyễn Anh Sơn (2009), Pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam- Thực trạng và một số khuyến nghị, Vụ Pháp chế- Bộ Công Thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam- Thựctrạng và một số khuyến nghị
Tác giả: Nguyễn Anh Sơn
Năm: 2009
27. Đinh Văn Thành (2002), Kỷ yếu hội thảo khoa học thương mại điện tử với đổi mới và phát triển đào tạo kinh tế, quản trị kinh doanh của các trường đại học ởnước ta, Chiến lược và lộ trình hội nhập về thương mại điện tử ở nước ta, Viện nghiên cứu thương mại, Bộ Công Thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược và lộ trình hội nhập về thương mại điện tử ở nước ta
Tác giả: Đinh Văn Thành
Năm: 2002
28. Phạm Đình Thưởng (2009), Hội thảo Nâng cao chất lượng các văn bản pháp luật liên quan đến thương mại của Việt Nam để phù hợp với các nghĩa vụ quốc tế- MUTRAP III, Luật thương mại và các nghị định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo Nâng cao chất lượng các văn bản pháp luật liên quan đến thương mại của Việt Nam để phù hợp với các nghĩa vụ quốc tế- MUTRAP III, Luật thương mại và các nghị định
Tác giả: Phạm Đình Thưởng
Năm: 2009
29. Demetrius A.M.Floudas (2009), Hội thảo Nâng cao chất lượng các văn bản pháp luật liên quan đến thương mại của Việt Nam để phù hợp với các nghĩa vụ quốc tế- MUTRAP III, Khung pháp lý của Luật Cạnh tranh ở Việt Nam. Đánh giá về tình hình phù hợp với các quy định trong Luật Thương mại quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khung pháp lý của Luật Cạnh tranh ở Việt Nam. Đánh giá về tình hình phù hợp với các quy định trong Luật Thương mại quốc tế
Tác giả: Demetrius A.M.Floudas
Nhà XB: Hội thảo Nâng cao chất lượng các văn bản pháp luật liên quan đến thương mại của Việt Nam để phù hợp với các nghĩa vụ quốc tế- MUTRAP III
Năm: 2009
30. Moira Patterson (2010), Hiệu quả của luật pháp trong TMĐT quốc tế trong quan hệ TMĐT Mỹ - Úc, Trường Luật Đại học Monash Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của luật pháp trong TMĐT quốc tế trongquan hệ TMĐT Mỹ - Úc
Tác giả: Moira Patterson
Năm: 2010
31. Stayling Wen (2011), Tương lai của Thương mại điện tử, Inventec Group- Đài Loan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tương lai của Thương mại điện tử
Tác giả: Stayling Wen
Nhà XB: Inventec Group- Đài Loan
Năm: 2011
32. Ulrich Schroeder (2009), Hội thảo Nâng cao chất lượng các văn bản pháp luật liên quan đến thương mại của Việt Nam để phù hợp với các nghĩa vụ quốc tế- MUTRAP III, Tác động của WTO và các hiệp định thương mại khác đối với Luật Thương mại và các quy định thực thi Luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo Nâng cao chất lượng các văn bản pháp luật liên quan đến thương mại của Việt Nam để phù hợp với các nghĩa vụ quốc tế- MUTRAP III, Tác động của WTO và các hiệp định thương mại khác đối với Luật Thương mại và các quy định thực thi Luật
Tác giả: Ulrich Schroeder
Năm: 2009
2. Bộ Công Thương, Cục Thương mại điện tử (2008), APEC những nguyên tắc cơ bản về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong TMĐT Khác
3. Bộ Công Thương (2010), Quyết định số 3916/QĐ-BCT, ngày 23/7/2010 phê duyệt kế hoạch tổng thể ứng dụng công nghệ thông tin của Bộ Công Thương giai đoạn 2011-2015 Khác
4. Bộ Công Thương (2010), Quyết định số 3916/QĐ-BCT, ngày 23/7/2010 phê duyệt kế hoạch tổng thể ứng dụng công nghệ thông tin của Bộ Công Thương giai đoạn 2011-2015 Khác
5. Bộ Công Thương, Cục Thương mại điện tử (2010), Báo cáo tình hình đào tạo Thương mại điện tử tại các trường đại học và cao đẳng 2010 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w