Việc sử dụng logic mờ trong điều khiển có khả năng cài đặt cáctri thức, kinh nghiệm của chuyên gia đây là đặc điểm nổi bật hơn so với các bộđiều khiển kinh điển… Trong công nghiệp, đa số
Trang 1MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Robot ngày càng đóng vai trò quan trọng trong công nghiệp tự động bởi tínhlinh hoạt và hiệu quả của nó Robot đem lại năng suất lao động cao, giảm chi phínguyên vật liệu và các dạng năng lượng tiêu thụ, nâng cao chất lượng và giảm giáthành sản phẩm, do đó tạo khả năng cạnh tranh cao hơn trong thị trường quốc tế.Mặt khác, Robot giải phóng con người khỏi lao động chân tay, giúp xã hội vănminh hơn, nâng cao được dân trí trong tổ chức các quá trình sản xuất và tổ chức xãhội Chính vì vậy nghiên cứu điều khiển chuyển động Robot là lĩnh vực đầy tháchthức đang được các nhà khoa học rất quan tâm
Lĩnh vực điều khiển Robot rất phong phú, từ các phương pháp điều khiểntruyền thống như PID, phương pháp tính mô men, phương pháp điều khiển trượtđến các phương pháp điều khiển thông minh như điều khiển sử dụng mạng nơ ron,logic mờ, thuật gen và các phương pháp điều khiển tự thích nghi, các phương pháphọc cho Robot, các hệ visual servoing…
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu chính của đề tài là ứng dụng logic mờ và thiết kế bộđiều khiển mờ vào điều khiển chuyển động của Robot nhằm nâng cao chất lượngđiều khiển Cơ sở khoa học của đề tài là kết quả đạt được trong lĩnh vực điều khiển
sử dụng logic mờ Việc sử dụng logic mờ trong điều khiển có khả năng cài đặt cáctri thức, kinh nghiệm của chuyên gia đây là đặc điểm nổi bật hơn so với các bộđiều khiển kinh điển…
Trong công nghiệp, đa số các đối tượng điều khiển đều là phi tuyến Robot
là một trong những đối tượng phi tuyến và là hệ MIMO, các Robot trong sản xuấtcông nghiệp trong hệ thống sản xuất cần độ chính xác cao như công nghiệp sảnxuất ôtô, công nghệ y học, công nghiệp vũ trụ…vì vậy thiết kế bộ điều khiển đểnâng cao chất lượng điều khiển chuyển động luôn là đòi hỏi trong thực tế
Trang 23 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Với mục đích nghiên cứu như trên, tác giả lựa chọn đề tài tốt nghiệp Thạc sỹ
“Nghiên cứu điều khiển mờ cho chuyển động của Robot hai bậc tự do” Trong đó
đối tượng nghiên cứu là Robot hai bậc tự do
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: “ Nghiên cứu xây dựng bộ điều khiển mờ
áp dụng cho bài toán điều khiển chuyển động của Robot 2 khâu” Trong đề tài tập
trung nghiên cứu mô hình động lực học của Robot 2 khâu và ứng dụng mô hìnhđiều khiển mờ theo Mamdani (MCFC) để nâng cao chất lượng của hệ
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu lý thuyết về mô hình chuyển động của Robot hai bậc tự do vàphương pháp điều khiển mờ và cách thiết kế bộ điều khiển mờ theo Mamdani(MCFC)
Thực nghiệm mô phỏng hệ thống điều khiển trên máy tính sử dụng Matlab –Simulink
So sánh đáp ứng của bộ điều khiển mờ với bộ điều khiển PID để thấy được
bộ điều khiển mờ có chất lượng tốt hơn
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn mang tính chất nghiên cứu, vận dụng các lý thuyết khoa học vàứng dụng khoa học
Từ kết quả nghiên cứu của luận văn có thể ứng dụng phát triển đề tài nghiêncứu điều khiển cánh tay Robot nhiều bậc tự do và ứng dụng vào điều khiển Robotcông nghiệp trong thực tiễn
Đồng thời kết quả luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo chonhững người quan tâm đến điều khiển mờ Mamdani (MCFC) cho Robot
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ROBOT CÔNG NGHIỆP
1.1 Sự ra đời của Robot công nghiệp
Theo định nghĩa, Người máy (Robot) là thiết bị có thể thực hiện các chứcnăng thông thường của con người hoặc một máy dưới hình dạng người
Từ giữa thập kỷ 18, J de Vancauson đã xây dựng các búp bê cơ khí có thể chơinhạc được Đây được coi như là sản phẩm đầu tiên của tự động hoá Robot
Người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “Robot” là nhà viết kịch người Czech tên
là Karel Capek Năm 1922, trong tác phẩm “Rossum’s Universal Robot “, Capek
đã sử dụng thuật ngữ “Robot” Robot theo tiếng Czech có nghĩa là lao động bị bắt
ép hay là nông nô Trong tác phẩm này, nhân vật Rossum và con trai của ông đãtạo ra những chiếc máy gần giống như con người để hầu hạ và phục dịch conngười
Cho đến trước những năm đại chiến thế giới thứ hai, việc ứng dụng các cơcấu máy móc như vậy đã trở thành nhu cầu thực sự nhằm đáp ứng các thao tác cầnthiết trong môi trường phóng xạ của các viện nghiên cứu nguyên tử
Ngay sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, ở Mỹ đã xuất hiện những tay máychép hình điều khiển từ xa trong các phòng thí nghiệm về vật liệu phóng xạ Trên
cơ sở đó những cơ cấu điều khiển từ xa đã ra đời và ngày càng phát triển Đâythực chất là những cơ cấu máy móc mô phỏng sinh học bao gồm các khớp nối, dâygắn liền với hệ điều hành là tay của người thao tác thông qua các khâu khuyếch đại
cơ khí Tuy các thao tác của cơ cấu này khá tinh vi khéo léo nhưng vẫn có nhiềuhạn chế ví dụ như: Tốc độ hoạt động chậm, lực tác dụng còn hạn chế, hệ điềukhiển thuần tuý là cơ khí
Vào giữa những năm 1950, bên cạnh các tay máy chép hình cơ khí đó, đãxuất hiện các loại tay máy chép hình thủy lực và điện từ, như tay máy Minotaur Ihoặc tay máy Handyman của General Electric
Năm 1954, George C.Devol đã thiết kế một thiết bị có tên là “Cơ cấu bản lềdùng để chuyển hàng theo chương trình”
Trang 4Năm 1956, George C.Devol và J.Engelberger đã gặp nhau và thảo luận vềtác phẩm của I.asimov Cả hai đã nhất trí hợp tác chế tạo người máy và vào năm
1959 đã tạo ra loại Robot công nghiệp đầu tiên mang tên Unimate ở Công tyUnimation Công ty Unimation do J.Engelberger sáng lập, đây là công ty đầu tiênchuyên chế tạo người máy và Devol nghiên cứu các phát minh, đăng ký bằng sángchế cho công ty Unimate được đưa vào sử dụng trong một nhà máy ô tô của hãngGeneral Motors tại Trenton, New Jersey vào năm 1961 Chỉ đến năm 1975,Unimation mới bắt đầu có lợi nhuận từ sản phẩm Robot đầu tiên
Từ năm 1980, người máy công nghiệp bắt đầu được sử dụng rộng rãi trongcác ngành công nghiệp khác nhờ công nghệ tiên tiến và những bước phát triển vượtbậc của trong các lĩnh vực máy tính điện tử và vi điện tử Đặc biệt từ những năm
1990 trở lại đây, do sự phát triển vượt bậc về kỹ thuật vi xử lý và công nghệ thôngtin, số lượng robot tăng nhanh, giá thành giảm đi rõ rệt, tính năng ngày càng đượchoàn thiện Do đó, robot đang chiếm một vị trí quan trọng trong các dây chuyềnsản xuất tự động hiện đại
Ngày nay, người máy càng ngày càng được hoàn thiện, càng nhiều các tínhnăng và có hình dáng gần với con người hơn Tuy vậy, trong công nghiệp, ngườimáy thực sự chỉ là những cánh tay máy được điều khiển bằng máy tính [4]
1.2 Ứng dụng Robot công nghiệp
1.2.1 Ưu điểm của Robot công nghiệp
Robot có thể làm việc trong thời gian dài với độ ổn định và chính xác cao,tiết kiệm nguyên vật liệu trong suốt thời gian làm việc Khi cần phải đẩy nhanh,tăng nhịp độ sản xuất của dây chuyền sản xuất, nếu không có Robot thì người côngnhân không thể theo kịp tiến độ sản xuất và rất chóng bị mệt mỏi Do đó Robotgóp phần nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm Robot còn cóthể nhanh chóng thay đổi công việc khi có sự biển đổi trong quá trình đa dạng hoásản phẩm mà không cần phải đào tạo lại như đối với con người
Hiện nay, với sự trợ giúp mạnh mẽ của những tiến bộ tiên tiến về Khoa học
kỹ thuật làm cho giá thành lắp đặt, chế tạo Robot ngày càng giảm Đối với nhữngnước có giá lao động cao thì việc sử dụng các Robot trong các dây chuyền sản xuất
Trang 5sẽ giảm đáng kể giá thành sản phẩm do giảm được những chi phí cho người laođộng mà Robot không cần đến như: tiền lương, phụ cấp, bảo hiểm xã hội.[4]
1.2.2 Nhược điểm của Robot công nghiệp
Từ những hiệu quả to lớn do Robot mang lại, đặc biệt là từ thực tế là Robot
đã giải phóng được sức lao động, nhiều người lo ngại việc sử dụng nhiều Robot sẽdẫn đến tình trạng thất nghiệp Trên thực tế, điều này không phải là không có cơ sởnhưng đồng thời với việc gây dư sức lao động đơn giản, nó cũng tạo ra nhiều côngviệc phức tạp hơn như: các kỹ thuật viên, các chuyên gia chuyên về người máy,các nhà lập trình.[4]
1.2.3 Các ứng dụng của Robot công nghiệp
Các Robot nói chung được sử dụng rộng rãi với nhiều mục đích, trong nhiềulĩnh vực, từ các nhà máy, xí nghiệp lớn tới các công việc phục vụ trong sinh hoạtđời sống của con người Robot có thể làm việc trong môi trường độc hại, nguyhiểm như trong các lò phản ứng hạt nhân, phóng xạ,…hay trong công việc thámhiểm không gian, thăm dò các hành tinh thuộc hệ Mặt trời Trong sinh hoạt, có cácRobot trợ giúp, phục vụ người già, cắt cỏ, lau nhà…[4]
Đối với Robot công nghiệp nói riêng, mức độ ứng dụng của nó diễn ra mạnh
mẽ và sâu rộng hơn cả Hầu hết các dây chuyền tự động hoá sản xuất hiện đại đều
có sự xuất hiện của Robot
Các Robot công nghiệp được ứng dụng trong các lĩnh vực cụ thể sau:
+ Robot công nghiệp trong công nghệ gia công và lắp ráp
Độ chính xác định vị và thời gian là yếu tố quan trọng nhất khi thiết kế cácRobot lắp ráp Có nhiều dây chuyền tự động gồm các máy vạn năng và Robot côngnghiệp Các dây chuyền đạt mức độ tự động hoá cao, tự động hoàn toàn không có
sự tham gia của con người, rất linh hoạt và không đòi hỏi đầu tư lớn Trong đó cácmáy và Robot trong dây chuyền được điều khiển bằng cùng một hệ thống chươngtrình Đó là các dây chuyền lắp ráp ô tô, các sản phẩm điện tử (hình 1.1) Yêu cầuhiện nay đối với các Robot công nghiệp loại này là nâng cao tính linh hoạt để đáp
Trang 6ứng nhiều loại công việc, hạ giá thành và dễ thích hợp với các sản phẩm loại nhỏ.[4]
Hình 1.1 Robot trong công nghệ trong gia công và lắp ráp
+ Robot công nghiệp trong các quá trình hàn và nhiệt luyện (hình 1.2)
Các quá trình này bao gồm các công việc nặng nhọc, độc hại, nhiệt độ cao.Hàn đường thường được thực hiện bằng tay Tuy nhiên năng suất thấp do yêu cầuchất lượng bề mặt mối hàn liên quan đến các thao tác của đầu mỏ hàn với môitrường khắc nghiệt do khói và nhiệt độ phát ra trong quá trình hàn Không giống
kỹ thuật hàn điểm, ở đó mối hàn có vị trí cố định, mối hàn trong kỹ thuật hànđường nằm dọc theo mối ghép giữa hai tấm kim loại Những hệ thống hàn đườngthực tế phụ thuộc vào con người trong việc kẹp chặt chính xác chi tiết được hàn vàsau đó robot di chuyển dọc theo quĩ đạo được lập trình trước Ưu điểm duy nhất sovới hàn bằng tay là chất lượng mối hàn được ổn định Người vận hành chỉ còn thựchiện một việc đơn giản là kẹp chặt các chi tiết [4]
Hình 1.2 Robot trong các quá trình hàn và nhiệt luyện
Trang 7+ Robot công nghiệp trong công nghiệp đúc – rèn (hình 1.3), trong ngành gia công áp lực nơi mà điều kiện làm việc nặng nề, dễ gây mệt mỏi
Công việc rất đa dạng điều kiện làm việc khắc nghiệt, sản phẩm luôn thayđổi và đặc biệt là chất lượng của sản phẩm phụ thuộc quá nhiều vào quá trình thaotác Robot có thể làm các công việc như: rót kim loại nóng chảy vào khuôn, lấy vậtđúc ra khỏi khuôn Ngày nay, ở nhiều nước trên thế giới, Robot được sử dụng rộngrãi để tự động hoá công nghệ đúc nhưng chủ yếu để phục vụ các máy đúc áp lực.[4]
Hình 1.3 Robot công nghiệp trong công nghiệp đúc – rèn
Ví dụ trong công nghệ rèn: Robot có thể thực hiện nhiều việc như: đưa phôivào lò nung, vận chuyển phôi sau khi ra khỏi lò… So với các phương tiện cơ giới
và tự động khác phục vụ các máy rèn dập thì dùng Robot có ưu điểm là nhanh,chính xác và cơ động hơn
+ Robot công nghiệp trong nhà máy sản xuất (hình 1.4)
Trong sản xuất lớn, những robot này là những hệ thống được tự động hoáhoàn toàn: chúng đo đạc, cắt, khoan các thiết bị chính xác và còn có khả năng hiệuchỉnh các công việc của mình, hầu như ở đây không cần sự giúp đỡ của con ngườitrừ chương trình điều khiển trong máy tính điện tử Chỉ với vài người giám sátcông việc; các máy móc này có thể hoạt động suốt ngày đêm; các robot làm tất cảcác công việc như vận chuyển sản phẩm từ công đoạn sản xuất này tới công đoạnsản xuất khác kể cả việc đưa và sắp xếp thành phẩm vào kho [4]
Trang 8Hình 1.4 Robot trong nhà máy sản xuất
1.3 Tình hình phát triển của Robot công nghiệp
Hơn nửa thể kỷ qua, Robot đã có những bước phát triển và tiến hóa mạnh
mẽ Các hướng nghiên cứu Robot chuyển từ Robot công nghiệp sang phát triển cácRobot dịch vụ vì nó đa dụng và đưa Robot hòa nhập vào nhu cầu xã hội của loàingười
Theo dự báo thì trong vòng 20 năm tới mỗi người sẽ có nhu cầu sử dụng mộtRobot cá nhân như cần một máy tính PC hiện nay và Robot sẽ là tâm điểm của mộtcuộc cách mạng công nghệ lớn sau Internet Với xu thế này, cùng với các ứng dụngtruyền thống khác của Robot trong công nghiệp, y tế, giáo dục đào tạo, giải trí vàđặc biệt trong an ninh quốc phòng thì thị trường Robot và các dịch vụ ăn theoRobot sẽ vô cùng lớn
Robot đã có những tiến bộ đáng kể trong hơn nửa thế kỷ qua Robot đầu tiênđược ứng dụng trong công nghiệp vào những năm 60 để thay thế con người làmcác công việc nặng nhọc, nguy hiểm trong môi trường độc hại Do nhu cầu cần sửdụng ngày càng nhiều trong các quá trình sản xuất phức tạp nên Robot công nghiệpcần có những khả năng thích ứng linh hoạt và thông minh hơn Ngày nay, ngoàiứng dụng sơ khai ban đầu của Robot trong chế tạo máy thì các ứng dụng khác nhưtrong y tế, chăm sóc sức khỏe, nông nghiệp, đóng tàu, xây dựng, an ninh quốcphòng và gia đình đang có nhu cầu gia tăng đang là động lực cho các Robot địahình và Robot dịch vụ phát triển
Trang 9Có thể kể đến một số loại Robot được quan tâm nhiều trong thời gian qua là:tay máy Robot (Robot Manipulators), Robot di động (Mobile Robots), Robotphỏng sinh học (Bio Inspired Robots) và Robot cá nhân (Personal Robots) Taymáy Robot bao gồm các loại Robot công nghiệp (Industrial Robot), Robot y tế(Medical Robot) và Robot trợ giúp người tàn tật (Rehabilitation robot) Robot diđộng được nghiên cứu nhiều như xe tự hành trên mặt đất AGV (AutonomousGuided Vehicles), Robot tự hành dưới nước AUV (Autonomous UnderwaterVehicles), Robot tự hành trên không UAV (Unmanned Arial Vehicles) và Robot
vũ trụ (Space robots) Với Robot phỏng sinh học, các nghiên cứu thời gian qua tậptrung vào 2 loại chính là Robot đi (Walking robots) và Robot dáng người(Humanoid Robots) – được giới thiệu trên hình 1.5 Bên cạnh đó, các loại Robotphỏng sinh học dưới nước như Robot cá, các cấu trúc chuyển động phỏng theo sinhvật biển cũng được nhiều nhóm nghiên cứu phát triển [4]
Hình 1.5 Robot dáng người
Mặc dù về cấu trúc các loại Robot có nhiều điểm khác nhau nhưng cácnghiên cứu hiện nay đều hướng về các ứng dụng dịch vụ và hoạt động của Robottrong môi trường tự nhiên Mỹ là nước tập trung đầu tư hàng trăm tỷ USD cho pháttriển hệ thống tác chiến tương lai trong đó Robot quân sự hoạt động ở các địa hìnhtrên cạn, dưới nước và trên không chiếm phần không nhỏ Với sự phát triển của xãhội và quá trình hiện đại hóa ở các nước G7 thì nhiều dịch vụ mới được hình thànhlàm thay đổi quan điểm về Robot, từ Robot phục vụ công nghiệp sang Robot phục
vụ cho các nhu cầu xã hội và nhu cầu cá nhân của con người Robot được thiết kếphục vụ cho con người như những người giúp việc đắc lực, đa năng Quá trình này
Trang 10dẫn đến các khái niệm mới và cả tay máy công nhiệp lẫn Robot di động truyềnthống sẽ phải thay đổi một cách cơ bản mới đáp ứng được yêu cầu của thị trườngdịch vụ con người này.
Trên hình 1.6 giới thiệu Robot thám hiểm Sao Hỏa
Hình 1.6 Robot thám hiểm Sao Hoả
Song song với chế tạo Robot thì các công trình nghiên cứu khoa học vềRobot được công bố của các nhà khoa học Việt Nam rất đa dạng và theo sát đượccác hướng nghiên cứu của thế giới Các nghiên cứu về Robot ở Việt Nam liên quannhiều đến các vấn đề về động học, động lực học, thiết kế quỹ đạo, xử lý thông tincảm biến, cơ cấu chấp hành, điều khiển và phát triển trí thông minh cho Robot.Các nghiên cứu về động học và động lực học Robot được các khoa cơ khí, chế tạomáy ở các trường đại học và các viện nghiên cứu về cơ học, chế tạo máy, cơ khíquan tâm cả trong dân sự và quân sự
Ngoài việc tìm các phương pháp giải các bài toán liên quan đến cơ học củacác loại Robot nối tiếp, song song, di động, thì các chương trình mô phỏng kết cấu
và chuyển động 3D được áp dụng và phát triển để minh họa cũng như phục vụ chophân tích, thiết kế Robot Các công bố liên quan về cơ học Robot thường đượcthực hiện bởi cán bộ của Viện Cơ học - Viện KH&CN Việt Nam, Khoa Cơ khíChế tạo máy thuộc đại học Bách Khoa Hà Nội và Đại học Bách Khoa Tp.HCM,các bộ môn Robot và Cơ điện tử ở các trường đại học khác
Trên hình 1.7 giới thiệu Robot công nghiệp của hãng Tosy Robotics, ViệtNam
Trang 11Hình 1.7 Robot công nghiệp (Hãng Tosy Robotics, Việt Nam)
Lĩnh vực điều khiển Robot rất phong phú, từ các phương pháp điều khiểntruyền thống như PID, phương pháp tính mô men, phương pháp điều khiển trượtđến các phương pháp điều khiển thông minh như điều khiển sử dụng mạng nơ ron,logic mờ, thuật gen và các phương pháp điều khiển tự thích nghi, các phương pháphọc cho Robot, các hệ visual servoing… Trong các công bố về điều khiển Robotphải kể đến các công trình của Viện Công Nghệ Thông tin Viện KH&CN Việtnam, Đại học Bách Khoa Hà Nội và Đại học Bách Khoa Tp.HCM Gần đây, độingũ nghiên cứu và giảng dạy ở Đại học Quốc gia Hà Nội và Học viện Kỹ thuậtQuân sự cũng có nhiều công bố liên quan đến lĩnh vực điều khiển Robot do độingũ giáo viên trẻ tốt nghiệp tiến sỹ ở nước ngoài về tiếp tục các nghiên cứu củamình Lĩnh vực Robot di động với nhiều cảm biến dẫn đường và camera đang đượcnhiều đơn vị trong nước quan tâm nghiên cứu Các vấn đề xử lý ảnh tốc độ cao,phối hợp đa cảm biến, định vị và lập bản đồ không gian, thiết kế quỹ đạo chuyểnđộng cho Robot di động đã có nhiều công bố trong các Hội nghị cơ điện tử toànquốc năm 2004, 2006, 2008 và 2010 Các nghiên cứu về thị giác Robot được quantâm cả ở Robot công nghiệp và Robot di động, nhất là lĩnh vực nhận dạng và điềukhiển Robot trên cơ sở thông tin hình ảnh Các vấn đề về xử lý ngôn ngữ tự nhiên,nhận dạng và tổng hợp tiếng nói tiếng Việt bắt đầu được chú ý cho các lọai Robotdịch vụ
Trang 12Các nghiên cứu cơ bản về Robot của Việt Nam đã được công bố nhiều trêncác Hội Nghị và tạp chí quốc tế Việc phối hợp với các nước như Nhật, Mỹ,Singapore, Đức tổ chức các hội nghị quốc tế tại Việt nam liên quan đến Robot nhưRESCCE’98, RESCCE’00, RESCCE’02, ICMT2004, ICARCV 2008, ITOMM
2009 là một chuỗi hoạt động khoa học liên tục của cộng đồng Robotics Việt nam hòa nhập vào các hoạt động nghiên cứu khoa học với các nước khu vực và tiên tiếntrên thế giới [8]
Để có thể hội nhập và phát triển trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay ViệtNam cần có một cộng đồng rộng lớn các chuyên gia tâm huyết, có môi trường họctập và nghiên cứu lành mạnh và một chính sách vĩ mô hỗ trợ tri thức phát triểnthích nghi được với quá trình “phẳng” hóa thế giới hiện nay
1.4 Cấu trúc và phân loại Robot
1.4.1 Cấu trúc
Robot là một trong những sản phẩm của khoa học mà nó là sự kết hợp củanhiều ngành khoa học kỹ thuật như: máy tính điện tử, máy điện, cơ khí, thiết kếcấu trúc cơ khí, vi điện tử, lập trình trí tuệ nhân tạo, nghệ thuật sản xuất… [4]
Trên hình 1.8 giới thiệu các bộ phận chủ yếu của Robot công nghiệp loạithông thường như sau:
Hình 1.8 Các bộ phận cấu thành Robot công nghiệp
Trang 13Tay máy gồm các bộ phận: đế 1 đặt cố định hoặc gắn liền với xe đi động 2, thân 3, cánh tay trên 4, cánh tay dưới 5, bàn kẹp 6.
Bên trong hoặc ở bên ngoài tay máy còn đặt nhiều bộ phận khác nữa:
+ Khớp - thanh nối: joint- link
+ Cổ tay – wrist: tạo nên sự khéo léo, linh hoạt
+ Bàn tay - hand, end effector: trực tiếp hoàn thành các thao tác trên đốitượng
Để có được chuyển động thân, cánh tay cuả Robot cần phải có một hệ thốngcác khớp nối Trong chuyển động của Robot người ta chia ra làm hai loại chuyểnđộng chính:
+ Chuyển động của thân và cánh tay
+ Chuyển động các khớp cổ tay
Mỗi một khớp nối thực hiện một trong hai chuyển động trên được gọi là
“một bậc tự do” Thông thường các Robot công nghiệp có từ 4 – 6 bậc tự do Liênkết các chuyển động của thân, cánh tay và cổ tay Robot được thực hiện bằng cáckết nối Có 4 loại kết nối chính (bảng 1.1.):
- Kết nối thẳng (L): là kết nối mà trục của hai khớp nối song song với nhau.Chuyển động tương đốigiữa hai khớp nối là chuyển động tịnh tiến Kết nối nàythực hiện bằng chuyển động pittong hoặc chuyển động rãnh trượt
- Kết nối quay (R): là kết nối mà chuyển động của khớp nối cánh thứ hai làchuyển động quay xung quanh một trục vuông góc với trục khớp nối thứ nhất
Trang 14- Kết nối xoắn (T): là kết nối mà trục quay của liên kết song song với trụcquay của hai khớp nối.
- Kết nối xoay (V): là kết nối mà trục quay trùng với trục của khớp nối thứnhất và vuông góc với trục của khớp nối thứ hai
Bảng 1.1 Các dạng cơ bản của các khớp Robot
Các Robot công nghiệp ngày nay hầu hết thường được đặt trên đế và thân đếnày được gắn chặt xuống nền Gắn vào cổ tay có thể là một bàn kẹp (gripper) hoặcmột số công cụ khác dùng để thực hiện các nhiệm vụ khác nhau (như mũi khoan,đầu hàn, đầu phun sơn ) và chúng được gọi chung là “end effector” được gọi làcác thiết bị ngoại vi [4]
1.4.1.2 Hệ thống truyền dẫn động của Robot
Chuyển động của các khớp nối của Robot được cung cấp năng lượng bởi hệthống các động cơ được trang bị bên trong nó, từ đó tạo ra sự di chuyển, vận động
Input link
Output link
Input link
Output link
Output link Input
link
Input link
Output link
Tuyến tính
Quay
Cổ tay quay
VuôngV
T
R
L
Trang 15của thân, cánh tay và cổ tay Robot Độ lớn hay công suất của các thiết bị này được
bố trí sao cho phù hợp với tốc độ di chuyển của cánh tay, trọng lượng của Robot vàđặc biệt là khối lượng động của vật nặng nó cần làm việc
Do vậy mà tuỳ theo công suất yêu cầu và độ linh hoạt của hệ thống mà tachọn dùng một trong ba loại hệ truyền động sau:
bị lọc, thiết bị điều chỉnh áp suất, thiết bị làm mát, bình tích dầu …
Hệ truyền động điện:
Được sử dụng rộng rãi trong thiết kế Robot do nó có nhiều ưu điểm hơn sovới các hệ truyền động khác như: điều khiển đơn giản, không phải dùng các bộbiến đổi phụ thêm, không gây bẩn môi trường, các loại động cơ điện hiện đại cóthể lắp trực tiếp lên các khớp, độ chính xác cao hơn… Tuy nhiên, so với truyềnđộng thuỷ khí thì truyền động điện có tỷ lệ thấp giữa công suất truyền trên một đơn
vị khối lượng và thông thường phải đòi hỏi thêm hộp giảm tốc vì tay máy yêu cầutốc độ quay chậm…
Trong thực tế, chỉ có 2 loại động cơ điện được sử dụng nhiều hơn cả là:động cơ điện một chiều và động cơ bước
Hệ truyền động khí nén:
Thường chỉ được sử dụng cho loại Robot cỡ nhỏ, có từ 2-3 bậc tự do Ưuđiểm của loại truyền động này là: tương đối gọn nhẹ, dễ sử dụng, dễ đảo chiều,
Trang 16không quá nhạy với nhiệt độ môi trường và do trong các phân xưởng công nghiệpthường có mạng lưới khí nén chung nên đơn giản hóa được phần thiết bị nguồnđộng lực cho Robot và không cần đường đưa khí nén trở lại như đối với hệ truyềnđộng thuỷ lực
- Cảm biến nội tín hiệu đảm bảo thông tin về vị trí, về vận tốc, về lực tác động
trong các bộ phận quan trọng của Robot Các thông tin này là những tín hiệu phảnhồi phục vụ cho việc điều chỉnh tự động các hoạt động của Robot
- Cảm biến ngoại tín hiệu cung cấp thông tin về đối tác và môi trường làm
việc, phục vụ cho việc nhận dạng các vật xung quanh, thực hiện di chuyển hoặcthao tác trong không gian làm việc Để làm được các việc đó, cần có các loại cảmbiến tín hiệu xa, cảm biến tín hiệu gần, cảm biến “xúc giác” và cảm biến “thịgiác”…
1.4.2 Phân loại Robot công nghiệp
- Có hai phương pháp phân loại robot
+ Một là: theo tính chất vật lý hay hình học của chúng;
+ Hai là: theo cách chúng được điều khiển
1.4.2.1 Phân loại theo vật lý hoặc hình học
Trang 17Dựa vào hình dáng vật lý hoặc khoảng không gian mà cổ tay có thể dichuyển tới mà người ta chia Robot thành 5 hình dạng cơ bản sau :
Loại có dạng đề các (chữ nhật);
Loại có dạng trụ (kiểu trụ);
Loại có dạng cầu (kiểu toạ độ cực);
Kiểu nối (nhân hình hoá hay nhân tạo);
SCARA (cánh tay máy có kết cấu lắp chọn)
Kiểu đề các
Hình 1.9 Robot có không gian làm việc dạng hình chữ nhật
Robot kiểu này còn gọi là tay máy kiểu giàn, có các khớp dịch chuyển theohướng dạng hình chữ nhật (hình 1.9) Đây là dạng mô hình hoá và về dạng toánhọc vì các hệ toạ độ tương ứng với hệ trục toạ độ đề các Robot này được dùng ởnhững nơi cần độ chính xác rất cao, tuy nhiên không gian làm việc của nó rất hạnchế
Trang 18Hình 1.10 Robot có không gian làm việc dạng trụ
Nếu vị trí của điểm tham chiếu của tay ký hiệu là (r,h,θ), khi đó vị trí sẽ dễdàng xác định tại tất cả các thời điểm, nhưng nếu vị trí được cho ở một thời điểm,tức là (x,y,z) như trong trường hợp bình thường, sau đó cần thực hiện một vài phépbiến đổi tay 2 hệ trục toạ độ, áp dụng phép tiếp cận mềm và giải bài toán cho 3khớp đầu tiên, trục z có vẻ giống như trục thẳng đứng của Robot: z = h Mặt phẳng
xy vuông góc với trục z và do đó song song với mặt phẳng ở đó θ quay (quanh trụcz) và khoảng cách r
Trang 19Phần bổ xung của khớp quay thứ 2 tăng tính mềm dẻo của robot này Tuy nhiên nólàm giảm độ chính xác
Hình 1.11 Robot có không gian làm việc dạng cầu
Loại Robot kết nối
Loại này có 3 khớp quay (hình 1.12) Việc chuyển hệ toạ độ sang hệ trục đềcác phức tạp hơn nhiều các trường hợp trước Robot rất linh hoạt Loại này có ưuđiểm trong trường hợp Robot phải tiếp cận các chi tiết qua các vật cản Tuy vậy độchính xác của nó thấp hơn tất cả các loại khác
Hình 1.12 Robot kết nối
Robot SCARA
Loại robot này là loại có cấu trúc hình học mới nhất được giới thiệu trong
mô hình hóa các loại robot (hình 1.13) Chuyển động của các khớp cơ bản quanhcác trục thẳng đứng Cấu trúc này cho độ cứng cần thiết cho robot theo phươngthẳng đứng trong khi cho phép quay trong mặt phẳng nằm ngang
Các chuyển động của tất cả các khớp chính là chyển động quay nên việcbiểu diễn toán học không đơn giản Loại robot này có ưu điểm trong công việc lắpgiáp đòi hỏi chính xác [8]
Trang 20Hình 1.13 Robot SCARA
1.4.2.2 Phân loại theo điều khiển
- Có 2 phương pháp điều khiển Robot Đó là kỹ thuật điều khiển khôngservo và kỹ thuật điều khiển servo
+ Điều khiển không servo dùng phương pháp hãm cơ khí để cung cấp cácphạm vi biên của chuyển động và khi lệnh dịch chuyển được sử dụng, khớp đượcdẫn động cho đến khi hãm cơ khí được chạm tới Kỹ thuật này hiện nay đã lỗi thời
+ Kỹ thuật servo dùng cấu trúc phản hồi để đáp ứng với các thay đổi cục bộcủa các khớp động của robot [4]
1.5 Hệ thống điều khiển Robot
Hệ thống điều khiển của robot có nhiệm vụ điều khiển hệ truyền động điện đểthực hiện điều chỉnh chuyển động của robot theo yêu cầu của quá trình công nghệ
Hệ thống Điều khiển Robot có thể chia ra:
+ Điều khiển thô (điều khiển vị trí - quỹ đạo): là bài toán xác định cách điều
khiển thích hợp sao cho các khớp tay Robot bám sát quỹ đạo thiết kế trong quátrình thời gian Ở đây bao gồm tốc độ và vị trí tay Điều khiển thô chỉ thực hiệnđiều khiển quỹ đạo
+ Điều khiển tinh (điều khiển lực): là bài toán có tính đến cả môi trường làm việc
của Robot, do đó ở đây bao gồm cả điều khiển lực và điều khiển quỹ đạo
Trang 21Hình 1.14 Sơ đồ tổng quan về hệ thống điều khiển Robot
1.5.1 Các phương thức điều khiển
- Điều khiển theo quỹ đạo đặt gồm 3 phương thức điều khiển):
Điều khiển Robot theo chuỗi các điểm giới hạn
Điều khiển lặp lại :
Điều khiển Robot theo kiểu điểm - điểm (PTP)
Robot điều khiển theo quỹ đạo liên tục PCC
Điều khiển ứng dụng kỹ thuật cao (Robot thông minh)
- Điều khiển lực: dựa vào tính chất của đối tượng điều khiển là tuyến
tính hay phi tuyến
1.5.1.1 Điều khiển theo quỹ đạo đặt
Điều khiển theo chuỗi các điểm giới hạn
Là phương thức điều khiển bằng cách thiết lập các công tắc giới hạn và cácđiểm dừng cơ khí Chuyển động của các khớp nối được bắt đầu và kết thúc khi gặpcác công tắc giới hạn hoặc các điểm dừng cơ khí này Việc thiết lập các điểm dừng
và các công tắc giới hạn tương đương với việc lập chương trình cho robot, mỗi mộtcông tắc được coi như một phần tử nhớ Phương pháp điều khiển này thường đượcdùng trong các loại robot đơn giản
Điều khiển lặp lại
Thường được dùng trong các hệ thống điều khiển phức tạp và quỹ đạochuyển động của robot là theo một quỹ đạo đã được tính toán và xác định từ trước
Trang 22thông qua một chuỗi các vị trí xác định Các vị trí này đã được ghi vào bộ nhớ củarobot và robot phải tự tính toán điều khiển để đạt tới các vị trí mong muốn này theocác điều kiện tối ưu có thể Robot điều khiển playback được chia làm hai loại tùytheo phương thức điều khiển:
+ Điều khiển theo kiểu điểm - điểm (PTP)
Phương thức điều khiển kiểu điểm - điểm là phương thức điều khiển mà việcxác định quỹ đạo chuyển động từ điểm này sang điểm khác là do bản thân robotxác định tuỳ theo điều kiện cụ thể Quỹ đạo chuyển động của robot được ghi từtrước trong bộ nhớ chỉ là một chuỗi vị trí các điểm mong muốn Robot sẽ tự tìmcách lần lượt đạt tới các điểm mong muốn đó bằng cách so sánh tọa độ hiện tại vớitọa độ của điểm mong muốn và tính toán xây dựng quỹ đạo điều khiển chuyểnđộng theo hướng làm giảm sự sai lệch đó Dạng quỹ đạo này phù hợp cho cácrobot có hoạt động “gắp”, “nhả”
+ Điều khiển theo quỹ đạo liên tục
Là phương thức điều khiển mà quỹ đạo chuyển động của robot tới các điểm
đã xác định Trong quá trình hoạt động robot phải điểu khiển hệ thống bám theoquỹ đạo được ghi trong bộ nhớ Quỹ đạo liên tục có thể được cho dưới dạng cácđiểm liên tục hoặc cho dưới dạng các điểm cần phải đi qua với các tham số về vậntốc, gia tốc, thời gian.v.v và được xây dựng bằng các đa thức nội suy bậc cao Quỹđạo liên tục được đòi hỏi trong các nguyên công công nghệ như sơn, hàn, cắt màtay máy thực hiện việc trực tiếp
Điều khiển Robot thông minh
Ứng dụng để điều khiển cho những robot ngoài việc có thể thực hiện đượcchương trình đặt trước, nó còn có khả năng tùy biến thực hiện các hành động phùhợp với các cảm nhận từ môi trường Robot thông minh có thể thay đổi chươngtrình phù hợp với điều kiện làm việc của môi trường nhận được từ các sensor(quang, nhiệt, vị trí, tốc độ, từ trường, âm thanh, tần số…) sử dụng logic mờ vàmạng nơron Robot loại này có khả năng giao tiếp với con người hoặc với hệ thốngmáy tính chung để có thể đưa ra các xử lý thông minh Hiện nay trên thế giới đã
Trang 23xuất hiện các robot thông minh có thể hiểu được các lệnh đơn giản của con người,
có thể giao tiếp, giúp đỡ để thực hiện các công việc phức tạp trong nhà máy
1.5.1.2 Điều khiển lực
Các hệ thống điều khiển hệ tuyến tính
Khi khảo sát đặc tính động học của một đối tượng điều khiển hay một hệthống, thông thường các đối tượng khảo sát được xem là tuyến tính, dẫn đến chophép mô tả hệ thống bằng một hệ phương trình vi phân tuyến tính Sử dụng nguyên
lý xếp chồng của hệ tuyến tính, ta còn có thể dễ dàng tách riêng các thành phần đặctrưng cho từng chế độ làm việc để nghiên cứu với những công cụ toán học chặtchẽ, chính xác mà lại rất đơn giản, hiệu quả Sử dụng mô hình tuyến tính để mô tả
hệ thống có nhiều ưu điểm như:
- Mô hình đơn giản, các tham số mô hình tuyến tính dễ dàng xác định đượcbằng các phương pháp thực nghiệm mà không cần phải đi từ những phương trìnhhoá lý phức tạp mô tả hệ
- Các phương pháp tổng hợp bộ điều khiển tuyến tính rất phong phú vàkhông tốn nhiều thời gian để thực hiện
- Cấu trúc đơn giản của mô hình cho phép theo dõi được kết quả điều khiểnmột cách dễ dàng và có thể chỉnh định lại mô hình cho phù hợp với yêu cầu thựctế
Chính vì những ưu điểm này của mô hình tuyến tính mà lý thuyết điều khiểntuyến tính và mô hình tuyến tính đã có được miền ứng dụng rộng lớn
Các hệ thống điều khiển hệ phi tuyến
Trong thực tế phần lớn các đối tượng được điều khiển lại mang tính độnghọc phi tuyến (đặc biệt là robot là đối tượng có tính phi tuyến mạnh - có thể thấyrất rõ ngay trong hệ thống điều khiển Robot luận văn này sẽ trình bày), tức làkhông thoả mãn nguyên lý xếp chồng; và không phải đối tượng nào, hệ thống nàocũng có thể mô tả được bằng một mô hình tuyến tính, cũng như không phải lúc nàonhững giả thiết cho phép xấp xỉ hệ thống bằng mô hình tuyến tính được thoả mãn.Hơn thế nữa độ tối ưu tác động nhanh chỉ có thể tổng hợp được nếu ta sử dụng bộ
Trang 24điều khiển phi tuyến Các hạn chế này bắt buộc người ta phải trực tiếp nghiên cứutính toán động học của đối tượng, tổng hợp hệ thống bằng những công cụ toán họcphi tuyến.
1.5.2 Các phương pháp điều khiển Robot
Cho đến nay trong thực tế, nhiều phương pháp và hệ thống điều khiểnRobot đã được thiết kế và sử dụng, trong đó các phương pháp điều khiển chủ yếulà:
- Điều khiển động lực học ngược
- Điều khiển phản hồi phân ly phi tuyến
- Các hệ thống điều khiển thích nghi
+ Điều khiển thích nghi theo sai lệch
+ Điều khiển thích nghi theo mô hình mẫu (MRAC)+ Điều khiển động lực học ngược thích nghi
+ Điều khiển trượt
1.6 Giới hạn bài toán điều khiển
Trong luận văn giới hạn đối tượng điều khiển là 1 Robot 2 khâu: Trên mô tảcấu trúc động học của Robot 2 khâu
Hình 1.15 Cấu trúc động học của Robot 2 khâu
Trong đó:
- 1, 2: Góc quay của từng khâu
- l1, l2 : Chiều dài của từng khâu
- m1, m2: Khối lượng toàn bộ của mỗi khâu
- g: gia tốc trọng trường
Trang 25Yêu cầu bài toán điều khiển là: thiết kế bộ điều khiển tính toán lực (mômen)điều khiển sao cho quỹ đạo chuyển động của tay máy Robot bám theo quỹ đạo đặt.
1.7 Kết luận chương 1
Chương 1 đã trình bày tổng quát về Robot công nghiệp từ lịch sử ra đời đếncác giai đoạn phát triển, những ưu – nhược điểm trong các lĩnh vực ứng dụng củaRobot Tìm hiểu cấu trúc chung của Robot và các phương pháp điều khiển chuyểnđộng của Robot để Robot ngày càng linh hoạt, thông minh đáp ứng nhu cầu sửdụng của con người trong mọi lĩnh vực: sản xuất, công nghiệp, dịch vụ Mục đíchnghiên cứu trong luận văn thiết kế bộ điều khiển chuyển động Robot 2 khâu dựatrên logic mờ
Luận văn tập trung nghiên cứu phương pháp điều khiển chính đó là phươngpháp điều khiển dựa trên logic mờ sẽ được phân tích trong chương 2
Trang 26CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU KHIỂN LOGIC MỜ 2.1 Giới thiệu chung về logic mờ
Những nền tảng đầu tiên của Logic mờ ra đời ở Mỹ vào những năm 60, bởigiáo sư Lotfi Zadeh thuộc trường đại học Bekeley, bang California Sau đó liêntục phát triển và trở thành ngành kỹ thuật điều khiển mới, được ứng dụng rộng rãitrong các sản phẩm công nghiệp ở châu Âu và Nhật Bản Kỹ thuật điều khiển mớinày dựa trên cách xử lý thông tin và điều khiển của bộ não con người, từ một hệsinh học sang hệ kỹ thuật Nhờ đó mà nó mang lại những bước nhảy vọt trong kỹthuật điều khiển, ví dụ như điều khiển một xe hơi chạy trong thành phố là điều quáphức tạp mà con người không giám nghĩ tới khi kỹ thuật điều khiển mờ chưa rađời [1]
Đặc điểm cũng là ưu điểm của điều khiển mờ là xử lý những thông tinkhông chính xác hoặc không đầy đủ, đó là cách thức xử lý của bộ não con ngườiđược áp dụng đưa vào ngành kỹ thuật điều khiển Đó cũng là điều không có trong
hệ thống lý thuyết cổ điển
Những lĩnh vực mà logic mờ được ứng dụng và có nhiều thành tựu:
- Điều khiển;
- Định dạng mô hình mẫu (hình ảnh, âm thanh, xử lý dữ liệu);
- Phân tích định lượng (nghiên cứu khoa học, quản lý);
- Suy luận (giao diện thông minh, robot, kỹ thuật phần mềm);
- Phục hồi thông tin (dữ liệu)
2.2 Cơ sở lý thuyết mờ
2.2.1 Tập mờ
Định nghĩa: Tập mờ F xác định trên tập kinh điển M là một tập mà mỗi phần tử
của nó là một cặp giá trị (x,μF(x)), trong đó x M và μF làm một ánh xạ:
μF : M → [0 1]
- Tập kinh điển M là cơ sở của tập mờ F
- Ánh xạ μF gọi là hàm đặc trưng của tập mờ F
Trang 27Ý nghĩa
Hình 2.1 Hàm đặc trưng
Tập mờ F ánh xạ mỗi giá trị x của tập kinh điển thành một số nằm trongđoạn [0,1] để chỉ mức độ phụ thuộc của nó vào tập M Độ phụ thuộc bằng 0 tức là
x không phụ thuộc tập M, độ phụ thuộc bằng 1 có nghĩa là nó là đại diện cho tập
M Khi μF (x) tăng dần thì độ phụ thuộc của x tăng dần Điều này tạo nên mộtđường cong qua các phần tử của tập hợp (hình 2.1)
Một tập mờ gồm 3 thành phần:
- Miền làm việc [x1, x2]
- Đoạn [0, 1] trên trục tung thể hiện độ phụ thuộc của tập mờ
- Hàm đặc trưng μF (x) xác định độ phụ thuộc tương ứng của các phần tử đốivới tập mờ [1]
Miền trong logic mờ (hình 2.2)
Độ cao tập mờ F là giá trị h = Sup μF(x)F(x), trong đó SupμF(x)F(x) chỉ giá trị nhỏ nhất trong tất cả các chặn trên của hàm μF(x)F(x)
Miến xác định của tập mờ F, kí hiệu là S là tập con thỏa mãn :
S = SupμF(x)F(x) = { x M | μF(x)F(x) > 0}
Miền tin cậy của tập mờ F, kí hiệu là T là tập con thỏa mãn :
T = { x M | µF(x) = 1 }
Các dạng hàm liên thuộc trong logic mờ
Có rất nhiều dạng hàm liên thuộc như : Gaussian, PI-shape, S-shape,Singmoidal, Z-shape…
x
y 1
0
Trang 28Hình 2.2 Miền trong logic mờ
2.2.2 Biến ngôn ngữ
Là thành phần chính trong hệ thống mờ, ở đây các thành phần ngôn ngữ củacùng một ngữ cảnh được kết hợp lại với nhau Về cơ bản biến ngôn ngữ là loạibiến mà giá trị của nó là những từ, những câu nói theo ngôn ngữ tự nhiên hoặckhông tự nhiên [1]
2.2.3 Hàm đặc trưng
Mức độ thỏa mãn của một giá trị vật lý vào khái niệm ngôn ngữ được gọi là
độ phụ thuộc Đối với biến liên tục, mức độ này được biểu diễn bởi một hàm gọi
là hàm đặc trưng Hàm đặc trưng ánh xạ tập các giá trị vật lý thành tập các giá trịphụ thuộc đối với các giá trị ngôn ngữ [1]
Sau đây là một số dạng đặc trưng:
y 1
y 1
Trang 29Dạng đường cong S (hình 2.4)
Đặc trưng bởi 3 thông số α, , tương ứng với độ phụ thuộc là: 0; 0.5; 1
Hình 2.4 Dạng đường cong S
Độ phụ thuộc tại điểm x được xác định theo công thức sau:
Dạng đường cong hình chuông
Dạng đường cong hình chuông (hình 2.5) đặc trưng cho các số mờ xấp xỉmột giá trị trung tâm, là hai đường cong S tăng và S giảm
Hình 2.5 Dạng đường cong hình chuông
Dạng hình tam giác, hình thang và hình vai
Dạng hình chuông được thay thế bằng các dạng hình tam giác, hình thang
do yêu cầu tiết kiệm bộ nhớ của các bộ vi xử lý
Trang 30-Dạng hình tam giác (hình 2.7)
Hình 2.7 Dạng hình tam giác
- Dạng hình vai
Thông thường vùng giữa các biến mô hình được đặc trưng bằng các tập mờ
có hàm đặc trưng là hàm tam giác, nhưng các vùng biên thường dùng hàm đặctrưng là hình vai (hình 2.8)
Hình 2.8 Hai tập nhanh chậm có hàm đặc trưng hình vai
Các phép toán trên tập mờ
Một nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng các phép toán trên tập mờ làkhông được mâu thuẫn với những phép toán đã có trong lý thuyết tập hợp kinhđiển Giống như định nghĩa về tập mờ, các phép toán trên tập mờ cũng được địnhnghĩa thông qua các hàm phụ thuộc, xây dựng tương tự như các phép toán trên tậphợp kinh điển Như vậy việc thành lập các phép toán trên tập mờ là xác định cáchàm phụ thuộc đại diện cho các phép hợp, giao, bù trên những tập mờ [1]
Nói chung, đối với mỗi phép toán trên tập hợp mờ có thể có nhiều côngthức đại diện, nghĩa là có nhiều hàm phụ thuộc khác nhau Điều đó cũng dẫn đếnbài toán điều khiển mờ cũng có thể có nhiều lời giải khác nhau
y
x 1
0
Trang 31* Cho X,Y là hai tập mờ trên không gian nền B, có các hàm thuộc tươngứng là μX, μY khi đó ta có các phép toán sau :
Phép hợp hai tập mờ : X Y
1.Theo luật MAX (hình 2.15): μX(b) μY(b) = Max{ μX (b) , μY (b)}
Hình 2.9 Phép hợp hai tập mờ theo luật lấy max
2.Theo luật MIN : μX (b) μY (b) = MIN{ μX (b) + μY (b)}
3.Tổng trực tiếp : μX (b) μY (b) = μX (b) + μY (b) – μX (b)* μY (b)
Phép giao hai tập mờ : X Y
1.Theo luật MIN : μX (b) μY (b) = MIN{ μX (b) ; μY (b)}
2.Theo luật LUKASIEWICZ : μX (b) μY (b) = Max{0, μX (b)+ μY (b)-1} 3.Theo luật Prod : μX (b) μY (b) = μX (b) μY (b)
A là tập mờ trên nền X có hàm thuộc μA(x)
B là tập mờ trên nền Y có hàm thuộc μB(y)
A tập mờ mở rộng của tập mờ A trên nền XxY và có hàm thuộc là μA(x,y)
= μA(x), VY
B tập mờ mở rộng của tập mờ B trên nền XxY và có hàm thuộc là μB(x,y)
= μB(y), VX
Hợp của A,B là μAUB(x,y) = μAUB(x,y)
Giao của A,B là μA∩B(x,y) = μA∩B(x,y)
Trang 32Mệnh đề hợp thành
Cho hai biến ngôn ngữ x và y Nếu biến x nhận giá trị mờ A với hàm phụthuộc A(x) và y nhận giá trị mờ B với hàm phụ thuộc A(y) thì biếu thức :
x = A gọi là mệnh đề điều kiện
và biểu thức: y = B gọi là mệnh đề kết luận
Nếu lần lượt ký hiệu hai mệnh đề trên là p và q thì ta có mệnh đề hợp thành:
đề kết luận này được gọi là giá trị của mệnh đề hợp thành khi đầu vào bằng A và
là một giá trị mờ Nếu biểu diễn giá trị mờ đó là tập hợp C thì mệnh đề hợp thành
mờ chính là ánh xạ:
A(x0) C(y)
Định lý Mamdani :
“Độ phụ thuộc của kết luận không được lớn hơn độ phụ thuộc điều kiện”
Nếu hệ thống có nhiều đầu vào và nhiều đầu ra thì mệnh đề suy diễn códạng tổng quát như sau:
mờ B’ định nghĩa trên nền Y (là không gian nền của B) và có hàm liên thuộc
(A,B): [0,1] và tuân theo quy tắc hợp thành mờ
Trang 33Hai quy tắc thường được sử dụng nhất là:
Các luật hợp thành cơ bản
Luật MAX – MIN; Luật MAX – PROD
Luật SUM – MIN; Luật SUM – PROD
Trong thực tế, ít khi có một bộ điều khiển mờ chỉ là việc với một mệnh đềhợp thành mà với một tập hợp gồm nhiều mệnh đề Ta hãy xét một số luật hợpthành thường sử dụng
Thuật toán xây dựng luật hợp thành có nhiều mệnh đề hợp thành.
Cho p mệnh đề hợp thành:
R1: NẾU x=A1 THÌ y=B1
R2: NẾU x=A2 THÌ y=B2
Rp: NẾU x=Ap THÌ y=Bp
Trong đó các giá trị mờ A1,……, Ap có cùng tập hợp nền X và B1,…, Bp cócùng tập hợp nền Y Gọi hàm phụ thuộc của Ak và Bk là AK(x) và BK(y) (k=1,2,
…,p) thuật toán triển khai R= R1 R2 …Rp được thực hiện như sau: