1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

GIÁO TRÌNH PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG _ www.bit.ly/taiho123

187 2,6K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 187
Dung lượng 681 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì thế, việc học tập, tìm hiểucũng như tăng cường công tác phổ biến pháp luật là một yêu cầu cấp thiết có ýnghĩa thiết thực đối với mọi công dân trong giai đoạn hiện nay - giai đoạn xâyd

Trang 1

GIÁO TRÌNH PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

GIÁO TRÌNH PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

Tác giả: ThS LÊ KIM DUNG - ThS LÊ NGỌC ĐỨC ThS LÊ HỌC LÂM - Lg LÊ THỊ QUỲNH

LỜI DẪN NHẬP

Nói đến Pháp luật đại cương, nhiều người liên tưởng đến một môn họckhô khan và khi học Luật phải học thuộc từng điều khoản Chắc chắn không phảivậy Trong thần thoại Hy Lạp có nói về pháp luật như sau: Thuở trời đất mớihình thành chỉ có các thần linh, chưa có con người, chính Prometheus (có nghĩa

là nhà tiên tri) đã dùng đất sét trộn với nước và dựa vào vóc dáng đẹp đẽ củathần linh nặn ra con người, trong khi người anh em là Epimetheus, vụng về vàkém sáng tạo hơn đã nặn ra các con vật Cuộc sống của các thần đầy ánh sáng

và hoan lạc thì cuộc sống của con người tối tăm buồn thảm vì thần mặt trời chỉchiếu sáng trên đỉnh Olympus nơi cư ngụ của các vị thần Thương cho thânphận của tác phẩm do chính mình tạo ra, thần Prometheus đánh cắp lửa từ thầnHelios để ban tặng cho con người Trần gian trở nên tươi đẹp hơn và từ đó,những con người vốn sinh ra từ bùn đất và nước lã đã có thể làm được nhữngviệc ganh đua với thần tiên trên đỉnh Olympus Việc làm của thần Prometheuskhiến chúa thần Zeus nổi trận lôi đình, Ngài triệu tập một hội nghị khẩn cấp giữacác thần bàn biện pháp trừng phạt kẻ đánh cắp lửa cho con người dùng Chiểutheo Nghị quyết của hội đồng, các thần xúm tay vào sáng tạo ra một tạo vậthoàn mỹ nhất là nàng Pandora đem ban cho hai anh em Prometheus Do khônngoan nên Prometheus từ chối đặc ân nhưng Epimetheus đón nhận người đẹpcùng với món quà mà thần Zeus trao cho, đó là một chiếc hộp với lời dặn tuyệtđối không được mở ra Nàng Pandora không chỉ đẹp mà rất tò mò bèn mở hộp

Trang 2

ra xem bên trong hộp có gì Hành động đó đã làm cho tất cả những hạt giốngxấu xa mà các thần muốn gieo rắc xuống trần gian bay ra: Hạt giống của Tội ác,Ghen tỵ, Thù hằn, Chiến tranh, Đói rách, Bệnh tật, Cái chết Thế giới trần giantrở thành một cõi thị phi, lẫn lộn giữa điều tốt đẹp và cái xấu xa, giữa nhữnghành vi lương thiện và tội ác, giữa cái đáng làm và cái không nên làm Tuynhiên vẫn còn một điều may mắn, trong số những hạt giống kia có hạt giống Hyvọng, nhờ đó mà con người có được niềm tin để sống giữa bao điều trái ngược.

Để cai quản loài người, Zeus đã tạo ra hệ thống phân chia quyền lực khá

rõ ràng Zeus cai quản đất và trời, thần Hades là vua dưới âm phủ, cònPoseidon ngự trị trên biển cả Trong số nhiều vị thần khác nắm giữ quyền lực ởnhững vị trí khác nhau thì nữ thần Themis là người làm ra luật định, thiết lập trật

tự và ổn định trên thế gian để đảm bảo Công Lý Sự chính trực và nghiêm minhcủa bà đã khiến người Hy Lạp cổ xưa tạc tượng bà tay cầm gươm, tay cầm cân,mắt bịt một dải băng để chứng tỏ sự vô tư, không thiên vị

Nữ thần Themis có với thần Zeus một người con gái tên là Dike, đó là nữthần của Lẽ phải, Chân lý và Sự thật Nàng chuyên theo dõi việc tuân thủ quyđịnh của Zeus dưới trần gian và báo lại cho cha mình biết những trường hợp viphạm để Chúa trần giáng sấm sét trừng trị Nhưng cuộc sống nơi trần thế mỗilúc một thêm hỗn loạn, những hạt giống xấu từ chiếc hộp Pandora đâm chồi, nảylộc và lớn nhanh đến nỗi Dike cai quản không xuể đành đổi tên thành Astreae(có nghĩa là tinh cầu) rồi bay về trời Nữ thần Dike, nữ thần của Lẽ phải, Chân lý

và Sự thật đã bay về trời xa tắp, mà không ở lại với con người nơi trần gian.(1)

Mặc dù câu chuyện này đứng trên quan điểm duy tâm nhưng câu chuyệnthần thoại này vẫn còn mang giá trị rất riêng của nó, có lẽ mỗi người đều có suynghĩ và cảm nhận riêng về lẽ công bằng của pháp luật

Khi chúng ta biết nữ thần của Sự thật, Chân lý và Lẽ phải đã bay về trời,dân chúng trần gian lúc này biết dựa vào ai để đảm bảo quyền của mình cótrong xã hội? Khi con người sống trong cùng một xã hội có pháp luật và nhân

Trang 3

dân lúc này cũng chỉ biết dựa vào pháp luật mà thôi Khi chúng ta đã thừa nhậnPháp luật là một định hướng và có các cơ quan báo vệ xã hội khi thực thi phápluật như Tòa án, kiểm sát, công an Không những thế, đại diện cho quyền lựcNhà nước là bên buộc tội là cơ quan công tố các cấp, bên xét xử là Tòa án cáccấp, cơ quan điều tra các cấp, với những con người bằng xương bằng thịt nhưchúng ta và khi những cá nhân con người thực thể trong các cơ quan đó làmviệc thực thi pháp luật, nên đôi khi ta sai, ta vi phạm họ có quyền được xét xửchúng ta Nhưng chúng ta sai như thế nào? Ta sai đến đâu? Đôi khi họ lại khônghiểu cho chúng ta, những người dân bình thường không có quyền lực gì để bảo

vệ Vậy bên cạnh đội ngũ xét xử ấy phải có một người đứng cạnh bênh vựcchúng ta chứ? Người đó phải nói cho Tòa án hiểu ta sai như thế nào, bên ViệnKiểm sát (hoặc Viện Công tố) truy tố ta sai như thế nào? Vì sao ta sai? Sai đãđến mức phải áp dụng chế tài nghiêm khắc hay chưa? Và có thể lắm chứ, do họcũng chỉ là những người đôi khi nhận thức như chúng ta nên có thể họ sẽ nhầmlẫn và làm chưa đúng Vậy là trong đội ngũ những người áp dụng pháp luật bảo

vệ cho xã hội phát triển có đội ngũ Luật sư xuất hiện Đội ngũ này xuất hiện bởiquyền lực Nhà nước thừa nhận việc cho một cơ quan đại diện cho quyền lựcNhà nước đó là Tòa án xét xử chưa hẳn đã chính xác đúng người, đúng tội, vànếu chỉ có một bên là xét xử và một bị xét xử thì không thể đảm bảo sự côngbằng, vậy đội ngũ Luật sư ra đời là một tất yếu khách quan

Cùng với quan tòa, công tố và điều tra, có các Luật sư chính là góp phầnđảm bảo cho lẽ công bằng được thực thi một cách hiệu quả Thần thoại Hy Lạpchỉ ra Công Lý tuyệt đối đã bay về nơi chân trời xa tít tắp, Lẽ Công Bằng lúc nàychỉ là ước mơ của người trần gian mà thôi Nhưng với sự ra đời của Nhà nước

và pháp luật, cùng với sự thừa nhận của Nhà nước về vai trò của Luật sư thìhình ảnh người Luật sư lúc này cũng như vị thần kia vậy, mà vị thần này sẽ mãimãi không bay về trời, họ sẽ ở lại với những người dân nghèo khổ nhất, bình

Trang 4

thường nhất, bất hạnh nhất và kém may mắn nhất để trao cho họ những niềm hyvọng.

Ở Việt Nam chúng ta trong giai đoạn đầu của thế kỷ 21, mỗi năm, Quốchội thông qua trung bình 30 Luật và sửa nhiều luật khác Còn Chính phủ banhành khoảng 200 Nghị định, các Bộ lại ban hành hàng nghìn Thông tư, và 64tỉnh thành sẽ có nhiều Quyết định Vì vậy nếu các bạn quan niệm học Luật chỉ

để thuộc Luật thì có lẽ chỉ cần một cái máy ghi âm sẽ làm việc tốt hơn bộ nãocủa chúng ta và chính quan niệm này đã làm khổ cho cả những người dạy luật

và người học Luật khi thầy và trò cùng nhau ra sức chuyến đổi một bộ nãongười thành một cái máy photo hoặc máy ghi âm Điều này trái với lẽ tự nhiên,trái quy luật về hoạt động nhận thức

Chúng tôi cùng quan điểm với Phó Giáo sư Phạm Duy Nghĩa rằng họcLuật là học cảm nhận về công lý và kiến tạo công lý theo nghĩa học Luật để bảo

vệ các quyền, bảo vệ sự công bằng, bình đẳng, giúp các bên xác định luật chơi

và tương tác làm sao để đảm bảo xã hội tiến triển một cách hòa bình Từ câuchuyện thần thoại Hy Lạp, ta liên tưởng đến học Luật chính là để giữ nàng tiênDike, nữ thần của Lẽ phải, Chân lý và Sự thật, ở lại với trần gian, để hạt giống

Hy vọng nảy mầm phát triển đơm hoa kết trái trao mật ngọt cho đời, nhờ đó conngười có được niềm tin để kéo dài cuộc sống giữa bao điều trái ngược

Việc học Luật tất liên quan đến việc dạy học Các giảng viên muốn dạycho sinh viên sáng tạo, có trách nhiệm với xã hội và kiến tạo được công lý thìngoài truyền đạt kiến thức còn phải truyền đạt cảm xúc, đó cũng là vấn đề rấtquan trọng Tuy nhiên, kiến thức là phần không thể thiếu và kiến thức pháp luật,không chỉ thuộc Luật mà cơ bản là nguyên lý của pháp lý, triết lý của pháp luật;nghĩa là đạo lý, mục đích của chính sách cũng như cách thức mà các Luật tácđộng vào hành vi của con người và những người đó sẽ có trách nhiệm với xãhội, có thái độ và dám xả thân vì công bằng xã hội

Trang 5

Luật pháp, theo Montesquieu là “Phải có cái gì đó trong sáng Làm ra Luật

để trừng phạt cái ác Luật phải có tâm hồn vô tư, cao cả” và tất cả chúng ta đềumuốn xây dựng một xã hội bình đẳng, bác ái, tất cả vì hạnh phúc con người.Nhà nước pháp quyền trong một xã hội công dân trong công cuộc đổi mới trênđất nước ta đang có những bước phát triển ngoạn mục thì việc hiểu biết phápluật để sống, làm việc theo pháp luật là nhu cầu thiết yếu, phù hợp với tiến bộ xãhội Có rất nhiều người cho rằng trong xã hội hiện đại, không ai thoát ra khỏinhững quy định của pháp luật, bởi vì con người luôn phải tuân theo những quyluật tự nhiên và pháp luật tồn tại là theo luật tự nhiên Có thể người ta đôi khicảm thấy bị gò bó bởi những quy định của luật pháp nhưng chắc ai cũng hìnhdung được tình trạng hỗn loạn nếu trong xã hội không tồn tại một hệ thống phápluật hữu hiệu Do đó, hiểu biết những quy định của pháp luật là hết sức cần thiết

và hữu ích Biết được pháp luật, người ta sẽ tránh được những hành vi vi phạmpháp luật, không bị những chế tài của pháp luật, người ta sẽ hiểu được những gìmình làm, có thể thực hiện nhằm bảo vệ hữu hiệu quyền lợi của mình Hơn nữa,học pháp luật chính là cảm nhận công lý và kiến tạo công lý Do vậy, học Luậtchính là rèn luyện đạo đức và lòng dũng cảm khi người học phải biết xác định sựthật trong thực tế và luôn trung thành với sự thật Mặt khác, khi áp dụng phápluật phải diễn giải cho “tâm phục khẩu phục” nên kỹ năng giao tiếp cũng như kỹnăng thuyết phục, diễn giải vấn đề một cách khúc chiết luôn là những kỹ năngquan trọng Học Luật là rèn luyện tư duy phân tích, tổng hợp, phán đoán, tư duylogic vì cần phân tích các hành vi xảy ra trong vụ kiện, sau đó sâu chuỗi tất cảnhững hành vi này thành một hệ thống, thấy đâu là nguyên nhân, là điều cốt lõicủa vụ kiện hay là một cánh cửa mở để đi theo nó mà thu thập thông tin tiếp Tất

cả những sự tư duy này luôn phải đảm bảo nguyên tắc logic chứ không thể đemcách suy nghĩ cảm tính vào được Và cuối cùng, học Luật là học về tâm lý conngười nói chung và tâm lý tội phạm nói riêng sẽ giúp cho chúng ta dễ dàng tìm

ra nguyên nhân của những hành vi phạm tội Như vậy, học Luật là một nhu cầucần thiết và không nên học theo kiểu thuộc lòng từng điều luật

Trang 6

Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cũng là nhiệm vụ của mọi Nhà nướcnhằm nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân Vì thế, việc học tập, tìm hiểucũng như tăng cường công tác phổ biến pháp luật là một yêu cầu cấp thiết có ýnghĩa thiết thực đối với mọi công dân trong giai đoạn hiện nay - giai đoạn xâydựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam.

Với yêu cầu nội tại của quá trình phát triển kinh tế xã hội và quan hệ quốc

tế với các quốc gia khác khi chúng ta đang sống trong “thế giới phẳng” thì việcnâng cao trình độ nhận thức về pháp luật lại càng cần thiết Do đó, chúng tôitrình bày những kiến thức pháp lý qua cuốn “Giáo trình pháp luật đại cương”nhằm cung cấp cho sinh viên và những người muốn tìm hiếu thêm về pháp luậtnhững kiến thức pháp lý cơ bản về Nhà nước và pháp luật nói chung và nhữngnội dung pháp lý cần thiết khác thuộc các lĩnh vực dân sự, hình sự, kinh tế, hànhchính, hôn nhân gia đình trong sự phân chia các ngành Luật ở Việt Nam chúngta

Các trường đại học đã bắt đầu áp dụng chế độ học tập theo tín chỉ nêncác tác giả cố gắng cập nhật những kiến thức mới để cuốn sách này hy vọng sẽhữu ích cho các bạn sinh viên tìm hiểu thêm về Bộ môn Pháp luật đại cương.Rất mong bạn đọc góp nhiều ý kiến quý báu để chúng tôi bổ sung nhằm ngàycàng đáp ứng tốt hơn yêu cầu học tập về pháp luật của sinh viên trong cáctrường cao đẳng và đại học khi chúng ta đã hội nhập với thế giới

Nhóm tóc giả

Phần 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

Bài 1 NGUỒN GỐC CỦA NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

I NGUỒN GỐC CỦA NHÀ NƯỚC

Trang 7

Về sự xuất hiện của Nhà nước, từ trước tới nay có nhiều quan niệm khácnhau vì Nhà nước là một hiện tượng xã hội đa dạng và phức tạp, liên quan đếnlợi ích của mọi tầng lớp, các dân tộc và trật tự ổn định xã hội Cho nên, để nhậnthức về Nhà nước, phải lý giải hàng loạt vấn đề và trước hết là nguồn gốc củaNhà nước Trong quá khứ và cho đến hiện nay, trên thế giới vẫn tồn tại nhiềuquan niệm qua các học thuyết khác nhau về nguồn gốc Nhà nước.

1 Quan điểm của Thuyết Thần học

Thuyết thần học là thuyết cổ điển nhất về sự xuất hiện Nhà nước Từ thờiTrung cổ, đại diện cho thuyết này là nhà triết học F Arvin, thế kỷ 16 có ThomasMunzer và đến thế kỷ 19, các nhà lý luận theo thuyết này như Masiten, KoctFlore, Luthez v.v Thuyết này cho rằng Thượng đế là người sáng lập và sắp đặtmọi trật tự trên trái đất, trong đó có Nhà nước Nhà nước do Thượng đế sángtạo, thể hiện ý chí của Thượng đế thông qua người đại diện của mình là nhàvua Vua là “Thiên tử” thay Thượng đế “hành đạo” trên trái đất Do đó, việc tuântheo quyền lực của nhà vua là tuân theo ý trời, và Nhà nước tồn tại vĩnh cửu.Thuyết Thần học vẫn tồn tại trong thế kỷ 21 và Thượng đế thông qua các biểuđạt của từng tôn giáo (Alah của Hồi giáo, Đấng Chúa Cha của Thiên chúagiáo ) là đấng tối cao có quyền lực toàn năng sắp đặt những quy luật của tựnhiên như đặt ra các định luật vật lý thiên văn làm cho trái đất xoay quanh mặttrời, các thiên thể không va chạm vào nhau ; các nhà tư tưởng theo thuyết nàycòn cho rằng vụ nổ Big Bang sinh ra vũ trụ cũng là do đấng tối cao sắp đặt; sựxuất hiện Nhà nước trong xã hội cũng không nằm ngoài sự sắp đặt ấy

2 Quan điểm của Thuyết gia trưởng

Đại diện cho thuyết gia trưởng là những nhà triết học và những nhà tưtưởng từ thời cổ đại cho đến thời hiện đại như thời cổ có triết gia Aristote, thờicận đại có Philmer và cho đến thế kỷ 20 có các học giả như Mikhailov (ngườiNga) và Merdooc (nhà dân tộc học người Mỹ), Jean Bodin Những nhà tưtưởng theo thuyết gia trưởng thì cho rằng Nhà nước là kết quả sự phát triển của

Trang 8

gia đình, là hình thức tổ chức tự nhiên của cuộc sống con người Gia đình pháttriển dần thành các bộ tộc và trong bộ tộc có các tộc trưởng Xã hội phát triển vàcác bộ tộc dần thôn tính và dung nạp lẫn nhau thì những tộc trưởng, tù trưởngcũng dần nâng cấp thành Nhà nước với những quyền lực nhất định Vì vậy,cũng như gia đình, Nhà nước tồn tại trong mọi xã hội và quyền lực Nhà nước, vềbản chất giống như quyền gia trưởng của người chủ trong gia đình bởi vì quyềnlực Nhà nước là sự kế tiếp quyền lực gia trưởng và được nâng lên ở mức caohơn trong xã hội đa dạng hơn.

3 Quan điểm thuyết bạo lực ra đời Nhà nước

Thế kỷ 18, một số nhà tư tưởng đưa ra học thuyết khác về nguồn gốc Nhànước Xuất phát từ sự cạnh tranh sinh tồn thời cổ nên các bộ tộc, thị tộc chiếmđánh lẫn nhau nhằm giành những mảnh đất màu mỡ, những nguồn nước vànhững tài sản do chăn nuôi và trồng trọt mà có Bộ tộc, thị tộc nào chiến thắng

sẽ lập ra bộ máy đặc biệt (Nhà nước) để quản lý nô dịch những kẻ chiến bại.Những người đại diện học thuyết này đa phần là người Đức như E Duyrinh,Kausky và Gumplovic v.v

4 Quan điểm của các nhà tâm lý học

Một số nhà tâm lý học như L.Petraziski, Freud lại cho rằng vì nhu cầutâm lý của bầy đàn nguyên thủy luôn luôn muốn phụ thuộc nên tuân thủ theomệnh lệnh của các thủ lĩnh Họ cho rằng các loài vật sống theo bầy đàn như bò,khỉ luôn có các con đầu đàn là thủ lĩnh và và các con vật khác trong bầy có bảnnăng phụ thuộc vào con đầu đàn Bản năng này xuất phát từ chọn lọc tự nhiên

để sinh tồn và khi phát triển trong xã hội bầy người nguyên thủy thành nhu cầutâm lý đế chống lại những nguy hiểm trong cuộc sống du canh du cư Họ cho thí

dụ rằng, khi một đoàn người trên tàu lạc vào hoang đảo đầy thú dữ nguy hiểm,điều kiện sinh tồn khắc nghiệt, tất yếu sẽ có những thủ lĩnh được tập thể chấpnhận vai trò lãnh đạo, quản lý đám đông ấy để tồn tại Do vậy Nhà nước là tổchức của những người có sứ mạng lãnh đạo xã hội

Trang 9

5 Quan điểm của thuyết huyết thống

Nhà xã hội học Mox (1872 - 1950) và nhà dân tộc học Lési Sonox (1908)đều là người Pháp lại cho rằng Nhà nước ra đời do nhu cầu tái sản xuất ra conngười Trong tác phẩm “Nhà nước và sự giải thích hôm qua và hôm nay”, Moxcho rằng, trong cuộc sống xã hội cổ điển, loài người sống theo bầy đàn và sựgiao phối cận huyết chỉ trong bầy đàn với nhau dẫn đến sự suy tàn nòi giống;nên áp lực sinh tồn buộc họ nhận ra cần sự thay đổi Mong muốn thay đổi nàythể hiện qua các tục lệ cúng phồn thực ở nhiều dân tộc hiện nay Muốn pháttriển, con người phải tồn tại nên họ lập ra thiết chế cấm loạn luân Đã có điềucấm thì khi thi hành phải có bộ phận cưỡng chế nên hình thành một tổ chức cóchức năng này Sự giao phối khác bộ tộc được thực hiện qua các cuộc hẹn hòtập thể còn tàn dư ở một số dân tộc như các phiên “chợ tình”, (chợ tình Sa Pa ởViệt Nam cũng là một minh chứng), vợ chồng cho tách nhau đi tìm người khácnhưng chứa đựng những kỷ luật, quy định chặt chẽ Tổ chức sơ khai ấy là tiềnthân của Nhà nước hiện đại có những nét tương đồng về chức năng duy trì sựtồn tại của xã hội, bảo đảm trật tự bằng sự cưỡng chế

6 Quan điểm mácxit về sự ra đời của Nhà nước

Từ quan điểm thuyết tiến hóa của Darwin, loài người bắt nguồn từ loàivượn cổ sống theo bầy đàn bộ lạc Đàn ông săn bắn, đàn bà hái lượm theo sựphân công của tự nhiên Trên cơ sở thuyết tiến hóa, Marx và Engels đã pháttriển theo quan điểm của hai ông về nguồn gốc Nhà nước Theo đó, tương ứngvới hình thức tổ chức bầy người nguyên thủy, hai ông cho rằng cơ sở kinh tế -

xã hội của chế độ Cộng sản nguyên thủy là chế độ sở hữu công cộng về tư liệusản xuất ở mức độ rất sơ khai Trước tiên là sự xuất hiện những nhóm nhỏ gồmnhững người du mục cùng nhau kiếm ăn và tự bảo vệ, do một thủ lĩnh cầm đầu,dần dần xã hội loài người tiến lên một hình thức tương đối bền vững hơn, đó làthị tộc

a) Thị tộc:

Trang 10

Thị tộc là hình thức tổ chức xã hội đầu tiên, là nét đặc thù của chế độ cộngsản nguyên thủy đã phát triển là sản xuất tập thể và phân phối tập thể và thiếtlập chế độ sở hữu công cộng của công xã về ruộng đất, gia súc, nhà cửa Thịtộc là tế bào cơ sở của xã hội cộng sản nguyên thủy Nó được hình thành trên

cơ sở huyết thống và lao động tập thể cùng với những tài sản chung Chínhquan hệ huyết thống là khả năng duy nhất để tập hợp các thành viên vào mộttập thể sản xuất có sự đoàn kết chặt chẽ và kỷ luật tự giác cao Đứng đầu thị tộc

là tù trưởng Đặc điểm của hình thức tổ chức xã hội thị tộc là:

+ Không có quyền lực tách riêng ra khỏi xã hội mà việc quản lý phục vụ lợiích cả cộng đồng

+ Không có bộ máy cưỡng chế đặc biệt được tổ chức một cách có hệthống

Thị tộc tổ chức theo huyết thống ở giai đoạn đầu do những điều kiện vềkinh tế và hôn nhân, đặc biệt do phụ thuộc vào địa vị chủ đạo của người phụ nữtrong thị tộc nên nó được tổ chức theo chế độ mẫu hệ Quá trình phát triển củakinh tế xã hội, của chiến tranh đã làm thay đổi quan hệ trong hôn nhân, địa vịcủa người phụ nữ trong thị tộc cũng thay đổi Người đàn, ông đã dần dần giữ vaitrò chủ đạo trong đời sống thị tộc và chế độ mẫu hệ đã chuyển dần sang chế độphụ hệ

Trong quá trình mở rộng quan hệ đối ngoại như liên kết chống xâm lược,trao đổi sản phẩm, các quan hệ hôn nhân ngoại tộc (chế độ ngoại tộc hôn) xuấthiện v.v nó đòi hỏi các thị tộc phải mở rộng quan hệ với các thị tộc khác, dẫnđến sự xuất hiện các bào tộc và bộ lạc

b) Bào tộc:

Gồm nhiều thị tộc hợp lại Việc tổ chức, quản lý bào tộc dựa trên cơ sởnhững nguyên tắc tổ chức quyền lực như trong thị tộc, nhưng thể hiện mức độtập trung quyền lực cao hơn

Trang 11

c) Bộ lạc:

Bộ lạc bao gồm nhiều bào tộc liên minh lại Tổ chức quyền lực trong bộ lạccũng tương tự như thị tộc và bào tộc nhưng mức độ tập trung quyền lực caohơn

Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất và năng suất lao động xã hội

đã làm biến đổi tổ chức thị tộc Nghề chăn nuôi và trồng trọt không bắt buộc phảilao động tập thể, những công cụ lao động đã được cải tiến dần dần và nhữngkinh nghiệm sản xuất được tích lũy tạo ra khả năng cho mỗi gia đình có thể tựchăn nuôi, trồng trọt một cách độc lập Do đó nhà cửa, gia súc, sản phẩm từ câytrồng, công cụ lao động đã trở thành vật thuộc quyên tư hữu của những ngườiđứng đầu gia đình

Trong thị tộc xuất hiện gia đình theo chế độ gia trưởng, chính nó đã làmrạn nứt chế độ thị tộc Dần dần gia đình riêng lẻ đã trở thành lực lượng đối lậpvới thị tộc Mặt khác, do năng suất lao động nâng cao đã thúc đẩy sự phân cônglao động xã hội, dần dần thay thế sự phân công lao động tự nhiên Trong lịch sử

đã trải qua ba lần phân công lao động xã hội lớn Sau mỗi lần, xã hội lại cónhững bước tiến mới, sâu sắc hơn, thúc đẩy nhanh quá trình tan rã của chế độcộng sản nguyên thủy

Sự phân công lao động lần thứ nhất dẫn đến kết quả là ngành chăn nuôitách khỏi trồng trọt Do quá trình con người biết thuần dưỡng được động vật đã

mở ra kỷ nguyên mới trong sự phát triển sản xuất của loài người, tạo điều kiệncho lao động sản xuất chủ động và tự giác hơn, biết tích lũy tài sản dự trữ đểđảm bảo nhu cầu cho những ngày không thể ra ngoài kiếm ăn được Đây làmầm mống sinh ra chế độ tư hữu Bởi ngành chăn nuôi phát triển mạnh dẫn đến

sự xuất hiện ngày càng nhiều gia đình chuyên làm nghề chăn nuôi và dần dầnchăn nuôi trở thành một ngành kinh tế độc lập, tách ra khỏi trồng trọt

Trang 12

Con người đã tạo ra nhiều của cải hơn mức nhu cầu duy trì cuộc sống củachính bản thân họ, vì vậy đã xuất hiện những sản phẩm lao động dư thừa vàphát sinh khả năng chiếm đoạt những sản phẩm dư thừa đó Tất cả các gia đìnhđều chăm lo cho kinh tế của riêng mình, nhu cầu về sức lao động ngày càngtăng, do đó tù binh chiến tranh dần dần không bị giết chết mà được giữ làm nô lệ

để bóc lột sức lao động Các tù trưởng và thủ lĩnh quân sự lợi dụng địa vị xã hộicủa mình chiếm đoạt nhiều gia súc, đất đai, chiến lợi phẩm và tù binh sau cáccuộc chiến tranh thắng lợi Quyền lực được thị tộc trao cho họ trước đây họ đem

sử dụng vào việc bảo vệ lợi ích riêng của mình Họ bắt nô lệ và những ngườinghèo khổ phải phục tùng họ Quyền lực ấy được duy trì theo kiểu cha truyềncon nối Các tổ chức hội đồng thị tộc, bào tộc, bộ lạc dần dần tách ra khỏi dân

cư, biến thành các cơ quan thống trị, bạo lực, phục vụ cho lợi ích của nhữngngười giàu có Một nhóm người thân cận được hình thành bên cạnh người cầmđầu thị tộc, bào tộc, bộ lạc Lúc đầu họ chỉ là những vệ binh, sau đó được hưởngnhững đặc quyền, đặc lợi Đây là mầm mống của đội quân thường trực sau này

Sau lần phân công lao động xã hội đầu tiên, chế độ tư hữu đã xuất hiện,

xã hội đã phân chia thành người giàu, người nghèo Chế độ tư hữu xuất hiệncũng làm thay đổi quan hệ hôn nhân, từ quần hôn biến thành chế độ một vợ mộtchồng

Cùng với sự phát triển của chăn nuôi và trồng trọt thì thủ công nghiệpcũng phát triển để đảm bảo cung ứng các nhu cầu về công cụ lao động và đồdùng sinh hoạt trong các gia đình, đặc biệt là sau khi loài người tìm ra kim loạinhư đồng, sắt v.v đã tạo ra khả năng có thể trồng trọt trên những diện tích rộnglớn hơn, khai hoang được những miền rừng rú

Nghề gốm, nghề dệt v.v cũng ra đời Từ đó, xuất hiện những ngườichuyên làm nghề thủ công nghiệp tách ra khỏi hoạt động sản xuất trong nôngnghiệp Như vậy, kết quả của lần phân công lao động xã hội thứ hai là thủ côngnghiệp đã tách khỏi nông nghiệp

Trang 13

Do có sự phân công lao động xã hội nên giữa các khu vực sản xuất, giữacác vùng dân cư xuất hiện nhu cầu trao đổi sản phẩm Do đó thương nghiệpphát triển dẫn đến sự phân công lao động lần thứ ba những người buôn bán traođổi chuyên nghiệp đã tách ra khỏi hoạt động sản xuất.

Đây là lần phân công lao động có ý nghĩa quan trọng, chính nó làm nảysinh ra một giai cấp không tham gia vào quá trình sản xuất nữa, mà chỉ làm côngviệc trao đổi sản phẩm, nhưng lại là người nắm giữ quyền điều hành sản phẩm,bắt người sản xuất phụ thuộc vào mình về mặt kinh tế, họ bóc lột cả người sảnxuất lẫn người tiêu dùng

Chính sự phát triển của thương mại buôn bán đã làm xuất hiện đồng tiềnvới chức năng là vật ngang giá chung Đồng tiền trở thành “hàng hóa của mọihàng hóa”, kéo theo nó sự xuất hiện nạn cho vay nặng lãi, hoạt động cầm cố tàisản Các yếu tố này đã thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung của cải vàotay một số ít người giàu, đồng thời cũng thúc đẩy sự bần cùng hóa và làm tăngnhanh số lượng dân nghèo, đã làm cho cuộc sống thuần nhất ở thị tộc bị đảolộn

Những hoạt động buôn bán, trao đổi, chế độ nhường quyền sở hữu đấtđai, sự thay đổi chỗ ở và nghề nghiệp đã phá vỡ cuộc sống định cư của thị tộc.Trong thị tộc không còn khả năng phân chia dân cư theo huyết thống Nó đòi hỏiphải có một tổ chức quản lý dân cư theo lãnh thổ hành chính Việc sử dụngnhững tập quán và tín điều tôn giáo không thể bảo đảm cho mọi người tự giácchấp hành Để bảo vệ quyền lợi chung, đặc biệt là quyền sở hữu tài sản của lớpngười giàu có đã thúc đẩy họ liên kết với nhau để thành lập nên một hình thức

cơ quan quản lý mới, và phải là một tổ chức có đông đảo những người được vũtrang để bảo đảm sức mạnh cưỡng chế, để dập tắt mọi sự phản kháng, tổ chức

đó phải khác hẳn với tổ chức thị tộc đã bất lực và đang tàn lụn dần – tổ chức đóchính là Nhà nước

Trang 14

Như vậy, F Engels cho rằng “Nhà nước đã xuất hiện một cách kháchquan, nó là sản phẩm của xã hội pliát triển đến một giai đoạn nhất định Nhànước không phải là một quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội, mà là một lựclượng nảy sinh từ trong lòng xã hội, nhưng lại tựa hồ như đứng trên xã hội, cónhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột đó nằm trong vòng trậttự.”

So với tổ chức thị tộc trước kia thì Nhà nước có hai đặc trưng cơ bản là:Phân chia dân cư theo lãnh thổ, và thiết lập quyền lực công cộng Quyền lựccông cộng đặc biệt này không còn hòa nhập với dân cư nữa, quyền lực đókhông thuộc về tất cả mọi thành viên của xã hội nữa, mà chỉ thuộc về giai cấpthống trị và phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị

Tóm lại, quan điểm của Marx - Lênin về sự ra đời của Nhà nước, xen lẫnvào thuyết tiến hóa của Darwin, là quan điểm cho rằng do trong xã hội có sự xáclập chế độ tư hữu dẫn đến sự phân hóa giai cấp trong xã hội, xung đột về quyền

và lợi ích giai cấp dẫn đến sự đấu tranh giai cấp Mâu thuẫn giai cấp không thểđiều hòa được nên cần một thiết chế Giai cấp chiếm ưu thế, chiếm nhiều củacải trong xã hội phải tạo lập ra thiết chế để bảo vệ quyền lợi cho giai cấp mình,giữ cho các xung đột này ở trong vòng trật tự Bộ máy này phải thể hiện lợi íchgiai cấp nên đấu tranh bảo vệ lợi ích giai cấp và luôn có ưu thế tạo lợi ích chogiai cấp thống trị nên bộ máy Nhà nước được gọi là công cụ giai cấp, đồng thờivẫn giữ cho các giai cấp khác tồn tại nên phải quan tâm đến sự tồn tại của cácgiai cấp này thông qua việc thực hiện các chức năng xã hội Tuy nhiên, đứngtrên quan điểm giai cấp, chính Marx cũng thừa nhận rằng quá trình phát triểncủa xã hội loài người là quá trình đấu tranh giai cấp nhưng một số xã hội lại pháttriển không xuất phát từ đấu tranh giai cấp gọi là phương thức sản xuất Châu Á

mà ở các quốc gia phương đông có sự liên kết với nhau do các thể chế về xãhội

7 Quan điểm về nguồn gốc Nhà nước theo Thuyết Thủy lợi

Trang 15

Vào những năm 1956 - 1960, ở Trung Quốc và Việt Nam có một số nhà tríthức đưa ra một luận điểm khác về sự hình thành Nhà nước Theo họ, Nhànước ở các quốc gia châu Á hình thành do sự liên minh, liên kết các tổ chứclàng bản thành một bộ máy dưới áp lực sinh tồn của thiên nhiên mưa bão và lũlụt Đại diện cho trường phái này là các học giả như Đào Duy Anh, Trần VănGiàu, Trần Quốc Vượng, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn

Ở Châu Á, xuất phát từ nhu cầu tồn tại qua việc buộc phải chinh phụcthiên nhiên, đắp đê chống lũ lụt nên cần đến số lượng người đông đảo thực hiệncông việc dưới sự chỉ huy tập trung của một tổ chức nào đó Các làng xã liên kếtlại lập ra một tổ chức Tổ chức này điều phối công việc thủy lợi và cưỡng chếnhững hành vi vi phạm và phát triển thành bộ máy Nhà nước, điển hình là Nhànước Văn Lang và các Nhà nước bên Trung Hoa cổ đại

8 Quan điểm của Thuyết Khế ước xã hội

Trong thời kỳ Phục hưng xuất hiện các quan niệm mới về sự xuất hiện củaNhà nước Đại diện cho quan điểm này có khá nhiều các học giả, đầu tiên làThomas Hobbes (1588 - 1679) - một lý thuyết gia người Anh, sau đó là các triếtgia như John Loke (1632 - 1704), Charles Louis Montesquieu (1689 - 1775),Jean Jacques Roussau (1712 - 1778), Denis Diderot (1713 - 1784), và khánhiều các giáo sư, học giả giảng dạy trong các trường Đại học Haward, Oxfordhiện nay như Grosi, Spizora, Gov, Lore Những người theo quan niệm này chorằng sự xuất hiện của Nhà nước là kết quả của một khế ước (hợp đồng) được

ký kết giữa những con người sống trong trạng thái tự nhiên, không có Nhà nước.Con người sinh ra có các quyền tự nhiên theo luật của tự nhiên.(2) Do việc kýkết hợp đồng thành lập Nhà nước nên các cá nhân chuyển một số quyền tựnhiên của mình cho Nhà nước, do đó, Nhà nước có nghĩa vụ bảo vệ sở hữu, antoàn tính mạng, sức khỏe, tài sản cho công dân và được nhân dân trả công bằngviệc đóng thuế nuôi sống bộ máy Nhà nước Trường hợp Nhà nước không làmtốt nhiệm vụ phục vụ nhân dân, để các quyền tự nhiên như quyền sống, quyền

Trang 16

tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của nhân dân bị vi phạm thì Nhà nước đã viphạm hợp đồng ký kết với nhân dân và nhân dân có quyền thay thế Nhà nướckhác và ký kết khế ước mới Thuyết khế ước xã hội ra đời từ thế kỷ 15, là cơ sở

lý luận cho các cuộc cách mạng lật đổ chế độ phong kiến, phủ nhận thuyết thầnhọc về nguồn gốc Nhà nước và coi quyền lực Nhà nước là sản phẩm của hoạtđộng con người Chính từ luận điểm của thuyết khế ước xã hội, các khái niệm

“Nhà nước của dân, do dân và vì dân” đã được một tổng thống Mỹ là AbrahamLincol đưa ra rằng Nhà nước phản ánh lợi ích của các thành viên trong xã hội,chủ quyền Nhà nước thuộc về nhân dân và các thành viên có quyền yêu cầuNhà nước phục vụ họ bởi họ đã đóng thuế cho Nhà nước, trả tiền cho Nhà nướcthực hiện chức năng phục vụ nhân dân Khái niệm về Nhà nước pháp quyềncũng ra đời từ Luận thuyết khế ước xã hội và là cơ sở lý luận cho Hiến chươngLiên Hiệp Quốc và các công ước quốc tế về quyền con người Như vậy, quanđiểm của những nguời theo thuyết này cho rằng Nhà nước là một tổ chức donhân dân lập nên bằng nhiều hình thức và tồn tại với nhiều mô hình khác nhautrong từng giai đoạn lịch sử qua bản hợp đồng xã hội, theo sự phát triển vănminh của nhân loại thì bản hợp đồng ấy càng ngày càng hoàn thiện và Nhànước càng dân chủ để phục vụ nhân dân

II NGUỒN GỐC CỦA PHÁP LUẬT

Có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc pháp luật:

1 Theo quan điểm duy tâm tôn giáo

Pháp luật là sản phẩm có ý chí của Đấng tối cao Trong các quốc gia Hồigiáo, Thượng đế quyền năng đã thần khải cho Mohamed thánh kinh Koral, quanđiểm của kinh Koral cao hơn Hiến pháp, là nguồn gốc pháp luật Có thể nói,pháp luật của các quốc gia Hồi giáo là pháp điển hóa kinh Koral, căn cứ vàonhững điều trong kinh này để Nhà nước ban hành pháp luật Ở các quốc giatheo Phật giáo quan niệm về Nhà nước do trời định nên Vua là thiên tử và pháp

Trang 17

luật có nguồn gốc từ ý Trời và được ghi nhận ở các sắc lệnh: “Phụng Thiên thừavận, Hoàng đế chiếu viết ” nghĩ rằng phải tuân theo mệnh Trời.

2 Quan điểm Marx - Lênin về nguồn gốc pháp luật

Engels cho rằng “Pháp luật là ý chí giai cấp đề lên thành luật” Để xã hộitrật tự cần có sự điều chỉnh nhất định đối với các quan hệ của con người Việcđiều chỉnh các quan hệ xã hội trong bất kỳ xã hội nào cũng được thực hiện bằngmột hệ thống các quy phạm xã hội Các quy phạm xã hội là những quy tắc vềhành vi của con người Khi chưa có Nhà nước, các quy tắc xã hội gồm: các quytắc, tập quán, đạo đức, các tín điều tôn giáo Bắt nguồn từ tư hữu về tư liệu sảnxuất và hình thành nên giai cấp; giai cấp chiếm nhiều của cải trong xã hội muốnbảo vệ quyền và lợi ích của giai cấp mình nên đã lập ra Nhà nước Sự hìnhthành giai cấp và đấu tranh giai cấp tới mức không thể điều hòa được dẫn tới sự

ra đời của Nhà nước, cùng lúc với sự ra đời của Nhà nước đã xuất hiện một loạiquy tắc của Nhà nước, đó là quy tắc pháp luật Pháp luật được hình thành bằnghai con đường:

Thứ nhất, giai cấp thống trị thông qua bộ máy Nhà nước cải tạo, sửa chữacác quy tắc phong tục, tập quán đạo đức sẵn có cho phù hợp với lợi ích của giaicấp thống trị và các quy tắc đó trở thành pháp luật

Thứ hai, bằng bộ máy Nhà nước của mình, giai cấp thống trị đặt ra thêmcác quy phạm mới, dùng quyền lực buộc mọi thành viên trong xã hội phải tuântheo nhằm duy trì một trật tự xã hội trong vòng trật tự của giai cấp thống trị, đồngthời bảo vệ chế độ tư hữu là nền tảng của sự tồn tại của giai cấp mình, củng cố

sự thống trị của giai cấp thống trị đối với xã hội

3 Quan điểm của các nhà luật học Âu - Mỹ hiện đại

Khởi nguyên quan điểm từ tư tưởng luật tự nhiên của Montesquieu vàRousseau, ngay trong thời kỳ loài người sống theo bầy đàn, người nguyên thủysinh sống cũng có những quy tắc nhất định và những quy tắc ấy xuất phát từ

Trang 18

những quy luật tự nhiên, hầu hết các bậc thức giả hiện đại đều thừa nhận Conngười hợp thành một quần thể, cộng đồng để chung sống Quan hệ giữa người

và người, là quan hệ xã hội được hình thành và tuân thủ theo luật tự nhiên và từ

đó hình thành những quy tắc cư xử, quy tắc chi phối các quan hệ xã hội nhằmduy trì trật tự chung cho xã hội tồn tại và phát triển, ở giai đoạn phôi thai củacộng đồng nhân loại, các quy tắc chi phối các mối quan hệ được hình thànhdưới dạng tập quán hay tục lệ; về mặt lịch sử, là giai đoạn tục lệ pháp (droitcoutumier) Những quy tắc cư xử trong xã hội có hai dạng: Loại quy tắc có tínhbắt buộc là nguồn gốc của các quy phạm pháp luật; loại quy tắc mang tính chất

tự nguyện dần dần trở thành các quy phạm đạo đức Có thể thí dụ hành độngbắt tay trong giao tiếp là quy phạm đạo đức hình thành từ “luật tự nhiên là hòabình”(1) biểu lộ sự không mang vũ khí; luật Giao thông ở các nước thuộc khốiLiên hiệp Anh và từng là thuộc địa của Anh quy định khi lưu thông trên đường,phương tiện phải lưu thông phía bên lề trái đường, xuât phát từ quy tắc màngười nguyên thủy đi trong đường rừng sát bên lề trái

Xã hội loài người càng phát triển và có ngôn ngữ, tiếng nói, sau đó là chữviết, thì những quy tắc, tục lệ được ghi nhận bằng văn bản Cho đến khi bộ máyNhà nước được hình thành, có bộ máy cưỡng chế thì những quy tắc ấy tồn tạidạng văn bản được gọi là pháp luật

Rousseau viết trong cuốn “Khế ước xã hội” cho rằng pháp luật là sự thỏathuận giữa các thành viên trong xã hội và để phục vụ xã hội Pháp luật là sảnphẩm của mọi xã hội, ở bất cứ nơi nào cần có sự điều chỉnh vì lợi ích chung KhiNhà nước hình thành, pháp luật được bổ sung thêm các quy tắc xử sự mới tùythuộc vào sự tương quan lực lượng giữa các giai tầng trong xã hội Lực lượng

có thế lực mạnh trong xã hội sẽ tìm cách thêm vào những quy phạm pháp luật

có lợi cho họ để bảo vệ quyền lợi cho giai tầng của mình Cho nên, bản hợpđồng xã hội giữa Nhà nước và nhân dân không phải bao giờ cũng hoàn hảo màthể hiện rõ sự tương quan mâu thuẫn quyền lợi giữa lực lượng cầm quyền và

Trang 19

nhân dân Quan điểm này thừa nhận tính giai cấp của pháp luật như quan điểmmácxít nhưng mâu thuẫn chỉ xuất hiện sau khi có Nhà nước và pháp luật cótrước Nhà nước Tuy nhiên, các nhà tư tưởng hiện đại cho rằng mâu thuẫn này

là mâu thuẫn biện chứng, vừa mâu thuẫn vừa nương tựa thúc đẩy lẫn nhau, bởi

vì pháp luật là bản hợp đồng xã hội, quyền của chủ thể này luôn là nghĩa vụ củachủ thể kia và ngược lại; cho nên, nếu như Nhà nước không thực hiện đúngnhiệm vụ mà nhân dân giao phó, nhân dân sẽ bãi bỏ Nhà nước ấy qua bầu cửminh bạch để thay bằng Nhà nước mới, để phục vụ nhân dân tốt hơn nên phápluật chỉ có tính xã hội Chính vì quan điểm như vậy, thể hiện ở Hiến pháp của rấtnhiều quốc gia trên thế giới đều khẳng định “Nhà nước của dân, do dân và vìdân”

Câu hỏi ôn tập:

1 Tìm hiểu nguồn gốc Nhà nước là đi vào giải thích nguồn gốc của vấn đề(hiện tượng) gì?

2 Nội dung cơ bản của Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về nguồn gốcNhà nước? Chỉ ra sự khác biệt cơ bản giữa Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin

và các học thuyết phi Mác-xít về nguồn gốc Nhà nước?

Bài 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

I VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC

1 Bản chất của Nhà nước

Quyền lực chính trị, như C Mác và Ph Ăngghen đã chỉ rõ, về thực chất là

“bạo lực có tổ chức của một giai cấp để đàn áp giai cấp khác”.(1) Trong xã hội

có giai cấp, quyền lực chính trị thuộc về một giai cấp hoặc liên minh các giai cấpthống trị Các giai cấp nắm quyền tổ chức ra một bộ máy đặc biệt để duy trì sự

Trang 20

thống trị đối với xã hội, buộc các lực lượng xã hội khác phục tùng ý chí củamình Bộ máy đó là tổ chức quyền lực chính trị đặc biệt.

Như vậy, xét về mặt bản chất theo quan điểm marxit, Nhà nước là tổ chứcquyền lực chính trị, có tính giai cấp và chỉ có duy nhất tính giai cấp Thông quaNhà nước, ý chí của giai cấp thống trị được hợp pháp hóa thành ý chí Nhànước Thông qua Nhà nước, giai cấp (hoặc liên minh giai cấp) thực hiện sựthống trị xã hội trên các mặt: kinh tế, chính trị, tư tưởng Bản chất giai cấp củaNhà nước cũng được thể hiện thông qua các quan hệ đối ngoại

Trong giai đoạn đổi mới, quan niệm tính giai cấp là bản chất của Nhànước đã phát triển thêm, đó là Nhà nước còn có tính xã hội Trong xã hội có vôvàn các quan hệ xã hội với các tính chất và các loại chủ thể với nhiều giác độkhác nhau tạo nên một xã hội đa dạng, cho nên, để quản lý và thích ứng, Nhànước phải có bản chất là tính xã hội Với tư cách là tổ chức công quyền, đại diệncho xã hội, trong khi thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, Nhà nướccòn tính đến lợi ích xã hội Nhà nước phải giải quyết những vấn đề nảy sinhtrong xã hội, bảo đảm duy trì các giá trị xã hội đã đạt được; duy trì trật tự, ổnđịnh xã hội để phát triển, bảo đảm lợi ích tối thiểu của các lực lượng đối lập

Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa Nhà nước là một tổ chức đặcbiệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế vàthực hiện các chức năng quản lý đặc biệt, nhằm duy trì trật tự xã hội và bảo vệđịa vị thống trị của giai cấp cầm quyền

2 Đặc trưng của Nhà nước

Nhà nước có một số đặc điểm cơ bản khác biệt so với các tổ chức chínhtrị, tổ chức chính trị - xã hội, cụ thể:

- Nhà nước là đại diện chính thức của toàn xã hội, toàn thể nhân dân sinhsống trên đất nước;

Trang 21

- Chỉ duy nhất Nhà nước mới có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạmpháp luật áp dụng đối với tất cả mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân, qua đó, xáclập quyền lực công cộng bao trùm toàn lãnh thổ và sử dụng các biện phápcưỡng chế để thi hành khi cần thiết; có quyền áp đặt và triển khai quyền lực theolãnh thổ đến dân cư và xác lập đơn vị hành chính, phân chia quyền lực, xóa bỏcác loại tự quản, tự trị vốn có.

- Nhà nước có một bộ máy được tổ chức chặt chẽ để thực hiện chức năngquản lý trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội;

- Nhà nước có lực lượng quân đội, cảnh sát; có nhà tù, trại giam, Tòa án làm nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ chế độ xã hội;

- Chỉ duy nhất Nhà nước mới có thẩm quyền thu thuế;

- Nhà nước có quyền duy nhất về phát hành tiền

- Nhà nước là đại diện chính thức của quốc gia trong quan hệ đối ngoạivới các quốc gia khác trên thế giới

3 Chức năng của Nhà nước

Theo quan điểm Mácxít, Nhà nước là tổ chức của giai cấp thống trị nên tổchức ấy có nhiệm vụ lãnh đạo và quản lý xã hội Do đó, bản chất, vai trò xã hộicủa Nhà nước thể hiện trực tiếp ở chức năng của Nhà nước:

Nhiệm vụ của Nhà nước là mục tiêu do lực lượng lãnh đạo xã hội, Nhànước đặt ra cho Nhà nước cần đạt tới, những vấn đề Nhà nước cần giải quyếttrong những giai đoạn lịch sử nhất định Trong đó có những nhiệm vụ chung, cơbản, nhiệm vụ chiến lược lâu dài, những nhiệm vụ trước mắt

Để thực hiện những mục tiêu đó, Nhà nước triển khai hoạt động của mìnhtrên các phương diện khác nhau, nhưng đều hướng tới là hoàn thành nhiệm vụchung Những hướng hoạt động đó được gọi là chức năng của Nhà nước

Trang 22

Như vậy, chức năng của Nhà nước là những phương diện, những mặthoạt động cơ bản của Nhà nước, nhằm thực hiện những nhiệm vụ trọng yếunhất do lực lượng cầm quyền trong xã hội đặt ra cho Nhà nước cần giải quyết.

Căn cứ vào phạm vi hoạt động của Nhà nước, có thể chia chức năng Nhànước thành chức năng đối nội, và chức năng đối ngoại

- Chức năng đối nội của Nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề về chínhtrị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước

- Chức năng đối ngoại của Nhà nước nhằm giải quyết các quan hệ củaNhà nước với các dân tộc, các quốc gia khác trên trường quốc tế

Chức năng đối nội và đối ngoại có quan hệ mật thiết với nhau Việc xácđịnh và thực hiện chức năng đối ngoại luôn luôn phải xuất phát từ tình hình thựchiện chức năng đối nội Ngược lại, kết quả của việc thực hiện chức năng đốingoại sẽ tác động mạnh mẽ tới việc tiến hành các chức năng đối nội

Theo quan điểm của các nhà luật học Âu Mỹ hiện nay kế thừa thuyết Khếước xã hội, Nhà nước là tổ chức do nhân dân lập ra để phục vụ nhân dân,không có nhiệm vụ lãnh đạo hay cải tạo nhân dân mà phải theo ý nguyện củangười dân, là chủ nhân của quốc gia; đó là thực hiện những cam kết trong hợpđồng với dân (khế ước xã hội), là bảo đảm sự phát triển của người dân một cáchtốt nhất trên lĩnh vực đối nội và đối ngoại Trong đối nội, nhiệm vụ của Nhà nước

là bảo đảm quyền con người của dân chúng, thỏa mãn quyền tự do về văn hóa

tư tưởng, bảo đảm quyền tự do kinh doanh để kinh tế tăng trưởng bền vững,bao vệ môi trường và an sinh xã hội, chống bạo loạn để xã hội phát triển Trongđối ngoại, Nhà nước có nhiệm vụ bảo vệ khỏi sự xâm lăng và giải quyết cácxung đột bằng phương pháp hòa bình, thúc đẩy quan hệ giao lưu văn hóa, khoahọc và thương mại quốc tế nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân trong nước

Lưu ý, không có sự đồng nhất giữa chức năng Nhà nước và chức năngcủa cơ quan Nhà nước Chức năng của Nhà nước là phương diện hoạt động cơ

Trang 23

bản của cả bộ máy Nhà nước, mỗi cơ quan Nhà nước phải tham gia thực hiện ởmức độ khác nhau Chức năng của cơ quan Nhà nước là phương diện hoạtđộng chủ yếu của nó để góp phần thực hiện chức năng chung của Nhà nước Vìvậy, một chức năng của Nhà nước do nhiều cơ quan Nhà nước thực hiện bằngnhững hình thức hoạt động đặc trưng khác nhau.

Để thực hiện các chức năng của Nhà nước, nhiều hình thức, phươngpháp Hoạt động khác nhau được áp dụng Hình thức, phương pháp bắt nguồn

từ Bản chất Nhà nước, thể hiện bản chất Nhà nước

- Hình thức pháp lý: Lập pháp, hành pháp, tư pháp

- Phương pháp: Thuyết phục, giáo dục, cưỡng chế

4 Bộ máy Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay (2009 - 2010)

4.1 Khái niệm bộ máy Nhà nước

Bộ máy Nhà nước là hệ thống các cơ quan Nhà nước từ Trung ương đếnđịa phương được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung thốngnhất, tạo thành một cơ chế đồng bộ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ củaNhà nước

Bộ máy Nhà nước CHXHCN Việt Nam có đặc điểm:

- Cơ cấu tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước bảo đảm tính thốngnhất của quyền lực Nhà nước Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân;nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua các cơ quan đại diện donhân dân bầu ra Các cơ quan khác của Nhà nước đều bắt nguồn từ cơ quanđại diện dân cử, chịu trách nhiệm và báo cáo trước cơ quan dân cử

- Bộ máy Nhà nước ta được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền, là tậptrung quyền lực Nhà nước, là thống nhất, nhưng trong bộ máy Nhà nước có sựphân công, phối hợp giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, và

Trang 24

tư pháp nhằm tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn, nhầm lẫn chức năng giữachúng.

4.2 Hệ thống tổ chức bộ máy chính quyền ở Việt Nam bao gồm bốn cấp

- Cấp Trung ương

- Cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương)

- Cấp huyện (huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh)

- Cấp xã (xã, phường, thị trấn)

Hiện nay, nhiều địa phương còn phân chia xã ra nhiều ấp (hoặc thôn, khuvực) Có bầu trưởng ấp, trưởng thôn để giúp Ủy ban nhân dân xã quản lý địabàn được sâu sát Tuy nhiên, không được coi đây là cấp chính quyền cơ sở thứ

5 Cấp chính quyền nhỏ nhất trong Nhà nước là cấp xã

4.3 Bộ máy Nhà nước Việt Nam phân công theo chức năng hiện nay

Hệ thống cơ quan trong bộ máy Nhà nước ta bao gồm: Hệ thống cơ quanquyền lực Nhà nước, hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước, hệ thống cơ quankiểm sát và hệ thống cơ quan xét xử Bên cạnh đó, còn có chế định Chủ tịchNước - đây là chế định độc lập không thuộc hệ thống cơ quan nào trong bộ máyNhà nước

Năm 2008, vấn đề cải cách bộ máy Nhà nước trong tình thế hội nhập vớithế giới và Đảng, Nhà nước ta đang tiến hành, bước đầu thí điểm là:

- Thí điểm việc bãi bỏ Hội đồng nhân dân phường và Hội đồng nhân dânquận

- Thành lập Tòa án khu vực để tạo điều kiện thoát ly khỏi tác động của các

cơ quan quyền lực, cơ quan hành chính để Tòa án độc lập và chỉ tuân theo phápluật trong hoạt động của mình Theo đó, tổ chức lại hệ thống Tòa án theo bốncấp gồm Tòa án khu vực, Tòa phúc thẩm, Tòa thượng thẩm và Tòa án tối cao

Trang 25

5 Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam

5.1 Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền trên thế giới

Từ khi xuất hiện Nhà nước trong lịch sử nhân loại, Nhà nước luôn lợi dụng

uy thế của mình để hoạt động một cách tùy tiện, đứng trên tất cả và được hưởngnhững ưu đãi miễn trừ Những con người trong bộ máy Nhà nước đó đượcnhững đặc quyền đặc lợi Do vậy, các đặc quyền dành cho vua quan đã xâm lấnđến quyền của công dân, là quyền con người và tất yếu dẫn đến xuất hiệnnhững tư tưởng đấu tranh chống lại sự chuyên quyền, độc đoán ấy

Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền hình thành rất sớm, ngay thời kỳ cổđại các nhà tư tưởng như Platon, Aristote, đã đề cao vai trò của pháp luậttrong đời sống của Nhà nước và xã hội Người đầu tiên là nhà thông thái Hy Lạp

cổ Salon vào thế kỷ 1 TCN cho rằng: “Nhà nước phải được tổ chức theo cácnguyên tắc dân chủ, kết hợp sức mạnh với pháp luật” Platon cho rằng: “Phápluật cứu rỗi Nhà nước” Còn Aristote cho rằng: “Pháp luật phải thống trị lên tấtcả” Sisiron lại viết: “Cần đặt Nhà nước trong khuôn khổ pháp luật” Các tưtưởng cổ đại này đều khẳng định tính tối cao của pháp luật

Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền thời cổ đại được các học giả thế kỷ 17

- 18 nâng lên ở trình độ mới thành lý thuyết Nhà nước pháp quyền mà nội dung

cơ bản của nó là sự lệ thuộc của Nhà nước vào pháp luật, pháp luật phải phục

vụ con người Các học giả đã nâng thành hệ thống lý luận về Nhà nước phápquyền, khẳng định tính hợp lý của Nhà nước pháp quyền và yêu cầu của nó,đưa ra mô hình, cách thức thực hiện Nhà nước đó đảm bảo Nhà nước bị kiểmsoát như dân bầu lên các nhà cầm quyền theo cơ chế bầu cử dân chủ, xây dựng

cơ chế phân quyền trong bộ máy để tránh sự lạm quyền v.v

Jonh Loke đưa ra quan điểm từ thế kỷ 17: “Dân được làm những gì phápluật không cấm; Nhà nước được làm những gì pháp luật cho phép”.Montesquieu đưa ra cơ chế tam quyền phân lập và dẫn đến chế độ đại nghị

Trang 26

Kant là nhà triết học đã khái quát lại như một học thuyết: Nhà nước phải bị ràngbuộc bởi pháp luật, vì cơ chế tập quyền dẫn đến lạm quyền, nên tránh lạmquyền phải phân quyền Cho đến thế kỷ 20, Hiến chương Liên Hiệp Quốc và cáccông ước quốc tế về quyền con người, quyền dân sự chính trị được soạn thảođều dựa trên tư tưởng về Nhà nước pháp quyền và khế ước xã hội và đếnnhững năm đầu thế kỷ 21, các tư tưởng về Nhà nước pháp quyền được khẳngđịnh nhiều trong các bài giảng của nhiều giáo sư các trường đại học lớn trên thếgiới như Haward, Oxford

5.2 Khái niệm Nhà nước pháp quyền ở các quốc gia Âu-Mỹ

Lý thuyết về Nhà nước pháp quyền hình thành trên cơ sở phát triển các lýluận về Luật tự nhiên, cơ chế tam quyền phân lập của Montesquieu, Khế ước xãhội của Roussau và những lý luận về quyền con người Nội dung chính tóm tắt

về một Nhà nước “của dân, do dân và vì dân” như sau:

* Lý luận về quyền con người: Thể hiện trong Tuyên ngôn Quốc tế vềNhân quyền của Liên Hiệp Quốc và nhiều công ước quốc tế khác Các văn bảnnày dựa vào lý luận về quyền con người là quyền tự nhiên, theo đó, con nguờisinh ra đương nhiên phải có các quyền nhất định mà bất kỳ Nhà nước nào cũngphải tôn trọng Đó là ba quyền cơ bản: Quyền sống còn, quyền tự do và quyềnmưu cầu hạnh phúc

Quyền sống còn: Con người sinh ra phải được sống Không một tổ chức,

cá nhân nào được quyền ép buộc người khác phải chết Hơn nữa, quyền sốngcòn có nội hàm khá rộng

Đó là quyền ăn uống: Để sống, con người có quyền ăn, uống, hít thởkhông khí, là sự trao đổi chất với tự nhiên

Để sống còn, con người có quyền cư trú nơi nào họ cho rằng thuận tiệncho họ Nghĩa là họ có quyền xây dựng nhà ở, tạm trú, tạm vắng v.v

Trang 27

Quyền học tập thuộc về quyền sống còn Con người muốn tồn tại phảiđược học tập Quyền này thuộc về quyền tự nhiên, bởi lẽ các hành vi học tậpgắn liền với bản năng con người là loài động vật theo thuyết tiến hóa.

Quyền lao động là quyền con người Con người tồn tại được trên thế giới

là có lao động Đó là lao động sống Có sự khác biệt về quy định hình thức vàphương pháp lao động theo pháp luật của từng quốc gia là lao động hợp pháp

và lao động bất hợp pháp mà thôi

Quyền vui chơi giải trí cũng thuộc quyền tự nhiên Đã học tập, lao động thìtất yếu con người phải có quyền giải trí vui chơi, là nhu cầu tinh thần không thểthiếu

Quyền tư hữu cũng thuộc về quyền tự nhiên vì gắn với bản năng sốngcòn Có tư hữu, con người biết được cái gì của mình, cái gì của người khác vàcủa chung

Quyền thông tin là quyền tự nhiên Trao đổi tin tức cho nhau gắn liền vớibản năng sống từ thời nguyên thủy của loài người Nhờ trao đổi thông tin đachiều, con người sàng lọc, nhận biết, học tập, lao động và phát triển khoa học

Quyền mưu cầu hạnh phúc: Nguyên lý phát triển trong triết học duy vậtbiện chứng cho rằng xã hội phát triển đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phứctạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện Cá nhân người nào cũng vậy, họ luônmong muốn cuộc sống được sung túc hơn, tiện nghi hơn Vì thế, quyền mưu cầuhạnh phúc đã thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển để con người làm việc bớt đicực khổ nặng nhọc, đỡ vất vả nhưng tạo ra sản phẩm cho xã hội nhiều hơn.Quyền kinh doanh thuộc quyền mưu cầu hạnh phúc vì con người luôn luônmong muốn mình có thu nhập cao hơn, tạo việc làm nhiều hơn cho người khác

Quyền tự do: thuộc quyền tự nhiên Con người sinh ra để được tự do.Trong quá trình sống, để tồn tại, phát triển và mưu cầu hạnh phúc cho bản thân,một cá nhân thực hiện quyền ăn uống, học tập, vui chơi, lao động cho bản

Trang 28

thân thì cá nhân khác cũng thực hiện các quyền đó Do vậy, pháp luật được đặt

ra để đảm bảo cho quyền của mỗi cá nhân trong xã hội không xâm phạm lẫnnhau Nói cách khác, tự do là khi bản thân mỗi người thực hiện quyền sống còn

và mưu cầu hạnh phúc của mình thì không được xâm phạm quyền sống còn vàmưu cầu hạnh phúc của người khác

* Thuyết Khế ước xã hội: Thuyết này cho rằng sự xuất hiện của Nhà nước

là kết quả của một khế ước (hợp đồng) được ký kết giữa những con người sốngtrong trạng thái tự nhiên, không có Nhà nước Nhà nước là tổ chức do nhân dânlập ra để phục vụ nhân dân, phải theo ý nguyện của người dân là chủ nhân củaquốc gia; đó là thực hiện những cam kết trong hợp đồng với dân (khế ước xãhội), là bảo đảm sự phát triển của người dân.(1)

* Thuyết Tam quyền phân lập: Phát triển dựa vào thuyết khế ước xã hội.Thuyết này cho rằng kể từ khi có Nhà nước được nhân dân lập ra qua khế ước

xã hội, lịch sử đã chứng minh rằng khi Nhà nước nắm quyền lực sẽ luôn có xuhướng tha hóa quyền lực và lạm dụng quyền lực để bảo vệ và tăng thêm quyền

và lợi ích cho các phần tử cấu thành bộ máy Nhà nước, tất yếu sẽ đẩy nhữngbất lợi về dân chúng Bởi vì do mưu cầu hạnh phúc là quyền tự nhiên của các cánhân, những người trong bộ máy Nhà nước khi có quyền lực công sẽ luôn luôn

có xu hướng dùng quyền lực ấy để mưu cầu lợi ích cá nhân, giúp gia đình, thânhữu Dần dần, các cá nhân trong bộ máy, qua quan hệ công tác có những tìnhcảm thân hữu nhất định và sẽ liên kết lại để ban hành những quy phạm phápluật gây bất lợi cho dân chúng, xâm hại đến các quyền con người của nhân dân,

vi phạm khế ước xã hội Nhân dân sẽ tiến hành các cuộc cách mạng để thay thếNhà nước ấy bằng một Nhà nước mới với bản khế ước mới nhưng nếu bản khếước mới không ràng buộc chặt chẽ, không kiểm soát được quyền lực Nhà nướcthì Nhà nước đó lại tiếp tục tha hóa và lạm dụng quyền lực để mưu lợi chonhững cá nhân hoạt động trong bộ máy Nhà nước Thực tiễn lịch sử phát triểncủa tất cả các quốc gia, kể từ khi có Nhà nước với các cuộc khởi nghĩa của

Trang 29

những người nô lệ, những nông dân, thợ thủ công, binh lính sau khi giànhchính quyền đều dẫn đến sự tha hóa và lạm dụng quyền lực để nhũng loạn nhândân Cho nên, vấn đề cần thiết đặt ra trong Khế ước xã hội là nhân dân phảikiểm soát được quyền lực Nhà nước Nói cách khác, Nhà nước bị nhân dânkiểm soát hữu hiệu quyền lực Nhà nước bằng pháp luật là Nhà nước phápquyền Nghĩa là quyền lực Nhà nước trước đây khi quản lý xã hội bằng pháp luậtgồm có ba quyền là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp, nhưngđều tập trung vào trong bộ máy Nhà nước; dù có sự phân công, phân nhiệmnhất định nhưng những người thừa hành trong các cơ quan này tất yếu có sựgiao hảo với nhau vì cùng mục đích và có các quan hệ tự nhiên để mưu cầuhạnh phúc cho họ Thí dụ trong triều đình phong kiến, có đủ các cơ quan banhành pháp luật, áp dụng pháp luật và cơ quan xét xử nhưng do sự phân côngcủa Vua nên giữa các cơ quan này nhìn bề ngoài tưởng là tách biệt nhưng chỉ là

sự chia nhau về quyền lợi và đẩy bất lợi về dân chúng Trong các nước phongkiến phương Đông, ta thấy rõ hơn khi có các Bộ như Bộ Binh, Bộ Hộ, Bộ Hình nên tình trạng lạm dụng quyền lực là tất yếu khách quan Cho nên, thuyết Tamquyền phân lập cho rằng: để khắc phục sự tha hóa và lạm dụng quyền lực củaNhà nước thì ba quyền phải bị phân chia tách biệt và chế ước lẫn nhau, biểuhiện như nhiệm kỳ của các cá nhân trong ba cơ quan không bằng nhau, khôngkiêm nhiệm các chức vụ và có quyền lực độc lập v.v

Như vậy, lý thuyết về Nhà nước pháp quyền hình thành từ ba cơ sở lýluận cơ bản trên Một Nhà nước pháp quyền là Nhà nước ấy bảo đảm về quyềncon người và pháp luật có các quy định hữu hiệu để người dân tham gia vàoviệc kiểm soát hoạt động của bộ máy Nhà nước, đảm bảo bộ máy đó vận hànhcông khai, minh bạch, ở các quốc gia phát triển, ngoài việc phân chia quyền lựctheo cơ chế tam quyền phân lập của bộ máy Nhà nước, còn có nền báo chí tự

do, gọi là quyền lực thứ tư, là phương tiện hữu hiệu để người dân tham gia vàocông việc kiểm soát ba cơ quan: lập pháp, hành pháp và tư pháp, để chế ước ba

Trang 30

quyền này có hiệu quả Thuật ngữ pháp lý gọi là xã hội dân sự Có thể nói Nhànước pháp quyền hình thành trong xã hội dân sự và chỉ tồn tại trong xã hội dân

sự, trong đó, người dân phát huy được quyền làm chủ của họ

Như vậy, Nhà nước pháp quyền là Nhà nước được xem xét dưới hai góc

độ Về bản chất phải bảo đảm các quyền dân chủ, chống lại sự lạm quyền củaNhà nước đối với các quyền công dân Về tính ràng buộc của hoạt động củaNhà nước được bảo đảm tránh sự lạm quyền Do đó, Nhà nước pháp quyền làmột tổ chức đặc biệt do nhân dân tạo ra bằng Hiến pháp và bị giám sát chặt chẽ,quyền lực Nhà nước phải bị phân quyền theo cơ chế tam quyền phân lập chếước sự lạm quyền

5.3 Đặc trưng của Nhà nước pháp quyền

Ngày nay, trong các ấn phẩm khoa học trong và ngoài nước tuy còn tồn tạinhững quan niệm khác nhau về Nhà nước pháp quyền, nhưng hầu như các tácgiả đều thông nhất về các đặc trưng sau:

- Nhà nước pháp quyền là Nhà nước phải coi pháp luật là tối thượng.Pháp luật là cơ sở của các chính sách, quyền lực, hoạt động của Nhà nước Do

đó, mọi hoạt động của Nhà nước phải tuân theo pháp luật Pháp luật chính là giátrị xã hội, là thước đo của tự do

- Nhà nước pháp quyền phải thừa nhận và đảm bảo các quyền tự do cánhân là các quyền tự nhiên của con người Trong các quyền tự do cá nhân cầnbảo đảm trước hết về các quyền kinh tế, chính trị

- Nhà nước pháp quyền là Nhà nước có bộ máy phải được tổ chức theo

cơ chế tam quyền phân lập là lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập với nhau

để có thể chế ước lẫn nhau Biểu hiện cụ thể như nhiệm kỳ của các cá nhântrong ba cơ quan không bằng nhau, không kiêm nhiệm các chức vụ và có quyềnlực độc lập v.v

Trang 31

- Nhà nước này phải có cơ chế giám sát việc thực thi quyền lực, giám sátđối với Hiến pháp, với hành chính và với tư pháp.

Có thể tóm tắt quan điểm về Nhà nước pháp quyền dựa trên các cơ sở lýluận là thuyết Khế ước xã hội, chế độ tam quyền phân lập và nêu cao quyền conngười trong sự bảo đảm một xã hội dân sự mà xã hội đó, người dân được làmchủ về thực chất, bảo đảm quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân

5.4 Đặc điểm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Tư tưởng, quan điểm về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước

ta được thể hiện trong nhiều văn kiện của Đảng, pháp luật của Nhà nước, khácvới quan niệm chung của các nhà luật học Âu Mỹ Trên cơ sở quan điểm củaĐảng về Nhà nước pháp quyền Việt Nam có những đặc điểm phổ biến sau:

- Nhà nước pháp quyền là Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, trong

hệ thống pháp luật Hiến pháp là tối cao, các đạo luật chiếm Ưu thế trong hệthống pháp luật;

- Pháp luật trong Nhà nước pháp quyền là pháp luật mang tính nhân văn,nhân đạo, phục vụ con người, vì con người;

- Tất cả các cơ quan Nhà nước, công chức, viên chức Nhà nước đều phảitôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, đặt mình dưới pháp luật;

- Không ngừng mở rộng, bảo đảm và bảo vệ các quyền tự do, lợi ích củacông dân;

- Thiết lập mối quan hệ trách nhiệm qua lại giữa công dân với Nhà nước

và giữa Nhà nước với công dân;

- Đề cao vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ pháp luật;

- Nhà nước pháp quyền Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhândân và vì nhân dân;

Trang 32

- Nhà nước pháp quyền Việt Nam được xây dựng trên nền tảng khối liênminh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp tri thức và hoạtđộng theo cơ chế tập quyền;

- Nhà nước pháp quyền Việt Nam được xây dựng trên nguyên tắc: quyềnlực Nhà nước là tập trung, thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơquan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp;

và các cá nhân có thể kiêm nhiệm chức vụ giữa các cơ quan chức năng;

- Nhà nước pháp quyền Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộngsản Việt Nam, theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng Đảng Cộng sản hoạtđộng theo pháp luật

* Để từng bước xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền ở nước tacẩn phải:

1) Kiên trì và vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản ViệtNam về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

2) Đổi mới cơ cấu quản lý nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơchế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩanhằm tạo ra cơ sở vật chất cho đời sống xã hội, đời sống Nhà nước;

3) Hoàn thiện hệ thống pháp luật về nội dung và hình thức, ưu tiên banhành các luật về kinh tế, cải cách bộ máy Nhà nước, về quyền công dân, nhằmtạo ra một khung pháp lý lành mạnh cho mọi hoạt động của xã hội, Nhà nước vàcủa công dân;

4) Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằmnâng cao ý thức pháp luật, lối sống tuân theo pháp luật của mọi tầng lớp nhândân, đặc biệt đối với cán bộ, công chức;

5) Tổ chức tốt công tác thực hiện pháp luật;

Trang 33

6) Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, việc thực hiện phápluật;

7) Hoàn thiện hoạt động lập pháp và giám sát của Quốc hội, hoàn thiện bộmáy hành chính Nhà nước và các cơ quan tư pháp;

8) Mở rộng dân chủ, phát huy tính tích cực chính trị - xã hội của quầnchúng, thực hiện đầy đủ dân chủ ở cơ quan, tổ chức, cơ sở;

9) Công khai hóa mọi lĩnh vực hoạt động Nhà nước trừ những lĩnh vựcliên quan tới bí mật, an ninh quốc gia, bảo đảm quan điểm “dân biết, dân bàn,dân làm, dân kiểm tra”, tạo ra môi trường phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội,đảm bảo sự ổn định về chính trị, sự thống nhất về tư tưởng Đây là những tiền

đề có tính tiên quyết để xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủnghĩa

II VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT

Quan điểm Mácxít cho rằng pháp luật luôn mang tính giai cấp Engels nói:

“Pháp luật là ý chí giai cấp đề lên thành luật”

* Tính giai cấp:

Xuất phát từ chế độ tư hữu hình thành nên những người chiếm nhiều củacải trong xã hội đã lập nên Nhà nước và ban hành pháp luật Pháp luật phản ánh

ý chí của giai cấp thống trị nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của giai cấp mình Ý chí

đó được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩmquyền ban hành và đảm bảo thực hiện Nhờ nắm trong tay quyền lực Nhà nước

Trang 34

mà giai cấp thống trị đã thông qua Nhà nước thể hiện ý chí của giai cấp mìnhmột cách tập trung, thống nhất và hợp pháp hóa thành ý chí của Nhà nước, điềuchỉnh quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội nhằm hướng các quan hệ

đó phát triển phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị

* Tính xã hội (giá trị xã hội của pháp luật):

Quan điểm của các nhà luật học hiện đại đều cho rằng pháp luật mangbản chất xã hội Ở đâu có xã hội, ở đó có pháp luật Bất kỳ xã hội nào, dù có haychưa có Nhà nước thì trong quan hệ xã hội giữa con người với nhau luôn tồn tạimột số quy định cấm không được làm, nếu vi phạm sẽ phải chịu hình phạt Đóchính là pháp luật, cho nên, pháp luật có bản chất xã hội

Từ bản chất này, các học giả Âu Mỹ hiện đại đưa ra định nghĩa: “Pháp luật

là toàn bộ những quy tắc pháp lý chi phối các hoạt động và quan hệ trong xã hội

có tổ chức và mọi sự vi phạm sẽ bị chế tài bằng sự cưỡng chế” Các học giả Âu

- Mỹ hiện đại không thừa nhận bản chất giai cấp còn vì lý do khác là pháp luậtbao gồm pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Pháp luật quốc tế như Hiếnchương Liên hiệp quốc, các công ước quốc tế song phương và đa phươngkhông có tính giai cấp mà chỉ có tính xã hội mà thôi

Sau thời kỳ đổi mới tư duy năm 1986, các nhà tư tưởng Mácxít bổ sungthêm bản chất pháp luật có tính xã hội vì pháp luật do Nhà nước đại diện chínhthức toàn xã hội ban hành, cho nên ở mức độ nhất định tùy thuộc vào mỗi giaiđoạn cụ thể mà pháp luật còn thể hiện ý chí của các giai cấp, tầng lớp kháctrong xã hội Quy phạm pháp luật là thước đo hành vi xử sự của con người, quyđịnh cách xử sự “chuẩn” để công dân thực hiện, thể hiện cụ thể trong các vănbản quy phạm pháp luật những việc được phép làm, không được phép làm,khuyến khích làm; là công cụ để kiểm nghiệm các quá trình, hiện tượng xã hội,nhận thức xã hội

Trang 35

Từ phân tích trên có thể định nghĩa trên quan điểm Mácxít: Pháp luật là hệthống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận thể hiện ý chí của giai cấp thống trị nhằmđiều chỉnh các quan hệ xã hội, được đảm bảo thực hiện bằng các biện phápcưỡng chế.

Về thuật ngữ “pháp luật”, trong tiếng Pháp có chữ droit, từ nguồn gốc chữLatinh là directum chỉ pháp luật nói chung, cũng có nghĩa là đúng, là ngay thẳng;chữ droit cũng từ nguồn gốc Latinh là chữ lex cũng có nghĩa là pháp luật nóichung và nghĩa thứ hai là đạo luật nên trong tiếng Anh, chữ law chỉ cả luật phápnói chung, đạo luật hay luật lệ

Tại phương Đông, do đặc trưng của sự liên minh các làng, các bộ tộc đểtrị thủy nên từ thời Thượng cổ, ai có khả năng điều hòa được nước trong canhtác để phát triển kinh tế nông nghiệp sẽ được xem là người có tài cai trị xã hội,xứng đáng làm vua như vua Nghiêu, vua Thuấn Cho nên, thuật ngữ “pháp luật”

ta thấy là một Hán tự kép, gồm hai chữ pháp và luật Theo phép chiết tự, chữPháp gồm có hai phần: phần gốc là chữ Khứ có nghĩa là trừ đi, loại bỏ, đuổi đi,đôi khi còn được đọc là chữ Khử, là trừ đi, loại bỏ; phần thứ hai là chữ Thủy, viếtgọn thành chấm thủy có nghĩa là nước Còn chữ luật chỉ một dụng cụ thời cổdùng trong việc thẩm định âm thanh và cũng có nghĩa là phép tắc Chữ luật dùnglàm chữ đệm cho chữ pháp để có hai chữ pháp luật Tại Việt Nam, chữ phép vuahay quân pháp cũng xuất hiện từ lâu đời để chỉ pháp luật và ngày nay, pháp luậtđược hiểu là toàn bộ các quy tắc pháp lý chi phối các quan hệ và hoạt độngtrong xã hội.(1)

2 Các đặc trưng của pháp luật

+ Tính cưỡng chế: (Tính quyền lực, tính đảm bảo giá trị thi hành bằng Nhànước)

Trang 36

Tính cưỡng chế thể hiện ở việc Nhà nước có thể dùng nhiều biện pháp đểbắt buộc mọi người phải tuân thủ theo những quy định của pháp luật Đây cũng

là tính cơ bản, dựa trên quyền lực Nhà nước làm cho pháp luật có sức mạnh vàhiệu lực Nhà tư tưởng Pascal đã nói: “Công lý không có quyền lực thì bất lực,quyền lực không có công lý thì tàn bạo” Tính cưỡng chế còn làm cho quy phạmpháp luật khác với các quy phạm đạo đức, luân lý vì ở các loại quy phạm này,con người thực hiện do niềm tin, do áp lực của dư luận xã hội Còn tính cưỡngchế là sự buộc phải tuân thủ bằng sức mạnh của tổ chức công quyền

Nhờ có tính cưỡng chế mà pháp luật của Nhà nước trở nên có sức mạnhthi hành và đây cũng là điểm khác biệt giữa pháp luật với đạo đức, tập quán

Nhà nước bảo đảm giá trị thi hành bằng các biện pháp sau:

- Bằng thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật

- Bằng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước Cụ thể, trong các quy phạmpháp luật đều có các loại chế tài nhất định, tương ứng các hành vi vi phạm phápluật

+ Tính quy phạm phổ biến:

Tính quy phạm chỉ cách xử sự mà người ta phải theo trong những trườnghợp nhất định Tính quy phạm của pháp luật chính là việc thể chế hóa nhữngquy định mang tính điển hình hướng dẫn mọi người noi theo Sở dĩ, cần thiếtphải có những khuôn mẫu áp dụng trong những hoàn cảnh nhất định vì trongtừng trường hợp, do sự chi phối của nhiều điều kiện khách quan và chủ quankhác nhau nên có thể nảy sinh những khả năng xử sự khác nhau có thể làm rốiloạn xã hội, do đó Nhà nước cần đặt ra một khuôn mẫu chung

Nói pháp luật mang tính quy phạm tức là nói đến tính quy tắc, khuôn mẫu,thước đo tiêu chuẩn hành vi xử sự của con người Các quy tắc xử sự xác địnhcho mọi người giới hạn: những hành vi được phép, không được phép thực hiện;những việc được làm, không được làm (cấm); quyền và nghĩa vụ của công dân

Trang 37

Khác với các quy phạm khác (như đạo đức, luân lý, tôn giáo), pháp luậtmang tính phổ biến Phạm vi tác động của pháp luật trên toàn lãnh thổ thuộc chủquyền quốc gia và được áp dụng nhiều lần đối với tất cả các cá nhân, tổ chứcsinh sống, hoạt động trên lãnh thổ đó.

+ Tính khách quan:

Pháp luật muốn phát huy hiệu lực thì nó phải phù hợp với những điều kiện

cụ thể của xã hội ở thời điểm nó tồn tại, tức là nó phản ánh đúng nhu cầu kháchquan của xã hội Pháp luật một nước phản ánh tình trạng kinh tế xã hội củanước đó trong một giai đoạn nhất định Khi tình hình kinh tế xã hội thay đổi thìpháp luật cũng thay đổi theo để phù hợp Tuy nhiên, điều này không có nghĩa làpháp luật cứ được ban hành một cách tùy tiện để rồi sửa đổi trong thời gianngắn sau đó

+ Tính ổn định tương đối:

Một trong những mục đích của pháp luật là giữ sự ổn định xã hội nênchính pháp luật cũng phải mang tính ổn định tương đối Do đó, trước hai tínhchất đối nghịch này, nhà làm luật phải cân nhắc để văn bản pháp luật khi banhành phải phù hợp với xã hội và có thể áp dụng trong một thời gian tương đốidài để tạo sự ổn định cho các quan hệ xã hội Điều này, đòi hỏi các nhà làm luật,ngoài việc đưa ra những quy phạm áp dụng trong hiện tại còn phải có khả năng

“nắm bắt” những tình huống có thể xảy ra trong tương lai để đề ra những giảipháp phù hợp Chính đặc tính này thể hiện sự sáng tạo của pháp luật

+ Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức: (Tính hệ thống)

Pháp luật một nước gồm nhiều loại văn bản có hiệu lực thi hành khácnhau từ cao xuống thấp (Hiến pháp, Luật, Bộ luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông

tư, Chỉ thị, ) nhưng tất cả các văn bản này không phải ở một trạng thái hỗn độn

mà chúng được sắp xếp theo một trật tự, có thứ bậc, thống nhất về nội dung vàhình thức

Trang 38

Về hình thức, mỗi loại văn bản quy phạm pháp luật có tên gọi riêng tùytheo từng cấp ban hành, ngôn ngữ diễn đạt phải chính xác, rõ ràng, cụ thể, mỗiloại văn bản đều tuân thủ theo trình tự ban hành nhất định Khi ban hành phápluật phải diễn đạt bằng tiếng Việt phổ thông, chỉ dùng tiếng nước ngoài khi từ đó

đã được Việt hóa

Về nội dung, văn bản cấp dưới không được trái với văn bản cấp trên, cácvăn bản cùng cấp không được mâu thuẫn, chồng chéo nhau

3 Chức năng của pháp luật

Pháp luật có ba chức năng chủ yếu: Chức năng điều chỉnh, chức năngbảo vệ, và chức năng giáo dục

- Chức năng điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ xã hội được thểhiện qua hai hướng chính: một mặt pháp luật ghi nhận các quan hệ cơ bản,quan trọng và phổ biến trong xã hội; mặt khác pháp luật bảo đảm cho các quan

hệ xã hội đó phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị, của xã hội

Chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội của pháp luật được thực hiệnthông qua các hình thức: quy định, cho phép, ngăn cấm, gợi ý Nhờ có pháp luật

mà các quan hệ xã hội được trật tự hóa, đi vào nề nếp

- Chức năng bảo vệ các quan hệ xã hội đã được pháp luật điều chỉnh Khi

có hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm tới các quan hệ xã hội được pháp luậtđiều chỉnh thì người có hành vi vi phạm đó sẽ bị cơ quan Nhà nước có thẩmquyền áp dụng biện pháp cưỡng chế được quy định trong phần chế tài của quyphạm pháp luật, nhằm phục hồi lại quan hệ xã hội đã bị xâm phạm

- Chức năng giáo dục của pháp luật được thực hiện thông qua sự tácđộng của pháp luật vào ý thức con người, làm cho con người hình thành ý thứcpháp luật và hành động phù hợp với cách xử sự ghi trong quy phạm pháp luật

4 Mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế, Nhà nước và đạo đức

Trang 39

4.1 Mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế - khoa học kỹ thuật

Pháp luật là yếu tố trong kiến trúc thượng tầng của xã hội có giai cấp, do

đó mà pháp luật được sinh ra trên cơ sở hạ tầng và quy định bởi cơ sở hạ tầng

Trong mối quan hệ với kinh tế, pháp luật có tính độc lập tương đối Mộtmặt, pháp luật phụ thuộc vào kinh tế, mặt khác pháp luật lại có sự tác động trởlại một cách mạnh mẽ đối với kinh tế

Sự phụ thuộc của pháp luật vào kinh tế thể hiện ở chỗ nội dung của phápluật là do các quan hệ kinh tế - xã hội quyết định, chế độ kinh tế là cơ sở củapháp luật Pháp luật luôn luôn phản ánh trình độ phát triển của chế độ kinh tế

Pháp luật có sự tác động trở lại đối với sự phát triển của kinh tế Sự tácđộng đó có thể là tích cực cũng có thể là tiêu cực Khi nào pháp luật thể hiện ýchí của giai cấp thống trị là lực lượng tiến bộ trong xã hội, phản ánh đúng trình

độ phát triển của kinh tế thì pháp luật có nội dung tiến bộ và có tác dụng tíchcực Ngược lại, nó sẽ có nội dung tiêu cực và kìm hãm sự phát triển của kinh tế,

xã hội

4.2 Mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức

Đạo đức là tổng thể những quan điểm, quan niệm của con người về cáiđẹp, cái thiện, cái ác, về sự công bằng, nghĩa vụ, danh dự và về những phạm trùkhác nhau của đời sống tinh thần của xã hội Những quan điểm, quan niệm nàyrất khác nhau do những điều kiện của đời sống vật chất quyết định Đạo đức khi

đã trở thành niềm tin nội tâm thì chúng sẽ là cơ sở cho hành vi của con người.Quy phạm đạo đức tồn tại trong xã hội có rất nhiều loại và có tác dụng điềuchỉnh hành vi con người Giai cấp thống trị có quyền lực Nhà nước trong tay thểhiện quan điểm, quan niệm của mình lên thành pháp luật Vì vậy, pháp luật luônphản ánh đạo đức của lực lượng cầm quyền Tất nhiên, nó phải phù hợp với cáclực lượng khác trong xã hội Đó cũng chính là một trong những điều kiện đảmbảo cho quyền lực của giai cấp thống trị được bền vững

Trang 40

Pháp luật chịu sự tác động của đạo đức và các quy phạm xã hội khác,nhưng pháp luật có tác động rất mạnh mẽ tới các hiện tượng đó và ở một chừngmực nhất định, pháp luật còn có khả năng cải tạo các quy phạm đạo đức và xãhội.

Tuy vậy, giữa pháp luật và đạo đức có những khác biệt về phương phápđiều chỉnh hành vi con người Pháp luật điều chỉnh hành vi con người bằng tínhchất bắt buộc phải tuân thủ, nếu bất tuân sẽ bị cưỡng chế Còn đạo đức điềuchỉnh hành vi con người bằng chính sự tự nguyện khi bản thân nhận thấy điềunên làm với áp lực của niềm tin nội tâm

Về mục đích, pháp luật đặt ra những quy tắc để áp dụng cho mọi ngườinhằm giữ gìn trật tự xã hội, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các thành viêntrong xã hội Còn các quy tắc đạo đức là những quy phạm mang tính khuyên rănnhằm hoàn thiện cá nhân, mặc dù về mục đích sau cùng, chúng giống nhau là

để bảo đảm trật tự xã hội

Về chế tài, pháp luật có chế tài bằng sự trừng phạt trực tiếp và trừng phạtngay trong hiện tại còn các quy phạm đạo đức không mang tính quyền lực bắtbuộc nên sự tuân theo hay không tùy theo sự xét đoán của từng người và sự tựgiác thực hiện các hành vi đạo đức bằng niềm tin nội tâm qua áp lực của dư luận

4.3 Mối quan hệ giữa pháp luật và Nhà nước

Ngày đăng: 07/03/2017, 15:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Diệp Thành Nguyên (chủ biên) và Phan Trung Hiền, “Giáo trình Pháp luật đại cương” - Khoa Luật Trường Đại học cần Thơ, xuất bản năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Pháp luật đại cương
15. Đào Trí Úc - “Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước và Pháp luật” - Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật - NXB Chính trị Quốc gia-năm 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước và Pháp luật
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia-năm 1995
16. Đào Trí Úc - “Những vấn đề cơ bản về Nhà nước Pháp quyền XHCN Việt Nam” - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về Nhà nước Pháp quyền XHCN Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - năm 2005
19. Phạm Hồng Thái và Đinh Văn Mậu - “Đại cương về Nhà nước và pháp luật” - Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh năm 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về Nhà nước và pháp luật
Nhà XB: Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh năm 1996
20. Montesquieu - “Bàn về tinh thần pháp luật” - Hoàng Thanh Đạm chuyển ngữ - NXB Lý luận Chính trị 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tinh thần pháp luật
Nhà XB: NXB Lý luận Chính trị 2004
21. Triệu Quốc Mạnh - “Pháp luật và dân luật đại cương” - NXBTP. Hồ Chí Minh 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật và dân luật đại cương
Nhà XB: NXBTP. Hồ Chí Minh 2000
23. Nguyễn Minh Tuấn - “Nét độc đáo của Quy phạm pháp luật trong Luật Hồng Đức” - Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp Số 33 (118) Tháng 3/2008, số chủ đề Hiến kế Lập pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nét độc đáo của Quy phạm pháp luật trong Luật Hồng Đức
24. Bùi Thanh - “Nền Cộng hòa bốn mươi chín ngày” - Báo Tuổi Trẻ số 304 - 308 năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền Cộng hòa bốn mươi chín ngày
25. Cao Huy Thuần (chủ biên) - “Từ Đông sang Tây” - Tập biên khảo về khoa học xã hội và nhân văn - NXB Đà Nẵng, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Đông sang Tây
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
26. Vũ Văn Mẫu - “Pháp luật Việt Nam và phương pháp sử” - NXB Chu Lai - Sài Gòn, 1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật Việt Nam và phương pháp sử
Nhà XB: NXB Chu Lai - Sài Gòn
27. “Đại Việt sử ký toàn thư” - NXB Văn hóa Thông tin, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
28. Đào Duy Anh - “Hán Việt Từ điển” - NXB Minh Tân - 7, Rue Guénégaud - Paris, 1951 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt Từ điển
Nhà XB: NXB Minh Tân - 7
29. “Hoàng Việt luật lệ” - NXB Văn hóa Thông tin, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Việt luật lệ
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
31. Nguyễn Ngọc Đào - “Tìm hiểu pháp luật nước ngoài - Luật La Mã” - NXB Tổng hợp Đồng Nai, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu pháp luật nước ngoài - Luật La Mã
Nhà XB: NXB Tổng hợp Đồng Nai
32. ThS. Nguyễn Minh Tuấn - Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, “Giá trị của Hiến pháp 1946 về Tổ chức quyền lực Nhà nước” - Tạp chí Hiến Kế lập pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị của Hiến pháp 1946 về Tổ chức quyền lực Nhà nước
33. “Đêm trước thời đổi mới” - Nhiều tác giả - NXB Trẻ, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đêm trước thời đổi mới
Nhà XB: NXB Trẻ
34. “Những cuộc xé rào lịch sử” - Loạt bài trên Báo Tiền phong - 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cuộc xé rào lịch sử
35. Lê Thị Bích Thọ - Nguyễn Văn Luyện - Dương Anh Sơn - “Giáo trình Luật Hợp đồng thương mại quốc tế” - NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hợp đồng thương mại quốc tế
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
36. Mai Hồng Quỳ - Trần Việt Dũng - “Luật Thương mại quốc tế” - NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thương mại quốc tế
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
37. Phan Hữu Thư - Lê Thu Hà - “Giáo trình kỹ năng giải quyết vụ việc dân sự”, Học viện Tư pháp - NXB Công an nhân dân - 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kỹ năng giải quyết vụ việc dân sự
Nhà XB: NXB Công an nhân dân - 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w