tiểu luận về chất hiện thực trong truyện thơ nôm lục vân tiên của nguyễn đình chiểu. Ngoài tư tưởng nhân nghĩa thì hiện thực trong Lục Vân Tiên vẫn luôn là mối quan tâm của cã nhà nghiên cứu. Hiện thực kết hợp với nhân nghĩa tạo cho Lục Vân Tiên sức hấp dẫn đặc biệt với người dân nam bộ, Lục Vân TIên xứng đàng là Truyện Kiều của miền Nam.
Trang 1
YÊU NƯỚC NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Trang 2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Trang 3Nhắc đến văn học Việt Nam nửa cuối TK XIX cũng là nhắc đến thời kỳ lịch sử đầy tăm tối, đau thương nhưng cũng chói ngời khí phách của dân tộc Gót giày Tây có thể dẫm nát từng tất đất quê hương, súng đạn Tây có thể găm nát thân thể những người nghĩa quân yêu nước nhưng không gì có thể huỷ diệt được lòng yêu nước sục sôi của hàng vạn trái tim yêu nước Hiện thực kháng chiến đầy bi tráng ấy chính là nguồn chất liệu phong phú cho văn học yêu nước cuối thế kỷ XIX Nguyễn Đình Chiểu là một trong những nhà văn đã thành công khi đưa tính chất hiện thực vào những dòng thơ văn yêu nước của mình.
Trang 4I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I.1 Bối cảnh lịch sử xã hội
Nguyễn Đình Chiểu sống vào thời đất nước lâm vào cảnh suy vong, chế độ phong kiếnlúc này chỉ như ngọn đèn trước gió Sưu cao thuế nặng kèm với hạn hán, lụt lội và dịch bệnh
đã giết chết hàng vạn người Không những thế, nhà Nguyễn còn đặt ra chế độ bắt thợ, bắt dân
đi phu để xây thành, đắp đồn, xây lăng tẩm cho vua chúa, làm hao người tốn của không sao kểxiết:
“Vạn niên là vạn niên nào Thành xây xương lính, hào đào máu dân.”
Trong khi đó, tình trạng vỡ đê ở các nơi diễn ra liên tục, đê Văn Giang ở Hưng Yên bị
vỡ suốt 18 năm liền Đời sống nhân dân đã khổ lại càng chồng thêm khổ, hàng vạn người phảidắt díu nhau đi ăn mày khắp nơi
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta Triều đình nhà Nguyễn ươnghèn, bạc nhược không dám đứng lên chống giặc mà chỉ chống đỡ qua loa rồi cắt đất xin hàng,quay lại làm tay sai cho giặc và đàn áp nhân dân Đến năm 1884, cả nước rơi trọn vào tay thựcdân Pháp
Trước hoàn cảnh đất nước đang bị giày xéo bởi dấu chân của bọn thực dân, hàng loạt cáccuộc khởi nghĩa nổ ra chống lại triều đình, tay sai và bọn thực dân diễn ra trên khắp cả nước:cuộc khởi nghĩa của Trương Định, Phan Thanh Giản, Lam Duy Hiệp đến Nguyễn Hữu Huân,Nguyễn Trung Trực, Phan Tòng, Đinh Công Tráng, Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Hoa Thám,
Lê Văn Khôi,… nhưng tất cả đều bị đàn áp
Những biến động của đất nước, sự suy tàn, bất lực của giai cấp thống trị, cảnh lầm than củanhân dân, sự anh dũng của những người nghĩa sĩ đứng lên chống tay sai và ngoại xâm chính lànguồn chất liệu vô cùng phong phú để Nguyễn Đình Chiểu tạo nên những áng văn bất hủ củamình
I.2 Tác giả Nguyễn Đình Chiểu
I.2.1 Cuộc đời và văn nghiệp
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, sinh ngày 7-1822 tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định Thân sinh nhà thơ là Nguyễn
Trang 51-Đình Huy, người xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên là Thơ lại Văn hàn ty của Tổng trấn Lê Văn Duyệt Mẹ là Trương Thị Thiệt, người Gia Định.
Sinh ra trong thời cuộc đen tối của đất nước, Nguyễn Đình Chiểu đã chứng kiến hếtnhững lầm than, đau khổ của nhân dân cũng như sự bạc nhược của giai cấp thống trị Cuộc nổidậy của Lê Văn Khôi tại Gia Định đã gây ra những bão táp kinh hoàng ảnh hưởng trực tiếpđến gia đình Nguyễn Đình Chiểu Nguyễn Đình Huy bỏ trốn ra Huế, bị cách chức, sau đó trởvào Nam đón Nguyễn Đình Chiểu, đem gửi cho một người bạn để ăn học Cuộc sống 8 năm ởHuế đã giúp ông nhận rõ hơn sự thối nát và phức tạp của triều đình, đồng thời có điều kiện đểtiếp thu truyền thống văn hóa dân tộc ở đất kinh đô
Năm 1843, ông thi đỗ tú tài ở Trường thi Gia Định Năm 25 tuổi, ông trở ra Huế họctập, chờ khoa thi năm Kỷ Dậu (1849), nhưng chưa kịp thi thì có tin mẹ mất Trên đường trở vềquê chịu tang mẹ, vì quá lo buồn, khóc thương, ông lâm bệnh và mù cả hai mắt Về đến GiaĐịnh, sau khi mãn tang mẹ, ông tổ chức dạy học, bốc thuốc chữa bệnh và sáng tác thơ văn.Nhờ sống gắn bó với nhân dân, ông có điều kiện hiểu đồng bào của mình sâu sắc hơn Chính
trong thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác truyện thơ đầu tiên Lục Vân Tiên.
Khi ba tỉnh miền Đông rơi vào tay quân Pháp, không chịu sống trong vùng chiếm đóngcủa giặc, Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình xuôi thuyền về làng An Đức, tổng Bảo An, tỉnhVĩnh Long, nay là huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre Tại đây, ông tiếp tục dạy học trò, bốc thuốcchữa bệnh cho dân, đồng thời vẫn giữ mối liên hệ chặt chẽ với những sĩ phu yêu nước nhưPhan Văn Trị, Nguyễn Thông và lực lượng kháng chiến
Cụ đồ Chiểu đã sống trọn đời mình trong những biến cố thăng trầm của đất nước, ông
có dịp chứng kiến những đổi thay của nước nhà, chính vì thế, ông hiểu rõ được quy luật thịnhsuy của vũ trụ, hiểu thế nào gọi là luật nhân- quả Bản thân ông cũng đã nếm trải không biếtbao nhiêu gian khổ, ông có điều kiện tiếp xúc với đủ mọi tầng lớp trong xã hội… chính vì lẽ
đó, mà văn chương của ông như những thước phim quay cận cảnh hiện thực cuộc sống củanhững triều đại mà ông đã đi qua
Những sáng tác văn chương của Nguyễn Đình Chiểu có thể chia ra làm hai giai đoạn:trước và sau khi thực dân Pháp xâm lược Giai đoạn trước khi Pháp xâm lược chủ yếu có tác
phẩm Lục Vân Tiên Giai đoạn sau gồm hai truyện thơ là Dương Từ - Hà Mậu và Ngư tiều y
Trang 6thuật vấn đáp cùng với những bài văn tế: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế Trương Ðịnh, Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh, Điếu Phan Tòng và những bài thơ đường luật Hầu hết sáng
tác của Nguyễn Đình Chiểu đều được “viết bằng tiếng Việt”.
I.2.3 Quan niệm văn chương của Nguyễn Đình Chiểu
Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ có quan niệm văn chương nhất quán Ông chủ trương dùngvăn chương biểu hiện đạo lý và chiến đấu cho sự nghiệp chính nghĩa Nói khác hơn, ông làm
thơ là để "chở đạo, sửa đời và dạy người" Vì vậy, mỗi vần thơ của ông đều ngụ ý khen chê
công bằng, rạch ròi, và đều bộc lộ một tấm lòng thương dân, yêu nước của ông
Nguyễn Đình Chiểu tiếp nối quan điểm văn chương của các nhà Nho thời trước, đó là quan niệm “Văn dĩ tải đạo”:
“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”
Theo cụ đồ Chiểu, văn chương chính là để chở đạo, làm vũ khí chống lại ác tà Khikhông trực tiếp cầm vũ khí chiến đấu ngoài mặt trận, thì vũ khí duy nhất có thể chiến đấu vớigiặc chính là ngòi bút của mình, đó chính là vũ khí lợi hại nhất mà tác giả Nguyễn Đình Chiểu
có thể dùng phụng sự cho nước nhà Quan niệm ấy được thể hiện thống nhất trong toàn bộ sựnghiệp văn chương của Nguyễn Đình Chiểu ở cả hai thời kì sáng tác: trước và sau khi thực dân
Pháp đánh chiếm Nam Bộ mà tập trung nhất là ở hai tác phẩm nổi tiếng là Lục Vân Tiên và
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.
Nguyễn Đình Chiểu còn cho rằng văn chương chính là cái đẹp, đó là cái đẹp mang tính thống nhất giữa hình thức và bản chất:
“Văn chương ai chẳng muốn nghe Phun châu nhả ngọc, báu khoe tinh thần”
Chất liệu có thể làm nên vẻ đẹp cho văn chương chính là “đạo”, có thể hiểu đó là đạo đức, đạo lý con người trong xã hội Bên cạnh đó, để văn chương có được một vẻ đẹp hài hòa như thế thì trước nhất người làm chương phải có thật sự có tài, và phải có sự khổ luyện tu học thì mới có thể tạo nên những kiệt tác văn chương
I.3 Khái quát về Thơ văn yêu nước giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX
Trang 7I.3.1 Tình hình chung
Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, nước ta vừa phải đối phó với bọn thực dân Pháp xâmlược, vừa chống chọi với triều đình phong kiến mục nát và bọn tay sai, cho nên những sáng tácvăn chương trong giai đoạn này đều tập trung phản ánh tinh thần yêu nước chống áp bức,chống ngoại xâm
Văn thơ yêu nước đề cập tới vấn đề chính trị và nhân sinh quan Văn học giai đoạn nàygắn hoàn cảnh lịch sử xã hội đặc biệt, có nhiều biến cố trọng đại nên văn học phải phản ánhnhững vấn đề trung tâm nóng hổi của thời đại Phạm Văn Nghị trên đường hành quân vào Ðà
Nẵng đã làm bài Trà sơn quân thứ nói lên lòng căm thù giặc của mình:
“Người ra trận với tinh thần:
Mắt căm quân giặc phạm Trà Sơn, Nay tới Trà Sơn giặc đã tan.
Muốn tiến, quân đang đầy phẫn khích, Cho về, vua những ngại gian nan.
Tiến lui, đều bởi điều thiên định, Hay dở chi nề tiếng thế gian.
“Tùng bách tuế hàn”, lời văn đó, Tấc son đâu nỡ để tro tàn””
(Phạm Văn Nghị, Trà Sơn quân thứ, Nguyễn Văn Huyền dịch)Hình tượng người trí thức yêu nước, kiên cường chống giặc ngoại xâm còn được ngờisáng lên trong những trang văn của nhiều tác giả khác, như Nguyễn Hữu Huân đã viết một bàithơ thể hiện ý chí hiêng ngang, bất khuất của mình:
“Muôn việc cho hay ở số trời, Cái thân chìm nổi biết là nơi.
Mấy hồi tên đạn ra tay thử, Ngàn dặm non sông dạo gót chơi.
Trang 8Chén rượu Tân-đình nào luận tiệc, Câu thơ cố quốc chẳng ra lời.
Cương thường bởi biết mang nên nặng,
Hễ đứng làm trai chuốc nợ đời.”
Hay như Nguyễn Quang Bích trong Thư trả lời quân Pháp, tác giả đã thẳng thắn nêu rõ
tội của bọn thực dân Pháp và quyết tâm chiến đấu với bọn chúng cho đến cùng:“Hiệp thống
Bắc Kì quân vụ đại thần Thuần trung tướng Nguyễn, xin ngỏ lời cho vị đại thần Pháp quốc ở Bắc Kì rõ: Các ông cho chúng tôi kết đảng làm càn, tội đáng nghiêm trị, đáng phải diệt trừ và khuyên hãy ra đầu thú”
Còn như Phan Bội Châu, ông không chỉ bộc lộ tấm lòng yêu nước, mà còn nêu lên mộttinh thần sẵn sàng chống giặc cứu nước Ngay cả thời kỳ bị giam lỏng ở Huế, sống trong hoàncảnh nguy hiểm, luôn bị uy hiếp, đe dọa, thơ văn ông vẫn còn hừng hực khí thế :
"Ðúc gan sắt để dời non lấp bể Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ"
(Bài ca chúc tết thanh niên)
Tác giả Nguyễn Đình Chiểu cũng có những trang văn sục sôi lòng căm thù giặc:
“Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; Ngày xem ống khói chạy đen sì muốn ra
cắn cổ…”
Văn học đề cập đến vấn đề chống Pháp và thỏa hiệp đầu hàng Đối mặt với bọn thựcdân ngông cuồng, bỉ ổi, chính quyền nước ta không ra tay chống giặc, không dùng được sức
Trang 9dân, chúng đã thỏa hiệp đầu hàng với Pháp, chính vì thế, những nhà trí thức yêu nước đã dùngngòi bút của mình vạch trần bộ mặt hèn nhát của triều đình:
“Việc nước không lo, lo chuộc ruộng Binh hèn chẳng biết, biết ngâm thơ Nếu noi gương Minh Trị, Nhật Lạc Hồng đâu đến nỗi bơ vơ.”
(Bài vè Thất thủ kinh đô)Trong giai đoạn này, tinh thần chiến đấu bất khuất của nhân dân đã làm cảm hứng chocác tác giả Nhân dân có vai trò quyết định trong các cuộc kháng chiến:
“Bởi lòng chúng chẳng nghe thiên tử chiếu, đón ngăn mấy dặm mã tiền
Theo bụng dân phải chịu tướng quân thù, gánh vác một vai khổn ngoại”
(Văn tế Trương Công Định)Văn học phản ánh tình cảnh tan tóc, đau thương của đất nước Sống một cuộc sống giữabầu trời súng đạn, con người phải chịu đựng biết bao khổ sở, dân đã nghèo lại càng lầm thanhơn, hai câu thơ của Nguyễn Đình Chiểu đã có thể phát họa lên tình cảnh đáng thương ấy:
“Bỏ nhà lũ trẻ lơ thơ chạy Mất ổ bầy chim dáo dác bay”
(Chạy giặc)Tóm lại, văn học giai đoạn này đã bám sát cuộc sống, cuộc đấu tranh của nhân dân tachống Pháp, đã ghi lại một cách sinh động trung thành một giai đoạn lịch sử đau thương màhùng tráng của dân tộc, ghi lại cuộc chiến đấu bền bỉ của dân tộc ta Nguyễn Đình Chiểu cũngxuôi theo dòng chảy đó mà xây dựng nên những tác phẩm văn chương vô cùng đặc sắc
I.3.2 Tính hiện thực trong thơ văn yêu nước nửa cuối TK XIX
I.3.2.1 Khái niệm
Theo từ điển thuật ngữ Văn học, tính hiện thực được định nghĩa “là một hình thái ý
thức xãi hội, tất cả các yếu tố, các chỉnh thể văn học, từ nội dung đến hình thức, từ trào lưu văn học đến phương pháp sáng tác, loại thể văn học, … đều bắt nguồn sâu xa từ hiện thực khách quan, từ đời sống xã hội.” “Tính hiện thực còn được các nhà nghiên cứu sử dụng với ý
Trang 10nghĩa hẹp hơn, nó chỉ mối tương quan phù hợp như thật giữa phản ánh của văn học với cái hiện thực đời sống được miêu tả.” [351]
Như vậy, từ hiện thực khách quan, những gì đang diễn ra trong cuộc sống, xảy ra trướcmắt tác giả, thì tác giả lấy đó làm chất liệu để phản ánh vào trong tác phẩm của mình Hiệnthực trong văn học không phải là bức ảnh chụp lại chi tiết, cụ thể, hoàn toàn giống với hiệnthực khách quan, mà hiện thực trong tác phẩm văn học được phản ánh qua lăng kính thẫm mỹcủa các tác giả Văn học phản ánh hiện thực trong những ý nghĩa do thực tế đời sống gợi ra
I.3.2.2 Những biểu hiện của tính hiện thực trong thơ văn yêu nước nửa cuối
TK XIX
Trong giai đoạn văn học nửa cuối thế kỷ XIX, thơ văn yêu nước trở thành một khuynhhướng chủ đạo, mỗi tác giả đều có những cách thể hiện lòng yêu nước của mình qua các tácphẩm của họ Bên cạnh Nguyễn Đình Chiểu, có một số tác giả tiêu biểu cùng thời với ôngcũng có những biểu hiện cho tinh thần yêu nước của họ mà chúng ta phải chú ý như là NguyễnKhuyến, Trần Tế Xương…
Nguyễn Khuyến hay dùng lối nói ví von như một mũi gươm chọc thẳng vào bọn quan lạitriều đình, chúng là nguyên nhân gây ra biết bao nỗi oán than cho nhân dân, làm cho đất nướccàng đi vào bế tắc, thể hiện sự đau xót cho cảnh nước mất nhà tan:
“Năm Canh máu chảy đêm hè vắng Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ”
(Cuốc kêu cảm hứng)Ông còn có một thái độ phản khán mạnh mẽ, trực tiếp với bọn thống trị, ông không ngần ngạiphơi bày bản chất hèn hạ của chúng:
“Ai rằng ông dại với ông điên Ông dại sao ông biết lấy tiền”
(Tặng ông đốc học Hà Nam)Bên cạnh Nguyễn Khuyến lại có một ông thích ngạo đời như Tú Xương cũng đã bày tỏbiết bao nỗi lòng của mình trước cảnh mục ruỗng của đất nước, đó cũng là một thái độ, mộttinh thần yêu nước đáng trân quý Với Tú Xương thì ông chửi thẳng, chửi độc, không dè dặt sợ
ai với lối văn trào phúng của mình:
Trang 11“Tri phủ Xuân Trường được mấy niên Nhờ trời hạt ấy cũng bình yên Chữ y, chữ chiểu không phê đến Ông chỉ quen phê một chữ tiền”
(Đùa ông Phủ)Trần Tế Xương luôn mang trong mình một nỗi u hoài kín đáo trước thời cuộc và vận mệnhđất nước, sư trăn trở đó thường triền miên và day dứt:
“Nhân tài đất Bắc nào ai đó?
Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà”
( Vịnh khoa thi Hương năm Ðinh dậu)
Có thể thấy, mỗi tác giả đều có những hình thức văn chương khác nhau để bộc lộ tình cảmcủa bản thân, cụ thể là lòng yêu nước, có khi thì mạnh mẽ, sôi nổi, quyết liệt, có khi lại nhẹnhàng, kín đáo nhưng đầy chua xót Nhưng tụ chung, đó đều là những tình cảm, thái độ tốt đẹp
và chân thật mà các tác giả muốn cống hiến cho nước nhà, không thể dùng gươm, giáo thì họdùng bút, giấy như là một vũ khí chiến đấu
diện nội dung
II.1.Tình cảnh lầm than của nhân dân
Tầng lớp nhân dân là tầng lớp gánh chịu nhiều mất mát nhất, họ sống một cuộc sống khổcực vì địa chủ hào lí chiếm đoạt ruộng đất, quan lại tham nhũng, tô thuế phu dịch nặng nề, nạndịch bệnh, nạn đói hoành hành khắp nơi Tình cảnh điêu đứng của nhân dân được NguyễnĐình Chiểu đưa vào thơ văn thấm đẫm những giọt nước mắt khóc than của tác giả
Cảnh yên bình, cuộc sống sinh hoạt thường ngày của người dân trở nên hỗn loạn trong bài
Trang 12“Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy, Mất ổ đàn chim dáo dác bay”
Cái “phút sa tay” của “bàn cờ thế” thực cay nghiệt, những người dân nhỏ bé phải lâm
vào cảnh tan đàn xẻ nghé Đọc đến đến ta khỏi xót xa cho tình cảnh của những đứa trẻ ngâythơ vô tội, chúng đã phải hớt ha hớt hải, bước chân loạng choạng để tìm cách cứu lấy sinhmạng của chính mình Cũng như những cánh chim mỏng manh yếu ớt đang đập hoảng loạngiữa bầu trời khói lửa Không cần dùng những hình ảnh quá ước lệ, không cần những lối nóisâu xa, chỉ với hai cảnh tượng lũ trẻ không nhà và đàn chim mất ổ đã lột tả hết được sự lầmthan của nhân dân khi bị đẩy vào cuộc chiến tranh tàn bạo không hồi kết
Trong cuộc chiến tranh không cân sức với kẻ thù, không biết bao nhiêu người chiến sĩ
đã ngã xuống trên chiến trường, gây ra tình cảnh mất mát, đau thương:
“Gần Côn Lôn, xa Đại Hải, máu thây trôi nổi ai nhìn, Hàng cai đội bậc quản cơ, xương thịt rã rời ai cất?”
(Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh)Cuộc chiến tranh phi nghĩa đã lấy đi không biết bao nhiêu sinh mạng con người, nhândân ta phải chứng kiến sự hy sinh của những người chiến sĩ ngoài mặt trận Những con ngườitrên chiến trường thay nhau ngã xuống, thây chất đầy, máu chảy thành sông, xương cốt khôngmột người nhặt nhạnh chôn cất
Sự tang tóc của nhân dân không chỉ được thể hiện qua những con người đã hy sinhngoài chiến trường, mà còn qua những con người ở lại phải chứng kiến cảnh người thân họ ra
đi mãi mãi Trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, có thể thấy rõ là chiến tranh gây ra nhữngnỗi mất mát, đau thương không kể xiết:
“Đau đớn bấy, mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;
Não nùng thay, vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ”.
“Đây không còn là văn mà là lệ” Còn gì đau đớn hơn bằng người mẹ tuổi già sức yếu
chỉ mong có được một gia đình sung túc yên bình, mà giờ đây phải chứng kiến cảnh nhữngđứa con, đứa cháu máu mủ ruột rà của mình phải hy sinh khi tuổi đời còn quá trẻ, còn gì xót xahơn khi những người phụ nữ mất đi nơi nương tựa của cả cuộc đời mình, để giờ đây họ phảihoang mang, ngơ ngác Đến đây, ta có thể nghe văng vẳng những tiếng khóc kêu của những
Trang 13người mẹ, những người vợ cho những chàng thanh niên đã hy sinh vô nghĩa trên chiến trường,
đó là những tiếng khóc, tiếng kêu như xé ruột xé gan người đọc
Những người phụ nữ thì luôn chịu những oan ức, ngang trái Như nàng Kiều NguyệtNga bị tên Thái sư hãm hại, bắt nàng đem cống Hồ, nàng bị dồn ép đến đường cùng, để bảo vệdanh tiết của mình nàng không còn cách nào khác phải trầm mình tự vẫn:
“Trên trời lặng lẽ như tờ Nguyệt Nga nhớ nỗi tóc tơ chẳng tròn Than rằng: “Nước nọ kìa non Cảnh trời thấy đó người còn về đâu?”
Quân hầu đều ngủ đã lâu Lén ra mở bức rèm châu một mình
“Vắng người có bóng trăng thanh Trăm năm xin gửi chút tình lại đây.
Vân Tiên anh hỡi có hay Thiếp nguyền một tấm lòng ngay với chàng!”
Than rồi bức tượng vai mang Nhắm chừng nước chảy vội vàng nhảy ngay.”
(Lục Vân Tiên)Không thể nào mua chuộc, ép buộc Kiều Nguyệt Nga lấy con trai mình, quan thái sư đãtrả thù một cách xảo quyệt, hèn hạ Kiều Nguyệt Nga trở thành vật hi sinh, nàng trở thànhcống phẩm dâng chúa Ô Qua để giặc lui binh Nếu như Nguyễn Du dùng hai câu tả cảnh vật
giờ khắc quyết định tự tử của Kiều trên sông Tiền Đường: “Cửa bồng vội mở rèm châu- Trời
cao sông rộng một màu bao la” thì ở đây, Nguyễn Đình Chiểu cũng đã viết cái phút đớn đau
ấy của Kiều Nguyệt Nga bằng những vần thơ ứa lệ:
“Quân hầu đều đã ngủ lâu, Lén ra mở bức rèm châu một mình.”
Đoạn thơ cho ta thấy sự bức bách của nàng Nguyệt Nga nói riêng, cũng như của phụ nữnói chung, họ bị xem như một món hàng, mua đi bán lại, không thể dùng được thì đem chongười khác, chỉ là phận liễu yếu đào tơ, họ không thề đứng lên chống trả, họ chỉ còn cách dùng
Trang 14mạng sống của mình để đánh đổi như một cách thể hiện sự vùng vẫy của mình Đến đây, ta lạicàng thêm xót xa cho những con người thấp cổ bé họng trong xã hội Bên cạnh đó, ta còn thấyđược lòng trung trinh tiết liệt, giữ trọn đạo nghĩa của nàng Kiều Nguyệt Nga, và đó cũng là vẻđẹp của người phụ nữ Việt Nam mà Nguyễn Đình Chiểu đã dụng công tô vẽ.
Những giá trị văn hoá - tôn giáo truyền thống tốt đẹp của dân tộc cũng dần mất đi Trướcthực tại nước mất nhà tan, người dân trở nên bàng hoàng, họ như chênh vênh ở bờ vực thẳm,không biết bám víu vào đâu, đã vậy, họ còn bị bọn giặc đánh vào tâm lý, chạm đến vấn đề tâmlinh, làm cho đất nước thêm tang tóc:
“Bao nhiêu theo đạo Tây phương Phước lành chưa thấy, tai ương tới mình Trên thời nghiêng nước nghiêng thành Dưới thời nhà cửa tan tành xiết bao Phật linh mấy cứu ai nào?”
(Dương Từ Hà Mậu)
Phật giáo không còn giữ được truyền thống đạo đức tốt đẹp “Trong và thật sáng hai bờ
suy tưởng/ Rất hiêng ngang mà nhân ái chan hòa” như ngày trước, “Tôn giáo lôi cuốn con người vào con đường rời xa thế tục, chỉ tụng kinh gõ mõ, giải thoát cho riêng mình”, chính vì
thế mà dẫn đến cảnh nhiều người bỏ mặc thế sự, không chăm lo đời sống cho cộng đồng, nhưvậy thử hỏi làm sao mà nhân dân không lâm vào cảnh khốn đốn:
“Long môn vừa vắng dấu chàng Tình nhà man mác lòng nàng héo don Lìa nhau đã tám năm tròn, Trông chồng đã mỏi thấy con thêm sầu Tuổi già mình đã liền đau, Tấc hơi khó nổi cầm lâu chờ chồng Liễu thơ từ thuở thác rồi, Hai con tám tuổi mồ côi nhà nghèo.”
Trang 15Trong tình cảnh đất nước ngày càng lâm nguy, bọn quan lại lại tranh đua xâu xé, tranhquyền đoạt vị, làm cho đất nước trở thành một hố sâu chứa đầy máu và nước mắt của ngườidân:
“Muôn dân ép ráo mỡ dầu Ngày trau khí giới thành xâu điện đài Thêm bầy gian nịnh chen vai, Gây nên mọi rợ từ ngoài lấn trong Đánh nhau thây bỏ ngoài đồng Máu trôi đọng vũng non sông nhơ hình.”
(Ngư tiều y thuật vấn đáp) Khi đất nước có xảy ra biến cố, thì nhân dân luôn phải gánh chịu những tổn thất nặng
nề nhất, những người dân chân lấm tay bùn, thấp cổ bé họng lâm vào cảnh màn trời chiếu đất,
dở sống dở chết Bằng ngòi bút hiện thực của mình, Nguyễn Đình Chiểu đã vẽ lên được bứctranh đau thương, tăm tối, của nhân dân ta dưới ách nô lệ
II.2 Vạch trần, tố cáo tội ác của triều đình phong kiến và bè lũ tay sai
Với một trái tim đầy ắp dòng máu yêu nước, bất khuất, kiên cường, Nguyễn Đình Chiểu
đã dùng ngòi bút của mình để viết nên một loạt văn thơ yêu nước, đó cũng là máu, là thịt củaông Đồ Chiểu đã dành rất nhiều trang văn của mình để vạch trần, tố cáo tội ác của triều đìnhphong kiến và bè lũ tay sai
Cuối thế kỉ XIX, chế độ phong kiến phản động nhà Nguyễn đã trở thành kẻ phản bội,đầu hàng giặc Trước tình hình đất nước lâm nguy, bị giày xéo dưới gót chân tàn bạo của thựcdân xâm lược, lẽ tất yếu là phải chống giặc, thì triều đình nhà Nguyễn lại bộc lộ sự yếu kémtoàn diện của mình trong việc quản lí, điều hành và bảo vệ chủ quyền dân tộc Bọn chúng chỉchống cự qua quýt rồi quỳ lạy quân giặc xin hàng, xin cắt đất, chia dân, đàn áp nhân dân khi
nhân dân đứng lên mà chống giặc Thật uất ức, đau xót và căm phẫn: “Vì ai khiến dưa chia,
khăn xé, nhìn giang sơn ba tỉnh luống thêm buồn; biết thủa nào cờ phất trống rung, hỡi nhật nguyệt hai vừng sao chẳng đoái?” (Văn tế Trương Định).
Trang 16Mang danh là vua, là quan, những người đứng đầu của một nước; lại mang thân là phụmẫu của dân, đáng lí phải vì sự ấm no, hòa bình của dân mà gắng sức đấu tranh, bảo vệ đấtnước Ấy thế mà bọn vua quan, nịnh thần này lại nỡ đầu hàng, cắt đất cho giặc, đẩy nhân dânvào cảnh lầm than:
“Kể từ Thạch Tấn ở ngôi,
U, Yên mấy quận cắt bồi Khiết đan.
Sinh dân nào xiết bùn than,
U, Yên trọn cũng giao bàn về Liêu”.
(Ngư tiều y thuật vấn đáp)Đất nước đã rơi vào tay bọn giặc ngoại xâm do sự bất tài của lũ vua quan bán nước Từnay, nhân dân sẽ sống trong đói khổ, chịu sự đày đọa của xiềng xích thực dân xâm lược:
“Én vào nhà khác toan nào kịp Hươu thác tay ai vọi hãy xa”
(Thơ điếu Phan Công Tòng)Không chỉ vậy, bọn chúng còn tranh giành nhau danh lợi, không nghĩ đến việc nước,
việc dân, chỉ khổ những người dân nghèo vô tội: “Bọn tam giáo quan theo đường cũ, riêng
thân bất hạnh lâm nghèo; bầy cửu lưu cứ giữ nghề xưa, thầm tủi vô cô chịu cực”.( Văn tế
nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh)
Nguyễn Đình Chiểu vô cùng căm phẫn trước thực tế ấy, ông lên án kịch liệt những bọn
quan tham theo tà đạo hại dân, hại nước lầm than: “Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa
hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn; sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gậm bánh mì, nghe càng thêm hổ”(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)
Ngoài ra, bọn vua quan đó còn như một “lũ chuột xạ, chuột lắt, chuột chù, chuột cống” chuyên đục khoét của dân làm đầy túi tham của mình: “ Lớn nhỏ răng đều bốn cái, ăn của
Trang 17người đục khoét biết bao nhiêu…”, “ Nếp gạo của trời nuôi mang, ăn phá rồi còn kéo xuống hang; nệm mền của chúng che thân, cắn nát hết lại tha vào lỗ” Là những người nắm trong tay
vận mệnh dân tộc, đáng lẽ phải mang tính lành, sống phải trọn đạo, noi theo nhân nghĩa, ấy
vậy mà bọn họ lại “đem lòng quỷ quái”, “làm thói gian tham” vơ vét của cải của dân, mặc
cho dân đói khổ, kêu oán trời đất Trong “Thảo thử hịch” (Hịch đánh chuột), Nguyễn Đình
Chiểu đã thốt lên rằng: “Ngao ngán bầy cái thân chuột thối, biết ngày nào Ô thước phanh
phui; nực cười thay cái bụng chuột tham, trông bao thuở Hoàng hà ráo cạn” Vì đau xót, căm
phẫn trước thực tế, Nguyễn Đình Chiểu chỉ mong cho những kẻ tham quan đó phải chịu sựtrừng phạt thích đáng, có như thế đời sống của dân mới có thể thái bình, no ấm được
Tình trạng bóc lột áp bức nhân dân, sự thối nát của triều đình nhà Nguyễn đã bị NguyễnĐình Chiểu thẳng tay vạch mặt:
“Muôn dân ép rảo mở dầu, Ngày trau khi giới, thảng xâu điện, đài.
Thềm bầy gian nịnh chen vai, Gây nên mọi rợ từ ngoài lấn trong”
(Ngư tiều y thuật vấn đáp)Chính sự tham lam của những con người đứng đầu một đất nước đã dẫn đến muôn cảnhlầm than, để cho bọn giặc ngang nhiên giày xéo lên quê hương, làng mạc, đồng bào mình.Nguyễn Đình Chiểu khóc thương cho nhân dân, than oán những kẻ bán nước, hại dân, chờ
mong một người có đủ tài, đủ đức cống hiến cho dân tộc: “Khóc là khóc nước nhà cơn bấn
loạn, hôm mai vắng chúa, thua buồn nhiều nỗi khúc nôi; than là than bờ cõi lúc qua phân, ngày tháng trông vua, ngơ ngẩn một phương tớ dại” (Văn tế Trương Định).
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: “Hồi tưởng cuộc chiến đấu anh dũng vô
song của dân tộc Việt Nam ta ở Nam Bộ lúc bấy giờ, ruột gan chúng ta đau như cắt xé Giá như triều đình lúc bấy giờ không ở trong tay vua chúa nhà Nguyễn phản bội và đầu hàng, mà
ở trong tay những người kế tục sự nghiệp yêu nước và anh dũng của Nguyễn Huệ, thì phong
Trang 18trào chống Pháp lúc bấy giờ ở Nam Bộ chắc còn mạnh mẽ hơn nhiều, và kiên trì đấu tranh cho đến thắng lợi,…” Chính vì sự hèn nhát, nhu nhược của triều đình nhà Nguyễn mà dân ta
phải chịu cảnh nước mất, nhà tan Nhân dân “trông tin quan như trời hạn trông mưa” Không
chịu nổi ách thống trị của bọn giặc cướp nước, nhân dân phải tự đứng lên đấu tranh giải phóngcho mình mà không mong chờ vào bọn vua quan bán nước cầu vinh Lời của cố thủ tướngcũng chính là nguyện vọng, ước mơ của Nguyễn Đình Chiểu nói riêng và cả dân tộc Việt Namnói chung
Bằng ngòi bút hiện thực, Nguyễn Đình Chiểu đã lên án và phê phán tội ác của bè lũ vuaquan bán nước đồng thời cũng nói lên quan điểm chính trị của mình Ông thà chết chứ không
bao giờ luồn cúi trước kẻ thù, bán nước cầu vinh là điều nhục nhã và xấu hổ nhất:“Thà thác
mà đặng câu địch khái về theo tổ phụ cũng vinh; hơn còn mà chịu chữ đầu tây, ở với man di rất khổ”(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc).
II.3 Tố cáo tội ác của bọn thực dân Pháp và vạch trần bộ mặt bọn tay sai, bán nước.
Thực dân Pháp đã có ý đồ xâm chiếm nước ta từ lâu, từ cuối thế kỷ XVIII nhưng âmmưu này chưa thực hiện được Mãi đến cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp lấy cớ triều đình nhàNguyễn đã bắn giết các giáo sĩ và ngăn chặn thông thương nên đã chính thức xâm lược ViệtNam.Thực dân Pháp phải mất gần 40 năm mới đặt ách thống trị trên đất nước ta và hơn mộtthế kỷ nhân dân ta phải sống dưới sự cai trị của Pháp Trong điều kiện xã hội Việt Nam nửacuối thế kỷ XIX thì sự kiện Pháp xâm lược Việt Nam là sự kiện quan trọng, nổi bật, chi phốicác sự kiện khác và có ảnh hưởng rất lớn đến mọi tầng lớp người trong xã hội
Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, nhân dân ta đã đấu tranh quyết liệt, phong tràochống Pháp diễn ra sôi nổi nhưng do không có lực lượng hậu thuẫn nên cuối cùng lâm vào thấtbại Mất nước là do nhà Nguyễn phản động, sợ dân hơn sợ giặc chứ hoàn toàn không phải dođịnh mệnh Đây cũng chính là giai đoạn lịch sử đau thương mà hùng tráng của dân tộc ta Cũng
từ đây, khuynh hướng văn học yêu nước chống Pháp ra đời mang lại cho văn học một luồngsinh khí mới, một sức sống mới Nguyễn Ðình Chiểu là tác giả tiêu biểu đại diện cho khuynh
Trang 19khướng này Thơ văn của ông bám sát cuộc sống, cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống Pháp,
đã ghi lại một cách sinh động trung thành một giai đoạn lịch sử đau thương mà hùng tráng củadân tộc, ghi lại cuộc chiến đấu bền bỉ của dân tộc ta, đồng thời là bản án đanh thép, nhữngtrang châm biếm sắc sảo vạch trần những luận điệu hèn nhát, bỉ ổi của triều đình, bọn vua quan
vô trách nhiệm, bè lũ Việt gian bán nước
II.3.1 Tố cáo tội ác của bọn Thực dân Pháp
Nguyễn Đình Chiểu sống ngay trên mảnh đất Miền Nam đang bị thực dân nuốt dần
từng mảng, là người chịu cảnh “ tan nhà, mất nước” trong những năm đầu cuộc chiến nổ ra,
ông là người giương lá cờ tiên phong của dòng văn học yêu nước, thơ văn Nguyễn Đình Chiểuchuyển từ đề tài đạo đức sang đề tài đánh giặc Tây, cứu nước
Người dân đang sống đời sống thanh bình bỗng nhiên bị đàn áp Đất nước bao đời cóchủ nay bỗng dưng lại thuộc về tay kẻ khác Không những vậy thực dân Pháp còn đẩy mạnhchính sách khai thác thuộc địa, bắt dân ta phải phục vụ cho chúng Lòng dân oán hận, bọn
ngoại bang tàn sát dân ta, trong bài “Ngóng gió đông” Nguyễn Đình Chiểu cũng đã căm phẫn
nói lên điều này:
“Bờ cõi xưa đà chia đất khác Nắng sương nay há đội trời chung Chừng nào thánh đế ân soi thấu?
Một trận mưa nhuần rửa núi sông”
Và cũng vì quá đau đớn trước thảm cảnh mà quân Pháp đã gây nên cho đồng bào ông
làm bài thơ "Chạy giặc" Bài thơ này có ý nghĩa vô cùng to lớn, nó đã mở đầu cho dòng văn
thơ yêu nước của dân tộc ta trong thế kỉ XIX Nhà thơ đau cho nỗi đau của nhân dân lầm than
khi “Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây”; sôi sục căm thù tội ác tày trời của quân giặc ngang
nhiên cướp nước:
“Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy,
Trang 20Mất ổ đàn chim dáo dát bay.
Bến Nghé của tiền tan bọt nước, Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”.
Cảnh họp chợ, cảnh tan chợ là nhịp sống yên bình của nhân dân ta Tiếng súng Tây bấtngờ nổ rền trời đã làm cho nhịp sống ấy bị đảo lộn Súng vừa nổ, giặc đã ập đến Người lớncòn chưa kịp đi chợ về hoặc còn đang ở ngoài đồng Cho nên hốt hoảng lũ trẻ dắt díu nhauchạy lơ xơ Dường như ta chỉ nhìn thấy sự rã rời, hốt hoảng sắp kiệt sức của những em bé, rồisau mới biết là các em chạy Hình ảnh đàn chim mất ổ dáo dát với lũ trẻ bỏ nhà chạy lơ xơ thật
là đặc sắc Nhưng cũng phải thấy thêm rằng khi giặc đến, chẳng những con người khốn khổ
mà chim muông cũng không được yên ổn Giặc đến làm đau cả sông núi, đau cả chim muông,đau cỏ cây
Đặc biệt là trong bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” người đọc thấy rõ từng bản chất, tội
ác của bọn thực dân, chúng vô cùng dã man và bạo ngược Mở đầu bài văn tế Nguyễn ĐìnhChiểu đã thể hiện sự lo lắng, nỗi bất an trước thời cuộc:
“Hỡi ôi!
Súng giặc đất rền Lòng dân trời tỏ”
Tiếng than vang lên mà nghe sau đau thương đến thế.Tiếng than ấy cho ta một ý nghĩ
về một cảnh tan thương chết chóc là cảnh chiến tranh tan khốc với những người đã bị tử trậntrên chiến trường Nối tiếp ý nghĩa phần đầu bài tế tác giả đã khái quát đầy đủ hai mặt của mộtbiến cố chính trị lớn: cuộc xâm lăng ào ạt bằng vũ khí tối tân của thực dân Pháp và ý chí chống
xâm lăng của nhân dân hiện lên sáng ngời Kẻ thù ngày càng lộ diện, nghênh ngang “bòng
bong che trắng lốp”, “ống khói chạy đen sì”, sự căm ghét của người nông dân đã nâng lên
thành thái độ căm thù mãnh liệt, sẵn sàng bùng nổ ra thành hành động, họ “muốn tới ăn gan”,
“muốn ra cắn cổ”
Trang 21Qua đó có thể thấy được lòng căm thù giặc đến tột cùng của nhân nhân, của tác giả đốivới bọn cướp nước Quả thật không phải ngẫu nhiên mà những chi tiết miêu tả sự hoành hành
ngang nhiên khiêu khích của quân thù đã được dùng với những màu sắc kích động “trắng
lốp”, “đen xì” để đủ sức tạo nên những phản ứng tâm lí tự nhiên và quyết như vậy
Tố cáo tội ác của thực dân Pháp không chỉ có trong “ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” mà nó
còn được thể hiện trong hàng loạt sáng tác khác của Nguyễn Đình Chiểu:
“Phạt cho đến người hèn, kẻ khó, thâu của quay treo Tội chẳng tha con nít , đàn bà đốt nhà bắt vật.
Kể mười mấy năm trời khốn khổ, bị khảo, bị tù , bị đày, bị giết, trẻ già nào xiết kể tên Đem ba tấc hơi mọn bỏ liều, hoặc sông ,hoặc biển ,hoặc núi, hoặc rừng, quen lạ thảy đều rơi nước mắt”
(Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh)
Khi bọn ngoại xâm chiếm được đất, chúng đã gây nên vô số điều tàn ác, hủy hoại cuộcsống Từng lời trong đoạn văn là những lời phẫn uất xót xa khi nói đến tội ác của thực dânPháp Mặc dù người đọc không chứng kiến nhưng có thể thấy được thực dân Pháp như đang lêmáy chém đi khắp miền Nam, đàn áp cướp bóc người dân, không chừa tầng lớp nào Ngườidân vô tội cũng chịu cảnh tù đày, tra khảo Cướp sạch, giết sạch không cho người dân có lốithoát
Không những cướp bóc, thực dân Pháp còn thẳng tay đàn áp các cuộc khởi nghĩa củanhân dân ta, chúng lấy vũ khí hạng nặng để chống chọi với giáo, mác, gậy gộc, khiến đất nướcvốn dĩ thanh bình bỗng chốc không ngày nào được yên:
“Sức giặc Lang Sa, nhiều phương quỷ quái, Giăng dưới nước tàu đồng, tàu sắt, súng nổ như bắp rang Kéo lên bờ Ma Ní, Mã Tà, đạn bay như mưa vãi.”
Trang 22Súng ống, đạn dược là những thứ mà một đất nước thanh bình không quen thấy Nhưngbọn cướp nước đã mang đến khiến cho dân ta không ngày nào sống yên.
Nguyễn Đình chiểu dùng thơ văn của mình để nói lên nỗi thống khổ của nhân dân, để
đả kích bọn thực dân cướp nước Ông tố cáo những thủ đoạn hung tàn của lũ quỷ trắng xâmlăng và căm thù chúng đến tận xương tủy Thơ văn của ông thấm nhuần lý tưởng đạo đức caođẹp nhân nghĩa với những con người sống cao đẹp nhân hậu thủy chung biết giữ gìn nhân cáchngay thẳng cao cả dám đấu tranh và có đủ sức mạnh để chiến thắng những thế lực bạo tàn cứunhân dộ thế Tiếng nói của Nguyễn Đình Chiểu là tiếng nói của truyền thống bất khuất của dântộc ta, cũng là tiếng nói của tinh thần tiết tháo của người tri thức Việt Nam chân chính
II.3.2 Vạch trần bộ mặt bọn tay sai bán nước
Không chỉ tố cáo tội ác thực dân Pháp, kêu gọi tinh thần đấu tranh chống Pháp mà thơvăn Nguyễn Đình Chiểu còn vạch trần bộ mặt xảo trá, ngụy biện của bọn phản bội quê hương,
bọn “theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc” để “ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm
bánh mì”, những kẻ tham danh cầu lợi “ăn dơ tanh rình, đổi hình tóc râu”:
“Thảo ngay chẳng biết, lỗi nghi thiên luân Rốt cuộc sẽ:
Lung lòng nhân dục, chuốc tay họa trời.”
(Ngư Tiều y thuật vấn đáp)Con người Nguyễn Đình Chiểu luôn luôn tỏ thái độ khinh miệt bọn lợi dụng vănchương để làm việc phi nghĩa, hại dân hại nước:
“Thấy nay những nhóm văn chương Vóc dê da cọp khôn lường thực hư”
(Ngư Tiều y thuật vấn đáp)
Trang 23Vì lòng căm ghét tột cùng bọn thực dân và tay sai theo giặc, trong bài “Hịch kêu gọi
nghĩa sĩ đánh Tây”, nhà yêu nước thời ấy đã đanh thép cảnh cáo:
“Xin chở phân bì kẻ sĩ, Hoặc ra làm phả, hoặc ra làm huyện.
Ấy là đồ hư, đồ bỏ, đồ thủi, đồ nhơ.
Chở thác chước thằng dân, Hoặc theo mướn, hoặc theo thuê,
Ấy những đứa dại, đứa hoang, đứa cùng, đứa quái
Nhưng qua những lời cảnh cáo ở trên, nhà thơ không liệt bọn tay sai ngang hàng vớibọn giặc xâm lược, và có thái độ phân biệt đối xử với từng loại đối tượng Trong khi kết tộinặng bọn xâm lược và tay sai ngoan cổ tự giác hợp tác với địch, đối vời những người lầmđường, Nguyễn Đình Chiểu tìm cách khuyên răn, phân tích điều hơn lẽ thiệt :
“Dầu vinh cũng tiếng nhân thần ; Trâu cày ngựa cưỡi cái thân ra gì ! Chở ăn lộc nước đời suy,
Bẫy chim lưới thổ e khi mắc nàn.
Trối ai ra sức muống săn, Một mai hết thỏ cọp ăn đến mình”.
Với Nguyễn Đình Chiểu, ông dùng ngòi bút của mình để tấn công, đánh trả những lờihăm dọa, biện minh, ngụy biện chống đỡ của bọn phản nước Chính vì thế ông càng cố gắnggiữ cho mình khí tiết thanh cao, sống không thẹn với đời Có thể nói Nguyễn Đình Chiểu lànhà thơ Việt Nam tiên phong đề cao người nông dân, người du kích chống Pháp, tố cáo tội ácbọn thực dân Trong cái thời “khổ nhục nhưng vĩ đại” của dân tộc, Nguyễn Đình Chiểu đã thể
Trang 24hiện mình đúng nghĩa là một người con nước Việt có tinh thần yêu nước, tinh thần chiến đấukhông mệt mỏi với kẻ thù, không những kẻ thù thực dân Pháp mà còn là bồi bát bọn tay sai.
II.4 Nỗi lòng dân tộc thông qua cảnh sắc quê hương
Nguyễn Đình Chiểu là người chứng kiến toàn bộ những nỗi bi thương, tan tác mà lũgiặc xâm lược gây ra cho nhân dân Khi giặc Pháp nổ phát súng đầu tiên ở Gia Định, mở đầucông cuộc xâm lược đẫm máu của chúng trên đất Nam Kì - Lục tỉnh vào đầu năm 1859 Saukhi tòa thành này thất thủ, Nguyễn Đình Chiểu đưa gia đình về sống ở Thanh Ba (Cần Giuộc),tức quê vợ ông Vô cùng đau đớn trước thảm cảnh mà quân Pháp đã gây nên cho đồng bào
ông, và rất thất vọng về sự hèn yếu, bất lực của triều đình, ông làm bài thơ “Chạy giặc”:
“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây Một bàn cờ thế phút sa tay
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy Mất ổ bầy chim dáo dác bay”
(Chạy giặc)Một buổi chợ quê đang diễn ra một cách yên bình thì bỗng nhiên tiếng súng Tây nổ ầm
ầm: :“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây” Người dân cũng phải hoảng hốt, náo loạn Tiếng súng nổ ra cũng là lúc Một bàn cờ thế “phút sa tay” báo hiệu thất bại đã ập đến với quân triều
đình Thời gian tiếng súng nổ cũng là lúc dân ta rơi vào tay bọn giặc Thời gian diễn ra tiếng
súng nổ và phút sa tay nhanh như chớp mắt càng làm tăng thêm tính chất đột ngột, bất ngờ,
căng thẳng của tình thế Chính điều đó dẫn đến cảnh tượng náo loạn, làm “tan đàn xẻ nghé”,
phá huỷ cái không gian yên lành của một buổi chợ quê Thật đáng thương cho những đứa trẻ,bọn chúng cũng hoảng hốt, bần thần trước những âm thanh vang rền trời rền đất, những tâmhồn trẻ thơ sống trong nơm nớp lo sợ, dắt díu nhau chạy lơ xơ vì trong thời điểm này mọi thứ
gần như đã hoảng loạn, người nào người nấy bỏ chạy, tìm chỗ ẩn nấp: “Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ
chạy/Mất ổ đàn chim dáo dát bay” Cả người lẫn vật đều rơi vào thế hoảng loạn, dù có cố
gắng bỏ chạy nhưng chưa chắc đã được sống yên ổn khi mà lũ giặc đã nổ súng càn quét
Trang 25“Bến Nghé của tiền tan bọt nước Ðồng Nai tranh ngói nhuộm mầu mây”
(Chạy giặc)
Đó chỉ là những cảnh hoảng loạn trong một buổi họp chợ nhỏ, còn nhiều vùng quê rộnglớn khác cũng đang chịu những tổn thất, trong đó Bến Nghé và Đồng Nai vốn là nơi buôn bánsầm uất, tập trung đông đúc thế mà trong một phút giây thì mọi thứ đã tiêu tan Tiền của, tài
sản của nhân dân ta bị giặc cướp phá sạch “tan bọt nước” Nhà cửa, xóm làng, quê hương nhà thơ bị đốt cháy, lừa khói nghi ngút “nhuốm màu mây” đầy chết chóc, đau thương Bên cạnh
nỗi đau thể xác là nỗi đau tâm hồn của mọi người dân nước Việt bởi từ đây phải chịu cảnhnước mất nhà tan
Bao nhiêu cảnh là bấy nhiêu tình cảm mà cụ Đồ Chiểu dành cho quê hương, đất nước,đặc biệt là vùng Nam Bộ Sau khi chiếm được Gia Định, quân Pháp bắt đầu mở rộng cuộc tấncông ra các vùng lân cận như Tân An, Cần Giuộc, Gò Công Những vùng đất tươi đẹp bỗngtrở nên u ám, heo hút đến đáng sợ Trên khắp mọi nẻo đường của Lục tỉnh nhuốm màu tangtóc, thê lương đến não ruột Tất cả những vùng đất này đã in dấu bao chiến công và tổn thấtcủa nghĩa sĩ và nhân dân, được nhà thơ tái hiện bằng những nét rất chân thực làm xúc độnglòng người:
“Rạch Lá, Gò Công mấy trận, người thấy đã kinh;
Cửa Khâu, Trại Cá khắp nơi, ai nghe chẳng hãi.
Trời Bến Nghé mây mưa sùi sụt, thương đấng anh hùng gặp bước gian truân;
Đất Gò Công cây cỏ ủ ê cám thần tử nỗi lòng ưu ái.”