LỜI CAM ĐOAN Tôi tên là Phan Thị Hoàn, tác giả của luận văn “Các hình thức khai thác và chế biến hải sản trong cộng đồng ngư dân ven biển Cửa Lò, Nghệ An”.. CÁC HÌNH THỨC KHAI THÁC NGUỒN
Trang 1Tr-ờng đại học quốc gia hà nội tr-ờng đại học KHOA HọC Xã HộI Và NHâN VĂN
- -
Phan thị hoàn
Các hình thức khai thác và chế biến hải sản trong cộng đồng ng- dân
ven biển cửa lò, nghệ an
luận văn thạc sỹ khoa học lịch sử
Hà Nội 2008
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Phan Thị Hoàn, tác giả của luận văn “Các hình thức khai thác
và chế biến hải sản trong cộng đồng ngư dân ven biển Cửa Lò, Nghệ An” Tôi cam đoan luận văn này là kết quả làm việc nghiêm túc của tôi trong một năm qua, từ tháng 11-2007 đến tháng 12-2008 Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sự không trung thực về thông tin hoặc nguồn thông tin được sử dụng trong luận văn
Hà Nội, tháng 11 năm 2008
Phan Thị Hoàn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin gửi lời biết ơn chân thành tới cán bộ, các gia đình ngư dân – những con người miền biển chân chất và phóng khoáng - tại phường Nghi Thủy, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An đã nhiệt tình hỗ trợ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, khảo sát thực địa Tôi đặc biệt cảm ơn bác Nguyễn Hồng Hải – Chủ tịch hội ngư dân phường – đã xem tôi như người nhà, đưa tôi
đi gặp gỡ các cá nhân và hộ gia đình trong phường, không quản ngại cái nắng
hè gay gắt và gió Lào thiêu đốt của miền Trung
Nghiên cứu của tôi sẽ không thể được thực hiện một cách khoa học nếu không có sự hướng dẫn tận tâm của thầy giáo: Phó Giáo sư – Tiến sỹ Nguyễn Duy Thiệu, chân thành cảm ơn thầy
Tôi cũng xin gửi lời tri ân tới những người đi trước, bạn bè đã cho tôi những lời khuyên, lời góp ý vô cùng bổ ích để hoàn thành bản luận văn
Đặc biệt, tôi gửi lời cảm tạ tới gia đình, người thân và bạn bè đã luôn bên cạnh hỗ trợ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành kết quả nghiên cứu
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của tất cả những ai quan tâm tới đề tài
Hà Nội, tháng 11 năm 2008
Phan Thị Hoàn
Trang 4MỤC LỤC TRANG
LỜI CAM ĐOAN 2
LỜI CẢM ƠN 3
MỤC LỤC 4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ 7
MỞ ĐẦU 8
1 Lý do và mục đích chọn đề tài 8
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 10
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 14
3.1 Phạm vi 14
3.2 Đối tượng 16
4 Phương pháp nghiên cứu 16
5 Một số khái niệm như là công cụ nghiên cứu 17
6 Bố cục luận văn 19
CHƯƠNG I CỬA LÒ – THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƯỜI 17
1 Về điều kiện tự nhiên và nguồn lợi biển 17
1.1 Điều kiện địa hình, khí hậu 17
1.2 Nguồn lợi biển 19
1.3 Địa lý hành chính 20
2 Dân cư 21
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển 21
2.2 Về văn hóa 28
2.2.1 Đời sống vật chất 28
2.2.2 Tín ngưỡng, lễ hội 29
3 Về tình hình kinh tế - xã hội 34
Tiểu kết 37
Trang 5CHƯƠNG II CÁC HÌNH THỨC KHAI THÁC NGUỒN LỢI HẢI SẢN CỦA
CỘNG ĐỒNG NGƯ DÂN VEN BIỂN CỬA LÒ 38
1 Nhận thức của ngư dân về môi trường tự nhiên và nguồn lợi hải sản 38
1.2 Về chế độ thuỷ triều và sơ đồ nước mặt - nước đáy 39
1.3 Về mùa cá và làn nước của các loại hải sản 41
1.4 Những thay đổi trong nhận thức của ngư dân về môi trường tự nhiên và nguồn lợi 42
2 Các hình thức khai thác và hệ thống ngư cụ 43
2.1 Lưới rút 47
2.2 Câu 50
2.3 Dạ 52
2.3.1 Dạ bướm 52
2.3.2 Dạ ván 53
2.3.3 Dạ cào 54
2.3.4 Dạ luồi 54
2.3.5 Dạ va va 54
2.4 Vó ánh sáng, Mành 55
2.5 Te 57
2.6 Bóng ghẹ 57
3 Những thay đổi trong khai thác hải sản qua các thời kỳ 58
4 Các hình thức tổ chức khai thác hải sản 66
4.1 Phân công lao động theo giới 66
4.2 Tổ chức đánh bắt theo thuyền 68
4.3 Tổ chức đánh bắt theo nhóm 70
5 Các loại sản phẩm và mạng lưới phân phối sản phẩm 71
Tiểu kết 76
CHƯƠNG III CÁC HÌNH THỨC CHẾ BIẾN HẢI SẢN CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯ DÂN VEN BIỂN CỬA LÒ 77
1 Tri thức về chế biến hải sản 77
2 Các hình thức chế biến hải sản 79
2.1 Các sản phẩm muối 79
Trang 62.1.1 Nước mắm 79
2.1.2 Các loại ruốc 83
2.2 Các sản phẩm chế biến qua lửa 86
2.2.1 Cá nướng 86
2.2.2 Cá luộc và hun khói, tôm luộc 87
2.3 Các sản phẩm chế biến không qua lửa 88
3 Những biến đổi trong nghề chế biến 90
3.1 Về dụng cụ 91
3.3 Về xây dựng và quảng bá thương hiệu 93
4 Tổ chức lao động trong chế biến hải sản 94
4.1 Các hình thức tổ chức lao động 94
4.1.1 Tổ chức lao động theo hộ gia đình 95
4.1.2 Tổ chức lao động theo nhóm 95
4.2 Vai trò của nữ giới trong nghề chế biến 98
5 Mạng lưới phân phối sản phẩm 103
6 Mối quan hệ giữa khai thác và chế biến hải sản 106
Tiểu kết 108
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC 115
I Một số định nghĩa về khai thác, chế biến hải sản và sản phẩm hải sản 115
II Một số thông tin về hiện trạng khai thác hải sản ở Việt Nam 118
III Đề án phát triển kinh tế thủy sản thị xã Cửa Lò giai đoạn 2007 - 2010 có tính đến năm 2015 128
IV Hình ảnh 140
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ
Bảng biểu
Bảng1 (Mục I.2.1): Thống kê về lao động việc làm của UBND phường
Nghi Thủy (tính đến 6 tháng đầu năm năm 2008) Tr26
Bảng2 (Mục I.2.1): Thống kê chi tiết về các ngành nghề của phường
Nghi Thủy năm 2007 Tr27
Bảng 3 (Mục II.2): Bảng tổng hợp các chỉ tiêu về khai thác thuỷ sản
Bảng 5 (Mục II.3): Thống kê về sản lượng đánh bắt hải sản (phân chia
2005 Tr66
Bảng 6 (Mục II.3): Sản lượng khai thác hải sản từ năm 2001 đến năm 2006
Lò Tr66
Bảng 7 (Mục III 4.1.1): Thống kê số lượng cơ sở chế biến và lao động
chuyên chế biến hải sản trên địa bàn thị xã Cửa Lò năm 2005 và 200 Tr94
Sơ đồ
Sơ đồ 1 (Mục I.1.2): Sơ đồ các hướng gió và chiều nước mặt, nước
Trang 8đáy Tr38
Sơ đồ 2 (Mục II 5): Mạng lưới phân phối hải sản đánh bắt được thông
MỞ ĐẦU
1 Lý do và mục đích chọn đề tài
Quản lý nguồn lợi hải sản để phát triển ngư nghiệp bền vững đang là vấn đề bức thiết được đặt ra khi nguồn lợi này đang bị khai thác một cách quá
bách của nước ta mà còn là của nhiều quốc gia có nguồn lợi biển trên thế giới
Để quản lý một cách hiệu quả, điều quan trọng không phải là chỉ tìm hiểu bản thân nguồn lợi, mà quan trọng là phải hiểu được chủ thể tiến hành các hoạt động khai thác nguồn lợi đó – đó chính là ngư dân Chính vì vậy, nghiên cứu văn hoá của cộng đồng ngư dân đóng một vai trò quan trọng đối với nhận
Trang 9thức chung của xã hội, đặc biệt là đối với những nhà quản lý – người đưa ra
và triển khai các chính sách và chiến lược phát triển
Tuy cùng lấy biển làm đối tượng khai thác chính nhưng không phải ngư dân nơi nào cũng có cách ứng biến giống nhau trước môi trường đó Ngoài những mẫu số chung, sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, xã hội,… tạo nên cách ứng xử khác nhau trước môi trường lớn là biển
cả Cho nên, bức tranh về văn hoá của các cộng đồng ngư dân là vô cùng phong phú và đa dạng, mang màu sắc địa phương, vùng miền
Để thích ứng với điều kiện tự nhiên, con người phải tạo ra những cách thức khác nhau trong những môi trường sinh thái khác nhau Nhưng liệu những cách thức đó có vừa đảm bảo điều kiện sống, vừa đảm bảo không tác động xấu tới môi trường tự nhiên, đảm bảo cho sự phát triển bền vững? Đó là một câu hỏi đáng được quan tâm và cần trả lời
Chính vì vậy, nghiên cứu về các hình thức khai thác và chế biến hải sản trong cộng đồng ngư dân cũng là nghiên cứu về cách ứng phó của cư dân đó trước môi trường tự nhiên biển cả, góp phần vào tìm hiểu văn hoá của ngư dân Đồng thời, tìm hiểu các thói quen về đánh bắt và chế biến để thấy được những ưu điểm và hạn chế của các hình thức đó đối với đời sống dân cư cũng như đối với sự phát triển bền vững nguồn lợi hải sản
Cửa Lò nằm trong vùng biển tiếp nối giữa vịnh Bắc Bộ với các vùng biển phía nam, ẩn chứa nhiều thành tố văn hóa tiếp xúc giữa hai khu vực: từ bắc vào và từ nam lên, điều này đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm và
đã đặt ra một câu hỏi, phải chăng nơi đây đã từng có sự tiếp xúc với văn hóa Malayo-pôlynêdiêng? Đây cũng là một điểm lý thú khi tìm hiểu và khám phá văn hóa của vùng đất ven biển này
Ngư dân Cửa Lò, cũng như ngư dân ven biển nhiều nơi khác ở Việt Nam, mặc dù không có xuất xứ từ dân biển, nhưng do nhiều hoàn cảnh đã cùng nhau dựng làng, qua bao đời sinh sống ở môi trường ven biển, họ đã biết tận dụng môi trường tự nhiên đó và tạo ra các cách thích ứng, đảm bảo cho lẽ sinh tồn Cho nên, việc tìm hiểu các phương thức khai thác và chế biến, bảo quản hải sản của ngư dân ven biển Cửa Lò cũng là tìm hiểu khả năng thích ứng trước điều kiện tự nhiên của ngư dân nơi đây, và quá trình đó đã tạo nên những nét văn hoá của ngư dân vùng biển này, góp phần tạo nên bức tranh văn hoá đa dạng trong tiểu vùng văn hoá xứ Nghệ
Ngoài ra, Cửa Lò đang dần trở thành một đô thị du lịch biển, với nhiều
Trang 10đổi thay về kinh tế, xã hội Điều đó đã, đang và sẽ có những tác động không nhỏ đối với đời sống của cư dân vùng này nói chung, đối với ngư dân nói riêng Sự phát triển đó đã và sẽ có những tác động gì tới sinh kế truyền thống của ngư dân vùng này vốn là khai thác, buôn bán và chế biến, bảo quản hải sản, nhằm phát huy tính tích cực và hạn chế những tiêu cực trước những tác động của quá trình đô thị hoá đối với đời sống ngư dân – đây cũng là vấn đề
mà luận văn cố gắng tìm hiểu bước đầu
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhìn chung, các nghiên cứu về ngư dân ở Việt Nam chưa nhiều, nội dung chủ yếu được hướng đến là văn hóa dân gian, đặc biệt là tín ngưỡng, lễ hội Trong đó, phần nhiều là những công trình mang tính sưu tầm, hệ thống hóa nguồn tư liệu dân gian, mà chưa có nhiều nghiên cứu sâu mang tính dân tộc học Các hình thức khai thác và chế biến, bảo quản hải sản cũng đã được điểm qua ở một số công trình, tuy nhiên cũng chưa được khảo cứu kỹ lưỡng
Với “Biển và người Việt cổ” [Trần Quốc Vượng, Cao Xuân Phổ; 1996], hai tác giả đã dựa trên những cứ liệu của ngành khảo cổ học, những dấu tích của người Việt cổ ở vùng ven biển trong các thời kỳ văn hóa từ tiền
sơ sử, chứng minh sự gắn bó của con người với biển cả ngay từ thời xa xưa Tuy nhiên, trong thuở nguyên sơ ấy, con người chỉ mới tiến tới vùng biển sát
bờ với các hình thức khai thác đơn giản và những sinh vật ven biển là một trong những nguồn thức ăn quan trọng cho con người thời đó
“Văn hóa dân gian làng ven biển” [Viện nghiên cứu văn hóa dân gian; 2000] được xuất bản vào năm 2000, là kết quả của đề tài “sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian các làng ven biển ở Việt Nam” Theo các tác giả, cộng đồng người Việt không có nguồn gốc biển, mà cơ bản họ là cư dân sống ở vùng trước núi tràn xuống khai thác đồng bằng lầy trũng rồi lấn biển và khai thác biển Cùng với quá trình phát triển cư dân và nam tiến, chất biển trong văn hóa của người Việt ngày càng tăng lên Trong phần giới thiệu ban đầu, công trình này cũng giới thiệu về các dụng cụ đánh bắt và hình thức chế biến hải sản Tuy nhiên, đó chỉ là những khái lược chung chung ban đầu
Tác giả Nguyễn Duy Thiệu với công trình “Cộng đồng ngư dân Việt Nam” [Nguyễn Duy Thiệu; 2002] đã cho chúng ta một cái nhìn khái quát về
sự hình thành, cơ cấu tổ chức xã hội và tổ chức đời sống tín ngưỡng trong cộng đồng ngư dân ở Việt Nam Ngoài ra, với những tư liệu điền dã, tác giả
Trang 11đã tái dựng nên thiết chế xã hội truyền thống của một số cộng đồng ngư dân ở vùng Trung và Nam bộ Tác giả cũng giới thiệu một số hình thức khai thác hải sản của ngư dân ven cửa sông, cửa biển, nhưng, đây chỉ là một nội dung nhỏ được tác giả đề cập tới trong cộng đồng ngư dân ở Cửa Sót (Hà Tĩnh) Tuy nhiên, đây là một công trình mang tính khái quát, chủ yếu có đi sâu hơn vào những địa bàn phía Bắc, vùng Nam trung bộ cũng có được đề cập qua, còn vùng Nam bộ chưa được viết tới
“Văn hóa tàu thuyền trong đời sống cư dân ở Việt Nam” [Đỗ Thị Thanh Thủy; 2005] là đề tài cấp Viện năm 2005 của Viện Văn hóa – Thông tin Dựa trên những tài liệu lịch sử, những tư liệu khảo sát điền dã, báo cáo cho ta cái nhìn tổng quát và khá chi tiết về các loại tàu thuyền của cư dân khai thác thủy hải sải cũng như sự gắn bó giữa nước – tàu thuyền – phong tục, tập quán trong văn hóa của cộng đồng dân cư Trong tài liệu này, các phương tiện khai thác hải sản, các hoạt động liên quan tới buôn bán hải sản cũng được tác giả đề cập tới với cái nhìn chung chung, mang tính chất điểm qua mà không phải là nội dung chính của đề tài
Ngoài ra, còn nhiều bài viết trên các báo, tạp chí và một số nghiên cứu
về ngư dân trên các vùng miền trong cả nước, mang lại phông hiểu biết chung
về văn hóa biển trong đời sống cư dân Trong đó, hầu hết các tác giả đều thống nhất với quan điểm, cư dân gốc Việt lấy nông nghiệp làm kinh tế chủ đạo, không có truyền thống khai thác nguồn lợi biển; càng lùi vào phía nam, tính biển trong đời sống văn hóa dân cư càng được thể hiện đậm nét Điều đó được thể hiện rõ trong đời sống tín ngưỡng tâm linh, trong các cách thức khai thác và sử dụng nguồn lợi tự nhiên Đã có nhiều học giả nghiên cứu về các loại hình tín ngưỡng, lễ hội của ngư dân Tuy nhiên, về sự thích ứng với môi trường ven biển thông qua các hình thức đánh bắt và tổ chức lao động cũng như các hoạt động kinh tế kèm theo nó chưa được chú ý khai thác Đây cũng
là một mảng đề tài thú vị để hiểu rõ hơn khả năng thích ứng với môi trường của ngư dân và thấy được tính “biển” đạt tới mức độ nào trong đời sống của cộng đồng đó
Trên thế giới, có một lĩnh vực nghiên cứu được gọi là “nhân học về nghề cá” (anthropology of fishing) nằm trong ngành “nhân học biển”
Trang 12(maritime anthropology) Tiến sĩ James M Acheson2
đã có một bài tổng kết
về các công trình nghiên cứu liên quan tới lĩnh vực này, được trình bày dưới tiêu đề “Anthropology of fishing” Qua tổng lược từ 250 công trình nghiên cứu, tác giả đã đưa ra cái nhìn tổng quan về các vấn đề mà nhân học về nghề
cá quan tâm Đóng góp to lớn của các công trình đó là đã tìm hiểu những cách thức mà con người thích ứng trước một môi trường đầy rủi ro để tồn tại Để giảm thiểu rủi ro, con người đã tạo ra các ngư cụ lao động phù hợp và tổ chức lao động nhau theo nhiều cách thức, từ đó nảy sinh thêm nhiều vấn đề nghiên cứu như: mối quan hệ họ hàng giữa thuyền viên, mối quan hệ giữa những người đánh bắt và những người trung gian môi giới, hệ thống phân chia sản phẩm đánh bắt được, Sự tổng kết của học giả nước ngoài mang lại cái nhìn
về nghề cá dưới những góc độ khác nhau, gợi ra những hướng nghiên cứu cần tiếp tục quan tâm và tìm hiểu
Lịch sử nghiên cứu vùng biển Cửa Lò
Trong những cuốn địa chí, vùng đất này được biết đến như một phần của huyện Chân Lộc (sau đổi là Nghi Lộc) [Quốc sử quán triều Nguyễn,
1992, tr121-122] Các địa danh như núi Lò, đảo Song Ngư cũng được nhắc đến trong phần núi, sông của vùng “núi Lò ở cách huyện Chân Lộc 11 dặm về phía đông bắc, trên núi có chùa Phổ Am”[Quốc sử quán triều Nguyễn, 1992, tr159], “ở cách huyện Chân Lộc 25 dặm về phía đông, ngoài cửa Hội nổi vọt lên 2 ngọn núi đứng sững đối nhau, trông như hình hai con cá bơi lội giữa sóng nước, cho nên gọi là Song Ngư”[Quốc sử quán triều Nguyễn, 1992, tr165]
Vùng đất này đã trở thành một trong những khu căn cứ quân sự trọng yếu vùng cửa biển khi vào thế kỷ XV Năm 1460, Nguyễn Sư Hồi được vua
Lê Thánh Tông cử giữ chức Thái uý Nhập nội quận công, đem thuỷ quân về Cửa Lò xây dựng căn cứ hải quân Sau đó, Nguyễn Sư Hồi được phong làm Trấn thủ Nghệ An, quản lý 12 cửa lạch từ Sầm Sơn (Thanh Hoá) đến Cửa Tùng (Quảng Trị) Và ông đã có công chiêu dân, lập ấp hình thành nên làng Vạn Lộc (Nghi Tân) – hiện tại vẫn có đền thờ ông ở làng Vạn Lộc – nơi diễn
ra lễ hội cầu ngư, cầu yên của dân làng hàng năm Sau đó, vua Lê Thánh Tông đã cho lập tân nhất xã với tên là xã Hải Ngung, còn gọi là Hải Giang
Orono, Maine, Mỹ Bài viết của ông được đăng trên tạp chí Annual Review of Anthropology
Vol 10: 275-316 (Volume publication date October 1981) – Tài liệu của tác giả