Từ trước tới nay, trong giới nghiên cứu lịch sử Việt Nam đã có một số học giả đề cập đến những vấn đề liên quan đến quần chúng, đến nông dân và các công trình nghiên cứu của họ cũng đã t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KIM JONG OUK
MỘT SỐ BIẾN ĐỔI Ở LÀNG XÃ CHÂU THỔ SÔNG HỒNG
TỪ ĐẦU THẾ KỶ XIX ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XX
(QUA TRƯỜNG HỢP LÀNG MỄ TRÌ)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2009
Trang 2Chương 1 SỰ BIẾN ĐỔI ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
SINH THÁI Ở LÀNG XÃ CHÂU THỔ SÔNG HỒNG TỪ
ĐẦU THẾ KỶ XIX ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XX QUA
TRƯỜNG HỢP LÀNG MỄ TRÌ
26
1.1 Đặc điểm chung về điều kiện tự nhiên vùng châu thổ sông Hồng
1.2 Những tác động của điều kiện tự nhiên và môi trường sinh
thái dến quá trình phát triển châu thổ sông Hồng
1.3 Những điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái ở làng Mễ Trì
26
28
32 1.3.1 Địa hình và đất đai
Chương 2 SỰ BIẾN ĐỔI CỦA BỘ MÁY QUẢN LÝ Ở LÀNG XÃ
CHÂU THỔ SÔNG HỒNG TỪ ĐẦU THẾ KỶ XIX ĐẾN
GIỮA THẾ KỶ XX QUA TRƯỜNG HỢP LÀNG MỄ TRÌ
48
2.1 Tính tự trị và bộ máy hành chính ở làng xã trước khi thực
dân Pháp xâm lược
2.2 Nền tảng hành chính của thực dân Pháp và cuộc Cải lương
hương chính ở Bắc Kỳ
54
65
2.2.1 Cải lương hương chính lần thứ I (1921)
2.2.2 Cải lương hương chính lần thứ II (1927)
2.2.3 Cải lương hương chính lần thứ III (1941)
72
75
77 2.3 Ảnh hưởng của Cải lương hương chính ở làng Mễ Trì 78 2.3.1 Những ảnh hưởng của Cải lương hương chính lần thứ I
2.3.2 Những ảnh hưởng của Cải lương hương chính lần thứ II
79
93
Trang 3Chương 3 SỰ BIẾN ĐỔI CỦA TÌNH HÌNH SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT Ở
LÀNG XÃ CHÂU THỔ SÔNG HỒNG TỪ ĐẦU THẾ KỶ
XIX ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XX QUA TRƯỜNG HỢP LÀNG
MỄ TRÌ
96
3.1 Tình hình sở hữu ruộng đất ở làng xã trước khi thực dân
Pháp xâm lược 3.2 Tình hình sở hữu ruộng đất ở làng xã dưới chế độ thực
dân Pháp 3.3 Sự biến đổi tình hình sở hữu ruộng đất ở làng Mễ Trì
100
103
109 3.3.1 Tình hình phân bố ruộng đất
3.3.2 Tình hình sở hữu ruộng đất
112
116
Chương 4 SỰ BIẾN ĐỔI CỦA NỀN GIÁO DỤC Ở LÀNG XÃ CHÂU
THỔ SÔNG HỒNG TỪ ĐẦU THẾ KỶ XIX ĐẾN GIỮA
THẾ KỶ XX QUA TRƯỜNG HỢP LÀNG MỄ TRÌ
134
4.1 Giáo dục truyền thống ở làng xã trước khi thực dân Pháp
xâm lược 4.2 Cải cách giáo dục ở làng xã dưới chế độ thực dân Pháp
136
145 4.2.1 Cải cách giáo dục thực dân lần thứ I (1906)
4.2.2 Cải cách giáo dục thực dân lần thứ II (1917)
145
153 4.3 Ảnh hưởng của Cải cách giáo dục ở làng Mễ Trì 162
4.3.1 Những ảnh hưởng của Cải cách giáo dục lần thứ I 4.3.2 Những ảnh hưởng của Cải cách giáo dục lần thứ II
Trang 4Bảng 1-1: Biến đổi đơn vị hành chính của làng Mễ Trì từ đầu thế
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Những năm gần đây trong giới sử học châu Âu-Mỹ xuất hiện một hướng nghiên cứu mới thu hút sự quan tâm đặc biệt của rất nhiều học giả
và đang dần được áp dụng rộng rãi trên thế giới Đó là hướng tiếp cận lịch
sử từ đời sống của quần chúng với quan niệm họ là lực lượng làm nên lịch
sử Không có quần chúng, không có những người bình dân thì không có lịch sử Thực ra, những khái niệm như "lịch sử quần chúng" hoặc "lịch sử nông dân" không hẳn là hoàn toàn mới Từ trước tới nay, trong giới nghiên cứu lịch sử Việt Nam đã có một số học giả đề cập đến những vấn đề liên quan đến quần chúng, đến nông dân và các công trình nghiên cứu của họ cũng đã thu được không ít những thành quả đáng trân trọng Nói chung, với cách nhìn bao quát về một vấn đề nào đó, các công trình ấy đều đã đưa ra được vấn đề đang quan tâm một cách toàn cục Các kết luận khoa học của các công trình về một vấn đề nào đó đều xác đáng Tuy nhiên, đại bộ phận các công trình đó chỉ dựa trên một số lý thuyết và phương pháp nghiên cứu nhất định Đặc biệt là các công trình đã cống bố chủ yếu tập trung nghiên cứu một số nội dung cơ bản như đấu tranh giai cấp, nông thôn và các đặc trưng văn hoá nông thôn, sự mất cân bằng trong phát triển giữa đô thị và nông thôn Và vì vậy, cách nghiên cứu lịch sử theo cách tiếp cận này không phải là không có những điểm yếu Như đã nói, một cách cách tiếp cận như vậy thường giúp chúng ta có được một sự hiểu biết mang tính phổ quát Những kết luận khoa học mà các công trình đưa ra thường đúng trong mọi trường hợp, nhưng không cho chúng ta thấy được tính đa dạng nhiều
Trang 7chiều của lịch sử, đồng thời nó cũng chưa làm bật lên tính chất riêng, điểm đặc sắc của từng vùng, từng địa phương cụ thể
Trong bối cảnh chung đó, cách tiếp cận mới với xuất phát điểm là quần chúng nhân dân, những con người cụ thể, ở một vùng nông thôn cụ thể có
lẽ là một hướng đi mới có thể giúp chúng ta có được những kết luận lịch sử thú vị Trên tinh thần khoa học đó, luận án này sẽ tiến hành nghiên cứu theo hướng mới kể trên nhằm góp phần hiểu sâu sắc thêm làng xã đồng bằng châu thổ sông Hồng - vùng đất có vị trí đặc biệt quan trọng ở Việt Nam Tuy nhiên khó để có thể nghiên cứu thật sâu sắc một vùng rộng lớn như đồng bằng Bắc Bộ, vì thế, đi theo phương pháp tiếp cận khu vực học, luận án tập trung nghiên cứu một làng cụ thể Nói cách khác, nếu các công trình nghiên cứu lịch sử trước đây thường nghiên cứu trên diện rộng thì luận án này của chúng tôi sẽ xuất phát từ điểm Bám chặt vào quan điểm
“dân là gốc”, “không có quần chúng thì không có cách mạng”, theo đó, quần chúng, cụ thể là cá thể người nông dân của các xã hội nông nghiệp (Việt Nam là một điển hình) là lực lượng chính có đầy đủ tư cách và tiềm năng sức mạnh để đi tiên phong trong sự nghiệp cách mạng nhằm biến đổi
xã hội Theo cách nhìn mới, nông thôn không còn bị nhìn nhận như là một
"ốc đảo cô lập" mà đó là một vũ trụ nhỏ có cấu trúc hữu cơ, trong đó các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá v.v đang vận động theo các nguyên tắc vừa mang nét chung của toàn xã hội lại vừa mang nét riêng, nét tiêu biểu của từng địa phương, từng vùng Đặc biệt, đáng lưu ý là mọi lĩnh vực trong cái không gian nhỏ đó cũng có quan hệ tương hỗ chặt chẽ với nhau nên sự tác động qua lại giữa các lĩnh vực không ngừng nảy sinh, tạo ra một bức tranh về lịch sử nông thôn rất sinh động và hấp dẫn Với ý nghĩa này, kết quả nghiên cứu của luận án có thể sẽ góp một phần nhỏ bé
Trang 8vào việc nhận thức chân thực hơn về bức tranh nông thôn miền Bắc Việt Nam
Nghiên cứu lịch sử nông thôn, cụ thể là nghiên cứu về làng xã Việt nam, chúng ta sẽ được tiếp cận và xử lý các nguồn tài liệu địa phương phong phú và đa dạng như gia phả, văn bia, hồi tưởng, ký ức, thư từ, các đồ dùng trong gia đình, các chuyện tranh chấp, trả thù, văn khế mua bán ruộng đất, ca dao, phong tục tập quán v.v Nguồn tư liệu này có giá trị rất lớn trong việc bổ sung nâng cao sức thuyết phục của các tài liệu chính sử cũng như các nguồn tài liệu hiện có ở các trung tâm lưu trữ trong và ngoài nước Một điều không thể phủ nhận là sử học Việt Nam trong những năm qua
đã đạt được những thành tựu nghiên cứu to lớn và đáng khâm phục, Dẫu vậy, được trước mắt vẫn còn rất nhiều vấn đề cần được tiếp tục làm sáng tỏ thêm Một trong những vấn đề đó, theo chúng tôi, là nội dung lịch sử của khái niệm “xã hội thuộc địa nửa phong kiến” Hầu như chưa có một công trình nào nghiên cứu kỹ lưỡng quá trình chuyển biến của Việt Nam từ thời mạt kỳ phong kiến sang thời kỳ thuộc địa Bởi vậy ở một khía cạnh nào đó, nhận thức về lịch sử Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XIX- giữa thế kỷ XX vẫn bị cắt rời thành hai mảng: hoặc là quy những vấn đề thuộc vào thời trung đại, hoặc là đặt chúng vào thời cận đại Luận án của chúng tôi sẽ đặt vấn đề nghiên cứu xung quanh giai đoạn chuyển tiếp này với hy vọng góp phần làm sáng tỏ những chuyển biến nội tại về kinh tế và xã hội Việt Nam
từ thời mạt kỳ phong kiến sang xã hội thuộc địa, qua đó có thể phần nào làm rõ thêm về khái niệm “xã hội thuộc địa nửa phong kiến”
Vấn đề mà luận án đi vào nghiên cứu sẽ nhằm đúc rút một số kinh nghiệm góp phần gợi ý một số phương thức quản lý và phát triển nông thôn thời hiện đại
2 Phạm vi đề tài
Trang 9Phạm vi không gian
Như trên đã nói, luận án này sẽ được tiến hành theo hướng đi từ điểm đến diện, tức là thông qua việc khảo sát, nghiên cứu một địa bàn cụ thể trong một địa phương cụ thể, luận án hy vọng sẽ nói được một cái gì đó lớn hơn, chung hơn những vấn đề của địa phương cụ thể đó Lý do thứ hai thuộc về chủ quan người viết Do không phải là người Việt Nam nên chúng tôi không có điều kiện và thực sự cũng chưa đủ khả năng để thực hiện điều tra toàn diện về xã hội Việt Nam, và vì thế tại luận án này chúng tôi chỉ xin chọn một làng ở vùng nông thôn châu thổ sông Hồng (còn gọi là đồng bằng Bắc Bộ) lấy đó làm một trường hợp để nghiên cứu (case study) Chúng ta đều biết, từ xa xưa làng đã trở thành một hình thức tổ chức cư dân và sản xuất đặc trưng cho người Việt Nam Nó chính là một kiểu kết cấu hạt nhân tiêu biểu nhất trong lịch sử lâu dài của dân tộc Việt Cùng với tiến trình lịch
sử, làng từng bước trở thành một trung tâm thu nhỏ của xã hội, tại đó mọi hoạt động kinh tế, xã hội, văn hoá, và chính trị diễn ra hàng ngày Các hoạt động kinh tế và xã hội ở làng diễn ra cũng có khi hưng khi vong, khi thịnh khi suy gắn với thăng trầm lịch sử dân tộc Nói cách khác, ở Việt nam, làng
là một tấm gương nhỏ phản ánh bộ mặt đất nước trong suốt chiều dài lịch
sử, cũng như trong từng thời đoạn lịch sử cụ thể Tuy nhiên, những công trình khoa học trước đây, do phạm vi nghiên cứu cũng như chủ đích nghiên cứu riêng của từng tác giả, chúng tôi chưa thấy các công trình ấy nêu bật ra tính đặc thù của làng Việt Nam nói chung, làng Việt trong khu vực châu thổ sông Hồng nói riêng Các nghiên cứu đi trước về làng cũng chưa chỉ ra hết những đặc điểm mang tính đặc trưng riêng biệt của làng ở vùng này so với những đặc điểm chung, phổ biến của toàn bộ nông thôn Việt Nam Trong bối cảnh đó, chúng tôi thử chọn một làng ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ để tìm hiểu tính chất của cấu trúc kinh tế và xã hội của nó trong
Trang 10giai đoạn chuyển biến với hy vọng có thể góp phần chỉ ra tính phổ biến của vùng châu thổ sông Hồng
Trên cơ sở của những phần tích nêu đây, được sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Vũ Minh Giang và Giáo sư, Tiến Sĩ Nguyễn Văn Khánh chúng tôi quyết định chọn làng Mễ Trì làm địa bàn không gian
để triển khai việc khảo sát, nghiên cứu của mình
Có thể nói, Mễ Trì là một làng khá tiêu biểu ở đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam Làng nằm ở vị trí trung tâm của tam giác châu đồng bằng Bắc Bộ Từ xưa cho đến tận ngày nay, Mễ Trì vẫn là một làng thuần nông Đây chính là đặc trưng nổi trội của rất nhiều làng xã Việt Nam Việt Nam vốn là một nước nông nghiệp truyền thống nên các làng chuyên làm nghề nông chiếm
tỷ lệ áp đảo trong hệ thống làng xã nông thôn Việt Nam Chính những làng thuần nông truyền thống đã tạo nên cái “gam màu chủ đạo” cho nông thôn Việt Nam trong lịch sử Chúng tôi chọn làng Mễ Trì, bởi trước hết Mễ Trì mang trong nó hầu hết các đặc trưng vốn có của một làng thuần nông khu vực đồng bằng Bắc Bộ Với ý nghĩa này, có thể coi Mễ Trì là một làng nông thôn tiêu biểu ở Việt Nam
Là một làng thuần nông tất nhiên Mễ Trì có những điểm khác biệt so với những làng tuy cũng nằm trong vùng châu thổ sông Hồng nhưng không thuần nông, những làng có nghề thủ công truyền thống, những làng theo nghề buôn bán Sự khác biệt giữa những làng thuần nông kiểu như làng
Mễ Trì với những làng không thuần nông thể hiện ở rất nhiều mặt nhưng dễ thấy nhất là sự khác nhau trong các sản phẩm kinh tế truyền thống của làng
Ở Việt Nam, các làng có nghề thủ công truyền thống tên làng xã thường được gắn kèm với tên nghề thủ công truyền thống của làng Cách gọi đó giống như một kiểu khẳng định “thương hiệu” hàng hoá của làng xã mình vậy Mọi người Việt Nam đều đã rất quen thuộc với tên gọi truyền thống như: Làng gốm Bát Tràng, Làng dệt Vạn Phúc… Còn ở Mễ Trì thì không
có bất kì một sản phẩm thủ công nghiệp nào cả Là làng chuyên về nghề nông nên các sản phẩm làng làm ra cũng chỉ là các sản phẩm gắn liền với
Trang 11Tµi liÖu tham kh¶o
I Tµi liÖu L-u tr÷ vµ tHỰC ĐỊA TẠI ĐỊA ph-¬ng
A Tµi liÖu Trung t©m L-u tr÷ Quèc gia I
2 Affaires indigènes Phủ de Hoµi §øc, huyện de Tõ Liªm, canton de
DÞch Väng, village de MÔ Tr× (KÎ Mẩy) 1890-1903 E6 1059
3 Affaires indigènes Phủ de Hoµi §øc, huyện de Tõ Liªm, canton de
DÞch Väng, village de MÔ Tr× (KÎ Mẩy) 1905-1912 E6 1060
4 Affaires indigènes Phủ de Hoµi §øc, huyện de Tõ Liªm, canton de
DÞch Väng, village de MÔ Tr× (KÎ Mẩy) 1913-1928 E6 1061
(Circonscriptions administratives de la province de C©u §¬) E02 627bis
création d’un enseignement agricoles dans 1925 R22
3755
l’Enseignement primaire du Tonkin 1918-1920 R22 3752
8 Communes reformees Huyen de Tu Liem Canton de Dich Vong
Village de Me Tri, 1923-1924 (thon Ha) E7 2522
9 Communes reformees Huyen de Tu Liem Canton de Dich Vong
Village de Me Tri, 1923-1924 (thon Thuong) E7 2523
10 Culte catholique: Correspondance diverses a/s incidents entre
catholiques et bouddhistes Annee 1875 F91 2796
cantons et villages de la z«ne suburbaine) E2 713
12 Différends entre catholiques et bouddhistes Affaires du huyen de Tu
Liem phu de Hoai Duc 1891-1898 F91 2805
13 §Þa b¹ x· MÔ Tr×, tæng DÞch Väng, huyÖn Tõ Liªm, phñ Quèc Oai,
xø S¬n T©y (1805) DB 12/V26
Trang 1215 État faisant rÐssertin le nombre d’Ðcoles, de maltras et
Tu Liem 1915 M3 3305
perfectionement de l’enseignement indigène, 1906 R22
3751
3750
22 Rapport du Tong Doc au Résident de Ha Noi sur la situation des
Écoles de Quoc ngu dans la province 1887 R22 3734
3748
3749
Trang 1332 Rapports mensuels des écoles 1920-1921 R22 3744
population de nationalite ou de race de l’Annam (Điều tra dân số của làng Mễ Trì năm 1921) D88 506
35 Recencement de 1926, village de Mễ Trì, Recencement de la
population de nationalite ou de race de l’Annam (Điều tra dân
B Tài liệu Tổng Cục Địa chính
48 Bản đồ thửa ruộng đất địa chính, thôn Mễ Trì Th-ợng 1939
49 Proces-verbal d’immatriculation cadatrale du Village de Mễ Trì,
canton de Dịch Vọng, phủ de Hoài Đức, province de Hà Đông
1940
Trang 14C Tài liệu thực địa tại địa ph-ơng
50 Bỡa ký trên bia chùa Thiên Trúc (1690)
51 Bỡa ký trên bia ghi việc gửi giỗ
52 Bỡa ký trên bia họ Nguyễn (1680)
53 Bản phân th- (1909)
54 Bản ghi phả truyền thần sắc
55 Biên bản Giáp biểu-Hội đồng bạ thôn Th-ợng (1923)
56 Cải lương phong tục xó Mể Trỡ (1917)
57 Đảng bộ Mễ Trì của chi bộ 2 Đảng cộng sản Việt Nam (1994), Sơ
l-ợc lịch sử làng Mễ Trì Hạ, xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm Hà Nội
58 Đảng Bộ Mễ Trì (1994), Sơ l-ợc lịch sử, Xã Mễ Trì-huyện Từ Liêm,
Hà Nội
59 Đình Mễ Trì Th-ợng (1991), Hồ sơ di tích kiến trúc nghệ thuật
60 Gia phả phái Lê Thế
61 Gia phả phái Nguyễn Công
62 Gia phả phái Nguyễn Tiến
Trang 1577 Uỷ Ban Nhân dân huyện Từ Liêm (1991) Hồ sơ di tích đình Mễ Trì
D Tài liệu phổng vấn
81 Đỗ Đức Dật, 75 tuổi, xúm 4, thụn Hạ, phổng vấn vào ngày 07 tháng