Đề tài: “Giáo dục đạo đức mới cho sinh viên trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” nhằm góp phần thực hiện tư tưởng quan trọng trên và hy vọng góp t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
-TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC MỚI CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI TRONG THỜI KỲ
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2008
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Hiện nay, đạo đức có vai trò rất quan trọng trong cấu trúc nhân cách con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII của Đảng đã xác định tư tưởng, đạo đức và lối sống là những lĩnh vực then chốt của văn hoá hiện đang có những chuyển biến quan trọng Vì vậy nhiệm
vụ cấp bách hiện nay là: “Xây dựng tư tưởng đạo đức, lối sống văn hoá lành mạnh trong
xã hội, trước hết là trong các tổ chức đảng và bộ máy nhà nước, trong các đoàn thể quần chúng và từ gia đình”[12, tr.16]
Trong sự nghiệp xây dựng nền đạo đức mới ở Việt Nam hiện nay, trong điều kiện cơ chế thị trường, công nghiệp hoá, hiện đại hóa, một mặt mang lại sức sống mới cho dân tộc, mặt khác lại có nguy cơ xa rời thậm chí đối lập với các giá trị đạo đức truyền thống Vì thế đi vào cơ chế thị trường, mở rộng giao lưu quốc tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tiếp thu những tinh hoa của nhân loại, song phải luôn luôn coi trọng những giá trị truyền thống và bản sắc dân tộc, quyết không tự đánh mất mình trở thành bóng mờ hoặc sao chép của người khác Sinh viên là tầng lớp xã hội đặc thù, giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp đổi mới đất nước và sự thành công của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá phụ thuộc rất lớn vào chất lượng giáo dục trên mọi phương diện, trong đó có giáo dục đạo đức
Đại học Kiến Trúc Hà Nội cũng không tách khỏi cái chung đó Vì thế việc nghiên cứu giáo dục đạo đức mới cho sinh viên của trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là yêu cầu cần thiết và cấp bách Đề tài:
“Giáo dục đạo đức mới cho sinh viên trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” nhằm góp phần thực hiện tư tưởng quan trọng trên và hy vọng góp tiếng nói riêng của mình vào sự nghiệp giáo dục đào tạo xây dựng đạo đức mới cho sinh viên
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Xung quanh vấn đề giáo dục đạo đức và đạo đức mới cho sinh viên đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ở các góc độ khác nhau, khía cạnh khác nhau như: “Tìm hiểu giá trị định hướng của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường” do Thái Duy Tuyên chủ biên, Hà nội 1994; “Đặc điểm lối sống sinh viên hiện nay và những phương hướng, biện pháp giáo dục lối sống cho sinh viên”, Đề tài nghiên cứu khoa học, mã số
Trang 3B94 - 38 - 32 do Mạc Văn Trang chủ biên (Viện nghiên cứu phát triển giáo dục - Bộ giáo dục đào tạo); “Về phát triển văn hoá và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” do Phạm Minh Hạc - Nguyễn Khoa Điềm chủ biên (2003); “Đạo đức học Macxit với việc giáo dục đạo đức sinh viên hiện nay ở nước ta” của Dương Văn Duyên (2003) ;
“Hệ thống phạm trù đạo đức học và giáo dục đạo đức cho sinh viên” của PGS, TS Trần Hậu Kiêm - TS Đoàn Đức Hiếu, (2004); “Đạo đức người cán bộ lãnh đạo chính trị hiện nay - Thực trạng và giải pháp” của PGS, TS Nguyễn Thế Kiệt (chủ biên) (2005); “Khía cạnh đạo đức của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Văn Phúc (2006); “Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay Vấn đề và giải pháp” do
GS, VS Nguyễn Duy Quý (chủ biên) (2006)…
Một số đề tài luận văn, luận án đã đề cập vấn đề này ở những góc độ khác nhau:
“Tìm hiểu lối sống của sinh viên Hà Nội trong thời kỳ đổi mới”, luận văn thạc sỹ của Phạm Xuân Cảnh, (1996); “Giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay” của Trần Sỹ Phán, (1999); “Vấn đề xây dựng đạo đức mới cho cán bộ cơ sở trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” của Đặng Thanh Giang, (2001); Vấn đề giáo dục đạo đức cho sinh viên các trường Đại học Việt Nam hiện nay” của Vũ Đình Giáp (2003); “Đạo đức sinh viên trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam -Thực trạng và giải pháp” của Vũ Thanh Hương, (2004)…
Như vậy, đã có nhiều các công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức, xây dựng đạo đức mới cho sinh viên Việt Nam hiện nay nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu về giáo dục đạo đức mới cho sinh viên trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội Vì thế, việc chọn đề tài nghiên cứu “Giáo dục đạo đức mới cho sinh viên trường Đại học Kiến Trúc
Hà Nội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại đất nước” cũng nhằm góp phần giải quyết vấn đề trên
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn:
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Qua khảo sát thực trạng giáo dục đạo đức mới cho sinh viên trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội, trên cơ sở đó, đề ra những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức mới cho sinh viên của trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
3.2 Để thực hiện mục đích đó, nhiệm vụ của đề tài sẽ là:
- Khẳng định tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức mới cho sinh viên các trường Đại học trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay
Trang 4- Tìm hiểu thực trạng việc giáo dục đạo đức mới của sinh viên trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội hiện nay
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức mới cho sinh viên trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Giáo dục đạo đức mới cho sinh viên trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn chủ yếu đi sâu nghiên cứu việc giáo dục đạo đức mới cho sinh viên trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
a Cơ sở lý luận:
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về đạo đức, đạo đức mới
- Các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và nhà nước
về đạo đức, về thanh niên, sinh viên, giáo dục đạo đức cho sinh viên
- Các thành tựu của các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
b Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp lịch sử - lôgic, phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống, thống kê
6 Đóng góp mới của đề tài
6.1 Phân tích làm rõ thực trạng giáo dục đạo đức mới cho sinh viên ở trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội
6.2 Đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả của giáo dục đạo đức mới cho sinh viên trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
7 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3
chương, 6 tiết
Trang 5Chương 1 Tầm quan trọng, nội dung, yêu cầu giáo dục đạo đức mới cho sinh viên
các trường Đại học trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay
Chương 2 Giáo dục đạo đức mới cho sinh viên trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội
trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại đất nước - Thực trạng và những vấn đề đặt ra
Chương 3 Phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo
dục đạo đức mới cho sinh viên trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội hiện nay
Chương 1
Trang 6TẦM QUAN TRỌNG, NỘI DUNG, YÊU CẦU GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC MỚI CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 Đạo đức mới và tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức mới cho sinh viên
ở Việt Nam hiện nay
1.1.1 Đạo đức và đạo đức mới
Danh từ đạo đức được bắt nguồn từ tiếng Latinh là “mos” (moris), nghĩa là lề thói, sau đó xuất hiện từ mới là “moralis”, có nội dung liên quan với lề thói, đạo nghĩa Còn có một danh từ thường được xem như đồng nghĩa với đạo đức là luân lý học, có gốc từ chữ Hy Lạp là “Ethicos”, nghĩa là lề thói, tập tục Như vậy, khi ta nói đến đạo đức là nói đến những
lề thói, tập tục, biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và người trong giao tiếp với nhau hàng ngày
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, đạo đức được hình thành từ trong lao động và là sản phẩm có ý thức của con người Đạo đức là hình thái ý thức xã hội đặc thù, nó hình thành và phát triển cùng với các hình thái ý thức xã hội khác, tác động đến tồn tại xã hội
và có ảnh hưởng qua lại với các hình thái khác
Quan điểm macxit coi đạo đức là phương thức xác lập mối quan hệ giữa cá nhân và
xã hội, giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội Ý thức đạo đức là sự phản ánh thực tiễn các quan hệ lợi ích trong xã hội, là sản phẩm của thực trạng kinh tế - xã hội Nó vận động và phát triển trong sự đối lập giai cấp khi xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp Tuy nhiên, bất luận trong mối quan hệ xã hội nào thì đạo đức cũng là quan hệ thực sự có tính người Đạo đức chính là lực lượng bản chất của con người, trong quá trình phát triển của mình theo hướng ngày càng đạt tới giá trị đích thực của cái thiện “Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội, một chế định xã hội thực hiện chức năng [77, tr.156] Chức năng cơ bản của đạo đức là: “Bảo đảm năng lực hoạt động có tính chất lịch sử cả xã hội, phối hợp lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội, điều chỉnh về mặt xã hội những hành vi của cá nhân” [1, tr.123] Nói cách khác, đạo đức là phương thức xác lập mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa lợi ích xã hội
và lợi ích cá nhân
Đạo đức không thể tách rời cuộc sống của con người, nó được bắt nguồn từ tồn tại xã hội, lao động sản xuất, và từ cuộc đấu tranh chống thiên nhiên của con người Vì vậy, sự phát sinh, phát triển của đạo đức được quy định bởi sự phát sinh, phát triển tồn tại xã hội của con
người Ăng - ghen viết “Chung quy lại thì mọi học thuyết đạo đức đã có từ trước tới nay đều
là sản phẩm của hình thái kinh tế - xã hội lúc bấy giờ” [11, tr.163]
Trang 7Nói đến đạo đức là nói đến quan hệ giữa tốt và xấu, thiện và ác Cơ chế vận hành của đạo đức trong đời sống rất phức tạp, bao gồm ý thức đạo đức, hành vi đạo đức và đánh giá đạo đức Ý thức đạo đức chứa đựng những chuẩn mực, thói quen, tập quán và phong tục đạo đức tác động đến tư tưởng, tình cảm và hành vi của con người: “Chúng đóng vai trò định hướng tinh thần trong cuộc sống cá nhân và cộng đồng” [78, tr.46] Các chuẩn mực đạo đức
là cơ sở để con người tuân thủ và sống với nhau một cách nhân ái, chan hoà
Như vậy, theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, đạo đức không nảy sinh từ đạo đức, nó cũng không phải nảy sinh từ ngoài xã hội Sự xuất hiện của ý thức đạo đức là do nhu cầu khách quan của sự phát triển nhận thức, của đời sống xã hội, mà trước hết là do nhu cầu phối hợp hành động trong lao động sản xuất, trong việc phân phối sản phẩm xã hội, trong đấu tranh Do đó “đối với chúng ta, đạo đức ở ngoài xã hội loài người thì không thể có được” [55, tr.368]
Xét cho cùng, hành vi có đạo đức là hành vi mang tính tự nguyện, tự giác; là hành động vì lợi ích của người khác, của xã hội, chứ không phải vì mình và cho mình Đúng như các nhà duy vật Pháp quan niệm: Nếu như lợi ích, hiểu một cách đúng đắn là nguyên tắc của toàn bộ đạo đức thì điều quan trọng là phải làm cho lợi ích riêng tư của con người phù hợp với lợi ích của loài người
Xét từ quan điểm lợi ích và hệ thống quy tắc, chuẩn mực, G Bandzeladze coi “đạo đức là hệ thống những chuẩn mực biểu hiện sự quan tâm tự nguyện, tự giác của những con người trong quan hệ với nhau và trong quan hệ xã hội nói chung” [2, tr.48,104] Còn các tác giả trong giáo trình Đạo đức học quan niệm: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực
xã hội Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu xã hội Nhờ đó, con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội [48, tr.12]
Ngày nay, đạo đức được xem xét ở ba phương diện chủ yếu sau:
- Đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm toàn bộ những quan
điểm, nguyên tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử trong quan hệ con người với con người, con người với xã hội nhằm đảm bảo quan hệ lợi ích của cá nhân với cộng đồng
- Đạo đức là phương thức điều chỉnh hành vi của con người Những chuẩn mực
(khuôn phép) và quy tắc là những yêu cầu của xã hội hoặc của một giai cấp nhất định nhằm điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân trong quan hệ với nhau và với xã hội Những chuẩn mực
và quy tắc, hành vi nhất định được công luận xã hội, hay của một giai cấp, dân tộc thừa nhận,
Trang 8hướng dẫn các cá nhân hoạt động trong khuôn khổ được phép và tránh những hành vi không được phép
- Đạo đức là một hệ thống giá trị Đó là các giá trị vật chất và tinh thần; các giá trị sản
xuất và tiêu dùng; các giá trị chính trị - xã hội, nhận thức, đạo đức, thẩm mỹ, tôn giáo
Đạo đức có những chức năng cơ bản sau:
Trước hết, là chức năng điều chỉnh hành vi Đạo đức là một phương thức
điều chỉnh hành vi Sự điều chỉnh hành vi của đạo đức làm cá nhân và xã hội cùng tòn tại và phát triển, bảo đảm quan hệ lợi ích cá nhân và cộng đồng
Thứ hai là chức năng giáo dục Con người vươn lên “chân - thiện - mỹ”
Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể của lịch sử Con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy Con người sinh ra bắt gặp hệ thống đạo đức của xã hội Hệ thống ấy tác động đến con người và con người tác động lại hệ thống Hệ thống đạo đức do con người tạo ra, nhưng sau khi ra đời, hệ thống đó tồn tại như là cái khách quan hóa tác động chi phối con người Ở đây, các hành vi đạo đức lặp đi, lặp lại trong đời sống xã hội và cá nhân làm cho cả đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội được củng cố, phát triển trở thành những thói quen, truyền thống, tập quán đạo đức
Thứ ba là chức năng nhận thức Với tư cách là một hình thái ý thức xã
hội, đạo đức có chức năng nhận thức thông qua sự phản ánh tồn tại xã hội Sự phản ánh của đạo đức với hiện thực có đặc điểm riêng khác với các hình thái ý thức khác
Đạo đức là một phạm trù lịch sử Mỗi hình thái kinh tế xã hội đều có những chuẩn mực đạo đức phù hợp Khi hình thái kinh tế xã hội thay đổi thì những chuẩn mực đạo đức cũ cũng dần dần mất đi nhường chỗ cho những
Trang 9DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 A.M Rumiantxep (chủ biên) (1986), Từ điển chủ nghĩa cộng sản khoa học,
Nxb Sự thật, Hà Nội, tr 123
2 Bandzeladze.G, (1985), Đạo đức học, tập 1, Nxb Giáo dục, tr 48,104
3 Bandzeladze.G, (1985), Đạo đức học, tập 2, Nxb Giáo dục, tr 121
4 Hoàng Chí Bảo (1996), “Hồ Chí Minh, biểu tượng của văn hóa làm người”,
Tạp chí nghiên cứu lý luận (4), tr 5
5 Hoàng Chí Bảo (1998), Những biện pháp xây dựng văn hóa theo tư tưởng Hồ
Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 251
6 Hoàng Chí Bảo (1998), “ Sự biến đổi mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội
trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường”, Tạp chí Thanh niên, (21)
7 Hoàng Chí Bảo (2001), “Nhân cách và giáo dục văn hóa nhân cách” Tạp chí
Triết học, (6)
8 Bộ Giáo dục đào tạo (2003), Báo cáo tổng kết công tác sinh viên giai đoạn
1998 - 2002, Hà Nội
9 Bộ Lao động thương binh xã hội (1996), Xóa đói giảm nghèo với tăng trưởng
kinh tế, Nxb Lao động
10 Báo điện tử Vietnamnet.com.vn (26/12/2006), Trò chuyện với nguyên Tổng
Bí Thư Đỗ Mười về lớp trẻ hôm nay
11 C Mác, Ăng ghen (1995), Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội,
tr 128, 262
12 C Mác, Ăng ghen (1997), Toàn tập, tập 37, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
tr 681
13 Phạm Khắc Chương (1997), “Thực trạng và một số giải pháp giáo dục đạo
đức cho thanh niên sinh viên hiện nay”, Tạp chí Đại học và giáo dục chuyên
nghiệp (2), tr 14
14 Đinh Thị Vân Chi (2003), Nhu cầu giải trí của Thanh Niên, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, tr 192 - 193
Trang 1015 Nguyễn Trọng Chuẩn (1995), “Đôi điều suy nghĩ về giá trị và biến đổi của
các giá trị khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường”, Tạp chí triết học
(1)
16 Chương trình khoa học xã hội cấp nhà nước KX - 06 (1990 - 1995), Báo cáo
tổng quan, tr.134 -135
17 Lương Minh Cừ (2003), “Một số ý kiến về công tác giáo dục chính trị, tư
tưởng cho sinh viên hiện nay”, Tạp chí giáo dục (2)
18 Đỗ Minh Cương (2001), Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt
Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
19 Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (đồng chủ biên) (2002), Giá trị
truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội
20 Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sỹ Quý (đồng chủ biên) (2001),
Tìm hiểu văn hóa truyền thống trong quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
21 Dương Văn Duyên (2003), Đạo đức học Macxit với việc giáo dục đạo đức
sinh viên hiện nay ở nước ta, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
22 T Danh (2002), “Kỷ nguyên internet: đừng quên những giá trị đối mặt”,
Báo tuổi trẻ thành phố Hồ Chí Minh, tr 9
23 Đảng Cộng Sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr 81
24 Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện đại hội giữa nhiệm kỳ khóa VI,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 51
25 Đảng Cộng Sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 146
26 Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện hội nghị lần thứ năm Ban chấp
hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 16
27 Đảng Cộng Sản Việt Nam (2001), Văn Kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 15