Từ vấn đề đặt ra ở trên, chúng tôi chọn đề tài "Tư tưởng của Khổng Tử về "nhân" qua mối quan hệ giữa "ái nhân" và "tri nhân" cho luận văn Thạc sĩ triết học của mình với hy vọng rằng, n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
************
NGUYỄN THỊ LAN
T¦ T¦ëNG CñA KHæNG Tö VÒ “NH¢N”
QUA MèI QUAN HÖ GI÷A “¸I NH¢N” Vµ “TRI NH¢N”
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ LAN
T¦ T¦ëNG CñA KHæNG Tö VÒ "NH¢N"
QUA MèI QUAN HÖ GI÷A "¸I NH¢N" Vµ "TRI NH¢N"
Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60 22 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN NGUYÊN VIỆT
HÀ NỘI - 2009
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hội nhập quốc tế và xây dựng đất nước, Đảng ta đã chỉ ra
sự cần thiết phải tiếp tục đổi mới tư duy, “Kế thừa các giá trị truyền thống của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hoá của loài người…Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” [24, tr 213]1
Song, theo Ph.Ăngghen: “Muốn hoàn thiện tư duy lý luận thì cho tới nay, không có một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ triết học thời trước” [50, tr 487]
Trong lịch sử tư tưởng dân tộc, Nho giáo cùng với các học thuyết khác trong tam giáo là Phật giáo và đạo Lão-Trang đã có đóng góp không nhỏ vào
sự hình thành các giá trị truyền thống Đó là một thực tế lịch sử cho tới nay không thể phủ nhận Chính vì vậy, việc nghiên cứu nội dung tư tưởng của tam giáo nói chung và của Nho giáo nói riêng, từ đó làm rõ những giá trị tích cực cũng như chỉ ra những hạn chế của nó là hết sức cần thiết
Như chúng ta đều biết, Nho giáo là một học thuyết chính trị – xã hội với nội dung tư tưởng căn bản về thiết lập và duy trì trật tự xã hội Để thực hiện mục đích này, các nhà sáng lập Nho giáo đã chủ trương dùng đạo đức để cảm hoá con người, giáo dục con người thành những chủ thể có đủ phẩm cách đạo đức của xã hội lý tưởng Vì vậy, nội dung tư tưởng của Nho gia tập trung vào việc lý giải những nguyên nhân dẫn đến tình trạng xã hội loạn lạc và con đường thiết lập, duy trì xã hội lý tưởng theo mô hình xã hội của những ông vua huyền thoại trong dã sử của Trung Quốc là Đường Nghiêu và Ngu Thuấn
Trong tư tưởng của Khổng Tử (551 - 479 trước CN), người sáng lập
trường phái Nho gia, Nhân là phạm trù đạo đức bao trùm nhất và được ông lý giải theo nhiều phương diện khác nhau Trong tác phẩm Luận Ngữ, Khổng Tử hơn trăm lần đề cập đến “chữ nhân”, do đó người đời sau mỗi khi nghiên cứu
tư tưởng của Khổng Tử, lại tìm đến cách tiếp cận khác nhau theo cách hiểu
của mình đối với “chữ nhân” đó
Chúng tôi thấy rằng, khi bàn đến phạm trù nhân trong học thuyết của Khổng Tử, trước hết phải nói đến "ái nhân" (yêu thương con người) và "tri
1 Từ đây trở đi, số đầu tiên trong ngoặc móc chỉ thứ tự tài liệu tham khảo, số thứ hai chỉ trang tài liệu được trích dẫn ở tài liệu này
Trang 4nhân" (biết người) Đây là hai mệnh đề luôn đi liền với nhau, phản ánh tâm
thế của chính nhà tư tưởng vĩ đại của Trung Hoa cổ đại, trong đó, có thể nói,
mệnh đề thứ nhất ("ái nhân") là điều kiện “cần”, còn mệnh đề thứ hai ("tri
nhân") là điều kiện “đủ” của nhân Những nội dung khác của nhân đều liên
quan và hầu như được rút ra từ hai mệnh đề này
Đây chính là cơ sở để Khổng Tử xác lập học thuyết mang tính nhân bản của ông, bởi vì trong cách đối đãi, ứng xử với người, Khổng Tử đã đồng nhất
giữa “trí” và “tri” (trí giả tri nhân) Hai khái niệm này tuy có những điểm
tương đồng về năng lực hiểu biết, nhưng lại khác nhau về cấp độ nhận thức cũng như năng lực tư duy
Từ vấn đề đặt ra ở trên, chúng tôi chọn đề tài "Tư tưởng của Khổng
Tử về "nhân" qua mối quan hệ giữa "ái nhân" và "tri nhân" cho luận văn
Thạc sĩ triết học của mình với hy vọng rằng, những kết quả nghiên cứu của đề
tài sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn tư tưởng về nhân của Khổng Tử
2 Tình hình nghiên cứu
Nhân là phạm trù xuất phát, cốt lõi trong toàn bộ học thuyết Nho gia,
được Khổng Tử lý giải theo nhiều cách khác nhau Vì vậy, các công trình nghiên cứu về Nho gia khi đề cập đến phạm trù này đều thể hiện cách tiếp cận khác nhau tùy thuộc vào phạm vi và mục đích nghiên cứu Từ trước tới nay,
đã có rất nhiều công trình trong và ngoài nước nghiên cứu về Nho gia nói
chung và về phạm trù Nhân nói riêng, song, ở mức độ khái quát, có thể chỉ ra
các hướng nghiên cứu chủ yếu như sau:
Thứ nhất, một số nhà nghiên cứu tiếp cận phạm trù nhân với ý nghĩa là
phẩm chất đạo đức cơ bản của người quân tử - mẫu người lý tưởng theo quan điểm của Nho gia
Tác giả Trần Trọng Kim trong cuốn Nho giáo đã nghiên cứu sự hình
thành, phát triển của Nho gia qua các thời kỳ lịch sử, từ khi ra đời thời Xuân Thu - Chiến Quốc phát triển qua các giai đoạn Tần, Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh và Nho giáo ở Việt Nam Trong đó, ông đã
Trang 5trình bày những nội dung cơ bản của Nho giáo thông qua các đại biểu xuất
sắc của Nho giáo qua từng thời kỳ Bàn đến nhân, Trần Trọng Kim cho
rằng: “Nhân là đầu của điều thiện, chủ bồi dưỡng sự sinh của trời đất” [40, tr 50]; “Nhân là cái đích tu dưỡng của Nho học” [40, tr 55]; “Nhân với Trung cũng đồng một nghĩa”, “Chữ nhân bao hàm cả nghĩa chữ ái” [40,
tr 52] Tuy nhiên, trong cuốn sách này, Trần Trọng Kim mới chỉ dừng lại ở
việc lý giải một cách khái quát nhất nội hàm của của chữ nhân mà chưa đặt nó trong quan hệ với ái nhân và tri nhân
Nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu trong cuốn Các bài giảng về tư
tưởng phương Đông (sách do các học trò ghi chép, biên tập lại sau khi
ông mất), đã thừa nhận nhân là hạt nhân trung tâm trong học thuyết của
Khổng Tử Ông cho rằng, "nhân" là trung thứ; khắc kỷ phục lễ là "nhân";
hiếu đễ là gốc của "nhân", nhân là đức mục thuộc phạm trù quân tử và bao gồm các đức mục khác; “Nhân bao gồm: dũng (tinh thần dám làm việc nghĩa); thanh (trong sạch); đức (giữ mình đến mức không hiếu thắng, không khoe khoang, không oán giận); tài (tài năng)” [33, tr 53], Trần
Đình Hượu còn nhấn mạnh: “nhân là đức mục thuộc phạm trù quân tử, đức mục của người có địa vị trị nước, chăn dân chứ không phải một đức mục con người phổ biến” [33, tr 53 ] Cách tiếp cận như vậy của Trần Đình Hượu là đi từ diễn giải đến qui nạp để làm rõ nội hàm người quân
tử Tuy vậy, Trần Đình Hượu cũng mới chỉ lý giải một cách khái lược về
nội dung của nhân và cũng chưa đề cập đến mệnh đề xuất phát trong phạm trù nhân của Khổng Tử là "ái nhân" và "tri nhân" (yêu người và
biết người)
Nguyễn Tài Thư trong Vấn đề con người trong Nho học sơ kỳ đã đi sâu
phân tích các vấn đề về tính người, con người trong các quan hệ với tự nhiên
và xã hội, các nhân cách lý tưởng trong Nho học sơ kỳ Trong đó, ông đã tập trung làm rõ các nhân cách lý tưởng như “sĩ”, “quân tử”, “thánh”, đặc biệt là người quân tử, hình tượng con người tiêu biểu nhất trong quan niệm của đạo
Trang 6Nho Nguyễn Tài Thư cho rằng “Người quân tử phải trau dồi các phẩm chất đạo đức mà Nho gia đã xây dựng nên, họ phải có nhân, lễ, nghĩa, trí, tín… phải thực hiện trung, hiếu…” [65, tr 135], người quân tử phải tu luyện thường xuyên để đạt được các phẩm chất đạo đức cao quý như “nhân”, “trí”,
“dũng” [65, tr 138]
Cũng đề cập đến nhân với ý nghĩa phẩm chất đạo đức của người quân
tử, Nguyễn Thị Kim Chung trong luận văn thạc sĩ triết học Quân tử - mẫu
người toàn thiện trong Luận Ngữ đã trình bày một cách có hệ thống và tương
đối đầy đủ về phẩm cách người toàn thiện trong tư tưởng của Khổng Tử Tác giả nhận định: “Đức tính toàn thiện của người quân tử bao gồm ba đạt đức cơ bản “nhân”, “trí”, “dũng”, trong đó, “nhân là đạt đức cao nhất của người quân tử” [17, tr 43]
Tóm lại, các tác giả nêu trên đã đề cập đến nhân với tư cách là phẩm
chất đạo đức của người quân tử Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu ấy lại
chưa nghiên cứu nhân một cách đầy đủ và có hệ thống về nội hàm rộng lớn của nhân, chưa đặt nó trong mối quan hệ với ái nhân và tri nhân để xem xét
Thứ hai, hướng nghiên cứu của một số tác giả tiếp cận nhân với ý nghĩa
là nguyên tắc căn bản của đạo làm người, nguyên tắc ứng xử giữa người với người, nguyên tắc trị nước của nhà cầm quyền
Nguyễn Hiến Lê trong cuốn sách Khổng Tử đã trình bày một cách
tương đối toàn diện những nội dung tư tưởng cơ bản của Khổng Tử như: tư tưởng chính trị, chính sách trị dân và đạo làm người Trong đó, tác giả đã đề
cập đến nhân với ý nghĩa là đạo làm người Ông cho rằng, “nhân vừa là tu thân, vừa là ái nhân, vừa là xử kỷ vừa là tiếp vật Nó là trung tâm của đạo
đức theo Khổng Tử, từ đó mà phát ra các đức khác và các đức khác tụ cả về
nó” [44, tr 193] Từ đó, Nguyễn Hiến Lê cho rằng, “nhân trong tư tưởng của
Khổng Tử bao gồm cả hiếu đễ, trung, nghĩa, lễ, trí và dũng, nhưng ngược lại, không một đức nào đủ coi là nhân được” [44, tr 198] Trong sách “Khổng
Tử”, Nguyễn Hiến Lê đã đề cập đến nhân với nghĩa là ái nhân, ở đó, ông ít
Trang 7nhiều đã đề cập đến mối quan hệ giữa nhân và trí, tuy nhiên, tác giả cũng chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu khái quát, do đó cũng chưa lấy ái nhân và tri nhân làm cơ sở để xem xét các vấn đề liên quan đến phạm trù nhân
Hoàng Thị Bình trong luận văn thạc sĩ triết học Tư tưởng nhân chính
qua các tác phẩm Luận ngữ và Mạnh Tử đã đề cập đến phạm trù nhân với ý
nghĩa là “nền tảng xuất phát của Khổng giáo trong quan niệm về đạo trị nước
và trong chính sách cai trị của nhà cầm quyền” [2, tr 14] Theo tác giả, Nhân là
cơ sở chỉ đạo học thuyết của Khổng Tử trên mọi bình diện Nhân vừa là tiền đề,
vừa là kết quả của mọi hành động, mọi quan hệ "Nhân tỏa sáng lời nói, việc làm, suy nghĩ của con người và chỉ đạo con người hành động "Nhân" chẳng những là nội dung cơ bản tự rèn luyện của con người mà còn đưa xã hội đến ổn định Đó là những mục đích mà Khổng Tử muốn đạt tới” [2, tr 17, 18)
Thứ ba, cụ thể là Lý Tường Hải (Trung Quốc) trong cuốn sách giới
thiệu thân thế và những nội dung cơ bản trong tư tưởng của Khổng Tử
nhan đề Khổng Tử lại cho rằng, “Khổng Tử đã đem chữ “Nhân” trong văn
hiến cổ đại như Kinh Thi, Kinh Thư, phú cho nó một hàm nghĩa phổ thông, sâu sắc hơn nữa, không chỉ xem nó là căn cứ nội tại để hình thành nên lễ nhạc mà còn xem nó là bản tính của người ta nói chung” [26, tr 24] Ông còn nhấn mạnh, "Nhân" mà Khổng Tử nói đến “làm thành bản chất nội tại của con người sở dĩ thành người, đồng thời cũng hàm chứa căn cứ nội tại
sở dĩ yêu người" [26, tr 28]
Tìm hiểu quan niệm của Khổng Tử về giáo dục, tác giả Nguyễn Bá
Cường trong luận văn thạc sĩ triết học Quan niệm của Khổng Tử về giáo dục
cho rằng: "Nhân" là kết tinh cao nhất của triết học Khổng Tử và cũng là chủ trương nhất quán xuyên suốt sự nghiệp giáo dục của ông” [18, tr 43], nhân là một nội dung giáo dục cơ bản nhất của Khổng Tử, Khổng Tử giáo dục học trò
về "nhân" với tư cách là những chuẩn mực đạo đức mà người học cần phải có
để thực hiện đạo làm người “Nhân vừa là cơ sở của đạo làm người, vừa là
mục đích mà người học cần đạt được” [18, tr 43]
Trang 8Trong cuốn Nho giáo xưa và nay (Vũ Khiêu chủ biên), Phan Văn
Các phản ánh những nét chính về tình hình nghiên cứu Khổng Tử và Nho giáo ở Trung Quốc qua “Hội thảo quốc tế về Nho học” lần thứ nhất (tháng
10 năm 1987) Trong đó ông nhận xét: “Nhiều ý kiến cho rằng, kết tinh cao nhất của triết lý Khổng Tử là chữ “nhân”- “nhân” chính là sự thăng hoa triết học của con người” [36, tr 278] Như vậy, hầu hết các học giả nghiên cứu Nho gia đều thừa nhận rằng, nhân là hạt nhân cốt lõi, xuyên suốt trong
tư tưởng của Khổng Tử
Nguyễn Đăng Duy trong Nho giáo với văn hoá Việt Nam đã nghiên
cứu Nho giáo dưới góc độ văn hóa và mối quan hệ giữa Nho giáo với các
giá trị văn hoá Trong đó, tác giả đã đề cập đến nhân với ý nghĩa là một trong
những nội dung đạo đức của Nho giáo Ông cho rằng: “Trong đạo đức làm người, chữ nhân được Khổng Tử đặt nên hàng đầu, đức nhân là tiêu chuẩn cao nhất, nhân là điều hợp với đạo trời và lòng người” [22, tr 174] Biểu hiện của đức nhân ấy chính là nhân ái, lòng thương yêu con người [22, tr 176]
Các công trình nghiên cứu trên, ở nhiều khía cạnh, mức độ khác nhau đều đề cập đến "nhân" Tuy nhiên, các công trình ấy chưa đi sâu phân tích làm rõ nội hàm của nhân một cách đầy đủ và có hệ thống, chưa lấy mệnh đề
"ái nhân" và "tri nhân" làm cơ sở, nền tảng để xem xét các phạm trù liên quan đến "nhân" trong học thuyết của Khổng Tử
Duy có Phan Bội Châu trong Khổng học đăng đã phân tích, lý giải nội dung của nhân một cách tương đối đầy đủ, chi tiết qua sự đối đáp của Khổng Tử với học trò Trong đó, Phan Bội Châu đi sâu lý giải nhân ở các
góc độ “khắc kỷ phục lễ”, “trung thứ” Ông còn làm rõ “các bộ phận và các
chi tiết ở trong chữ nhân”, Ông cho rằng nhân bao gồm ái nhân; bao gồm
cung, khoan, tín, mẫn, huệ [13, tr 45, 46] Khi phân tích mối quan hệ nhân,
trí, dũng, Phan Bội Châu cho rằng, nhân là ái nhân, nhưng nhờ có tri nhân nên nhân đó càng thêm trọn vẹn Ông cũng cho rằng, ái nhân và tri nhân
có mối quan hệ gắn bó, bổ sung cho nhau: “Yêu người với biết người, vẫn hai thủ đoạn nhưng chỉ là một đạo lý mà thôi” [13, tr 67] Mặc dù Phan
Trang 9Bội Châu cũng chưa lấy mệnh đề ái nhân và tri nhân làm cơ sở, nền tảng
để xem xét các phạm trù liên quan đến nhân, song chúng tôi cho rằng, ông
đã ít nhiều lưu ý tới mối quan hệ giữa hai mệnh đề này của nhân Điều đó
đã tạo đà cho chúng tôi tiếp tục nghiên cứu sâu hơn vấn đề này
Qua khảo sát tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài trên đây, chúng tôi thấy rằng, hầu hết các tác giả nghiên cứu học thuyết Nho gia đều
đề cập đến nhân ở nhiều khía cạnh khác nhau xuất phát từ đối tượng, mục
đích nghiên cứu của họ Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu ấy chưa làm
rõ được nội hàm của “nhân” là ái nhân và tri nhân (yêu thương con người
và biết người), cũng chưa thấy được nhân chính là cơ sở, nền tảng để xem
xét các phạm trù đạo đức khác trong tư tưởng của Khổng Tử Mặt khác, Khổng Tử khi nói đến “nhân” là nói đến phẩm chất cao quí của người quân
tử trong quan hệ ứng xử với người khác, vì thế mà ông đã đồng nhất “trí”
và “tri”, nghĩa là sự “biết người” phải cần đến năng lực tư duy Từ thực tế
đó, trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của những học giả đi trước, tác giả luận văn mong muốn đi sâu phân tích, làm rõ hơn nội dung
của phạm trù nhân trong học thuyết của Khổng Tử qua mối quan hệ giữa ái
nhân và tri nhân
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của luận văn là: trình bày một cách hệ thống tư tưởng của
Khổng Tử về nhân qua việc phân tích mối quan hệ giữa ái nhân và tri nhân,
từ đó làm rõ ý nghĩa của nhân trong quan hệ ứng xử của con người
Để đạt được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Trình bày những điều kiện, tiền đề chủ yếu cho sự hình thành học
thuyết chính trị - đạo đức của Khổng Tử
- Trình bày khái quát nội dung tư tưởng cơ bản của Khổng Tử
- Trình bày một cách có hệ thống quan niệm của Khổng Tử về ái nhân
và tri nhân; phân tích mối quan hệ mật thiết giữa hai mệnh đề "ái nhân" và
"tri nhân" để làm rõ nội hàm của Nhân
- Từ việc phân tích ở trên về mối quan hệ giữa “ái nhân” và “tri nhân”,
Trang 10làm rõ những giá trị và hạn chế trong tư tưởng của Khổng Tử về nhân cũng như ảnh hưởng của nó đối với quan hệ ứng xử của con người
4 Cơ sở lý luận và phương pháp luận
- Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, xã hội
- Phương pháp nghiên cứu: Dựa trên cơ sở phương pháp luận của triết học Mác-Lênin; phương pháp kết hợp giữa lôgic và lịch sử của khoa học lịch
sử triết học; các phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, so sánh…
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng của Khổng Tử về nhân qua mối
quan hệ giữa ái nhân và tri nhân
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu tư tưởng của Khổng
Tử về nhân, ái nhân, tri nhân, mối quan hệ giữa ái nhân và tri nhân trong
Luận Ngữ, trong một số tác phẩm kinh điển của Nho gia và trong một