Ở Trung Hoa có các nhà nghiên cứu đáng chú ý như Tào Thăng, Hứa Hanh, Phùng Hữu Lan, Vưu Sùng Hoa, Thiệu Vĩ Hoa … Họ đã đạt được rất nhiều thành tựu về cả nghiên cứu khoa học, lý luận cũ
Trang 1đại học quốc gia hà nội Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
-
Nguyễn anh nguyên
Tìm hiểu một số t- t-ởng triết học
trong kinh dịch
Luận văn thạc sỹ triết học
Hà nội - 2009
Trang 2đại học quốc gia hà nội Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
-
Nguyễn anh nguyên
Tìm hiểu một số t- t-ởng triết học
trong kinh dịch
Chuyên ngành: Triết học Mã số : 60.22.80
Luận văn thạc sỹ triết học
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học:
GS.TS Lê Văn Quán
Hà nội - 2009
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại có một giá trị rất lớn trong nền văn minh nhân loại Trong hệ thống tư tưởng triết học nổi tiếng đó có những đóng góp rất lớn về mặt định hướng hoạt động thực tiễn nhằm thích ứng, cải biến thực trạng xã hội đương thời; thúc đẩy sự phát triển xã hội tiến lên một tầm cao mới Những giá trị đó đã có tầm ảnh hưởng sâu rộng tới tất cả các cá nhân và xã hội
Trên con đường đi tìm sự thích ứng của mỗi cá nhân trong việc khẳng định cái tôi trong một cộng đồng, tập thể, xã hội; trong việc tu dưỡng đạo đức, đối nhân xử thế, trong việc dụng binh, nhận xét về thời thế cũng như việc chờ đợi thời cơ… Những vấn đề mà cuộc sống đang đặt ra trong bất cứ thời đại nào cũng có thể tìm hiểu được ít nhiều ở trong tư tưởng của cổ nhân Người xưa đã
để lại cho chúng ta một nền tảng tri thức vô cùng phong phú trong đó những tri thức về con người, xã hội là một phần vô cùng quan trọng và thực sự qúy giá, thiết thực trong cuộc sống hôm nay Việc nghiên cứu một số tư tưởng triết học trong Kinh Dịch của luận văn cũng nhằm cố gắng làm rõ điều đó
Nghiên cứu Kinh Dịch thực chất là nghiên cứu những tư tưởng thể hiện trong đó, nơi đây chứa đựng những tư tưởng về xã hội và con người nói chung
Ở Trung Hoa có các nhà nghiên cứu đáng chú ý như Tào Thăng, Hứa Hanh, Phùng Hữu Lan, Vưu Sùng Hoa, Thiệu Vĩ Hoa … Họ đã đạt được rất nhiều thành tựu về cả nghiên cứu khoa học, lý luận cũng như về chiêm bốc, độn giáp…
Ở Việt Nam, tình hình lịch sử - xã hội có những đặc điểm đặc thù so với các nước nên tình hình nghiên cứu Kinh Dịch cũng có những điểm khác biệt Với nước ta, nhu cầu về xử lý những vấn đề thiết thực của cuộc sống trong những thời điểm lịch sử nhất định được đề cao hơn so với việc nghiên cứu học thuật một cách thuần túy Do vậy, như học giả Nguyễn Hiến Lê nói trong cuốn
Kinh Dịch đạo của người quân tử là “Ở nước ta chưa có ai có thể gọi là nhà Dịch học được”[46, 70] Tuy vậy, theo ý kiến của người thực hiện luận văn thì
Trang 4các học giả chuyên về Dịch học ở Việt Nam chưa nhiều nhưng họ cũng đã ít nhiều đạt được những thành tựu nhất định, phần nhiều các nhà nghiên cứu Kinh Dịch để ứng dụng vào hoạt động thực tiễn xã hội, do vậy các tác phẩm nghiên cứu Kinh Dịch họ để lại không nhiều và rất tản mạn trong các ghi chép khác nhau; cần phải được sưu tầm và tập hợp trong một thời gian nhất định mới đạt được kết qủa
Trong hoàn cảnh như vậy, nếu việc nghiên cứu và học tập Kinh Dịch chỉ thuần túy dựa vào các bản dịch từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt thì chưa hẳn
đã được trọn vẹn Có nhiều nguyên nhân như bản thân các tác phẩm nước ngoài chưa hẳn tất cả đã thể hiện được ý nghĩa của Kinh Dịch và việc dịch tất cả các tác phẩm đó ra tiếng Việt là điều rất khó khăn Đồng thời, những tác phẩm ở nước ngoài chưa hẳn là đã phù hợp với chúng ta Do vậy, việc phải nghiên cứu Kinh Dịch một cách nghiêm túc và dựa trên tinh thần của người Việt Nam là một đòi hỏi thực sự cần thiết nếu như chúng ta muốn nắm được tinh thần của Dịch học và ứng dụng những tư tưởng tích cực của Dịch vào việc xử lý các vấn
đề của cá nhân và xã hội ở Việt Nam Yêu cầu này đang được đặt ra một cách nghiêm túc, có như vậy chúng ta mới hi vọng có thể có tiếng nói riêng của mình trên diễn đàn học thuật và tư tưởng quốc tế
2 Tình hình nghiên cứu
Kinh Dịch là một loại sách được xếp vào hàng kinh điển của Nho gia,
đứng đầu trong Ngũ Kinh (Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Xuân
Thu) Việc nghiên cứu Kinh Dịch trong lịch sử đã đạt được rất nhiều thành tựu
với các nhà Dịch học tiêu biểu ở cả phương Tây và phương Đông
Ở phương Tây, theo tìm hiểu trong các tư liệu chúng tôi được biết có những nhà nghiên cứu về Kinh Dịch tiêu biểu như:
Meclatchie Rev với A translation of the Confuchian Yi Kinh, or the
Classic of Changes (Thượng Hải, 1876) Cuốn này có một điểm rất lạ là tác giả
muốn đem những nghiên cứu về thần thoại để tìm hiểu những bí mật của Kinh Dịch Cuốn này có nhiều sự chú thích và phụ lục đính kèm
Trang 5Legge J với The texts of Confucianism, Pt II, the Yi King (Oxford, 1899)
Đây là một bản dịch sát và kỹ lưỡng bản Kinh Dịch in năm 1715 đời Khang Hy nhà Thanh Tuy nhiên, dịch giả không coi Kinh Dịch là một sách bói, không tin môn bói Dịch, không có phần bàn về bói Dịch và những chú thích của ông cũng còn sơ sài
Wilhem R với I Ging: das Buch der Wandlungen (Jena, 1924) Đây là
bản dịch đầy đủ, được nhiều người đọc ưa thích, bản này có lời giới thiệu rất hay
và lời mở đầu sâu sắc của Tiến sỹ C Jung Tuy nhiên, cách sắp xếp các chương còn rắc rối, với những người mới đọc Dịch thì rất khó theo dõi Sau đó, Baynes
C lại dịch cuốn này ra tiếng Anh với nhan đề The I Ching or Book of Changes (London, 1950) Từ bản I Ging: das Buch der Wandlungen của Wilhem R, Tienne Perrot E đã dịch ra tiếng Pháp với tên gọi Yi King - Le livre des
transformations (Paris, 1971)
Blofeld J với The Book of Change (London, 1965) Đây là một bản dịch
Kinh Dịch khác của học giả người Anh Cuốn này nói kỹ về cách bói, tuy nhiên tác giả không dịch những lời chú thích của Khổng Tử về Kinh Dịch Tác giả muốn nói nhiều về phần Dịch truyện
Siu R với The man of many qualities; A legacy of the I Ching
(Cambridge, 1968) Đây là một bản dịch mới nói riêng về phần Dịch kinh thời
kỳ Chu Văn Vương và Chu Công Dịch giả trích dẫn trên 700 chỗ trong văn học thế giới để giải thích phần kinh đó Trong tác phẩm này, tác giả nói về cách bói với những ý tưởng mới mẻ, hấp dẫn
Ngoài ra, các học giả phương Tây đã vận dụng Kinh Dịch vào khoa học
kỹ thuật, đáng chú ý là:
Leibniz, nhà triết học và toán học người Đức (1646 - 1716) là người đầu tiên nghĩ ra phép nhị phân thay cho phép thập phân bằng cách chỉ dùng hai con số: Số 1 làm dương và số 0 làm âm để mã máy tính điện tử Hai con số này mỗi nhóm 6 số và gồm 64 nhóm Khi có điện vào thì đèn bật là 1 và khi điện tắt là 0,
cứ như thế truyền các tín hiệu
Trang 6C Jung, người gốc Thụy Sĩ, sinh năm 1875, cùng với Freud tạo ra khoa
phân tâm học Ông là bạn của Wilhem R, người đã dùng Kinh Dịch để tìm hiểu
tiềm thức con người, trong đó có cả việc bói toán
Lưu Tử Hoa, một nhà bác học Trung Quốc ở Anh cũng nói đã vận dụng
nguyên lý “Bát quái” từ năm 1930, tìm ra quỹ đạo hành tinh thứ 10 trong hệ Mặt
trời
Hai nhà vật lý học người Mỹ gốc Trung Quốc là Tsung Tao Lee (Lý Chính Đạo), giáo sư đại học Princeton và Tchen Ninh Ang (Dương Chấn Ninh), giáo sư đại học Columbia đã tuyên bố nhờ nghiên cứu Dịch học mà biết rằng, trong thế giới điện tử, phía trái và phía phải không như nhau, dương thì 9 mà âm thì 6, có tỷ số là 3/2 Hai ông chứng minh khi hạt nhân nguyên tử nổ làm bắn ra những ly tử âm và ly tử dương, tia dương bắn xa hơn tia âm theo tỷ lệ 3/2 tạo ra định luật số chẵn, lẻ Hai ông đã được nhận giải Nobel Vật lý năm 1957
Và nhiều tác giả khác nữa
Hiện nay, trong giới học giả người Hoa, theo các tài liệu chúng tôi thu thập được thì có các nhà nghiên cứu sau là đáng chú ý:
Cao Hanh và Lý Kính Trình trong những năm đầu nghiên cứu Kinh Dịch
đều khẳng định đó là sách để xem bói Với Chu Dịch cổ kinh kim chú, Chu Dịch
tạp luận, Cao Hanh đã giải thích “trinh cát” của lời hào thứ 4 (âm) quẻ Thủy
Địa Tỷ là “bói gặp lời hào này, thì tốt” (Phệ ngộ thử hào tắc cát); giải thích
“gian trinh” ở lời hào thứ 3 (dương) quẻ Địa Thiên Thái là “Chiêm vấn hoạn
nạn chi sự, vị chi gian trinh” (bói hỏi việc hoạn nạn, gọi là gian trinh).v.v Lúc
đầu, cũng giống như Lý Kính Trình, qua quyển Chu Dịch cổ kinh kim chú thể
hiện rõ ràng lời nào của quẻ là cùng loại với giáp cốt bốc từ Ông giải thích lời hào của một quẻ, vẫn chưa kết hợp lời quẻ với hình tượng quẻ, tên quẻ Nhưng
về sau ông đã thay đổi ý kiến và có cách nhìn mới về quan hệ giữa lời hào, lời
quẻ và tượng quẻ, do đó, cách giải thích chữ “trinh” cũng đã có thay đổi Ví dụ,
trong bài Tư tưởng triết học của lời hào, lời quẻ của Chu Dịch, ông đã giải thích
lời hào thứ 3, quẻ Đại Súc: “Lương mã trục, lợi gian trinh, nhật hàn dữ vệ, lợi
hữu du vãng” là “Cưỡi ngựa tốt, (đi) xe chắc, thì không sợ con đường gian nan
Trang 7và xa xôi”, không giải thích chữ “trinh” thành “chiêm” (xem, bói) hoặc “chiêm vấn” (hỏi quẻ, xem bói)
Tương tự Cao Hanh, Lý Kính Trình lúc đầu giải thích chữ “trinh” ở Kinh Dịch là “chiêm” (xem, bói), “chiêm” tức là “bốc vấn” (hỏi quẻ, xem bói) Thực
ra, “bốc vấn” (hỏi quẻ, xem bói) là nghĩa gốc của chữ “trinh”, còn “chính” là nghĩa mở rộng Về sau, khi viết Chu Dịch thông nghĩa ông thừa nhận: “Hiểu rõ
tên quẻ và lời hào của quẻ hoàn toàn có liên quan với nhau, trong đó đa số, mỗi quẻ đều có một trung tâm tư tưởng, tên quẻ là tiêu đề của nó” Điều đó khẳng
định sau này ông đã thay đổi cách nhìn nhận Ông đã dẫn ra những từ “trinh cát,
hối vong, vô cữu” có trong hào đều là thuyết minh và phán đoán sự lý Những
lời hào của quẻ cũng “có chứa đựng tư tưởng tác giả” Trên thực tế, hai ông đã
có phương pháp nghiên cứu mới, lúc đầu hai ông quan niệm Kinh Dịch là sách thuần túy để xem bói, nhưng về sau đã thay đổi ý kiến
Nhóm chỉnh lý Bạch thư ở mộ Mã Vương Đôi đời Hán với Mã Vương
Đôi Bạch thư Chu Dịch lục thập tứ quái thích văn Trương Chính Long với Bạch thư lục thập tứ quái bạt Hào Lương với Bạch thư Chu Dịch đây là các
nhóm tác giả nghiên cứu về các văn bản Chu Dịch viết trên lụa được khai quật trên các ngôi mộ cổ ở Trường Sa (Hồ Nam) và đã có những ý kiến nhận định khác nhau về việc tìm hiểu Kinh Dịch khác với cách nghiên cứu truyền thống
Vưu Sùng Hoa với Mai hoa dịch tân biên Ông Vưu Sùng Hoa muốn đem
những tri thức khoa học thời hiện đại để chú giải những luận điểm của học giả Thiệu Khang Tiết đời Tống Cuốn này đã được dịch giả Cao Hoàn Diên Khánh dịch ra tiếng Việt (1997)
Fung Yu Lan (Phùng Hữu Lan) với A History of Chinese Philosophy
(1937) Hiện tác phẩm này đã được tác giả Lê Anh Minh dịch ra tiếng Việt với
nhan đề Lịch sử Triết học Trung Quốc (2006) Đây là một tác phẩm nghiên cứu
rất công phu về lịch sử triết học Trung Quốc do chính một học giả người Trung Quốc viết, tác phẩm đã được giới nghiên cứu ở phương Tây đánh giá rất cao và trở thành tài liệu nghiên cứu chính thức về lịch sử triết học Trung Quốc trong các trường đại học ở phương Tây
Trang 8Gần đây, học giả Thiệu Vĩ Hoa với nhiều tác phẩm về dự đoán, bốc quẻ…
đã gây những tiếng vang và có thể coi như đã tạo nên “cơn sốt Dịch học” trên
diễn đàn Dịch học quốc tế; một số tác phẩm của ông đã được dịch ra tiếng Việt
như: Dự đoán theo tứ trụ (2002), Chu Dịch với dự đoán học (2003)… Tuy
nhiên, các tác phẩm này phần nhiều đi về chiêm bốc, độn giáp nên trong phạm
vi luận văn không có điều kiện khảo cứu sâu
Ở Việt Nam, trước năm 1975 đã có ba bản dịch bộ Chu Dịch ra chữ Quốc ngữ, đó là:
Kinh Dịch của Ngô Tất Tố, tác giả dựa vào bản Chu Dịch đại toàn đời
Minh - là bộ đầy đủ hơn hết - để dịch ra tiếng Việt Bản dịch này của ông tuy khá đầy đủ, song nhiều chỗ dịch vẫn qúa khó hiểu, do sử dụng nhiều từ Hán Việt
cổ, đôi khi ông cũng không dịch mà sử dụng luôn phiên âm tiếng Hán Nếu người nào không biết tiếng Hán thì khó mà có thể sử dụng được quyển của ông
Chu Dịch của cụ Phan Bội Châu, nguyên gốc là bản Dịch học chú giải
Mặc dù cụ Phan dịch quyển này từ những năm 30 của thế kỷ XX khi thực dân Pháp buộc cụ phải an trí ở Huế, song đến năm 1969 mới được Nhà sách Khai Trí
xuất bản với tên Chu Dịch Cụ Sào Nam uyên thâm Hán học, cuộc đời được trải
nghiệm qua nhiều phong ba hùng tráng, lại để nhiều năm nghiên cứu về Dịch nên cả phần dịch và phần bình bộ Kinh Dịch của cụ đều hết sức có giá trị Có lẽ, đây vẫn là một trong những bộ Kinh Dịch đầy đủ và chan chứa nhiều tình cảm của người biên soạn nhất ở Việt Nam cho tới thời điểm này
Kinh Chu Dịch bản nghĩa của Nguyễn Duy Tinh Ngoài phần Kinh thì
Nguyễn Duy Tinh cũng dịch thêm phần Truyện (tức Thập dực), mà trong cuốn
của Ngô Tất Tố không có
Gần đây, có một số tác giả khác dịch lại cuốn Chu Dịch song phần lớn đã
không vượt được những người đi trước Chỉ có cuốn Kinh Dịch đạo của người
quân tử của Nguyễn Hiến Lê là khá đầy đủ nhưng thực ra vẫn còn một số chỗ
tác giả dịch rất khó hiểu, thậm chí dùng nguyên nghĩa đen của tiếng Hán khi dịch ra tiếng Việt nên khi diễn đạt các hào có phần gượng ép; ngoài ra khi dịch
Trang 9tác giả dùng ngôn ngữ khu vực Nam Bộ nên cũng gây một số khó khăn cho các độc giả ở các địa phương khác
Tuy vậy, đã xuất hiện một số cuốn như Chu Dịch đại truyện của Lê Anh Minh, Kinh Dịch và cấu hình tư tưởng Trung Quốc của Dương Ngọc Dũng và
Lê Anh Minh giúp ích nhiều cho người đọc; đó là các bản dịch đầy đủ, hoàn thiện và cập nhật Ngoài việc căn cứ trên văn bản Hán cổ, các tác giả - dịch giả còn đối sánh với nhiều bản dịch tiếng Trung Quốc hiện đại, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức… nên độ chính xác của văn bản rất cao
Chính vì cuốn Kinh Dịch có một nội dung rất phong phú, nhiều chiều, nên các tác phẩm nghiên cứu ở Việt Nam cũng có một nội dung rất khác nhau Những mảng tư tưởng được đề cập chủ yếu đến là bản thể luận, nhân sinh quan, tượng số, thuật bói toán, độn giáp, v.v Ở đây chúng tôi xin được phác thảo theo thứ tự thời gian những nét cơ bản về các tác phẩm được nhiều người biết đến nhất
Cuốn Chu Dịch của cụ Phan Bội Châu vừa là một bản dịch, vừa là tác
phẩm nghiên cứu có giá trị Nét đặc sắc trong chú giải của cụ không chỉ gói gọn
trong các phần Phát đoan từ, Phàm lệ, Đề bạt từ mà còn đặc biệt được thể hiện
trong phần bình giảng của cụ đối với từng quẻ Những nội dung cụ đề cập về sự biến hóa cùng những quy luật của âm dương trời đất, nhất là các nội dung liên
quan đến triết lý sống của con người, tuy không dài dòng nhưng đã “không khác
gì dọn gai gốc mà thấy đường bằng, vẹt mây mù mà thấy mặt trời, làm cho chân tướng triết học của Thánh hiền Đông phương bị che lấp mấy trăm đời, nay được bày tỏ một cách sáng suốt, giá trị của bản sách này không phải là ít” [13, 7 – 8]
Năm 1953, Nhà xất bản Vỡ Đất ở Hà Nội cho in quyển Một nhận xét về
Kinh Dịch của Nguyễn Uyển Diễm Ông đặt ra nhiều vấn đề trái ngược với các
nhà nho đi trước, ví dụ như những phân tích và nhận định về việc Khổng Tử không hề san định Kinh Dịch, hay Kinh Dịch là quyển sách đi từ triết học đến bói toán v.v
Một trong những học giả viết nhiều về Kinh Dịch là Nguyễn Duy Cần
Tác phẩm đầu tiên của ông về vấn đề này là Dịch học tinh hoa Cuốn sách này
Trang 10tập trung phân tích những thuật ngữ cơ bản trong Kinh Dịch để từ đó suy ra các quy luật vận động của vạn vật Bên cạnh việc dựng nên một bức tranh khá mạch lạc về các nguyên lý chính của Dịch thì trong tác phẩm này Nguyễn Duy Cần đã qúa cường điệu tính tiên tri và thần bí trong Kinh Dịch dựa trên phương pháp so sánh một chiều, từ đó ông đã phú cho Kinh Dịch nhiều chức năng mà nó chưa
từng có Tác phẩm thứ hai của Nguyễn Duy Cần, bổ trợ cho cuốn trước là Chu
Dịch huyền giải Song đáng tiếc cuốn này nội dung không có gì nhiều, hầu hết
chỉ là nhắc lại những ý kiến cũ
Một quyển được đầu tư rất nhiều và viết khá sâu là Kinh Dịch với vũ trụ
quan Đông phương của Nguyễn Hữu Lương Nội dung tác phẩm này tương đối
khác với các cuốn khác, chủ yếu là bàn nhiều về Hà Đồ và Lạc Thư, là những vấn đề tượng số học, từ đó tìm ra vũ trụ quan của Dịch nói riêng và của phương Đông nói chung Tuy chúng tôi không hoàn toàn đồng ý với cách tiếp cận trên, song vẫn phải thừa nhận đây là một bộ sách khảo cứu hết sức công phu và có giá trị không ít về mặt lý luận