Nghiên cứu thực nghiệm các yếu tố tác động đến sự phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Bangladesh của Chowdhury, Islam, Alam, 2013 cho thấy có 06 yếu tố tác động đến phát triển doanh ngh
Trang 1TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
1 Lý do chọn đề tài
Ngành xây dựng là ngành sản xuất vật chất có chức năng tái sản xuất tài sản
cố định cho nền kinh tế quốc dân Nó tạo nên cơ sở vật chất cho xã hội, tăng tiềm lực kinh tế của đất nước Hơn thế nữa, đầu tư xây dựng gắn liền với việc ứng dụng các công nghệ hiện đại nên góp phần thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật đối với các ngành sản xuất vật chất Phát triển doanh nghiệp xây dựng còn có mối quan hệ tác động mạnh mẽ tới hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân nói chung và quỹ tích lũy nói riêng với nguồn vốn đầu tư, tài trợ của nước ngoài được sử dụng trong lĩnh vực xây dựng So với các ngành sản xuất khác, xây dựng có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật đặc thù, được thể hiện rất rõ ở sản phẩm xây lắp và quá trình sáng tạo ra sản phẩm của doanh nghiệp xây dựng
Đặc thù sản phẩm của doanh nghiệp xây dựng là có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian sử dụng lâu dài, cơ cấu lao động không đồng đều, kiến trúc đặc trưng, có giá trị lớn đòi hỏi các nhà xây dựng phải dự đoán trước xu hướng tiến bộ
xã hội để tránh bị lạc hậu Phong cách kiến trúc và kiểu dáng một sản phẩm cần phải phù hợp với văn hóa dân tộc Trên thực tế, đã có không ít các công trình xây dựng trở thành biểu tượng của một quốc gia và do đó chất lượng của các công trình xây dựng cũng phải được đặc biệt chú ý Nó không chỉ ảnh hưởng tới tuổi thọ của công trình mà còn ảnh hưởng tới sự an toàn cho người sử dụng
Phát triển doanh nghiệp xây dựng chính là quan tâm đến sản phẩm xây dựng mang tính tổng hợp phát huy tác dụng về chính sách nhà nước, nguồn tài chính, nguồn nhân lực, kết nối thị trường, môi trường, công nghệ, kiến trúc xây dựng, Nó rất đa dạng nhưng lại mang tính độc lập, mỗi một công trình được xây dựng theo một thiết kế, kỹ thuật riêng, có giá trị dự toán riêng và tại một địa điểm nhất định, nơi sản xuất ra sản phẩm cũng đồng thời là nơi sau này khi sản phẩm hoàn thành được đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng Những đặc điểm này có tác động lớn tới quá trình phát triển doanh nghiệp xây dựng
Trang 2Phát triển các doanh nghiệp xây dựng đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc gia, bởi vì nó tạo ra cơ sở vật chất để phát triển đô thị, tạo công ăn việc làm cho người lao động, tạo thu nhập quốc dân Để Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp, hiện đại, cần phải đổi mới các doanh nghiệp xây dựng theo bước đột phá hướng hiện đại trên thế giới, phát triển doanh nghiệp xây dựng đáp ứng được nhu cầu phát triển hiện tại mà không ảnh hưởng đến nhu cầu phát triển tương lai Trên thế giới đối với phát triển doanh nghiệp là một khái niệm không mới, có rất nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến phát triển doanh nghiệp như lĩnh vực xây dựng, ngành công nghiệp xây dựng,… Song song với sự quan tâm ngày càng tăng trong việc phát triển doanh nghiệp nhỏ đã có một sự gia tăng trong phạm vi, chất lượng và chiều sâu nghiên cứu của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Vương quốc Anh (Curran, 1989) Cơ sở của các nghiên cứu hiện tại đã được thực hiện trên các vấn đề về định nghĩa, vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong phát triển kinh
tế đặc biệt là tạo việc làm, phát triển doanh nghiệp, mô hình tăng trưởng của các doanh nghiệp nhỏ và những kỹ thuật tốt nhất để thúc đẩy các doanh nghiệp nhỏ (Timberg, 1992)
Nhưng vấn đề đặt ra là phát triển các doanh nghiệp ở địa phương bị tác động bởi những yếu tố nào Đồng thời, những yếu tố nào có khả năng tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay Tuy các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực kinh doanh khác nhau như: ngành công nghiệp xây dựng, tác động của các dịch vụ hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ khá hạn chế trong bối cảnh các nước đang phát triển (Timberg, 1992) Điển hình là nghiên cứu khảo sát các yếu tố tác động đến sự tăng trưởng và phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Khan (2004); Khan, Nazmul, Hossain, Rahmatullah, (2012); Chowdhury, Islam, Alam, (2013) Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa được nghiên cứu ở các khía cạnh như các yếu tố khả năng doanh nhân, hỗ trợ tài chính, kết nối thị trường, hỗ trợ chính sách nhà nước, công nghệ phù hợp, cơ sở hạ tầng đầy đủ
Từ vấn đề đặt ra, định hướng nghiên cứu phát triển doanh nghiệp xây dựng, tác giả sử dụng mô hình của Chowdhury, Islam, Alam (2013) để làm sáng tỏ lý thuyết trong nghiên cứu doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng Với những lý do
Trang 3trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng”
2 Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu phát triển doanh nghiệp
Neck (1977) đưa ra một mô hình khái niệm để phân tích hỗ trợ cho việc phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ đến Gibb (1993) đã phát triển một khung khái niệm cho việc đánh giá sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bối cảnh các nước khu vực miền Trung và Đông Âu Sau này các khung lý thuyết hình thành và phát triển, điển hình một số công trình nghiên cứu thực nghiệm về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước đang phát triển vẫn tiếp tục áp dụng nghiên cứu như Bangladesh (Rahman, 2004; Khan, 2012; Chowdhury, Islam, Alam, 2013) và tăng trưởng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Kenya (Wekesa Bunyasi; Henry Bwisa and Gregory, 2014)
Nghiên cứu thực nghiệm các yếu tố tác động đến sự phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Bangladesh của Chowdhury, Islam, Alam, (2013) cho thấy có 06 yếu
tố tác động đến phát triển doanh nghiệp bao gồm: các khả năng của các doanh nhân (CE), hỗ trợ tài chính (F), hỗ trợ của chính phủ (G), công nghệ phù hợp (T), kết nối thị trường/nhu cầu cho các sản phẩm (M), cơ sở hạ tầng đầy đủ (I) Môi trường nghiên cứu phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Bangladesh cũng phù hợp với tình trạng phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam Đặc biệt, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam thuộc loại doanh nghiệp vừa và nhỏ Trường hợp nghiên cứu doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xây dựng thì vận dụng mô hình nghiên cứu của Chowdhury, Islam, Alam (2013) phải điều chỉnh lại một số yếu tố và bổ sung thêm một số yếu tố mới
để phù hợp với lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng Vì vậy, mô hình này chưa quan tâm đến yếu tố nguồn nhân lực, môi trường, kiến trúc xây dựng Đây chính là khoảng trống nghiên cứu của mô hình Chowdhury, Islam, Alam (2013), đồng thời với phân tích thực trạng và những vấn đề đặc thù phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng, các yếu tố này được sử dụng nghiên cứu định tính nhằm tìm hiểu và phát triển mới với tình hình phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng, với phương pháp định lượng nhằm kiểm định lại kết quả nghiên cứu định tính Kết quả nghiên cứu phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh
Trang 4Sóc Trăng nhằm đưa ra một số giải pháp phát triển doanh nghiệp thời gian tới tại tỉnh Sóc Trăng
3 Mục tiêu nghiên cứu
Khám phá các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng
Đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng
Đề xuất một số giải pháp phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng
Phạm vi nghiên cứu của luận án là các doanh nghiệp xây dựng đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng
Phạm vi thời gian: Dữ liệu dùng để thực hiện luận án được thu thập bao gồm
dữ liệu thứ cấp từ các công trình nghiên cứu được công bố trên tạp chí, Niên giám thống kê tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Dữ liệu sơ cấp thu được thông qua các bảng khảo sát 257 doanh nghiệp xây dựng và được thiết kế phù hợp với vấn đề cần nghiên cứu
5 Những đóng góp mới của luận án
Những đóng góp của luận án thể hiện qua các mặt sau:
1) Luận án đã góp một phần vào vận dụng lý thuyết phát triển doanh nghiệp nhằm làm sáng tỏ trường hợp nghiên cứu phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng
2) Luận án đã góp phần phát hiện một số yếu tố mới bổ sung vào mô hình phát triển doanh nghiệp xây dựng Sóc Trăng
3) Luận án đề xuất một số giải pháp phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng trong thời gian tới
Trang 5Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Phân tích các yếu tố tác động đến sự phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng
Chương 4: Thực trạng về phát triển các doanh nghiệp tỉnh Sóc Trăng
Chương 5: Giải pháp phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng thời gian tới
Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Các phụ lục
Trang 61.1 Một số khái niệm và phát triển doanh nghiệp
1.1.1 Doanh nghiệp và doanh nghiệp xây dựng
Doanh nghiệp: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản,
có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh Luật doanh nghiệp quy định về việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn, công
ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân thuộc mọi thành phần kinh tế (sau đây gọi chung là doanh nghiệp) theo Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2006) Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch
ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi
Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh được tổ chức, nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường, thông qua đó để tối
Trang 7đa hóa lợi nhuận trên cơ sở tôn trọng luật pháp của nhà nước và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng
Doanh nghiệp xây dựng: Doanh nghiệp xây dựng cũng là một tổ chức kinh
tế, có tư cách pháp nhân kinh doanh các sản phẩm đặc biệt (sản phẩm có giá trị lớn, thời gian sản xuất dài) trên thị trường xây dựng để đạt được mục đích tối đa hoá lợi nhuận Doanh nghiệp xây dựng hình thành trên cơ sở pháp lý của mỗi quốc gia, phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội nhất định Trong kinh tế thị trường sự đa dạng, phong phú của loại hình doanh nghiệp xây dựng là một tất yếu khách quan nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế (Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11)
1.1.2 Khái niệm phát triển doanh nghiệp
Một khái niệm có thể được mô tả như là một sự trình bày tổ chức có trật tự, hay cách mô tả về một hệ thống và hiện tượng Trong khi một khái niệm có thể đơn giản hoá quá trình giải quyết vấn đề thì nó lại thiếu chính xác để đưa ra các dẫn xuất
có hệ thống Đứng trên nguyên tắc phân loại - trong đó mô tả hiện tượng thực nghiệm bằng cách lắp chúng thành một tập hợp Tuy nhiên, không chặt chẽ, do đó tính ứng dụng của nó cho các nghiên cứu trong tương lai là hạn chế (Nachmias, Nachmias, 1991: 40-41) Ngược lại, các mô hình là một công cụ để trợ giúp tư duy hợp lý (Buffa, Dyer,1977: 10; Saaty và Alexander, 1981: 4-5; Williams, 1990: 3)
Cụ thể, mô hình là một bài thuyết minh đơn giản của một hệ thống hoặc hiện tượng phức tạp (Buffa, Dyer, 1977: 10) Như mô hình toán học gồm các ký hiệu đại số hoặc mô hình các hệ thống kinh tế Hoa Kỳ (Williams, 1990: 3; Nachmias and Nachmias, 1991: 50) Trước tiên tiến hành tìm hiểu khái niệm phát triển doanh nghiệp
Khái niệm đánh giá phát triển doanh nghiệp
Gibb (1993) đã phát triển một khung khái niệm cho việc đánh giá sự phát triển doanh nghiệp trong bối cảnh các nước khu vực miền Trung và Đông Âu Khái niệm thể hiện sự tồn tại của bộ phận doanh nghiệp vừa và nhỏ phụ thuộc vào:
• Văn hóa;
• Sự khởi đầu và tồn tại của doanh nghiệp;
• Sự tăng trưởng doanh nghiệp;
Trang 8• Hỗ trợ cơ sở hạ tầng
Chính sách, hoạt động hỗ trợ, tổ chức, và nhu cầu của các doanh nghiệp nhỏ
để hỗ trợ và của xã hội cho các doanh nghiệp nhỏ Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, cả từ quan điểm vĩ mô cũng như từ quan điểm cụ thể cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong từng ngành
Neck (1977) đã đưa ra một mô hình khái niệm để phân tích hỗ trợ cho việc phát triển các doanh nghiệp Như thể hiện mô hình khái niệm có ba yếu tố quan trọng, đó là: Quản lý, Tổ chức và Môi trường Có hai bước trong mô hình:
Bước 1: Giai đoạn bắt đầu
Để phân tích sự cần thiết nghiên cứu và phù hợp của các yếu tố chính Bước 2: Hoạt động khắc phục hậu quả
Để có biện pháp khắc phục cần thiết, dựa trên những phát hiện trong giai đoạn bắt đầu nhằm có hành động khác để hỗ trợ có hiệu quả cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Do đó, mô hình cung cấp khung khái niệm cho việc phát triển các doanh nghiệp nhỏ bằng cách cải thiện các kỹ năng, kiến thức và thái độ của chủ doanh nghiệp nhỏ, hỗ trợ của các đại lý
Gibb and Manu (1990) đã phát triển một mô hình trong bối cảnh phát triển doanh nghiệp nhỏ, hiệu quả của tổ chức hỗ trợ, là phụ thuộc vào tình hình, có thể được đánh giá theo mức độ phù hợp giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng các tổ chức hỗ trợ về con người, cấu trúc và quy trình làm việc Giả thuyết cơ bản được sử dụng để kiểm tra mô hình, theo Gibb, Manu (1990: 19), là: “các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp càng có mức độ phù hợp về mặt con người, cấu trúc và quy trình làm việc, thì khả năng tác động càng lớn” Mô hình này đã được thử nghiệm thực nghiệm trong nền kinh tế Ghana chỉ ra rằng tổ chức hỗ trợ có mối quan hệ mật thiết nhất với phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ về nguồn nhân lực, và cấu trúc quy trình làm việc sẽ đạt được hiệu quả nhất
Hossain (1998) trong kết quả báo cáo đã nhấn mạnh phát triển doanh nghiệp chính là rào cản pháp lý, điều kiện pháp luật và trật tự nghèo đói của xã hội, là một
số trong những vấn đề khác có tác động đến bất lợi về phát triển doanh nghiệp vừa
và nhỏ
Trang 9Qudus, Rashid (2000) cũng cho rằng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ đã phải đối mặt với vô số các trở ngại quan liêu khi bắt đầu xây dựng một doanh nghiệp
Rahman (2004) đã chỉ ra rằng các khó khăn phát triển doanh nghiệp là ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Bangldesh: thiếu các kỹ năng ở tất cả các cấp độ, thiếu tổ chức công nghiệp, kích thước giới hạn của thị trường và tốc độ tăng trưởng thấp, và thiếu chính sách đúng đắn và mang tính xây dựng, trình độ công nghệ nghèo nàn
Khan (2012) phát triển doanh nghiệp là cách tiếp cận từ các phần tử kết hợp bao gồm: kinh doanh, hỗ trợ tài chính, chính sách phù hợp và thể chế, các mối liên kết, công nghệ phù hợp và mối quan hệ thị trường/nhu cầu cho các sản phẩm
Chowdhury, Islam, Alam (2013) cho rằng phát triển doanh nghiệp chính là
đo lường sự tăng trưởng của doanh nghiệp và giả định rằng có mối quan hệ tích cực giữa các yếu tố tăng trưởng được mô tả như khả năng của các doanh nhân, hỗ trợ tài chính, hỗ trợ chính phủ, công nghệ phù hợp, mối quan hệ thị trường/nhu cầu cho các sản phẩm, cơ sở hạ tầng đầy đủ Cùng với khái niệm phát triển doanh nghiệp chính là sự tăng trưởng của doanh nghiệp được Gladys N Wekesa Bunyasi; Bwisa, Gregory (2014) tiếp tục đưa ra khung khái niệm phát triển doanh nghiệp tiếp cận thông tin kinh doanh là yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển độc lập của doanh nghiệp vừa và nhỏ và tăng trưởng là biến phụ thuộc được đo lường về lợi nhuận và doanh thu bán hàng thu được từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Cuối cùng, theo quan điểm tác giả vận dụng và đề nghị làm sáng rõ khái
niệm phát triển doanh nghiệp: phát triển doanh nghiệp xây dựng chính là đo lường
sự tăng trưởng của doanh nghiệp và có mối quan hệ tác động giữa các yếu tố đến tăng trưởng, được mô tả như nguồn vốn kinh doanh, nguồn nhân lực, thị trường, công nghệ phù hợp, kiến trúc xây dựng, môi trường và chính sách nhà nước
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển doanh nghiệp
Nghiên cứu các yếu tố có tác động đến sự phát triển doanh nghiệp là cơ sở khái niệm Mặc dù, không có nhiều công trình nghiên cứu cơ sở về những hạn chế của sự phát triển của các doanh nghiệp, đặc biệt là loại hình doanh nghiệp vừa và
Trang 10nhỏ, nhưng có một số lớn lượng nghiên cứu phát triển doanh nghiệp như (Bannock, 2002; Batra, Tan, 2003; Chowdhury, 2007) đã chỉ ra những thách thức mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đối mặt thường xuyên Doanh nghiệp vừa và nhỏ khác nhau về các đặc điểm như hạn chế nguồn nhân lực (nguồn vốn, nhân lực, công nghệ), chiến lược và cấu trúc linh hoạt (Hudson, 2001; Quian, Li, 2003; Khan, Nazmul, Hossain, Rahmatullah, 2012) Người ta có thể tranh luận rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ có tỷ lệ thất bại cao hơn do các hạn chế về tài chính, công nghệ
và con người
Một số nghiên cứu điển hình về phát triển doanh nghiệp như (Khan, Nazmul, Hossain, Rahmatullah, 2012; Chowdhury, 2007; Mintoo, 2006; Marsden, 1992; Steel, 1994) đã ủng hộ lập luận này Thiếu nguồn vốn là một nhân tố tác động đến
sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ Điều quan trọng nhất đối với việc mở rộng và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là sự khan hiếm nghiêm trọng các nguồn vốn cần thiết (Chowdhury, 2007) Nguồn nhân lực con người gắn liền với trình độ giáo dục và kinh nghiệm của họ (Chowdhury, Amin, 2011); Shapero, Sokol (1982); Gnyawali, Fogel (1994) báo cáo rằng doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước đang phát triển có thể gặp vô số trở ngại như thiếu các cơ sở đào tạo, thiếu kỹ năng cần thiết trong việc bắt đầu và quản lý các doanh nghiệp vừa và nhỏ Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có công nhân có tay nghề cao và có kinh nghiệm
với giáo dục đại học có thể sẽ hiệu quả hơn (Hewitt, Wield, 1992; Batra, Tan 2003)
Các nghiên cứu khác (Lee, 2001, Yousuf, 2003, Camp, Anderson, 2000) tìm ra rằng khả năng công nghệ thấp là một hạn chế lớn trong phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
Khan (2004) cho rằng các khó khăn sau đây tác động đến sự tăng trưởng của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Bangldesh: (a) thiếu các kỹ năng ở tất cả các cấp độ, (b), thiếu tổ chức công nghiệp, (c) kích thước giới hạn của thị trường và tốc độ tăng trưởng thấp, và (d) thiếu chính sách đúng đắn và mang tính xây dựng, trình độ công nghệ nghèo nàn Trường hợp nghiên cứu này cho thấy thiếu các kỹ năng ở tất cả các cấp độ, thiếu tổ chức công nghiệp thì ở các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam là không phù hợp; phần lớn các kỹ năng nghề nghiệp của nhân viên, kỹ sư, kiến trúc
sư và cả nhân công đều được đào tạo đúng ngành nghề, đồng thời được làm việc
Trang 11trong môi trường ngành xây dựng nhiều năm Nhưng kích thước giới hạn thị trường, thiếu chính sách đúng đắn và trình độ công nghệ đối với nền kinh tế chuyển đổi như
ở Việt Nam thì phát triển các doanh nghiệp xây dựng là vấn đề cần được quan tâm
và vận dụng vào nghiên cứu để phát triển doanh nghiệp xây dựng Sóc Trăng Một
số công trình nghiên cứu trước như Qudus, Rashid (2000) cho rằng các nhà kinh doanh ở doanh nghiệp vừa và nhỏ đã phải đối mặt với vô số các trở ngại quan liêu khi bắt đầu xây dựng một doanh nghiệp Begum (1993) báo cáo về mức trung bình những nỗ lực của chính phủ và chính sách các ưu đãi đã làm chậm quá trình tăng trưởng doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước
Ngân hàng phát triển Châu Á (2009) đã nêu bật những khó khăn sau đây như: hạn chế tiếp cận tài chính, khan hiếm tín dụng trung và dài hạn, hạn chế kết nối với thị trường, thiếu hệ thống thông tin xếp hạng tín dụng cho khách hàng vay Thiếu sót trong thị trường nội bộ là nguyên nhân chính của thất bại doanh nghiệp nhỏ và vừa, và xoay quanh các kỹ năng quản lý, kiến thức tài chính, thiếu chuyên môn trong tiếp thị và quản lý nguồn nhân lực (Ligthelm and Cant, 2002) Không cần phải đề cập đến các yếu tố tiếp thị như không có khả năng tiến hành nghiên cứu thị trường, sản phẩm hoặc dịch vụ kém, hiểu sai xu hướng khách hàng và nhu cầu cũng tác động đến phát triển của doanh nghiệp nhỏ
Jahangir H Khan, Abdul Kader Nazmul, Md Farooque Hossain, Munsura Rahmatullah (2012) đưa ra mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp bao gồm: Doanh nhân (E), hỗ trợ tài chính (F), chính sách phù hợp và thể chế (P), các mối liên kết (L), công nghệ phù hợp (T), và mối quan hệ thị trường/nhu cầu cho các sản phẩm (M), và f là định dạng của các mô hình, D là mục tiêu hoặc tăng trưởng của doanh nghiệp Mô hình có dạng D = f (E, F, P, L, T, M, ) P là mẫu số nguyên tố là viết tắt của phần cứng và phần mềm của tổ chức là chịu trách nhiệm cho sự phát triển doanh nghiệp) Rõ ràng từ những nghiên cứu mà một số cải cách là cần thiết để hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Bangladesh Các tổ chức thích hợp tham gia vào quá trình này sẽ phải hoạt động một cách gắn kết và hợp tác Tất cả đều phải tham gia bình đẳng và sự hỗ trợ chính phủ nên bao gồm sự hợp tác của các tổ chức khác có liên quan Do đó, nhóm tác giả
Trang 12của mô hình này đã gợi ý nghiên cứu tiếp theo nhằm điều chỉnh và bổ sung mới các yếu tố trong mô hình cho phù hợp với mục tiêu nghiên cứu
Tiếp theo nghiên cứu của Khan, Nazmul, Hossain, Rahmatullah (2012) là nghiên cứu của nhóm tác giả Chowdhury, Islam, Alam (2013) tiếp tục nghiên cứu
mô hình các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Bangladesh
Mô hình bao gồm: các khả năng của các doanh nhân (CE), hỗ trợ tài chính (F), hỗ trợ chính phủ (G), công nghệ phù hợp (T), kết nối thị trường/nhu cầu cho các sản phẩm (M), cơ sở hạ tầng đầy đủ (I) và f là định dạng của các mô hình, D là mục tiêu hoặc phát triển doanh nghiệp Mô hình có dạng:
D = f (CE, F, G, T, M, I)
Mô hình này dựa trên giả định rằng sự phát triển của doanh nghiệp vừa và
nhỏ phụ thuộc vào giải quyết những vấn đề còn hạn chế đến phát triển doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở
Bangladesh phải đối mặt với nhiều trở ngại tác động đến sự phát triển và tăng trưởng Những trở ngại này làm cho các doanh nghiệp địa phương ngày càng khó
khăn Nếu chúng có thể được cải thiện, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể cung
cấp cho nền kinh tế địa phương những cơ hội tăng trưởng đáng kể
Nhìn chung, cũng giống nghiên cứu của Khan (2004) được Jahangir H Khan, Abdul Kader Nazmul, Md Farooque Hossain, Munsura Rahmatullah (2012) tiếp tục kế thừa các yếu tố như khả năng của các doanh nhân, hỗ trợ tài chính, cơ sở
hạ tầng đầy đủ, hỗ trợ chính phủ, công nghệ phù hợp, kết nối thị trường Nếu chúng
ta vận dụng các yếu tố này vào nghiên cứu phát triển doanh nghiệp xây dựng ở Việt Nam Tuy nhiên, nếu kế thừa một số yếu tố sẽ phù hợp với điều kiện phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam như yếu tố hỗ trợ chính phủ có thể chuyển thành yếu tố chính sách nhà nước; kế thừa các yếu tố công nghệ phù hợp; kết nối thị trường, đều này cho thấy công nghệ phù hợp là vấn đề rất quan trọng đối với các doanh nghiệp xây dựng ở Việt Nam Khi thi công một công trình xây dựng thì doanh nghiệp xây dựng ngoài những yếu tố khác thì công nghệ phù hợp là vấn đề chính góp phần xây dựng thành công công trình Đối với yếu tố kết nối thị trường ở các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam chưa được liên kết mạnh mẽ giữa thị trường các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, có nghĩa là doanh nghiệp xây dựng ở tỉnh nào thì
Trang 13phát triển ở thị trường tỉnh đó, chưa tạo thêm sức mạnh kết nối thị trường trong xây dựng Từ yếu tố kết nối thị trường là vấn cần thiết cho các doanh nghiệp xây dựng hiện nay
Căn cứ vào các thảo luận kết quả nghiên cứu ở trên thì các khó khăn để phát triển doanh nghiệp xây dựng trong bối cảnh tỉnh Sóc Trăng có thể được phân loại thành: chính sách của nhà nước, tiếp cận nguồn vốn, thị trường, nguồn nhân lực, môi trường, công nghệ phù hợp, kiến trúc xây dựng Chính sách nhà nước nghĩa là chính phủ sẽ trực tiếp hỗ trợ sự phát triển và tăng trưởng của khu vực này bằng cách cung cấp tất cả các phương tiện để khuyến khích và hỗ trợ, giải quyết các vấn đề về phát triển bao gồm các yếu tố hỗ trợ chính phủ (North 1990; Binks & Coyne 1983) Nghiên cứu của Chowdhury, Islam, Alam (2013) được xem là nghiên cứu điển hình
và mô hình đưa ra 6 yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
Bangladesh và được Wekesa Bunyasi; Henry Bwisa, Gregory (2014) tiếp tục kế thừa nghiên cứu phát triển doanh nghiệp từ việc tiếp cận thông tin kinh doanh là yếu
tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng doanh nghiệp vừa và nhỏ (tăng trưởng doanh nghiệp là biến phụ thuộc được đo lường về lợi nhuận và doanh thu bán hàng thu được từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ)
Các nghiên cứu này giới hạn trong hai ngành công nghiệp (nhà hàng và doanh nghiệp sản xuất sữa) và đã không đưa vào phỏng vấn chuyên sâu để điều tra
các trở ngại cho sự tăng trưởng và phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
Bangladesh Nhưng nghiên cứu hiện nay là nền tảng, nghiên cứu trong tương lai có thể được thực hiện với nhiều mẫu từ các khu vực khác nhau và sử dụng phỏng vấn chuyên sâu để có cái nhìn rộng hơn về những khó khăn trong việc phát triển và tăng trưởng của các doanh nghiệp Điều này cho thấy sự hạn chế của nghiên cứu này chính là tiền đề xuất hiện nghiên cứu tiếp theo ở nhiều lĩnh vực hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và quy mô mẫu được mở rộng hơn Như vậy, tác giả cho rằng lĩnh vực doanh nghiệp xây dựng là điều kiện thích hợp nghiên cứu tiếp theo của Chowdhury, Islam, Alam (2013) Tổng hợp các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp (bảng 1.1)
Trang 14Bảng 1.1: Tổng hợp các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp
1.3 Mối liên hệ giữa các khái niệm và tổng quan nghiên cứu phát triển doanh nghiệp
Phát triển mô hình nghiên cứu và một số giả thuyết chính liên quan đến việc phát triển doanh nghiệp, từ các vấn đề nghiên cứu nhằm giải thích mối liên kết của chúng với các đề xuất làm sáng tỏ khái niệm Mô hình phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp Vì vậy, mô hình lý thuyết của Chowdhury, Islam, Alam (2013) được tác giả vận dụng vào nghiên cứu phát triển các doanh nghiệp xây dựng tại tỉnh Sóc Trăng là phù hợp với khung khái niệm và kết hợp với mô hình nghiên cứu
Trang 15Trên cơ sở tiếp cận khái niệm và tổng quan nghiên cứu phát triển doanh nghiệp, tác giả rút ra một số kết luận nghiên cứu có liên quan đến các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng và có thể đưa ra các giả thuyết sau đây:
(1) Nguồn vốn: Thiếu nguồn vốn là một nhân tố tác động đến sự tăng trưởng
và phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ Điều quan trọng nhất đối với việc mở rộng và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là sự khan hiếm nghiêm trọng các nguồn vốn cần thiết (Chowdhury, 2007) Người ta có thể tranh luận rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ có tỷ lệ thất bại cao hơn do các hạn chế về tài chính Một số nghiên cứu điển hình như (Marsden, 1992; Steel, 1994; Chowdhury, 2007; Mintoo, 2006) Các nghiên cứu này chủ yếu dựa trên các quan điểm của các cơ quan cho vay (thường là khó khăn với việc xử lý các khoản vay nhỏ)
Các thủ tục cho vay hiện nay của các tổ chức tín dụng Việt Nam được cho là cồng kềnh, quá quan liêu và tài sản thế chấp được xem là quá mức Trước tiên, các quan chức nói rằng hầu hết các doanh nghiệp huy động nguồn vốn không trình bày các nghiên cứu khả thi hoặc thuyết phục bằng kế hoạch kinh doanh hấp dẫn Do đó, được coi rủi ro cao Thứ hai, ngay cả những doanh nghiệp với kế hoạch kinh doanh hấp dẫn không được vay bởi thiếu tài sản thế chấp Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp không có tài khoản tiền gửi trong hệ thống ngân hàng chính thức, mà ngân hàng yêu cầu cần vay Một lý do nữa là doanh nghiệp đã không đưa ra bất kỳ một nhượng bộ
về điều kiện cho vay của tổ chức tín dụng Tuy nhiên, tình trạng thiếu nguồn vốn có thể tồn tại trong nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam Điều này cho thấy một số cải cách của việc cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp
Trong giai đoạn phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ phải trải qua tình trạng
thiếu nguồn vốn Tuy nhiên, tình trạng thiếu nguồn vốn có thể được hiển thị để tồn
tại cho nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Bangladesh (Khan, Nazmul, Hossain,
Rahmatullah, 2012) Trong khi các ngân hàng muốn thay đổi các quy tắc cho vay đối với các doanh nghiệp Theo kết quả nghiên cứu của Kamunge, Njeru, Tirimba (2014), yếu tố khả năng tiếp cận nguồn vốn vay có tác động đến doanh nghiệp ở Kenya Nghiên cứu cho thấy nguồn vốn (hỗ trợ tài chính) được xem xét tác động ở khía cạnh thành công của doanh nghiệp xây dựng, khả năng huy động tài chính từ bên ngoài tác động vào nguồn vốn của doanh nghiệp xây dựng, mối liên quan giữa tiếp cận nguồn vốn và sự phát triển doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu hỗ trợ nguồn
Trang 16vốn tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ của nhóm tác giả Khan,
Nazmul, Hossain, Rahmatullah (2012); Chowdhury, Islam, Alam, (2013) cho thấy nguồn vốn sẽ tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng Như thảo luận ở trên
về nguồn vốn phát triển doanh nghiệp trong khuôn khổ lý thuyết đã tiếp cận, tác giả đưa ra giả thuyết thứ nhất như sau:
H 1 : Nguồn vốn có tác động dương đến phát triển doanh nghiệp xây dựng
(2) Kết nối thị trường
Do kiến thức hạn chế, khả năng và nguồn lực của các doanh nghiệp và những mối quan tâm của nhà nước không nhận ra tầm quan trọng của thị trường Nghiên
cứu cho thấy rằng doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp một số vấn đề tiếp thị khác nhau, từ
việc mua nguyên liệu đầu vào đến bán sản phẩm đầu ra Nguyên nhân được xác định là thiếu nguồn vốn, kiến thức, cơ sở hạ tầng, chất lượng, nhu cầu phân tán và thông tin thị trường
Kích thước giới hạn của thị trường và tốc độ tăng trưởng thấp sẽ dẫn đến khó khăn cho sự tăng trưởng và phát triển doanh nghiệp (Khan, 2004); Thiếu thị trường
là nguyên nhân chính của thất bại doanh nghiệp vừa và nhỏ (Ligthelm, Cant, 2002); Kết nối thị trường có khả năng tác động đáng kể đến phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (Khan, Nazmul, Hossain, Rahmatullah, 1012; Chowdhury, Islam, Alam, 2013) Dựa vào sơ lược yếu tố thị trường có mối quan hệ kết nối với phát triển doanh nghiệp trong khuôn khổ khung khái niệm được tiếp cận, tác giả đưa ra giả thuyết thứ 2 như sau:
H 2 : Kết nối thị trường có mối quan hệ tích cực đến phát triển doanh nghiệp xây dựng
(3) Chính sách nhà nước
Mức thấp của phát triển doanh nghiệp tại Việt Nam thường là do việc thực hiện xây dựng kém các chính sách của nhà nước nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp, bao gồm cả các khoản vay, các cơ sở đào tạo, các khu công nghiệp, cơ sở hạ tầng, và cung cấp các nguyên liệu ở mức trợ cấp cho các doanh nghiệp phát triển ổn định và lâu dài Các nhóm chuyên gia cũng chỉ ra sự thiếu hụt nguồn vốn và đặc biệt là của ngoại hối là một trở ngại nghiêm trọng đối với các doanh nghiệp hiện nay Hơn nữa,
Trang 17vốn, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp xây dựng thâm hụt nguồn vốn Các rủi ro điều hành chính sách của nhà nước cũng làm cho nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là những người nước ngoài, ngày càng không tin vào môi trường kinh doanh triển vọng của doanh nghiệp
Một số mục tiêu chiến lược dài hạn rất quan trọng trong bối cảnh này, cũng như sự kiên nhẫn và quyết tâm để xem chính sách đó từ đầu đến cuối, và điều này
sẽ đòi hỏi một mức độ cao của tính nhất quán trong hoạch định chính sách Việc phân tích các yếu tố chính sách và thể chế rõ ràng đã cho thấy rằng Việt Nam đã cung cấp chính sách và hỗ trợ cho doanh nghiệp phát triển chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển của doanh nghiệp
Các chính sách hỗ trợ của nhà nước đã nhấn mạnh vào yếu tố quyết định chính như đào tạo và cung ứng của các doanh nhân, thị trường mối quan hệ, và công nghệ đặc biệt cho ngành xây dựng Tuy nhiên, một tầm nhìn dài hạn rõ ràng và tiến
bộ về vai trò của các phát triển doanh nghiệp chưa được phản ánh nhiều trong chính sách nhà nước Điều này cho thấy một số nghiên cứu điển hình về hỗ trợ chính sách của nhà nước như Khan (2004) cho rằng khó khăn về thiếu chính sách đúng đắn và mang tính xây dựng sẽ tác động đến sự tăng trưởng và phát triển doanh nghiệp nhỏ
và vừa Chính sách và thể chế phù hợp sẽ tác động đến phát triển doanh nghiệp vừa
và nhỏ ở Bangladesh (Khan, Nazmul, Hossain, Rahmatullah, 2012) Việc phân tích
các chính sách và các yếu tố thể chế rõ ràng đã tiết lộ rằng Bangladesh đã không được cung cấp chính sách và hỗ trợ thể chế cho doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc khó tiếp cận các chính sách hỗ trợ của nhà nước Kết quả nghiên cứu của Chowdhury, Islam, Alam (2013) khẳng định hỗ trợ chính phủ có tác động đến phát triển doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại Bangladesh
Từ kết quả nghiên cứu hỗ trợ chính sách nhà nước có tác động vào phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, đây chính là vấn đề cần được xem xét nghiên cứu tiếp theo Dựa vào sơ lược yếu tố hỗ trợ chính sách nhà nước có mối quan hệ kết nối với phát triển doanh nghiệp trong khuôn khổ khung khái niệm được tiếp cận, tác giả đưa ra giả thuyết thứ 3 như sau:
Trang 18H 3 : Chính sách nhà nước có tác động dương đến phát triển doanh nghiệp xây dựng
(4) Nguồn nhân lực
Các vấn đề về nguồn nhân lực phản ánh mức độ mà các chủ doanh nghiệp
vừa và nhỏ có kinh nghiệm nhất định có ảnh hưởng đến phát triển doanh nghiệp của
họ Ligthelm, Cant (2002) khẳng định rằng tác động của các vấn đề nguồn nhân lực
là nghiêm trọng hơn trong các doanh nghiệp quản lý hoặc sở hữu bởi người không
có kinh nghiệm quản lý Nhưng theo nghiên cứu của Hewitt, Wield (1992), Batra, Tan (2003) khẳng định rằng nguồn nhân lực (công nhân có tay nghề cao hơn và có học vấn cao hơn) có thể sẽ hiệu quả hơn đối với phát triển doanh nghiệp Nói một cách khác, nguồn nhân lực con người gắn liền với mức độ giáo dục và kinh nghiệm của họ có tác động đến phát triển doanh nghiệp (Shapero, Sokol, 1982; Chowdhury, Amin, 2011)
Từ kết quả nghiên cứu nguồn nhân lực có tác động vào phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, yếu tố nguồn nhân lực có mối quan hệ kết nối với phát triển doanh nghiệp trong khuôn khổ khung khái niệm được tiếp cận, tác giả đưa ra giả thuyết thứ 4 như sau:
H 4 : Nguồn nhân lực có tác động dương đến phát triển doanh nghiệp xây dựng
tố quan trọng của việc áp dụng công nghệ mới
Mặt khác, các chế độ chính sách và thể chế của nhà nước cũng không tạo ra một môi trường thuận lợi để sử dụng công nghệ tiên tiến phù hợp Theo Huq, Love
Trang 19(2001) các liên doanh nói chung rất bảo thủ trong việc thay đổi công nghệ mới
Doanh nghiệp vừa và nhỏ khác nhau về các đặc điểm như hạn chế công nghệ sẽ ảnh
hưởng đến phát triển doanh nghiệp (Hudson, 2001; Quian, Li, 2003) Công nghệ xây dựng được đo lường thông qua yếu tố của kiến thức tạo nên cấu trúc mô hình
hóa doanh nghiệp theo hệ thống tổ chức (Chen, Lasker, 2010) Công nghệ phù hợp
có tác động đến phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Bangladesh (Khan, Nazmul,
Hossain, Rahmatullah, 2012) Nghiên cứu của Chowdhury, Islam Alam (2013) tiếp
tục có kết quả nghiên cứu cũng khẳng định rằng công nghệ phù hợp sẽ tác động đến phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Bangladesh
Từ kết quả nghiên cứu công nghệ phù hợp sẽ tác động vào phát triển doanh
nghiệp vừa và nhỏ, đây chính là vấn đề cần được xem xét nghiên cứu tiếp theo Dựa
vào sơ lược yếu tố công nghệ phù hợp có mối quan hệ kết nối với phát triển doanh
nghiệp trong khuôn khổ khung khái niệm được tiếp cận, tác giả đưa ra giả thuyết thứ 5 như sau:
H 5 : Công nghệ phù hợp có tác động dương đến phát triển doanh nghiệp xây dựng
(6) Kiến trúc xây dựng
Trong kiến trúc xây dựng không thiếu sự sáng tạo nhưng họ thường thiếu sự
tự do để có thể mặc sức khai thác khả năng sáng tạo của mình Khách hàng luôn đặt
ra những yêu cầu, xây dựng phải được sự thỏa hiệp giữa ý tưởng sáng tạo và điều kiện thực tế Nếu những giới hạn đó được dỡ bỏ, các kiến trúc sư sẽ cho ra đời những tòa nhà độc đáo tới mức nào Những công trình kiến trúc dần mọc lên ở thành phố Hồ Chí Minh không giống với những ngôi nhà bình thường, đó có thể coi
là những tác phẩm nghệ thuật của kiến trúc xây dựng
Kiến trúc xây dựng thể hiện bản sắc của một dân tộc nói chung và nét truyền thống trong kiến trúc xây dựng nói riêng, cần phải phát hiện và tập hợp những nét riêng độc đáo, đặc thù, cốt lõi và tinh túy của quá trình hình thành và phát triển doanh nghiệp xây dựng Theo Souza (2009) kiến trúc thiết kế xây dựng chỉ là những
lý do cho việc thông qua các khía cạnh xây dựng mô hình thông tin liên quan đến việc thực hiện trong bản vẽ thông qua dự án và theo cách thông thường của thiết kế xây dựng công trình đối với doanh nghiệp Vì kiến trúc xây dựng là lĩnh vực đặc thù
Trang 20chỉ có ở doanh nghiệp xây dựng và lĩnh vực doanh nghiệp khác không có chức năng
tư vấn kiến trúc xây dựng, việc đưa yếu tố kiến trúc xây dựng vào nghiên cứu doanh nghiệp xây dựng tại tỉnh Sóc Trăng là phù hợp với lĩnh vực của doanh nghiệp Việc định hướng phát triển kiến trúc xây dựng ở tỉnh Sóc Trăng nhằm đáp ứng với nhu cầu xây dựng công trình và kiến trúc tạo dấu ấn trong không gian đô thị và nông thôn trên cơ sở khai thác tốt những tiến bộ, văn minh thế giới, đồng thời phải đảm bảo phát huy tốt những đặc trưng của bản sắc văn hoá dân tộc
Từ kết quả nghiên cứu kiến trúc xây dựng bổ sung phù hợp sẽ tác động vào
phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, dựa vào sơ lược yếu tố kiến trúc xây dựng phù
hợp có mối quan hệ kết nối với phát triển doanh nghiệp trong khuôn khổ khung khái
niệm được tiếp cận, tác giả đưa ra giả thuyết thứ 6 như sau:
H 6 : Kiến trúc xây dựng có mối quan hệ tích cực đến phát triển doanh nghiệp xây dựng
(7) Môi trường xây dựng
Doanh nghiệp quan tâm đến môi trường có khả năng tác động đến việc ra quyết định trong thực hiện hệ thống quản lý môi trường đối với các doanh nghiệp
vừa và nhỏ (Njuangang, Douglas, Liyanage, 2010) Vấn đề môi trường có mối quan
hệ giữa các mục tiêu trong hoạt động trách nhiệm xã hội và tác động của ngành xây dựng (Martinuzzi; Kudlak; Faber; Wiman, 2011) Thực trạng tại tỉnh Sóc Trăng, hầu hết các doanh nghiệp xây dựng đều vi phạm các quy định của pháp luật về bảo
vệ môi trường Các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, trong đó có phần lớn nằm trong khối doanh nghiệp Theo kết quả điều tra của Trung tâm Quan trắc và phân tích tài nguyên môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh, hầu như các doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các quy định về bảo
vệ môi trường như: chưa lập hoặc đã có nhưng thực hiện không đúng các yêu cầu trong báo cáo đánh giá tác động môi trường (cam kết bảo vệ môi trường, đề án bảo
vệ môi trường…) chưa thực hiện quan trắc môi trường định kỳ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, không đầu tư hệ thống xử lý chất thải đảm bảo đạt tiêu chuẩn Việt Nam trước khi thải ra môi trường
Từ kết quả nghiên cứu kiến trúc xây dựng bổ sung phù hợp sẽ tác động vào
phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, dựa vào sơ lược yếu tố kiến trúc xây dựng phù
Trang 21hợp có mối quan hệ kết nối với phát triển doanh nghiệp trong khuôn khổ khung khái
niệm được tiếp cận, tác giả đưa ra giả thuyết thứ 7 như sau:
H 7 : Môi trường xây dựng có tác động dương đến phát triển doanh nghiệp xây dựng
1.4 Thiết kế mô hình lý thuyết phát triển doanh nghiệp
1.4.1 Cơ sở đề xuất mô hình
Bản chất cơ bản của mô hình là bao gồm các tính năng quan trọng, các yếu
tố, các hệ thống hay vấn đề được nghiên cứu, và quan trọng hơn là khả năng giải thích và dự đoán các mối quan hệ có liên quan trong số các yếu tố nguyên nhân và các hiệu ứng (Buffa và Dyer, 1977: 10) Nó cho phép xây dựng các đề xuất thực nghiệm để kiểm tra bản chất của các mối quan hệ nhân quả (Nachmias và 1991: 45-46)
Mô hình này được xây dựng dựa trên một nghiên cứu thực nghiệm đặc trưng được thiết kế để cho phép quan sát các yếu tố tác động đến sự phát triển doanh
nghiệp vừa và nhỏ ở Bangladesh (Chowdhury, Islam, Alam, 2013) có 06 yếu tố tác
động đến phát triển doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Bangladesh đối mặt với nhiều trở ngại tác động đến sự phát triển và tăng trưởng Những trở ngại này làm cho các doanh nghiệp địa phương ngày càng khó khăn Nếu chúng có thể được cải thiện, các doanh nghiệp vừa và nhỏ
có thể cung cấp cho nền kinh tế địa phương những cơ hội tăng trưởng đáng kể
Mô hình nghiên cứu lý thuyết các yếu tố tác động đến phát triển các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng sử dụng mô hình lặp lại của Chowdhury, Islam, Alam (2013), mô hình này được điều chỉnh cho phù hợp với ngành xây dựng ở Sóc Trăng Kết quả nghiên cứu định tính (ở chương 2), thông qua thảo luận nhóm, giữ lại 4 yếu tố (nguồn vốn, công nghệ phù hợp, hỗ trợ chính sách nhà nước, kết nối thị trường) của mô hình gốc, loại bỏ 2 yếu tố (khả năng doanh nhân, cơ sở hạ tầng đầy đủ), đồng thời mô hình được bổ sung thêm 3 yếu tố mới (kiến trúc xây dựng, môi trường, nguồn nhân lực)
Các yếu tố bổ sung là: Yếu tố kiến trúc xây dựng chính là kiến trúc thiết kế xây dựng thông qua các khía cạnh xây dựng mô hình thông tin liên quan đến việc
Trang 22thực hiện trong bản vẽ thông qua dự án và theo cách thông thường của thiết kế xây dựng công trình đối với doanh nghiệp (Souza, 2009) Yếu tố môi trường có khả năng tác động đến việc ra quyết định trong thực hiện hệ thống quản lý môi trường
đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (Njuangang, Douglas, Liyanage, 2010), môi
trường có mối quan hệ giữa các mục tiêu trong hoạt động trách nhiệm xã hội và tác động của ngành xây dựng (Martinuzzi; Kudlak; Faber; Wiman, 2011) Yếu tố
nguồn nhân lực là nguyên nhân chính của phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
(Ligthelm, Cant, 2002; Hewitt, Wield, 1992; Batra, Tan, 2003) và nguồn nhân lực tác động đến doanh nghiệp (Shapero, Sokol, 1982; Chowdhury, Amin, 2011) Do tính đặc thù doanh nghiệp xây dựng, bởi sản phẩm của doanh nghiệp xây dựng tạo
ra là công trình dân dụng, xây dựng nhà ở, khách sạn, trụ sở làm việc, trường học Như vậy, việc bổ sung mới 3 yếu tố vào mô hình của Chowdhury, Islam, Alam (2013) là rất cần thiết, phù hợp thực trạng phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng Do các doanh nghiệp tỉnh Sóc Trăng đa phần là loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ
Yếu tố kiến trúc xây dựng: Kiến trúc xây dựng vừa mang tính khoa học kỹ
thuật vừa mang tính nghệ thuật Nghiên cứu thiết kế công trình từ đơn lẻ đến quần thể thỏa mãn hai yêu cầu: công năng và thẩm mỹ (ví dụ: nhà ở, trường học, trụ sở
cơ quan, cầu đường,…) Như vậy, kiến trúc xây dựng phải hài hòa với khung cảnh thiên nhiên, khí hậu; Kiến trúc xây dựng cân bằng, hài hòa với đặc điểm môi trường sông nước; Tính kế thừa dòng kiến trúc trong dân gian; Tính kế thừa dòng kiến trúc truyền thống
Yếu tố môi trường: Hiện nay các doanh nghiệp xây dựng là áp lực môi
trường lớn đối với cộng đồng xã hội, nhà nước nơi doanh nghiệp đang thi công công trình Các doanh nghiệp cần thực hiện tiêu chuẩn yêu cầu cần thiết môi trường và sản phẩm công trình xây dựng, các kết cấu của nó và vật liệu xây dựng dưới tác động của môi trường bên ngoài, như sử dụng nguyên liệu sạch và công nghệ trong thi công ít gây ô nhiễm, mức độ giải quyết ô nhiễm môi trường trong sản xuất/xây dựng công trình, hàng năm doanh nghiệp đánh giá tác động môi trường sản xuất và kinh doanh xây dựng
Trang 23Yếu tố nguồn nhân lực: nguồn nhân lực doanh nghiệp xây dựng hiện nay
thông việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong lĩnh vực xây dựng là áp lực lớn đối với các nhà quản lý doanh nghiệp Đồng thời nguồn nhân lực có vai trò vị trí quan trọng đối với phát triển doanh nghiệp xây dựng
Yếu tố phát triển doanh nghiệp: phát triển doanh nghiệp theo Qureshi, Herani
(2011); Bunyasi; Henry, Gregory (2014) là sự tăng trưởng doanh nghiệp (tăng lợi lợi nhuận, tăng doanh thu bán hàng và tăng trưởng doanh nghiệp) Trong trường hợp nghiên cứu này được điều chỉnh lại phát triển doanh nghiệp xây dựng là: Tăng cường năng suất hoạt động doanh nghiệp; Tăng cường công việc hoạt động doanh nghiệp; Cải thiện thu nhập doanh nghiệp; Doanh thu bán hàng ngày càng tăng; Tăng trưởng doanh nghiệp như mong muốn
Tóm lại, từ lập luận như trên tác giả rút ra 7 yếu tố quan trọng để làm cơ sở nghiên cứu tiếp theo, bao gồm: Nguồn vốn; Kết nối thị trường; Chính sách nhà nước; Nguồn nhân lực; Công nghệ phù hợp; Môi trường; Kiến trúc xây dựng Đồng thời kết hợp với phân tích thực trạng và những vấn đề đặc thù phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng, và vận dụng các yếu tố này vào nghiên cứu các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng
1.4.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Mô hình lý thuyết và các giả thuyết về mối quan hệ tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng được dựa trên mô hình gốc của Mohammed S.Chowdhury, Rabiul Islam, Zahurul Alam, (2013) phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Bangladesh, được điều chỉnh cho phù hợp nghiên cứu phát triển doanh nghiệp xây dựng Sóc Trăng Trước tiên chúng ta tìm hiểu doanh nghiệp vừa và nhỏ theo quy
mô, lĩnh vực doanh nghiệp xây dựng được quy định ở Việt Nam Tại Điều 3, Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ được định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ như sau:
1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
Trang 24Bảng 1.2 : Phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ Quy mô
Khu vực
Tổng nguồn vốn
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200 người đến
300 người
II Công nghiệp
và xây dựng
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200 người đến
300 người III Thương mại
và dịch vụ
10 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến 50 người
từ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng
từ trên 50 người đến
100 người
Nguồn: Từ Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ
2 Tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà
cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp
Hiện nay, doanh nghiệp tại Việt Nam chủ yếu là loại hình doanh nghiệp vừa
và nhỏ chiếm trên 97% số lượng doanh nghiệp trên địa bàn cả nước (Cục Phát triển doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2011) Do đó, các doanh nghiệp xây dựng tại tỉnh Sóc Trăng là một địa bàn của cả nước, nên các phát triển các doanh nghiệp xây dựng Sóc Trăng cũng là loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ phù hợp khi vận dụng mô hình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Bangladesh của Mohammed S.Chowdhury, Rabiul Islam, Zahurul Alam, (2013) vào nghiên cứu trường hợp phát triển các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng
Mô hình nghiên cứu đề xuất phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng như sau:
Trang 25Nguồn vốn (NV)
Y Phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng (PTDN)
Kết nối thị trường (TTXD)
Chính sách nhà nước
(CS)
Nguồn nhân lực (NNL)
Công nghệ phù hợp (CN)
Môi trường (MT)
Kiến trúc xây dựng (KTXD)
X6: yếu tố môi trường (MT);
X7: yếu tố kiến trúc xây dựng (KT) Y: Phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng (PTDN)
Mô hình này dựa trên giả định rằng sự phát triển của doanh nghiệp xây dựng phụ thuộc vào việc giải quyết những vấn đề được mô tả trong hình 1.1 Đánh giá tổng quan nghiên cứu nêu trên hỗ trợ tất cả các vấn đề trong mô hình của tác giả đề xuất Vì vậy, mô hình của tác giả đề xuất là phù hợp với nghiên cứu mô hình lý thuyết trên
Trang 26Tóm tắt chương 1
Cơ sở lý luận phát triển doanh nghiệp xây dựng được xây dựng trên nền tảng các công trình nghiên cứu có trước, chủ yếu là phân tích các yếu tố tác động vào phát triển doanh nghiệp xây dựng nhằm tìm ra vấn đề còn hạn chế chưa được nghiên cứu để hoàn thiện cơ sở lý luận, phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam nói chung và tỉnh Sóc Trăng nói riêng Từ các công trình nghiên cứu đã nêu ở trên tác giả sàng lọc lại các yếu tố đề xuất nghiên cứu tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng, và kết hợp với kết quả nghiên cứu định tính nhằm đề xuất các nhóm yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng
Các yếu tố được đề xuất như: Nguồn vốn; Kết nối thị trường; Chính sách nhà nước; Nguồn nhân lực; Công nghệ; Môi trường; Kiến trúc xây dựng Cụ thể hơn, luận án sử dụng lý thuyết trên để đưa ra một số phương pháp nghiên cứu làm cơ sở cho các bước tiếp theo
Từ cơ sở lý thuyết này, sẽ đo lường mức độ tác động của các biến độc lập vào biến mục tiêu (phụ thuộc), đồng thời là cơ sở tiến hành nghiên cứu định tính và định lượng để kiểm lý thuyết ban đầu đưa ra xem xét 7 yếu tố tác động vào sự phát triển doanh nghiệp xây dựng với mức độ cao hay thấp, có ý nghĩa thống kê hay không; với kết quả nghiên cứu nhằm đề ra giải pháp hợp lý cho phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng trong thời gian tới
Trang 27Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở mục tiêu, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu đã được nêu trong chương 1 Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự phát triển các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng Trong chương 2 này, nghiên cứu sinh sử dụng bảng câu hỏi khảo sát một số doanh nghiệp xây dựng, các chuyên gia quản lý trong lĩnh vực xây dựng để thu thập thông tin, sau đó phân tích
dữ liệu nhằm xác định những yếu tố thực sự ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng làm cơ sở xây dựng giải pháp phát triển các doanh nghiệp trong thời gian tới
2.1 Lựa chọn phương pháp nghiên cứu
Có hai loại phương pháp nghiên cứu phổ biến là định tính và định lượng Một cuộc tranh cãi lớn xuất hiện qua việc áp dụng các phương pháp này trong nhiều ngành khoa học xã hội (Bryman, 1988) Trong phát triển doanh nghiệp được nghiên cứu các yếu tố tác động đến tăng trưởng và phát triển doanh nghiệp
Nghiên cứu định lượng thường được thực hiện để minh chứng bởi các cuộc khảo sát xã hội và điều tra thực nghiệm, trong khi nghiên cứu định tính có xu hướng được gắn với quan sát điển hình và phỏng vấn sâu (Bryman, 1988) Sự nhấn mạnh chính trong nghiên cứu định lượng dựa trên một phạm vi rộng của nhiều tình huống
và khi số liệu thống kê được tổng hợp từ các mẫu lớn, chúng có thể liên quan đáng
kể đến các quyết định về chính sách (Easterby-Smith, 1991) Thường được sử dụng
để thu thập dữ liệu dựa trên việc xác định trước các câu hỏi có cấu trúc Tuy nhiên,
họ không cho phép người trả lời truyền tải hay các nhà nghiên cứu tìm hiểu về các
sự kiện cơ bản (Bryman, 1989) Mặt khác, những thế mạnh của phương pháp định tính thường là liên kết “sâu” và “phong phú” từ các thông tin được cung cấp (Gummesson, 1991; Miles, Huberman, 1984) Tuy nhiên, theo thông tin, đi kèm theo là những lời chỉ trích cho là nhỏ lẻ và khó để phân tích và khái quát các tình huống khác (Bryman, 1989)
Mỗi phương pháp hoặc định lượng hay định tính, có lợi ích và công dụng riêng Đối mặt với sự phức tạp như vậy, các nhà nghiên cứu, chẳng hạn như
Trang 28Webb (1966) đã cho rằng các nhà khoa học xã hội có khả năng để công bố tự tin hơn những phát hiện của họ khi nó có nguồn gốc từ nhiều hơn một phương pháp điều tra Đề nghị này đã dẫn đến việc áp dụng một chiến lược, được gọi là “tam
giác”, được định nghĩa một cách rộng rãi như là “một sự kết hợp của các phương pháp luận trong nghiên cứu các hiện tượng tương tự” (Denzin, 1978) Bằng thuyết tam giác này, đòi hỏi của nhà nghiên cứu về tính hợp lệ kết luận của họ được nâng cao, và đôi khi nghiên cứu định tính tạo điều kiện cho việc giải thích các kết quả của định lượng được đề xuất bởi một cuộc điều tra (Bryman, 1988) Theo Crompton, Jones (1988): “ Nghiên cứu tổ chức không phải là một quyết định loại trừ lẫn nhau giữa phương pháp định lượng và định tính Trong thực tế nó là rất khó nghiên cứu tổ chức mà không cần sử dụng cả hai loại phương pháp Trong bất
kỳ sự kiện dữ liệu định lượng luôn luôn dựa trên sự phân biệt định tính……vấn đề dựa trên sự phù hợp của các phương pháp, không theo các bên trong cuộc tranh luận giữa phương pháp định tính và định lượng”
Do đó, nghiên cứu này sử dụng cả phương pháp định tính kết hợp với phương pháp định lượng nhằm đánh giá các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng Mục tiêu nghiên cứu định tính là để xác định các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng Còn mục tiêu nghiên cứu định lượng là nhằm đo lường mức độ tác động của từng yếu tố đến phát triển doanh nghiệp xây dựng như thế nào Cụ thể 2 phương pháp nghiên cứu được thực hiện như sau
2.2 Phương pháp nghiên cứu định tính
2.2.1 Quy trình nghiên cứu định tính
Điều tra thực nghiệm về khoa học xã hội đã được sử dụng nhiều trong những năm gần đây Đó là phương pháp quan sát, sơ lược tài liệu và điều tra Việc áp dụng cho nghiên cứu luận án này là khảo sát phỏng vấn cá nhân Theo Kerlinger (1986)
đây là “ các công cụ mạnh mẽ và hữu ích nhất của cuộc nghiên cứu khảo sát khoa học xã hội Nó cung cấp nhiều hơn thông tin riêng và chính xác” Hơn nữa, nó được
coi là phương pháp nghiêm ngặt nhất để tiến hành đánh giá nhu cầu (Berger, Patchner, 1988)
Trang 29Các công cụ phỏng vấn có thể có một số hình thức từ cấu trúc cao cho đến hoàn toàn không có cấu trúc Trong một lịch trình có cấu trúc cao, được giả định rằng (giám đốc, phó giám đốc) có một nguồn vốn từ vựng phổ biến và họ sẽ giải thích các câu hỏi trong cùng một cách (Nachmias, Nachmias, 1982) Ngược lại, một lịch phỏng vấn không có cấu trúc được làm việc với sự tập trung vào những kinh nghiệm chủ quan (nhân viên, phó phòng, trưởng phòng) Xét bản chất của nghiên cứu này, một sự kết hợp của phỏng vấn đã được sử dụng để khám phá thông tin định tính Tuy nhiên, qua quan sát các điều kiện của các doanh nghiệp xây dựng cũng như các khía cạnh của việc thu thập thông tin, dữ liệu thực tế cũng như các quan điểm và ý kiến của người trả lời được thu thập để tìm ra các vấn đề nghiên cứu Quy trình được thực hiện thông qua 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1:
Nghiên cứu dựa trên nguồn thông tin thứ cấp thông qua các nghiên cứu đã công bố ở các công trình khoa học trong nước, một số trang web để làm rõ các khái niệm có liên quan, những yếu tố tác động đến phát triển của doanh nghiệp xây dựng, xác định các tiêu chí đánh giá phát triển của doanh nghiệp xây dựng; kinh nghiệm hỗ trợ cho phát triển doanh nghiệp xây dựng
Giai đoạn này cũng giúp nghiên cứu sinh xây dựng, hiệu chỉnh nội dung bảng câu hỏi và xây dựng thang đo phù hợp Bảng câu hỏi mà nghiên cứu sinh xây dựng được tham khảo từ tổng hợp các công trình nghiên cứu trước đây
Giai đoạn 2:
Điều tra, khảo sát thực tế: nghiên cứu sinh đã tiến hành khảo sát các doanh nghiệp xây dựng, các chuyên gia đang quản lý ở lĩnh vực xây dựng thông qua bảng câu hỏi trực tiếp Kết quả thông tin thu thập đa dạng và phong phú, đáp ứng được yêu cầu cần thiết cho việc nghiên cứu chính thức
Dựa trên lý thuyết tổng quan về phát triển doanh nghiệp, các lý thuyết có liên quan được tổng hợp ở chương 1 và 2, cơ sở lý luận được tổng quát hóa, dựa vào các điều kiện thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện nghiên cứu, đề tài lựa chọn phương pháp nghiên cứu phỏng vấn sâu với dàn bài hướng dẫn thảo luận
Nghiên cứu sử dụng 2 hình thức phỏng vấn gồm phỏng vấn trực tiếp và phỏng vấn nhóm với sự hỗ trợ về kỹ thuật phỏng vấn và thu thập thông tin của các
Trang 30chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường Quá trình phỏng vấn được thực hiện qua 2 bước:
Bước 1: Nghiên cứu thử nghiệm thông qua 2 lần thử nghiệm Thử nghiệm
lần 1 bằng 4 cuộc phỏng vấn cho đối tượng phỏng vấn ở cấp là nhân viên đang công tác trong doanh nghiệp và nhằm mục đích để điều chỉnh dàn bài thảo luận Thử nghiệm lần 2 bằng 4 cuộc phỏng vấn cho đối tượng phỏng vấn là các trưởng, phó phòng sản xuất kinh doanh và điều chỉnh dàn bài thảo luận cho nghiên cứu chính thức
Bảng 2.1: Quá trình phỏng vấn, thu thập thông tin nghiên cứu định tính Quá trình Số lượng Đối tượng Kết quả
Thông tin thu thập chưa phong phú, chủ yếu chỉnh sửa lại nội dung câu hỏi, chưa có đề xuất mới
Cơ bản đáp ứng được yêu cầu thu thập thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu
Thông tin thu thập đa dạng và phong phú, đáp ứng được yêu cầu cần thiết cho việc nghiên cứu
- Phỏng vấn nhóm
1
Thảo luận nhóm 19 người thuộc đối tượng giám đốc các doanh nghiệp
Thông tin thu thập đáp ứng được yêu cầu cần thiết cho việc nghiên cứu chính thức
Nguồn: Tổng hợp xử lý từ nghiên cứu của tác giả
Bước 2: Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phỏng vấn sâu 4 cuộc,
đối tượng là những người trực tiếp quản lý các doanh nghiệp xây dựng và sau đó tiến hành 1 cuộc thảo luận nhóm với 19 người thuộc đối tượng là trưởng phó phòng,
Trang 31giám đốc các doanh nghiệp, kết quả thông tin thu thập đáp ứng được yêu cầu cần thiết cho việc nghiên cứu định lượng (bảng 2.1)
Kết quả nghiên cứu bằng phỏng vấn ngoài việc đánh giá còn cho phép người nghiên cứu mở ra các khía cạnh mới của vấn đề (Easterby-Smith, Thorpe, Lowe,
1991) Các cuộc phỏng vấn của luận án này nhằm mục đích tìm hiểu các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng; bao gồm 7 yếu tố như: Nguồn vốn; Kết nối thị trường; Chính sách nhà nước; Nguồn nhân lực; Công nghệ phù hợp; Môi trường; Kiến trúc xây dựng, và Khả năng của các doanh nhân; Cơ sở
hạ tầng đầy đủ mỗi cuộc phỏng vấn được thực hiện với thời lượng khoảng từ 40 –
60 phút (phụ lục 1 và 2)
2.2.2 Thực hiện phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu là một phương pháp thu thập thông tin tốt đối với các mẫu nhỏ (O'Leary 2004) Chúng có lợi vì cho phép người tham gia để đề xuất các giải pháp hoặc cung cấp những hiểu biết, có sự linh hoạt để trả lời câu hỏi điều tra (Neuman, 1994) Theo Yin (1994), các cuộc phỏng vấn là nguồn thiết yếu của cuộc khảo sát thu thập chứng cứ, vì chúng là vấn đề liên quan đến con người Các dữ liệu
bổ sung cho nghiên cứu đã được tạo ra từ các cuộc phỏng vấn sâu Yin (1994) cho thấy rằng các cuộc phỏng vấn được chứng minh bằng các nguồn dữ liệu khác nhau Trong nghiên cứu này, những người được phỏng vấn họ cũng có kinh nghiệm trong quá trình quản lý doanh nghiệp xây dựng (phụ lục 2)
2.2.3 Mẫu phỏng vấn định tính
Trong cuộc phỏng vấn sâu được thực hiện tại tỉnh Sóc Trăng với 19 người (giám đốc) họ là những người rất am hiểu về lĩnh vực xây dựng Cụ thể có 11 giám đốc làm trong công ty trách nhiệm hữu hạn, có 7 giám đốc làm trong doanh nghiệp
tư nhân, có 1 giám đốc làm cơ quan nhà nước (Trung tâm kiểm định chất lượng xây dựng) Việc lựa chọn giám đốc đã được dựa trên thực tế rằng họ đang trực tiếp tham gia quản lý nhà nước về xây dựng, trực tiếp điều hành doanh nghiệp xây dựng (phụ lục 2)
2.2.4 Phân tích số liệu
Quy trình xử lý và phân tích số liệu cũng được thực hiện theo 3 bước: bước thứ nhất là tổng hợp và phân loại thông tin, bước thứ hai là tổ chức, kết hợp các
Trang 32thông tin và cuối cùng là nhận định, xác định các thông tin với lý thuyết hoặc khái niệm trong quá trình nghiên cứu (Miles & Huberman, 1994)
Dựa vào các câu hỏi cần nghiên cứu để thực hiện mã hóa dữ liệu thu thập theo các khái niệm, các cụm từ hoặc các thuật ngữ có giá trị tương đương và thống
kê tần suất xuất hiện của các khái niệm trong dữ liệu phỏng vấn Để đánh giá các yếu tố quan trọng và đảm bảo độ tin cậy, nghiên cứu sẽ lựa chọn những vấn đề, khái niệm, thuật ngữ có tần suất hiện trên 60% trong quá trình phỏng vấn Trong phần kết quả nghiên cứu định tính sẽ trình bày những vấn đề khác có liên quan để có thể
mô tả đầy đủ hơn các kết quả nghiên cứu
2.2.5 Kết quả nghiên cứu định tính
Sau khi thực hiện các công việc thiết kế nghiên cứu, tiến hành phỏng vấn, thu thập số liệu và xử lý số liệu, để bố cục thông tin được chặt chẽ và dễ theo dõi kết quả nghiên cứu định tính được trình bày bằng cách trả lời các câu hỏi nghiên cứu, với kết quả nghiên cứu cho thấy trên 60% mức độ đồng ý (phụ lục 3), có 2 yếu
tố không đạt yêu cầu có mức đồng ý thấp dưới 60% (yếu tố khả năng của doanh nhân đạt 42,11%; yếu tố cơ sở hạ tầng đầy đủ đạt 36,48%)
Kết quả các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng
Đánh giá về nguồn vốn:
Nhu cầu về nguồn vốn của doanh nghiệp xây dựng là rất lớn nhằm để đáp ứng yêu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phỏng vấn được đánh giá cao với mức độ đồng ý là 89,5% Tuy nhiên, nhu cầu nguồn vốn trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh nói chung hiện nay đều rất lớn chứ không chỉ riêng đối với lĩnh vực doanh nghiệp xây dựng
Kết quả nghiên cứu nguồn vốn đạt được sự đồng thuận về các biến quan sát như: Vốn đang kinh doanh của doanh nghiệp được đảm bảo hoạt động tốt; nguồn vốn huy động từ nguồn khác của doanh nghiệp dễ dàng; nguồn vốn vay ngân hàng thương mại thuận lợi Khi các chỉ tiêu của yếu tố nguồn vốn thay đổi sẽ có mối quan hệ với sự thay đổi phát triển doanh nghiệp xây dựng
Trang 33 Đánh giá kết nối thị trường:
Với các yếu tố đánh giá về kết nối thị trường, có 84,2% số người được phỏng vấn có cùng nhận định là yếu tố rất quan trọng đối với phát triển doanh nghiệp
Bảng 2.2: Kết quả các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng
Yếu tố
Mức độ đánh giá đồng ý (người)
Nguồn: Tổng hợp xử lý từ dữ liệu điều tra của tác giả
Kết quả nghiên cứu kết nối thị trường đạt được sự đồng thuận về các biến quan sát như: Thị trường sản phẩm công trình xây dựng ngày càng được mở rộng; Sản phẩm dịch vụ tư vấn đáp ứng được yêu cầu khách hàng; Thị trường kinh doanh bất động sản thuận lợi; Thị trường kinh doanh vật liệu, xây dựng luôn mở rộng; Thị trường tư vấn thiết kế, kiến trúc phù hợp yêu cầu khách hàng; Kết nối thị trường ngày càng cạnh tranh hơn
Kết quả nghiên cứu này cho thấy các tiêu chí của yếu tố kết nối thị trường thay đổi sẽ có mối quan hệ với sự thay đổi phát triển doanh nghiệp xây dựng
Chính sách nhà nước:
Trong quá trình thực hiện chính sách của nhà nước, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Nhà ở và Luật xây dựng, Luật đấu thầu, Luật doanh nghiệp ra đời nhằm thúc đẩy thị trường phát triển tốt hơn, lành mạnh hơn và tăng cường nguồn lực quản lý của Nhà nước Tuy nhiên, thực tế sau thời gian áp dụng, hiệu quả của các bộ luật này lại chưa được như những gì mà những nhà làm luật và người dân mong đợi Sự phát triển chậm của các doanh nghiệp xây dựng tại tỉnh Sóc Trăng
Trang 34thường là do việc thực hiện xây dựng các chính sách của nhà nước nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp kém Mặt khác, chính sách nhà nước hiện nay vẫn còn một số hạn chế nhất định Kết quả thống kê cho thấy có 78,9% đồng tình về nhận định chính sách nhà nước còn nhiều hạn chế và rất dễ ảnh hưởng đến phát triển doanh nghiệp Tuy nhiên, để một chính sách có thể đạt được hiệu quả cao nhất còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố
Kết quả nghiên cứu hỗ trợ chính sách nhà nước đạt được sự đồng thuận về các biến quan sát như: Tiếp cận cải cách thủ tục hành chính chưa thuận lợi; Nhà nước áp dụng mức thuế chưa phù hợp với năng lực doanh nghiệp; Thiếu chính sách khuyến khích doanh nghiệp mở rộng kinh doanh; Chính sách quản lý đấu thầu chưa tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh Kết quả nghiên cứu này cho thấy các tiêu chí của yếu tố hỗ trợ chính sách nhà nước sẽ có mối quan hệ với sự phát triển doanh nghiệp xây dựng
Nguồn nhân lực:
Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong doanh nghiệp xây dựng là nhu cầu cấp thiết đối với các nhà quản lý doanh nghiệp nhằm để thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực xây dựng, với kết quả phỏng vấn đạt 78,9% sự đồng ý
Kết quả nghiên cứu nguồn nhân lực đạt được sự đồng thuận về các biến quan sát như: Xây dựng qui chế tuyển dụng phù hợp; Thực hiện nghiêm chỉnh luật lao động; Xây dựng qui chế đào tạo, đãi ngộ người giỏi Kết quả nghiên cứu này cho thấy các chỉ tiêu của yếu tố nguồn nhân lực sẽ có mối quan hệ chặt chẽ với sự phát triển doanh nghiệp xây dựng
Công nghệ phù hợp:
Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay, công nghệ phù hợp được xem là công cụ phát triển doanh nghiệp nhanh Các thể chế và chế độ chính sách của nhà nước cũng không tạo ra một môi trường thuận lợi để sử dụng công nghệ tiên tiến phù hợp Thực tế các doanh nghiệp xây dựng đang gặp những yêu cầu bức thiết về đổi mới công nghệ, nhằm nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, tạo được ưu thế cạnh tranh trên thị trường Kết quả phỏng vấn đạt 73,7%
sự đồng ý
Trang 35Kết quả nghiên cứu công nghệ phù hợp đạt được sự đồng thuận về các biến quan sát như: Tạo kinh phí tham quan xây dựng công nghệ mới; Công nghệ phải được cải tiến đổi mới mỗi năm; Đào tạo đội ngũ lao động đáp ứng trình độ công nghệ mới; Đầu tư công nghệ sản xuất vật liệu sạch Kết quả nghiên cứu này cho thấy các chỉ tiêu của yếu tố công nghệ sẽ có mối quan hệ với sự phát triển doanh nghiệp xây dựng Yếu tố công nghệ có thể phản ánh mức độ chất lượng của sản phẩm mà nó chấp nhận từ quan điểm của khách hàng Như chỉ tiêu trong yếu tố này
là các phương pháp sản xuất mà có thể phản ánh chi phí của sản phẩm, điều này sẽ làm cho sản phẩm hấp dẫn hơn nhiều cho các khách hàng
Môi trường:
Ngày nay định hướng thiết kế sản phẩm và công trình xây dựng trước tiên phải tuân thủ quy chuẩn quốc gia và phải phù hợp với tiêu chuẩn quản lý chất lượng Điều đáng mừng là các doanh nghiệp xây dựng đã và đang cố gắng khắc phục những ảnh hưởng sản phẩm xây dựng đến môi trường bằng nhiều biện pháp trong đó đáng ghi nhận là sản xuất vật liệu không nung được áp dụng vào các công trình xây dựng và áp dụng các kỹ thuật công nghệ hiện đại vào trong xây dựng, với kết quả phỏng vấn đạt được 73,7% sự đồng ý
Kết quả nghiên cứu môi trường đạt được sự đồng thuận về các biến quan sát như: Khai thác hợp lý và tiết kiệm nguồn tài nguyên địa phương; Sử dụng nguyên liệu sạch và công nghệ trong thi công ít gây ô nhiễm; Mức độ giải quyết ô nhiễm trong ngành xây dựng; Đánh giá tác động môi trường của sản xuất và kinh doanh xây dựng hàng năm; Trang bị bảo hộ lao động và mua bảo hiểm đầy đủ cho người lao động Kết quả nghiên cứu này cho thấy các chỉ tiêu của yếu tố môi trường sẽ tạo nên mối quan hệ với sự phát triển doanh nghiệp xây dựng
Kiến trúc xây dựng:
Ngày nay kiến trúc xây dựng theo chiều hướng kiến trúc xanh khi các nhà tư vấn xây nhà ở hoặc xây dựng các công trình kiến trúc khác theo xu hướng kiến trúc xanh, sẽ tiết kiệm được năng lượng, thân thiện với môi trường, hầu hết các khách hàng đều rất thích Kết quả phỏng vấn đạt được 68,4% sự đồng ý
Trang 36Kết quả nghiên cứu kiến trúc xây dựng đạt được sự đồng thuận về các biến quan sát như: Kiến trúc hài hòa với khung cảnh thiên nhiên, khí hậu; Kiến trúc cân bằng, hài hòa với đặc điểm môi trường sông nước; Tính kế thừa dòng kiến trúc dân gian; Tính kế thừa dòng kiến trúc truyền thống Kết quả nghiên cứu này cho thấy các chỉ tiêu của yếu tố kiến trúc xây dựng sẽ có mối quan hệ chặt chẽ với sự phát triển doanh nghiệp xây dựng
Kết quả nghiên cứu yếu tố phát triển doanh nghiệp xây dựng
Môi trường kinh doanh ngày càng thay đổi nhanh chóng, yêu cầu của khách hàng ngày càng cao, các sản phẩm đa dạng hơn, cạnh tranh ngày một quyết liệt, áp lực của nhà đầu tư ngày một cao Nếu doanh nghiệp xây dựng ngừng phát triển có nghĩa là con đường dẫn đến phá sản hoặc giải thể Phát triển doanh nghiệp là một con đường duy nhất tiến về phía trước
Khan Atiqur Rahman (2004) và Khan (2012) cho rằng các khó khăn trong phát triển doanh nghiệp là sự tăng trưởng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Qureshi, Herani (2011) đo lường sự phát triển và tăng trưởng doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua đo lường các biến quan sát như: Tăng năng suất; Tăng cường công việc; Cải thiện thu nhập, thịnh vượng, và chất lượng cuộc sống; Giảm nghèo khó; Đầu tư vào y tế và giáo dục gia đình
Chowdhury, Islam, Alam (2013) cho rằng phát triển doanh nghiệp chính là
đo lường sự tăng trưởng của doanh nghiệp Nghiên cứu của Bunyasi; Bwisa, Gregory (2014) tiếp tục khẳng định phát triển doanh nghiệp tiếp cận thông tin kinh doanh là yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển doanh nghiệp nhỏ và tăng trưởng là biến phụ thuộc được đo lường bằng lợi nhuận và doanh thu bán hàng
Bảng 2.3: Kết quả nghiên cứu định tính các yếu tố tác động đến
phát triển doanh nghiệp xây dựng
1 Nguồn vốn 1 Vốn đang kinh doanh của doanh nghiệp được đảm bảo hoạt động tốt 2 Vốn huy động từ nguồn khác của doanh nghiệp dễ dàng
3 Vốn vay ngân hàng thương mại thuận lợi
Trang 372 Kết nối thị trường
1.Thị trường sản phẩm công trình xây dựng ngày càng được mở rộng
2 Sản phẩm dịch vụ tư vấn đáp ứng được yêu cầu khách hàng
3 Thị trường kinh doanh bất động sản thuận lợi
4 Thị trường kinh doanh vật liệu, xây dựng luôn mở rộng
5 Thị trường tư vấn thiết kế, kiến trúc phù hợp yêu cầu khách hàng
6 Thị trường xây dựng ngày càng cạnh tranh hơn
3 Chính sách nhà nước
1 Tiếp cận thủ tục hành chính nhà nước thuận lợi
2 Nhà nước áp dụng mức thuế phù hợp với năng lực doanh nghiệp
3 Chính sách nhà nước khuyến khích doanh nghiệp mở rộng kinh doanh
4 Chính sách quản lý đấu thầu tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh
4 Nguồn nhân lực
1 Doanh nghiệp xây dựng được qui chế tuyển dụng phù hợp
2 Doanh nghiệp thực hiện nghiêm chỉnh Luật lao động
3 Doanh nghiệp xây dựng được qui chế đào tạo, đãi ngộ người giỏi
4 Doanh nghiệp xây dựng được quy chế phối hợp tốt trong công việc
5 Công nghệ phù hợp
1 Doanh nghiệp dành kinh phí tiếp cận công nghệ xây dựng mới
2 Doanh nghiệp liên tục cải tiến công nghệ xây dựng
3 Đào tạo đội ngũ lao động đáp ứng trình độ công nghệ mới
4 Công nghệ sản xuất của doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu khách hàng
6 Môi trường
1 Khai thác hợp lý và tiết kiệm nguồn tài nguyên địa phương
2 Sử dụng nguyên liệu sạch và công nghệ trong thi công ít gây ô nhiễm
3 Mức độ giải quyết ô nhiễm môi trường trong sản xuất/xây dựng công trình
4 Doanh nghiệp đánh giá tác động môi trường sản xuất và kinh doanh xây dựng hàng năm
5 Doanh nghiệp trang bị bảo hộ lao động, mua bảo hiểm đầy đủ cho người lao động
7 Kiến trúc xây dựng
1 Kiến trúc xây dựng hài hòa với khung cảnh thiên nhiên, khí hậu
2 Kiến trúc xây dựng cân bằng, hài hòa với đặc điểm môi trường sông nước
3 Tính kế thừa dòng kiến trúc trong dân gian
4 Tính kế thừa dòng kiến trúc truyền thống
Trang 38Nguồn: Tổng hợp xử lý nghiên cứu của tác giả
Trên cơ sở đó, doanh nghiệp cố gắng để phát triển liên tục, mở rộng quy mô, tăng thu nhập cho người lao động, theo từng thời điểm khác nhau, với kết quả phỏng vấn đánh giá đạt được mức độ đồng ý và đáp ứng yêu cầu nghiên cứu tiếp theo
Kết quả nghiên cứu thông qua các tiêu chí phát triển (tăng trưởng) doanh nghiệp: Tăng cường năng suất hoạt động doanh nghiệp; Tăng cường công việc hoạt động doanh nghiệp; Cải thiện thu nhập, thịnh vượng, và chất lượng cuộc sống; Doanh thu bán hàng ngày càng tăng; Tăng trưởng doanh nghiệp như mong muốn
Từ kết quả cho thấy rằng có sự thay đổi của các yếu tố (nguồn vốn, kết nối thị trường, hỗ trợ chính sách nhà nước, nguồn nhân lực, công nghệ phù hợp, môi trường, kiến trúc xây dựng) sẽ có tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng;
Kế thừa thang đo gốc về phát triển (tăng trưởng) doanh nghiệp, kết hợp với kết quả nghiên cứu định tính, thang đo phát triển doanh nghiệp bao gồm 5 biến quan sát được trình bày trong bảng 2.4
Bảng 2.4: Kết quả nghiên cứu định tính yếu tố phát triển doanh nghiệp
xây dựng
Phát triển doanh nghiệp xây dựng
1 Tăng cường năng suất hoạt động doanh nghiệp
2 Tăng cường công việc hoạt động doanh nghiệp
3 Cải thiện thu nhập, thịnh vượng, và chất lượng cuộc sống
4 Doanh thu bán hàng ngày càng tăng
5 Tăng trưởng doanh nghiệp như mong muốn
Nguồn: Khan Atiqur Rahman (2004) and Jahangir H Khan (2012); Javed Qureshi and Gobind M Herani (2011); Gladys N Wekesa Bunyasi; Henry Bwisa and Gregory (2014).
2.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Phương pháp định lượng liên quan đến việc phân tích dữ liệu để kiểm tra tính khách quan và chính xác của bằng chứng bằng số (Zikmund, 2000) Để thực hiện phân tích và rút ra kết luận đại diện, bắt buộc chúng ta phải có một mẫu đại
Trang 39diện thật sự với bộ sưu tập dữ liệu Phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua thang đo được bổ sung mới và kiểm định tại tỉnh Sóc Trăng nhằm khám phá các yếu
tố có tác động đến phát triển doanh nghiệp xây dựng tỉnh Sóc Trăng Thực hiện nghiên cứu định lượng bằng phỏng vấn trực tiếp giám đốc các doanh nghiệp, các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương và thông qua bảng câu hỏi chi tiết nhằm thu thập thông tin, thu thập dữ liệu để sàng lọc biến quan sát và từ đó xây dựng mô hình phù hợp hơn
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu định tính đã xác định được các biến quan sát
đo lường sự phát triển doanh nghiệp xây dựng, tác giả đã thảo luận với các chuyên gia trong ngành xây dựng để bổ sung một số biến quan sát mới cho phù hợp với tình hình phát triển doanh nghiệp xây dựng ở Việt Nam Bộ thang đo được điều chỉnh,
bổ sung thông qua nghiên cứu định lượng bằng phỏng vấn trực tiếp với bảng câu hỏi soạn sẵn Kết quả nghiên cứu này thang đo sẽ được điều chỉnh chính thức
Thực hiện nghiên cứu định lượng sơ bộ bằng phỏng vấn trực tiếp các doanh nghiệp, các sở, ban, ngành cấp tỉnh, các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý nhà nước
về xây dựng thông qua bảng câu hỏi chi tiết nhằm thu thập thông tin, thu thập dữ liệu để sàng lọc biến quan sát và từ đó xây dựng mô hình phù hợp hơn
Trong bước nghiên cứu sơ bộ này, luận án sử dụng phương pháp phân tích KMO, phân tích hệ số độ tin cậy Cronbach’s alpha và phân tích yếu tố khám phá EFA xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS
Hệ số Cronbach alpha được sử dụng nhằm loại các biến rác; các hệ số tương quan biến - tổng (item-total correlation) nhỏ hơn 30 sẽ bị loại và tiêu chuẩn thang
đo đạt khi có độ tin cậy Cronbach’s alpha từ 0.60 trở lên (α ≥ 60) Theo Nunnally
& Bernstein (1994) thang đo có thể chấp nhận được về mặt độ tin cậy với α = 0.60
và phân tích kiểm định KMO với điều kiện (0.5<KMO<1) theo (Đinh Phi Hổ, 2012) Tiếp theo, phương pháp phân tích yếu tố khám phá EFA được sử dụng phép trích yếu tố là Principal Components Analsyis (PCA) và phép quay vuông góc Varimax, điểm dừng khi trích các yếu tố có eigenvalue = 1
Thang đo được chấp nhận khi tổng phương sai trích bằng hoặc lớn hơn 50%
và trọng số yếu tố phải từ 0.50 trở lên Phương pháp phân tích yếu tố khám phá
Trang 40EFA được sử dụng để đánh giá thang đo thay cho phương pháp truyền thống theo (Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang, 2009)
Sau kiểm định sơ bộ, mô hình và các giả thuyết được điều chỉnh khi có sự nhập/tách các thang đo Mô hình lý thuyết sau điều chỉnh được sử dụng trong phân tích hồi quy nhằm đo lường mức độ tác động của các biến độc lập (yếu tố) đến hàm mục tiêu (phát triển doanh nghiệp xây dựng) Quy trình nghiên cứu được thể hiện trong hình 2.1
Kết quả mô hình hồi qui bội
Thang đo định lượng chính thức