1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Nghiên cứu biến động và đề xuất giải pháp quản lý sử dụng đất hợp lý huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh

198 289 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 198
Dung lượng 8,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN THỊ THU HIỀN NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT HỢP LÝ HUYỆN TIÊN YÊ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT HỢP LÝ

HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT HỢP LÝ

HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án này là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận án đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng 2 năm 2015

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Thu Hiền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành công trình này, tôi nhận được sự giúp đỡ tận tình của lãnh đạo

và các thầy, cô Bộ môn Trắc địa Bản đồ, Bộ môn Hệ thống thông tin đất - Khoa Quản

lý đất đai, Ban Quản lý Đào tạo, Ban Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

+ PGS.TS Phạm Vọng Thành - Trường Đại học Mỏ Địa Chất + PGS.TS Nguyễn Khắc Thời - Học viện Nông nghiệp Việt Nam, những người thầy hướng dẫn hết mực nhiệt tình, đã chỉ dạy cho tôi, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận án

+ TS Trần Quốc Vinh - Trưởng Bộ môn Hệ thống thông tin đất, TS Trần Trọng Phương - Trưởng Bộ môn Trắc địa Bản đồ, Khoa Quản lý đất đai, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đã giúp đỡ, tạo điều kiện trong quá trình thực hiện đề tài

+ KS Nguyễn Văn Long - Trung tâm Viễn thám Quốc gia, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã giúp đỡ tôi trong quá trình xử lý dữ liệu ảnh

+ Tập thể cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp, Phòng Thống kê, Ban Quản lý dự án rừng Tiên Yên, Hạt Kiểm lâm Tiên Yên, đã giúp đỡ tôi trong thời gian tôi nghiên cứu tại địa bàn

+ Gia đình ông Hoàng Văn Tân - cán bộ địa chính xã Phong Dụ, ông Sển Văn Bảy - cán bộ địa chính thị trấn Tiên Yên đã tận tình giúp đỡ

Xin bày tỏ lòng biết ơn tới bố, mẹ, chồng, các con, anh, chị và những người bạn đã động viên hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu này

Tôi xin chân thành cảm ơn./

Hà Nội, ngày tháng 2 năm 2015

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Thu Hiền

Trang 6

1.5 Nhận xét tổng quan tài liệu và định hướng nghiên cứu 35

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 43 2.1.2 Đánh giá biến động sử dụng đất huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh

2.1.3 Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên và xã hội đến biến động

2.1.4 Đánh giá tác động của biến động sử dụng đất đến thu nhập, việc làm

và độ che phủ rừng trên địa bàn huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh 43 2.1.5 Đề xuất các giải pháp quản lý sử dụng đất hợp lý huyện Tiên Yên, tỉnh

2.3.3 Phương pháp phân tích không gian trong GIS 48 2.3.4 Phương pháp phân tích hồi quy logistic đa biến 48

3.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh 55 3.1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh 55

Trang 7

3.1.5 Đánh giá chung điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Tiên Yên 68 3.2 Đánh giá biến động sử dụng đất huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh

3.2.3 Đánh giá biến động sử dụng đất giai đoạn 2000 - 2010 khu vực huyện

3.3 Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên và xã hội đến biến động sử dụng đất 92 3.3.1 Mã hóa các biến trong mô hình hồi quy logistic 92 3.3.2 Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, xã hội đến biến động sử dụng đất

3.3.3 Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, xã hội đến biến động sử dụng đất

3.3.4 So sánh ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, xã hội đến biến động sử

3.4 Tác động của biến động sử dụng đất đến thu nhập, việc làm và độ che

3.4.1 Tác động của biến động sử dụng đất đến thu nhập và việc làm 103 3.4.2 Tác động của biến động sử dụng đất đến độ che phủ rừng và khả năng

3.5 Đề xuất các giải pháp quản lý sử dụng đất hợp lý huyện Tiên Yên 116 3.5.1 Những căn cứ đề xuất các giải pháp quản lý sử dụng đất hợp lý huyện

3.5.2 Đề xuất các giải pháp quản lý sử dụng đất hợp lý huyện Tiên Yên, tỉnh

Danh mục các công trình đã công bố của tác giả liên quan đến luận án 122

Trang 8

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

ACTMANG: Tổ chức hành động vì sự phục hồi rừng ngập mặn Nhật Bản

(Japanese Organization Action for Mangrove reforestation)

C: Hệ số xói mòn do ảnh hưởng của lớp phủ thực vật

DTTN: Diện tích tự nhiên

ICARGC: Trung tâm Quốc tế nghiên cứu biến đổi toàn cầu (International

Center for Advanced Research on Global Change)

FAO: Tổ chức Nông lương thế giới

GIS: Hệ thống thông tin địa lý

PAM: Chương trình lương thực thế giới

PCA: Phân tích thành phần chính

SAM: Dự án nghiên cứu hệ thống nông nghiệp miền núi

TNMT: Tài nguyên môi trường

UNDP: Chương trình phát triển Liên hiệp quốc

USGS: Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (The United States Geological Survey)

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.2 Chu chuyển các loại đất toàn cầu 1990- 2005 (trung bình năm) 22 1.3 Hiện trạng và biến động đất nông nghiệp giai đoạn 2000 - 2013 24 1.4 Hiện trạng và biến động đất phi nông nghiệp giai đoạn 2000 - 2013 26

2.2 Các biến độc lập trong mô hình hồi quy logistic đa biến 50 3.1 Một số yếu tố khí hậu của huyện Tiên Yên từ năm 2000 - 2010 57

3.3 Hiện trạng sử dụng đất huyện Tiên Yên năm 2010 68

3.9 Diện tích và cơ cấu các loại đất năm 2000, 2005 và 2010 80 3.10 Biến động các loại đất giai đoạn 2000- 2005 85 3.11 Biến động các loại đất giai đoạn 2005 - 2010 90 3.12 Mã hóa một số biến độc lập trong mô hình hồi quy 93

3.14 Các thông số trong mô hình hồi quy giai đoạn 2000 - 2005 96 3.15 Các thông số trong mô hình hồi quy giai đoạn 2005 - 2010 99 3.16 Ảnh hưởng các biến độc lập đến biến động sử dụng đất 102 3.17 Các loại hình sử dụng đất của các hộ điều tra 104

3.19 Nguồn thu nhập của các hộ gia đình năm 2010 107

Trang 10

3.21 Cơ cấu thu nhập của hộ nhóm 2 111

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

1.2 Bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người 20

2.2 Sơ đồ đánh giá tác động của biến động sử dụng đất đến thu nhập, việc

3.2 Biểu đồ lượng mưa các tháng trong năm huyện Tiên Yên 58 3.3 Cơ cấu các ngành kinh tế huyện Tiên Yên năm 2010 63

3.5 Cơ cấu các loại đất chính năm 2010 huyện Tiên Yên 67

3.8 Một phần ảnh vệ tinh năm 2010 trước và sau phân tách ảnh 72 3.9 Mô hình số độ cao DEM khu vực huyện Tiên Yên 79

3.13 Biểu đồ diện tích các lớp sử dụng đất năm 2000, 2005, 2010 84 3.14 Bản đồ biến động sử dụng đất giai đoạn 2000 - 2005 huyện Tiên Yên

3.19 Cơ cấu thu nhập của nhóm hộ 1 năm 2010 và 2000 xã Đại Thành 109

Trang 12

3.20 Cơ cấu thu nhập của nhóm hộ 1 năm 2010 và 2000 xã Đông Ngũ 110

3.22 Biểu đồ hệ số ảnh hưởng của lớp phủ đến xói mòn 115

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Biến động sử dụng đất là một trong những động lực chính làm biến đổi môi trường toàn cầu, là trung tâm của những tranh luận về phát triển bền vững (Turner and Lambin, 2001) Biến động sử dụng đất làm ảnh hưởng đến hệ thống chức năng của trái đất, gây nhiều hậu quả như thay đổi thảm thực vật, biến đổi các đặc tính lý hóa của đất, các hệ thống thủy văn và tài nguyên động, thực vật Biến động sử dụng đất là một trong những nguyên nhân dẫn đến biến đổi khí hậu và mất cân bằng sinh thái Những biến động trong sử dụng đất diễn ra nhanh chóng và rộng khắp trên thế giới, bao gồm việc chuyển đất rừng tự nhiên thành đất sản xuất nông nghiệp, một phần đất nông nghiệp lại được dùng để xây dựng khu dân cư, mở rộng đô thị (Mas, 1999) Mặc dù, biến động sử dụng đất xảy ra ở từng khu vực nhưng lại tác động tiêu cực trên phạm vi toàn cầu Do đó, những hiểu biết về nguyên nhân, động lực cũng

như ảnh hưởng của biến động sử dụng đất có vai trò quan trọng

Ngay từ năm 1972, tại hội nghị Quốc tế về Môi trường và Con người, tổ chức tại Stockholm, cộng đồng các nhà khoa học đã chính thức kêu gọi thực hiện các nghiên cứu về biến động sử dụng đất - lớp phủ trên toàn thế giới Đến năm

1992, nội dung này được nhắc lại tại Hội nghị Quốc tế về Môi trường và Phát triển (UNCED) tại Rio de Janeiro Vì vậy nhiều nghiên cứu về biến động sử dụng đất và lớp phủ đã được triển khai ở các nước phát triển và đang phát triển như Bangladesh, Nepal, Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Kenya, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Canada

(Qasim et al., 2011)

Ở Việt Nam, áp lực về gia tăng dân số và phát triển kinh tế xã hội đã tác động mạnh mẽ đến sử dụng đất làm cho hiện trạng sử dụng đất có nhiều thay đổi Diện tích đất để phát triển các khu dân cư và đô thị tăng lên, đất sản xuất nông nghiệp ở các khu vực đồng bằng bị thu hẹp Việt Nam có 3/4 diện tích tự nhiên là đồi núi, chủ yếu phân bố ở khu vực phía Bắc và Bắc Trung Bộ, đây là địa bàn cư trú của đại đa số cộng đồng dân tộc Việt Nam Đây cũng là nơi có địa hình chia cắt

Trang 14

mạnh, nhiều núi cao, giao thông đi lại khó khăn, kinh tế xã hội chậm phát triển Đời sống của một bộ phận không nhỏ người dân trong vùng còn gặp nhiều khó khăn do diện tích đất canh tác nhỏ hẹp, điều kiện sản xuất có rất nhiều hạn chế Do đó biến động trong sử dụng đất như phá rừng để mở rộng đất canh tác hay du canh, du cư dường như là cơ chế phản hồi để thích nghi với điều kiện khó khăn nhằm ổn định cuộc sống Tuy nhiên việc chuyển đổi từ đất rừng sang đất sản xuất đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, năm 1995 nước ta chỉ còn 9,3 triệu ha rừng tự nhiên, độ che phủ rừng thấp ở mức kỷ lục là 28,2%, nhiều diện tích đất trống đồi núi trọc rất khó phục hồi

Tiên Yên là huyện miền núi phía Đông tỉnh Quảng Ninh với tổng diện tích

tự nhiên là 64.789,74 ha, độ cao từ 0 đến 900 m so với mực nước biển Địa hình của huyện bị chia cắt mạnh, nhiều núi cao, hệ thống sông, suối ngắn, nhỏ và có độ dốc lớn chia cắt các xã trong vùng gây nhiều khó khăn trở ngại trong phát triển kinh tế và sử dụng đất Là huyện miền núi ven biển, Tiên Yên có một hệ sinh thái

đa dạng gồm rừng, biển, rừng ngập mặn Tiên Yên có 49,8% dân cư là người thiểu

số như Tày, Dao, Sán Chỉ, Sán Rìu với lịch sử, văn hóa, tập quán canh tác riêng biệt tạo nên những nét đặc trưng trong sử dụng đất (UBND huyện Tiên Yên, 2013a) Từ năm 2000 trở lại đây, dưới tác động của nhiều yếu tố, tình hình sử dụng đất của Tiên Yên có nhiều biến động Mặc dù đã có chính sách định canh định cư nhưng do cuộc sống khó khăn nên đồng bào dân tộc cư trú ở các vùng cao của huyện vẫn phá rừng làm nương rẫy Còn ở khu vực ven biển là việc mở rộng đất nuôi trồng thủy sản từ đất rừng ngập mặn Vì nông nghiệp là ngành sản xuất chính trên địa bàn huyện nên bất kỳ sự thay đổi nào trong sử dụng đất sẽ tác động mạnh

mẽ đến cuộc sống của người dân đồng thời ảnh hưởng đến môi trường sinh thái

Những nghiên cứu về biến động sử dụng của các nhà khoa học trên thế giới cho thấy, các nhân tố tự nhiên và kinh tế xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích những động lực dẫn đến biến động sử dụng đất Tuy nhiên trong những điều kiện khác nhau và ở các vùng địa lý khác nhau thì ảnh hưởng của những nhân

tố đến biến động sử dụng đất cũng hoàn toàn thay đổi Vì vậy việc đánh giá biến động sử dụng đất và xác định được ảnh hưởng của những yếu tố tự nhiên, xã hội

Trang 15

đến biến động sử dụng đất từ đó đề xuất các giải pháp quản lý sử dụng đất là vấn đề cấp thiết

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá biến động sử dụng đất và xác định ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, xã hội đến biến động sử dụng đất huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh

- Đề xuất các giải pháp quản lý sử dụng đất hợp lý trên địa bàn huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Xác định được mối tương quan giữa các yếu tố tự nhiên, xã hội đến biến động sử dụng đất

Đề tài góp phần bổ sung cơ sở lý luận trong nghiên cứu đánh giá biến động

sử dụng đất bằng tư liệu viễn thám, công nghệ GIS và phân tích hồi quy

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp thông tin, bản đồ, số liệu về biến động sử dụng đất của khu vực nghiên cứu theo thời gian và không gian giúp cho cơ quan quản lý đất đai nắm được diễn biến và xu hướng biến động đất đai Các yếu tố

tự nhiên, xã hội có ảnh hưởng đến biến động sử dụng đất mà đề tài xác định được sẽ

là cơ sở khoa học để cân nhắc giữa lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong điều kiện cụ thể ở huyện Tiên Yên

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loại đất, các yếu tố tự nhiên, xã hội tác động biến động sử dụng đất

Trang 16

- Phạm vi thời gian:

Biến động sử dụng đất được nghiên cứu từ năm 2000 đến năm 2010

5 Những đóng góp mới của luận án

Bằng mô hình hồi quy logistic đa biến với các dữ liệu viễn thám và số liệu thống kê đã xác định được ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, xã hội đến biến động

sử dụng đất khu vực huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

đó là: sinh vật, đá mẹ, khí hậu, địa hình và thời gian” Các nhà khoa học thổ nhưỡng khẳng định nguồn gốc ban đầu của đất (soil) là từ các loại đá mẹ trong thiên nhiên lâu đời bị phá hủy dần dần dưới tác động của các yếu tố lý học, hóa học, sinh học (dẫn theo Trần Văn Chính và cs., 2006)

Về quan điểm sinh thái và môi trường của Lê Văn Khoa (2000) đất là một vật thể sống, một “vật mang” của các hệ sinh thái tồn tại trên trái đất, con người tác động vào đất cũng chính là tác động vào các hệ sinh thái mà đất “mang” trên mình

nó Đất là tài nguyên không tái tạo, là vật mang của hệ sinh thái Đất là thành phần của môi trường thiên nhiên, của sinh quyển và có mối quan hệ mật thiết với các tài nguyên thiên nhiên khác (như nước, thực vật, )

Đất đai được định nghĩa là một khu vực cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các thuộc tính ngay ở trên và dưới bề mặt bao gồm khí hậu, thổ nhưỡng, địa hình, hệ thống thủy văn bề mặt, lớp trầm tích gần bề mặt, nước ngầm, quần thể động thực vật và mọi hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại như ruộng bậc thang, hệ thống thủy lợi, đường giao thông, các tòa nhà… (FAO, 1995b)

Trong nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất (Đào Châu Thu và Nguyễn Khang, 1998)

Trang 18

1.1.1.2 Vai trò của đất

Đất đai đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của loài người, là

cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất Vai trò cơ bản của đất đai trong việc hỗ trợ con người và các hệ sinh thái trên cạn khác được FAO (1995a) tổng hợp bao gồm:

- Đất đai là nơi lưu trữ tài sản cho cá nhân, gia đình và xã hội, cung cấp không gian cho con người để ở, để xây dựng khu công nghiệp và vui chơi giải trí

- Đất là nơi sản xuất, cung cấp thức ăn, gỗ, củi và các vật liệu sinh học khác Đất là môi trường sống của mọi sinh vật: con người, động thực vật, vi sinh vật

- Đất là yếu tố quyết định sự cân bằng năng lượng và chu trình thủy văn toàn cầu, vừa là nguồn phát vừa là bể chứa để giảm thiểu khí nhà kính

- Đất là nơi lưu trữ và vận chuyển nguồn tài nguyên nước mặt, nước ngầm, lưu trữ các nguồn tài nguyên và khoáng sản cho con người

- Đất là bộ đệm, bộ lọc và biến đổi hóa học các chất ô nhiễm

- Lưu trữ và bảo vệ các bằng chứng, ghi chép lịch sử như hóa thạch, bằng chứng về khí hậu cổ, tàn tích khảo cổ, )

- Cho phép hoặc cản trở sự di cư của các loài động vật, thực vật và con người trong một khu vực hoặc giữa khu vực này với những khu vực khác

Đất đai là một yếu tố cơ bản của sản xuất, vừa là đối tượng lao động vừa là

tư liệu lao động Đất đai là đối tượng lao động vì đó là nơi để con người thực hiện các hoạt động của mình tác động vào cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm Đất đai còn là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất thông qua việc con người đã biết lợi dụng một cách ý thức các đặc tính tự nhiên của đất như lý học, hoá học, sinh vật học và các tính chất khác để tác động và giúp cây trồng tạo nên sản phẩm

Lịch sử nhân loại cho thấy, đất đai luôn luôn gắn liền với quá trình phát triển kinh tế, xã hội Trong luận điểm nổi tiếng của mình, nhà kinh tế học William Petty (1623-1687) cho rằng “Lao động là cha, còn đất đai là mẹ của của cải” Cũng theo Phan Huy Chú “Của báu của một nước không có gì bằng đất đai Nhân dân và của cải đều do đấy mà ra” (dẫn theo Nguyễn Dũng Tiến, 2009)

Trang 19

1.1.2 Sử dụng đất và quản lý sử dụng đất

1.1.2.1 Sử dụng đất

Sử dụng đất là hoạt động của con người tác động vào đất đai nhằm đạt kết quả mong muốn trong quá trình sử dụng Theo FAO (1999), sử dụng đất được thực hiện bởi con người bao gồm các hoạt động cải tiến môi trường tự nhiên hoặc những vùng hoang vu vào sản xuất như đồng ruộng, đồng cỏ hoặc xây dựng các khu dân

cư Thực chất sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan

hệ giữa con người với đất đai

Theo Đào Châu Thu và Nguyễn Khang (1998), có nhiều kiểu sử dụng đất bao gồm: sử dụng trên cơ sở sản xuất trực tiếp (cây trồng, đồng cỏ, gỗ rừng), sử dụng trên cơ sở sản xuất gián tiếp (chăn nuôi), sử dụng đất vì mục đích bảo vệ và theo các chức năng đặc biệt như đường xá, dân cư, công nghiệp

Con người sử dụng đất nghĩa là tạo thêm tính năng cho đất đồng thời cũng thay đổi chức năng của đất và môi trường Vì vậy việc sử dụng đất phải được dựa trên những cơ sở khoa học và cân nhắc tới sự bền vững

1.1.2.2 Quản lý sử dụng đất

Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất

Terry (1988) coi quản lý thực chất là một quá trình bao gồm kế hoạch, tổ chức, vận hành, kiểm soát và thực hiện để hoàn thành mục tiêu bằng cách sử dụng nhân lực và nguồn lực

Quản lý sử dụng đất là quá trình quản lý sử dụng và phát triển đất đai trong không gian theo định hướng và sự điều phối của chính sách đất đai hiện tại (Vancutsem, 2008)

1.1.3 Nghiên cứu quản lý sử dụng đất đồi núi Việt Nam

Đất đồi núi chiếm 3/4 diện tích tự nhiên của Việt Nam, là nơi sinh sống của đại đa số các dân tộc, đồng thời cũng là nơi đóng vai trò chính trong việc gìn giữ cân bằng sinh thái Theo Nguyễn Văn Toàn (2010), Việt Nam có khoảng 24,1 triệu

Trang 20

ha đất đồi núi, trong đó có 10,37 triệu ha có độ dốc >250 chiếm 43% diện tích đất đồi núi Đất có độ dốc từ 15 - 250

có 5,35 triệu ha thích hợp cho trồng cây lâu năm theo phương pháp nông lâm kết hợp Diện tích đất có độ dốc dưới 15o là 8,2 triệu

ha, phần lớn đã được khai thác sử dụng cho sản xuất nông nghiệp

Mặc dù diện tích đất đồi núi chiếm tỷ lệ lớn nhưng lại phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình sử dụng Theo Trần Đức Viên và Phạm Chí Thành (1996), khó khăn, hạn chế lớn nhất cho việc phát triển nông nghiệp trên vùng đất dốc là địa hình chia cắt mạnh, có nhiều núi cao, suối sâu, đèo dốc hiểm trở, độ dốc lớn với nhiều tiểu vùng sinh thái khác biệt, gây ra nhiều trở ngại như xói mòn, thoái hóa, hạn hán… Nhóm nghiên cứu của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa đã xác định được trong 24,8 triệu ha đất dốc thì không có đơn vị đất đai nào rất thích hợp với sản xuất nông nghiệp (độ phì cấp 1), có 13,4% diện tích có độ phì nhiêu khá (cấp 2) thích hợp với sản xuất nông nghiệp, phân bố chủ yếu ở vùng Đông Bắc Bộ, Tây Bắc

Bộ, Duyên hải Bắc Trung Bộ Đất có độ phì nhiêu trung bình (cấp 3) chiếm 6,5%, đất có độ phì nhiêu kém do tầng đất mỏng (cấp 4) chiếm 3,7%, đất có độ phì nhiêu kém do độ dốc cao, nguy cơ xói mòn lớn (cấp 5) khoảng 8,3% Còn lại là đất có độ phì nhiêu rất kém do độ dốc cao và nguy cơ xói mòn rất lớn, tầng đất rất mỏng và nhiều yếu tố hạn chế chiếm 68,1% diện tích đất dốc của 7 vùng sinh thái (Bùi Huy Hiền và cs., 2001)

Vùng đồi núi Việt Nam có địa hình chia cắt mạnh, mạng lưới sông suối dày đặc, sông ngắn, dốc, lượng mưa lớn tập trung vào mùa hè do đó lượng đất mất do xói mòn rất lớn, ước tính khoảng 2 tỉ tấn/năm Kết quả theo dõi của Hội Khoa học Đất Việt Nam trong 2 năm 2004, 2005 lượng mất đất do xói mòn, rửa trôi ở huyện Quỳnh Nhai

là 839,918 nghìn tấn/năm (Lê Thái Bạt và Luyện Hữu Cử, 2012) Đất đồi núi Việt Nam cũng phải đối mặt với vấn đề suy thoái đất Tập quán canh tác truyền thống du canh du

cư, phá rừng đốt rẫy, trồng lúa nương làm cho diện tích đất bị thoái hóa tăng lên nhanh chóng Theo Trần Kông Tấu (2009), đất đồi núi có xu hướng giảm độ phì tự nhiên, giảm diện tích che phủ rừng Nguyễn Thế Đặng và cs (2003) khẳng định đã có lúc diện tích đất trống, đồi núi trọc của Việt Nam lên đến 13 triệu ha

Trang 21

Theo Đào Châu Thu và Lê Quốc Doanh (2012), ở vùng đồi núi chế độ canh tác chủ yếu phụ thuộc vào nước trời, tập tục canh tác, trình độ sản xuất nông nghiệp thấp là một trong những khó khăn trở ngại với sản xuất nông nghiệp vùng đất dốc

Tiềm năng to lớn và những thách thức trong sử dụng đất dốc đã thúc đẩy các nghiên cứu về vấn đề này Để sử dụng đất đồi núi hiệu quả và bền vững, ngay từ những năm 1960 các cơ quan quản lý và nghiên cứu khoa học như Vụ Quản lý ruộng đất, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa và các nhà khoa học như Nguyễn Trọng Hà (1962); Bùi Quang Toản (1965); Bùi Mạnh và Nguyễn Xuân Cát (1970); Chu Đình Hoàng (1976); Thái Phiên (1999) đã tập trung nghiên cứu các biện pháp chống xói mòn và sử dụng đất hợp lý (dẫn theo Lê Thị Giang, 2012) Các công trình nghiên cứu đáng chú ý có thể kể đến nghiên cứu về đất trống đồi núi trọc của tỉnh Tuyên Quang của Nguyễn Đình Bồng (1995); Kết quả nghiên cứu cải tạo, sử dụng và bảo

vệ đất dốc trong sản xuất nông lâm nghiệp của Bùi Huy Hiền và cs (2001); Nghiên cứu về các yếu tố hạn chế năng suất cây trồng trên đất dốc và biện pháp khắc phục của Hà Đình Tuấn và cs (2001) hay công trình “Đất gò đồi Đông Bắc - Hiện trạng

và định hướng sử dụng” của Nguyễn Văn Toàn (2007)

Trong những năm gần đây, nhiều cơ quan nghiên cứu trong nước và quốc tế

đã phối hợp thực hiện những chương trình nghiên cứu về canh tác bền vững trên đất dốc, đặc biệt là Dự án nghiên cứu Hệ thống Nông nghiệp vùng núi phía Bắc Việt Nam do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (VASI), Viện Khoa học

Kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc (NOMAFSI), Trung tâm Hợp tác quốc tế về Nghiên cứu nông nghiệp vì sự phát triển của Cộng hoà Pháp (CIRAD) cùng Viện Nghiên cứu Lúa quốc tế (IRRI) thực hiện Kết quả nghiên cứu sử dụng thảm che phủ tại một số tỉnh miền núi như Bắc Kạn, Yên Bái đã làm tăng năng suất cây trồng, giảm thiểu xói mòn, tăng độ ẩm đất Ở các ô có che phủ, mức độ xói mòn đất giảm từ 73% đến 94% so với các ô không có che phủ, Ngoài ra thảm che phủ còn có tác dụng khống chế cỏ dại, cải thiện độ phì của đất, tăng cường hoạt tính sinh học đất (Hà Đình Tuấn và Lê Quốc Doanh, 2007)

Tóm lại, đất đồi núi Việt Nam có tiềm năng khá lớn để phát triển nông

Trang 22

nghiệp Tuy nhiên để đạt được mục tiêu sử dụng đất bền vững thì công tác quản lý

sử dụng đất phải đảm bảo các vấn đề sau:

- Phải bảo vệ được nguồn tài nguyên rừng, đảm bảo độ che phủ thích hợp đối với từng vùng sinh thái để hạn chế suy thoái đất

- Đẩy mạnh các mô hình sản xuất nông nghiệp tiên tiến, sử dụng các kỹ thuật canh tác tiến bộ, phù hợp

- Sử dụng giống cây trồng thích hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng đối với từng vùng Phát triển chăn nuôi đại gia súc tại các vùng trọng điểm

- Mở rộng hệ thống trồng trọt, chăn nuôi phải đi kèm với các cơ sở chế biến sau thu hoạch để giảm thiểu việc vận chuyển nguyên liệu thô, đảm bảo đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp

- Từng bước cải thiện cơ sở hạ tầng vùng núi, hoàn thành công tác giao đất giao rừng, phát triển văn hóa xã hội khu vực đồi núi

1.2 Cơ sở khoa học về biến động sử dụng đất và lớp phủ

1.2.1 Khái niệm biến động sử dụng đất và lớp phủ

Sử dụng đất và lớp phủ là hai thành phần liên kết với nhau, nhưng trong một thời gian dài đã được nghiên cứu một cách tách biệt Lớp phủ là trạng thái tự nhiên của bề mặt đất, là mối quan tâm chủ yếu của các nhà khoa học tự nhiên, còn sử dụng đất là hoạt động của con người, mối quan tâm chủ yếu của các nhà khoa học

xã hội (Meyer and Turner, 1994)

Lớp phủ được định nghĩa là bề mặt tự nhiên trên bề mặt đất bao gồm nước, thực vật, đất trống và các công trình nhân sinh Sử dụng đất là hoạt động có mục đích của con người thực hiện trên lớp phủ (IGBP, 1997)

Điều đó có nghĩa là lớp phủ bề mặt có thể quan sát được ở những khoảng cách và bằng tư liệu khác nhau như quan sát bằng mắt, từ ảnh hàng không hay bởi

bộ cảm biến vệ tinh (Ellis, 2010)

Trái ngược với lớp phủ, sử dụng đất không dễ dàng quan sát được trong nhiều trường hợp, do vậy để xác định được đó là loại hình sử dụng đất nào cần phải

bổ sung các thông tin Ví dụ, để xác định đất trồng cỏ quan sát được có phải sử

Trang 23

dụng cho mục đích chăn thả gia súc hay đồng cỏ tự nhiên thì người nông dân có thể cung cấp thông tin, sự có mặt của họ cùng với đàn gia súc sẽ quyết định đó là loại đất gì Hay những khu vực mà lớp phủ là cây bụi, thân gỗ có thể là những khu vực cây bụi tự nhiên, có thể là rừng phục hồi, cũng có thể là rừng trồng để lấy gỗ, hay rừng cao su để sản xuất, hay khu vực đất nông nghiệp đang trong thời gian hoang hóa, hay là đồn điền chè, cà phê

Theo Từ điển Khoa học trái đất "Biến động sử dụng đất và lớp phủ (LUCC), được biết như biến động đất đai, đây là một thuật ngữ chung chỉ những thay đổi bề mặt lãnh thổ trái đất xảy ra do tác động của con người” (dẫn theo Ellis, 2010) Sherbinin (2002) cho rằng, biến động sử dụng đất là nguyên nhân dẫn tới biến động lớp phủ, điều đó có nghĩa là biến động lớp phủ chính là hệ quả của biến động sử dụng đất

Biến động sử dụng đất là sự thay đổi trạng thái tự nhiên của lớp phủ bề mặt đất gây ra bởi hành động của con người, là một hiện tượng phổ biến liên quan đến tăng trưởng dân số, phát triển thị trường, đổi mới công nghệ, kỹ thuật và sự thay đổi thể chế, chính sách Biến động sử dụng đất có thể gây hậu quả khác nhau đối với tài nguyên thiên nhiên như sự thay đổi thảm thực vật, biến đổi trong đặc tính vật lý của đất, trong

quần thể động, thực vật và tác động đến các yếu tố hình thành khí hậu (Turner et al., 1995; Lambin et al., 1999; Aylward, 2000 dẫn theo Muller, 2004)

Muller (2003) chia biến động sử dụng đất thành 2 nhóm Nhóm thứ nhất là sự thay đổi từ loại hình sử dụng đất hiện tại sang loại hình sử dụng đất khác Nhóm thứ hai là sự thay đổi về cường độ sử dụng đất trong cùng một loại hình sử dụng đất

Biến động sử dụng đất và lớp phủ đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử, là hệ quả

từ các hoạt động trực tiếp và gián tiếp của con người nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu Ban đầu có thể chỉ là các hoạt động đốt rừng để khai hoang mở rộng đất nông nghiệp, dẫn đến sự suy giảm rừng và thay đổi bề mặt trên trái đất Gần đây, công nghiệp hóa đã làm gia tăng sự tập trung dân cư trong các đô thị và giảm dân cư nông thôn, kéo theo đó là khai thác quá tải trên khu vực đất màu mỡ và bỏ hoang các khu vực đất không thích hợp Tất cả những nguyên nhân và hệ quả của các biến động này đều có thể nhìn thấy ở mọi nơi trên thế giới

Trang 24

1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến biến động sử dụng đất và lớp phủ

Biến động sử dụng đất và lớp phủ được quyết định bởi sự tương tác theo thời gian giữa yếu tố tự nhiên như địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng và yếu tố con người như dân số, trình độ công nghệ, điều kiện kinh tế, chiến lược sử dụng đất, xã hội (Veldkamp and Fresco, 1996b) Mức độ, quy mô và các yếu tố ảnh hưởng đến sự biến động sử dụng đất khác nhau đối với từng khu vực (Kaimowitz and Angelsen, 1998) Briassoulis (2002), chia các yếu tố ảnh hưởng đến biến động sử dụng đất thành 2 nhóm: Nhóm các yếu tố tự nhiên và nhóm các yếu tố kinh tế xã hội

1.2.2.1 Nhóm các yếu tố tự nhiên

Các yếu tố tự nhiên như vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng và các quá trình tự nhiên có tác động trực tiếp đến biến động sử dụng đất hoặc tương tác với các quá trình ra quyết định của con người dẫn đến biến động sử dụng đất (Briassoulis, 2002)

a Vị trí địa lý

Vị trí địa lý của một khu vực tạo nên sự khác biệt về điều kiện tự nhiên như địa hình, khí hậu, đất đai sẽ là yếu tố quyết định đến khả năng, hiệu quả của việc sử dụng đất Những khu vực có vị trí thuận lợi cho sản xuất, xây dựng nhà ở và các công trình thì biến động sử dụng đất diễn ra mạnh hơn

Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến biến động sử dụng đất theo nhiều cách khác nhau Các hiện tượng như nước biển dâng, lũ lụt, hạn hán, sự thay đổi về nhiệt độ

Trang 25

và độ ẩm ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh thái và sản xuất nông nghiệp Vì vậy, những thay đổi trong sử dụng đất dường như là một cơ chế phản hồi thích nghi

mà người nông dân sử dụng để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu (Viglizzo

et al., 1995)

c Địa hình và thổ nhưỡng

Địa hình và thổ nhưỡng có ảnh hưởng rất lớn đến việc chuyển đổi sử dụng đất trong nội bộ đất nông nghiệp hoặc từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp Những khu vực núi cao, độ dốc lớn biến động sử dụng đất, lớp phủ ít xảy ra Những nơi có địa hình thuận lợi, đất đai màu mỡ thì kinh tế phát triển, nhu cầu đất đai cho các ngành tăng cao do vậy biến động sử dụng đất, lớp phủ xảy ra với tần suất cao hơn

d Thủy văn

Yếu tố thủy văn được đặc trưng bởi sự phân bố của hệ thống sông ngòi, ao, hồ sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng cung cấp nước cho các yêu cầu sử dụng đất Vì vậy ở những khu vực gần nguồn nước biến động sử dụng đất và lớp phủ diễn

ra mạnh hơn

Ngoài ra các tai biến thiên nhiên như cháy rừng, sâu bệnh, trượt lở đất cũng tác động đến biến động sử dụng đất (Houghton and Hackler, 2000)

1.2.2.2 Các yếu tố kinh tế xã hội

Các yếu tố kinh tế xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến biến động sử dụng đất bao gồm dân số, công nghệ, chính sách kinh tế, thể chế và văn hóa Sự ảnh hưởng của mỗi yếu tố thay đổi khác nhau theo từng khu vực và từng quốc gia (Meyer and Turner, 1992)

a Dân số

Biến động dân số không chỉ bao gồm những thay đổi về tỷ lệ tăng dân số, mật độ dân số mà còn là sự thay đổi trong cấu trúc của hộ gia đình, di cư và sự gia tăng số hộ

Dân số tăng dẫn đến việc chuyển đổi đất rừng thành đất sản xuất nông

Trang 26

nghiệp, xây dựng các khu dân cư Mặc dù tỷ lệ tăng dân số hiện nay giảm nhưng dân số và nhu cầu về thực phẩm cũng như các dịch vụ khác vẫn đang gia tăng Tại châu Phi, dân số tăng là nguyên nhân của nạn phá rừng nhằm khai thác gỗ củi, than củi và đáp ứng nhu cầu đối với đất trồng trọt Còn ở châu Á, dân số tăng dẫn đến mở rộng đất canh tác và ở châu Mỹ Latinh là do sự gia tăng về số lượng đàn gia súc (dẫn theo IPCC, 2001)

Tuy nhiên những giả thuyết về nguyên nhân của nạn phá rừng không áp dụng trong trường hợp mật độ dân số hoặc tốc độ tăng dân số cao nhưng được đi kèm với các chương trình bảo tồn rừng và tái trồng rừng Ravindranath and Hall (1994) khẳng định do pháp luật về bảo tồn rừng hiệu quả, tỷ lệ phá rừng ở Ấn Độ đã giảm từ năm 1980, mặc dù vẫn tăng trưởng dân số

Di cư là yếu tố nhân khẩu học quan trọng nhất gây ra những thay đổi sử dụng đất nhanh chóng và tương tác với các chính sách của chính phủ, hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa Mở rộng di cư cũng có thể dẫn đến nạn phá rừng và xói mòn đất Vì vậy di cư được coi là nguyên nhân làm thay đổi cảnh quan và sử dụng đất (Houghton and Hackler, 2000)

b Các yếu tố kinh tế và công nghệ

Sự phát triển kinh tế làm cho các đô thị ngày càng được mở rộng, đất đai thay đổi về giá trị, chuyển đổi sử dụng đất ngày càng nhiều Thêm vào đó, yếu tố kinh tế và công nghệ còn ảnh hưởng đến việc ra quyết định sử dụng đất bằng những thay đổi trong chính sách về giá, thuế và trợ cấp đầu vào, thay đổi các chi phí sản xuất, vận chuyển, nguồn vốn, tiếp cận tín dụng, thương mại và công nghệ Nếu người nông dân tiếp cận tốt hơn với tín dụng và thị trường (do xây dựng đường bộ và thay đổi cơ sở hạ tầng khác), kết hợp với cải tiến công nghệ trong nông nghiệp và quyền sử dụng đất có thể khuyến khích chuyển đổi từ đất rừng sang đất canh tác hoặc ngược lại Lambin and Geist (2007) chỉ ra rằng, trong nhiều trường hợp, khí hậu, công nghệ và kinh tế là yếu tố quyết định đến biến động sử dụng đất

Trang 27

c Các yếu tố thể chế và chính sách

Thay đổi sử dụng đất bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các tổ chức chính trị, pháp

lý, kinh tế hoặc tương tác với các quyết định của người sử dụng đất Tiếp cận đất đai, lao động, vốn và công nghệ được cấu trúc bởi chính sách, thể chế của nhà nước

và các địa phương Chính sách khai hoang của nhà nước có ảnh hưởng rất lớn, làm diện tích đất nông nghiệp tăng lên đáng kể Hay những chính sách khuyến khích trồng rừng, bảo vệ rừng của nhà nước cũng làm cho diện tích rừng được tăng lên (Vu, 2007)

d Các yếu tố văn hóa

Những động cơ, thái độ, niềm tin và nhận thức cá nhân của người quản lý và

sử dụng đất đôi khi ảnh hưởng rất sâu sắc đến quyết định sử dụng đất Tất cả những hậu quả sinh thái không lường trước được phụ thuộc vào kiến thức, thông tin và các

kỹ năng quản lý của người sử dụng đất như trường hợp dân tộc thiểu số ở vùng cao Ngoài ra, các yếu tố văn hóa có thể ảnh hưởng đến hành vi do đó nó trở thành tác nhân quan trọng của việc chuyển đổi sử dụng đất (dẫn theo Bello and Arowosegbe, 2014)

1.2.3 Nghiên cứu biến động sử dụng đất, lớp phủ bằng tư liệu viễn thám và GIS

Một trong những ứng dụng đặc biệt quan trọng của dữ liệu viễn thám là nghiên cứu sử dụng đất và lớp phủ Từ những năm 1970, dữ liệu viễn thám đã đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng và tần suất cho nghiên cứu Đến nay viễn thám

đã phát triển trở thành một phương pháp luận tiên tiến và công cụ mạnh trong nghiên cứu sử dụng đất và theo dõi biến động đất đai (Hassideh and Bill, 2008)

Cơ sở khoa học của nghiên cứu biến động từ tư liệu viễn thám là dựa vào đặc trưng phổ phản xạ của các đối tượng tự nhiên Trên cơ sở tính chất phản xạ sóng điện từ của đối tượng trên bề mặt trái đất mà kỹ thuật viễn thám có thể phân tích, so sánh và nhận diện chúng từ các thông tin phổ phản xạ (Jensen, 1995)

Với chức năng phân tích không gian, GIS cho phép đánh giá những thay đổi của sử dụng đất và lớp phủ theo những khoảng thời gian khác nhau Đồng thời GIS

có thể liên kết những thông tin này với các dữ liệu về kinh tế, xã hội… từ đó có thể

Trang 28

xác định được tác động của các yếu tố đến biến động sử dụng đất và thấy được đâu

là nguyên nhân chính thúc đẩy quá trình biến động (Vu, 2007)

Theo Singh (1989), tiền đề cơ bản để sử dụng dữ liệu viễn thám nghiên cứu biến động là những thay đổi lớp phủ trên bề mặt đất phải đưa đến sự thay đổi về bức

xạ Tuy nhiên sự thay đổi về bức xạ do biến động lớp phủ phải lớn hơn so với những thay đổi về bức xạ gây ra bởi các yếu tố khác Những yếu tố khác bao gồm

sự khác biệt về điều kiện khí quyển, sự khác biệt về góc chiếu tia mặt trời, sự khác biệt về độ ẩm của đất Ảnh hưởng của các yếu tố này có thể được giảm từng phần bằng cách chọn dữ liệu thích hợp

Trong viễn thám có nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá biến động vì vậy việc lựa chọn phương pháp nghiên cứu rất quan trọng Trước tiên, phải lựa chọn được phương pháp phân loại ảnh sẽ sử dụng Sau đó xác định rõ yêu cầu nghiên cứu

có cần biết chính xác thông tin về nguồn gốc của sự biến động hay không Tuy nhiên tất cả các nghiên cứu đều cho thấy, các kết quả biến động phải được thể hiện trên bản

đồ biến động và bảng tổng hợp (dẫn theo Jensen, 1995)

Các phương pháp đánh giá biến động sử dụng đất và lớp phủ từ tư liệu viễn thám có thể được chia thành 2 nhóm: Đánh giá biến động sau phân loại và trước phân loại (Singh, 1989)

1.2.3.1 Đánh giá biến động sau phân loại

Đánh giá biến động sau phân loại là chồng ghép so sánh kết quả phân loại các ảnh Sau khi ảnh vệ tinh được nắn chỉnh hình học tiến hành phân loại độc lập để tạo thành hai bản đồ Hai bản đồ này được so sánh tạo ra bản đồ biến động Sơ đồ của phương pháp đánh giá biến động sau phân loại thể hiện trên hình 1.1

Đánh giá biến động sau phân loại được sử dụng rộng rãi do đơn giản, dễ thực hiện, có thể sử dụng các loại ảnh vệ tinh khác nhau (khác đầu thu) và ảnh chụp vào các mùa khác nhau trong năm Jensen (1995) cũng khẳng định, ưu điểm của phương pháp đánh giá biến động sau phân loại cho phép xác định được nguồn gốc của biến động sử dụng đất từ loại đất này sang loại đất khác

Trang 29

Hình 1.1 Đánh giá biến động sau phân loại

Nguồn: Jensen (1995)

Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp đánh giá biến động sau phân loại là phải phân loại độc lập từng ảnh nên độ chính xác phụ thuộc vào độ chính xác của từng phép phân loại và các sai sót trong quá trình phân loại của từng ảnh sẽ ảnh hưởng đến độ chính xác của bản đồ biến động

1.2.3.2 Đánh giá biến động trước phân loại

Đánh giá biến động trước phân loại là phương pháp thu nhận biến đổi về phổ

để tạo nên một ảnh mới gồm một hay nhiều kênh ảnh trên đó các phần thay đổi về phổ được làm rõ từ hai ảnh cho trước Việc so sánh có thể được thực hiện trên từng pixel hay trên toàn bộ ảnh

Các kỹ thuật phân tích phổ trước phân loại để đánh giá biến động bao gồm phân loại trực tiếp ảnh đa thời gian (Multi - Date Composite Image Change Detection), phân tích véc tơ thay đổi phổ (Spectral change vector analysis), phương pháp số học (Image Algebra change detection), phương pháp cộng màu trên một kênh ảnh, phương pháp phân tích thành phần chính (PCA - Principal component analysis)

Đặc điểm của phương pháp đánh giá biến động phổ trước phân loại là kỹ thuật rất phức tạp, đòi hỏi các tư liệu ảnh phải cùng loại và chụp cùng mùa trong năm Ưu điểm của phương pháp là chỉ phải phân loại một lần nên có độ chính xác

Kênh 2 Kênh 3 Kênh 4

Phân loại ảnh 1

Biến động Ảnh 2

Ảnh 1

Kênh 2 Kênh 3 Kênh 4

Phân loại ảnh 2

Trang 30

cao Nhưng nhược điểm là rất khó khăn khi lấy mẫu và xác định ngưỡng của sự biến động Một số phương pháp đánh giá biến động trước phân loại không cho biết

cụ thể nguồn gốc của biến động

1.2.4 Hệ thống phân loại sử dụng đất và lớp phủ đối với tư liệu viễn thám

Sokal (1974) đã định nghĩa, phân loại là việc sắp xếp các đối tượng theo các nhóm hoặc các tập hợp khác nhau dựa trên mối quan hệ giữa chúng Một hệ thống phân loại miêu tả tên của các lớp và tiêu chuẩn phân biệt chúng

Các hệ thống phân loại có hai định dạng cơ bản, đó là phân cấp và không phân cấp Một hệ thống phân cấp thường linh hoạt hơn và có khả năng kết hợp nhiều lớp thông tin, bắt đầu từ các lớp ở quy mô lớn rồi phân chia thành các lớp phụ cấp thấp hơn và chi tiết hơn (FAO,2005a)

Trong nghiên cứu biến động sử dụng đất tư liệu viễn thám được ứng dụng ngày càng nhiều Việc sử dụng hệ thống phân loại sử dụng đất chi tiết gây ra những khó khăn cho nghiên cứu và khó có thể ứng dụng (Cavinaw, 2007) Vì vậy nhiều nghiên cứu đã sử dụng hệ thống phân loại lớp phủ và sử dụng đất từ tư liệu viễn

thám của Cục Điều tra Địa Chất Hoa Kỳ (USGS) (dẫn theo Anderson et al., 2001)

Hệ thống phân loại sử dụng đất từ tư liệu viễn thám của USGS thể hiện trong bảng 1.1 Theo Cavinaw (2007), cấp độ phân loại phụ thuộc vào độ phân giải không gian của tư liệu viễn thám

1.3 Sử dụng đất, biến động sử dụng đất trên thế giới và Việt Nam

1.3.1 Sử dụng đất và biến động sử dụng đất trên trên thế giới

1.3.1.1 Quỹ đất nông nghiệp trên thế giới

Tài nguyên đất trên toàn cầu có 13.021,15 triệu ha, trong đó đất nông nghiệp

là 4.932,4 triệu ha chiếm 37,6% Tuy nhiên diện tích đất canh tác chỉ chiếm khoảng

10,9% tổng diện tích đất (FAO, 2007) Theo Eswaran et al (1999), có 11 đến 12%

diện tích đất thích hợp cho sản xuất lương thực và sợi, 24% được sử dụng cho chăn thả gia súc, rừng chiếm khoảng 31% và 33% còn lại có nhiều hạn chế đối với hầu

hết các mục đích sử dụng

Trang 31

Bảng 1.1: Hệ thống phân loại đất của USGS

1

1.1 1.2 1.3

Đô thị hoặc đất xây dựng Khu dân cư

Khu công nghiệp và dịch vụ Đất đô thị và xây dựng khác

2

2.1 2.2 2.3 2.4

Đất nông nghiệp Đất lúa và đồng cỏ Đất cây lâu năm, vườn ươm, cây cảnh Đất cây hàng năm khác

Đất nông nghiệp khác

3

3.1 3.2 3.3

Đất chăn thả gia súc Đất chăn thả cây thân thảo Đất chăn thả cây bụi Đất chăn thả hỗn hợp

4

4.1 4.2 4.3

Đất rừng Rừng cây lá kim, rụng lá Rừng cây lá rộng thường xanh Rừng hỗn hợp

5

5.1 5.2

Nước Suối, kênh, rạch

Hồ, vịnh, cửa sông

6 6.1 6.2

Đất mặt nước Rừng ngập nước Đất mặt nước không có rừng

7

7.1 7.2 7.3 7.4

Đất trống Đất làm muối Bãi biển, cát Núi đá, mỏ đá, Đất trống hỗn hợp

8

8.1 8.2

Băng tuyết Băng tuyết vĩnh cửu Sông băng

Nguồn: Anderson et al (2001)

Trang 32

1.3.1.2 Phân bố đất nông nghiệp trên thế giới

Diện tích đất nông nghiệp trên thế giới phân bố không đều giữa các châu lục Theo số liệu thống kê của FAO (2007), quy mô đất nông nghiệp được phân bố như sau: châu Mỹ chiếm 24,4%, châu Á chiếm 33,4%, châu Âu chiếm 9,6%, châu Phi chiếm 23,7%, châu Đại Dương chiếm 8 ,9 %

Kết quả phân tích của World Bank (2012) cho thấy, diện tích đất canh tác trên đầu người trung bình của thế giới năm 2009 là 0,2 ha Khu vực Đông Nam Á tính trung bình từ 2007 - 2011 như sau: Indonesia 0,1ha; Malaysia 0,06 ha; Philippin 0,06 ha; Thái Lan 0,42 ha; Lào 0,22 ha; Campuchia 0,28 ha; Myanmar 0,23 ha; Việt Nam 0,07 ha Trong khi đó Brazil 0,32 ha; Canada 1,34 ha; Ấn Độ 0,13 ha; Trung Quốc 0,08 ha

Bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người của thế giới trong giai đoạn

2002 - 2010 thể hiện trên hình 1.2 Theo đó, diện tích đất canh tác bình quân giảm dần từ 0,22 ha/người năm 2002 xuống còn 0,20 ha/người vào năm 2010

Hình 1.2 Bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người

Nguồn: World Bank (2012)

Tuy nhiên, đất sản xuất nông nghiệp có tưới khá hạn chế chỉ chiếm 25% diện tích đất canh tác, 75% diện tích còn lại canh tác nhờ nước trời Theo ước tính của FAO (2012), ở khu vực Bắc Phi tiềm năng mở rộng đất canh tác chủ động nguồn nước tưới khoảng 2 triệu ha Khu vực Nam Á diện tích đất canh tác chủ động tăng từ

ha

Trang 33

76 triệu ha lên 99 triệu ha trong 20 năm kể từ 1990 đến 2010 Các khu vực khác sự gia tăng diện tích đất được tưới đều thấp

Trong đất nông nghiệp, đất đồi núi chiếm khoảng 65,9% và có khoảng 544 triệu ha đất canh tác mất khả năng sản xuất Các vùng đồi núi trên thế giới có độ dốc trên 100 chiếm 50 - 60% đất nông nghiệp (Nguyễn Công Vinh và Mai Thị Lan Anh, 2011)

Đất đồi núi thường bị chua, vì vậy rất khó khăn để tạo ra một nền nông nghiệp bền vững trên loại đất này (Uexkull and Bosshart, 1989)

Ở châu Á, diện tích đất sử dụng cho mục đích nông nghiệp chiếm 52,8% tổng diện tích tự nhiên Mặc dù chiếm 60% dân số thế giới nhưng diện tích đất nông nghiệp ở châu Á chỉ chiếm 33,4% diện tích đất nông nghiệp toàn cầu (FAO, 2007) Tiềm năng đất trồng trọt nhờ nước trời nhìn chung là khá lớn, khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ 282 triệu ha đang trồng trọt và có khoảng 100 triệu ha nằm trong vùng nhiệt đới ẩm của Đông Nam Á (Nguyễn Công Vinh và Mai Thị Lan Anh, 2011) Phần lớn những diện tích này là đất dốc, chua nhiệt đới, loại đất này trước đây vốn được rừng tự nhiên bao phủ đến nay do hoạt động của con người nên rừng đã bị tàn phá và thảm thực vật đã chuyển thành cây bụi và cỏ

1.3.1.3 Biến động sử dụng đất trên thế giới

Trong vòng 20 năm qua, tình hình sử dụng đất trên thế giới có nhiều thay đổi Quá trình đô thị hóa, sự gia tăng dân số, các công ước bảo vệ rừng, bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên đã làm thay đổi sử dụng đất và lớp phủ bề mặt Nhiều nơi biến động sử dụng đất xảy ra theo chiều hướng tích cực nhưng có nhiều khu vực thì tình hình ngược lại Biến động sử dụng đất trung bình hàng năm của một số loại đất chính trên thế giới thể hiện trong bảng 1.2

a Đất rừng

Trong giai đoạn 1990 – 2005, trung bình hàng năm diện tích rừng bị mất là 13,0 triệu ha, do chuyển sang đất sản xuất nông nghiệp 9,8 triệu ha, chuyển sang đất đồng cỏ 3,0 triệu ha, chuyển sang đất đô thị 0,2 triệu ha.

Đồng thời do sự mở rộng rừng tự nhiên và trồng rừng, diện tích rừng tăng

Trang 34

5,7 triệu ha, trong đó chuyển đổi từ đất sản xuất nông nghiệp là 4,3 triệu ha và từ đất đồng cỏ là 1,4 triệu ha

Bảng 1.2 Chu chuyển các loại đất toàn cầu 1990- 2005 (trung bình năm)

Đơn vị tính: triệu ha

đồng cỏ

Đất sản xuất nông nghiệp Đô thị

Như vậy, tính trung bình mỗi năm trên toàn cầu, diện tích rừng mất đi là 7,3 triệu ha Nguyên nhân chủ yếu là do mở rộng sản xuất nông nghiệp, tăng diện tích đồng cỏ và đất đô thị

b Đất đồng cỏ

Hàng năm đất đồng cỏ tăng lên 2,4 triệu ha Một mặt do đất đồng cỏ chuyển sang các loại đất khác 2,6 triệu ha và ngược lại từ các loại đất khác chuyển sang đất đồng cỏ 5,0 triệu ha

c Đất sản xuất nông nghiệp

Trong giai đoạn 1995 - 2005 đất nông nghiệp mở rộng 2,9 triệu ha mỗi năm Hàng năm đất sản xuất nông nghiệp tăng lên 10,8 triệu ha do chuyển từ đất rừng sang 9,8 triệu ha và chuyển từ đất đồng cỏ sang 1,0 triệu ha

Đồng thời đất sản xuất nông nghiệp giảm 7,9 triệu ha do chuyển sang đất đô thị 1,6 triệu ha, chuyển sang đất rừng 4,3 triệu ha và chuyển sang đất đồng cỏ 2,0

triệu ha

Trang 35

Ngoài ra, diện tích đất nông nghiệp bị mất đi do xói mòn, hoang hóa và xâm nhập mặn ước tính khoảng 2,0 triệu ha

d Đất đô thị

Hàng năm đất cơ sở hạ tầng và các đô thị lớn đều có sử mở rộng rất đáng kể Tốc độ mở rộng đô thị toàn cầu ước tính khoảng 2,0 triệu ha mỗi năm, hầu hết đều được lấy từ đất nông nghiệp

Theo ước tính, việc mở rộng đô thị có đến 80% xảy ra trên đất nông nghiệp, 10% trên đất rừng và 10% trên đất đồng cỏ Sự chuyển đổi từ các loại đất khác sang

đất đô thị không đáng kể (Angel et al., 2005)

1.3.2 Sử dụng đất và biến động sử dụng đất ở Việt Nam

1.3.2.1 Quỹ đất Việt Nam

Tính đến ngày 1/1/2013, tổng diện tích đất đai của cả nước là 33.097,2 nghìn

ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 26.371,5 nghìn ha chiếm 79,7% tổng DTTN, đất phi nông nghiệp 3.777,4 nghìn ha chiếm 11,4% tổng DTTN, đất chưa sử dụng 2.948,3 nghìn ha chiếm 8,9% tổng DTTN (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2014)

Bình quân diện tích đất theo đầu người 3.816 m2 (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012) xếp thứ 68 trên thế giới Tuy nhiên, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người rất thấp

Với 89.708,9 nghìn người (năm 2013), Việt Nam là nước đông dân thứ 3 ở Đông Nam Á (Tổng cục Thống kê, 2014) trong khi nguồn tài nguyên đất thì hạn hẹp Bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ở Việt Nam liên tục giảm từ 0,2 ha năm 1940 xuống còn 0,11 ha năm 2010 (Nguyễn Đình Bồng, 2011)

1.3.2.2 Hiện trạng và biến động sử dụng đất ở Việt nam

a Đất nông nghiệp

Diện tích đất nông nghiệp không ngừng được mở rộng, đến năm 2013 tổng diện tích đất nông nghiệp là 26.197,5 nghìn ha, tăng 5.431,9 ha (gấp 1,26 lần) so với năm 2000 Như vậy, trung bình mỗi năm diện tích đất nông nghiệp tăng hơn 417,8 nghìn ha Trong đó lượng tăng chủ yếu là do mở rộng diện tích đất sản xuất nông nghiệp và đất lâm nghiệp

Trang 36

Đối với đất sản xuất nông nghiệp: Những chính sách khuyến khích đầu tư cơ

bản, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, khai hoang phục hóa mở rộng diện tích nên đất sản xuất nông nghiệp có sự gia tăng tương đối Từ năm 2000 đến năm 2013, diện tích đất sản xuất nông nghiệp tăng lên 1.233,3 nghìn ha, trung bình mỗi năm tăng khoảng 94,9 nghìn ha Diện tích đất sản xuất nông nghiệp tăng lên, chủ yếu ở các vùng đồng bằng Sông Cửu Long, Tây Nguyên và khu vực trung du miền núi phía Bắc Sự gia tăng đất sản xuất nông nghiệp có thể xuất phát từ việc chuyển đổi

từ đất chưa sử dụng, đất lâm nghiệp

Bảng 1.3 Hiện trạng và biến động đất nông nghiệp giai đoạn 2000 – 2013

2 Đất lâm nghiệp 11575,4 15346,1 15405,8 3770,7 59,7 3830,4

3 Đất nuôi trồng thuỷ sản 367,8 690,2 710,0 322,4 19,8 342,2

Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012, 2014)

Tuy nhiên, trong đất sản xuất nông nghiệp diện tích đất trồng lúa có sự suy giảm đáng kể (170,7 nghìn ha), trung bình năm giảm 13,1 nghìn ha Có 41/63 tỉnh

Trang 37

thành giảm diện tích đất trồng lúa Nguyên nhân là do chuyển từ đất trồng lúa kém hiệu quả sang các loại đất nông nghiệp khác như đất trồng rau, màu, cây ăn quả, nuôi trồng thủy sản hoặc sang các loại đất phi nông nghiệp như đất sản xuất kinh doanh, đất ở, đất có mục đích công cộng

Đối với đất lâm nghiệp: Do có các biện pháp hợp lý về bảo vệ, khoanh nuôi

tái sinh rừng và chương trình trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc nên diện tích đất lâm nghiệp của cả nước tăng Từ năm 2000 đến năm 2013 diện tích đất lâm nghiệp của cả nước tăng 3.830,4 nghìn ha Đến năm 2013 diện tích đất lâm nghiệp của cả nước là 15.405,8 nghìn ha chiếm 46,5% tổng diện tích tự nhiên của cả nước,

độ che phủ rừng là 41,0% (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2014)

Diện tích đất lâm nghiệp tăng nhanh nhưng chất lượng rừng lại giảm sút Năm

1943 cả nước có gần 10 triệu ha là rừng giàu chiếm 70% diện tích rừng tự nhiên, tuy nhiên hiện nay chỉ có 9% là rừng giàu, 33% là rừng trung bình và khoảng 58%

là rừng nghèo

Đối với đất nuôi trồng thủy sản: Diện tích đất nuôi trồng thủy sản có sự tăng

lên đáng kể Đến năm 2013 diện tích đất nuôi trồng thủy sản của cả nước là 710,0

ha tăng 432,2 ha so với năm 2000

Đất làm muối: Diện tích đất làm muối có sự suy giảm từ năm 2000 đến 2010,

tuy nhiên từ 2010 đến 2013 diện tích đất làm muối tăng lên Tính chung cả giai đoạn đất làm muối giảm đi 1,0 nghìn ha

Đất nông nghiệp khác: Diện tích đất nông nghiệp có sự thay đổi đáng kể theo

xu hướng ngày càng tăng

b Đất phi nông nghiệp

Năm 2000 diện tích đất phi nông nghiệp của nước ta là 2752,2 nghìn ha chiếm 8,3% tổng DTTN, hiện nay đất phi nông nghiệp có diện tích 3.777,4 nghìn

ha, chiếm 11,4% tổng DTTN Mặc dù tỷ lệ không cao nhưng từ năm 2000 đến 2013 tốc độ phát triển diện tích đất sử dụng cho mục đích phi nông nghiệp đã tăng 146,9%, trung bình mỗi năm loại đất này tăng lên 19,4 nghìn ha Trong đó, đất

Trang 38

chuyên dùng gia tăng mạnh nhất, sau đó đến đất ở và đất tôn giáo tín ngưỡng Riêng đất sông, suối và mặt nước chuyên dùng lại giảm mạnh

Bảng 1.4 Hiện trạng và biến động đất phi nông nghiệp giai đoạn 2000 - 2013

Đất nghĩa trang, nghĩa địa 93,7 101,0 101,5 7,3 0,5 7,8 Đất sông, suối và mặt

nước chuyên dùng 1143,1 1075,8 1076,9 -67,3 1,1 -66,2

Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012, 2014)

Đất ở: Giai đoạn 2000 – 2010 đất ở tăng 237,3 nghìn ha, bình quân mỗi năm

tăng 23,7 nghìn ha Hiện nay, tốc độ tăng đất ở có xu hướng chậm lại đến năm 2013 đất ở chỉ tăng 14,8 nghìn ha so với năm 2010

Đất chuyên dùng: Giai đoạn 2000 – 2013 diện tích đất chuyên dùng trên cả

nước tăng 812,2 nghìn ha, trung bình mỗi năm loại đất này tăng lên 62,5 nghìn ha

Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng: Đến năm 2013 diện tích đất sông suối

và mặt nước chuyên dùng là 1076,9 nghìn ha, giảm 66,2 nghìn ha so với năm 2000

Các loại đất khác: Đất tôn giáo tín ngưỡng, đất nghĩa trang nghĩa địa và đất

nông nghiệp khác đều tăng, trong đó đất tôn giáo tính ngưỡng tăng mạnh nhất với 15,1 nghìn ha, đây là con số không nhỏ

c Đất chưa sử dụng

Quỹ đất chưa sử dụng được khai thác đưa vào sử dụng phục vụ mục đích

Trang 39

nông nghiệp và phi nông nghiệp đã làm cho diện tích đất chưa sử dụng giảm mạnh

và đáng kể Năm 2000, diện tích đất chưa sử dụng chiếm 30,5% DTTN Đến năm

2013 diện tích đất chưa sử dụng là 2.948,3 nghìn ha chiếm 8,9% DTTN Điều này cũng cho thấy thực tế là quỹ đất chưa sử dụng của nước ta còn lại không nhiều

1.3.2.3 Nhận xét chung

Nhìn chung từ năm 2000 đến nay, diện tích đất nông nghiệp tăng lên chủ yếu

là do mở rộng diện tích đất sản xuất nông nghiệp và đất lâm nghiệp nhưng diễn ra không đồng đều đối với các vùng miền trong cả nước Ở khu vực đồng bằng sông Hồng diện tích đất nông nghiệp giảm mạnh do sự gia tăng về quy mô diện tích đất

sử dụng cho các mục đích phi nông nghiệp như xây dựng các công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi, nhà ở và các công trình công cộng khác

Diện tích đất lâm nghiệp tăng nhanh chủ yếu là do chủ trương của nhà nước chuyển đổi từ đất chưa sử dụng sang đất trồng rừng nhằm phủ xanh đất trống, đồi núi trọc Mặc dù độ che phủ rừng tăng nhưng chất lượng rừng lại giảm sút nghiêm trọng, trong tổng diện tích đất có rừng thì chỉ có 61% diện tích rừng là có trữ lượng

Diện tích đất chưa sử dụng còn lại chủ yếu là đất đồi núi chưa sử dụng và núi

đá vì vậy không thể khai thác để sử dụng

Việc gia tăng các nhu cầu về quỹ đất phục vụ mục đích phi nông nghiệp như đất ở, đất chuyên dùng để phát triển kinh tế sẽ gây áp lực lớn đến diện tích đất nông nghiệp hiện tại và mục tiêu giữ vững đất nông nghiệp là thách thức đối với nhà quản

lý và hoạch định chính sách

1.4 Tình hình nghiên cứu biến động sử dụng đất trên thế giới và Việt Nam

1.4.1 Tình hình nghiên cứu biến động sử dụng đất trên thế giới

Biến động sử dụng đất là kết quả của sự tương tác phức tạp giữa con người

và môi trường Biến động sử dụng đất cũng ảnh hưởng tới con người và hệ thống tự

nhiên theo không gian và thời gian (Valbuena et al.,2010)

Trong thời gian đầu, những nghiên cứu về biến động sử dụng đất chỉ đơn giản là phát hiện những thay đổi sử dụng đất ở những khu vực cụ thể bằng kỹ thuật viễn thám và

GIS (Mas, 1999; Brandon and Bottomley, 1998; Halid, 1997… dẫn theo Muller, 2003)

Trang 40

Song song với việc xác định được biến động sử dụng đất và lớp phủ, các nhà khoa học đã nhận ra rằng biến động sử dụng đất và lớp phủ là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự biến đổi môi trường Vì vậy những nghiên cứu về biến động sử dụng dụng đất/lớp phủ lúc này tập trung phân tích những nguyên nhân, động lực thúc đẩy

và ảnh hưởng của biến động sử dụng đất đến các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái

Trước tiên phải kể đến dự án quốc tế về nghiên cứu biến động sử dụng đất và lớp phủ (LUCC – Land use and Cover Change) được thực hiện và điều hành bởi nhiều trường đại học và các viện nghiên cứu như Đại học Clark, Mỹ (1994-1996), Viện Cartografic de Catalunya, Tây Ban Nha (1997-1999) và Đại học Công giáo Louvain,

Bỉ (2000- 2005) Mục tiêu của dự án là tăng cường sự hiểu biết về những tác động của con người và động thái sinh lý của biến động đất đai đến những thay đổi về độ che phủ đất Dự án cũng nghiên cứu phát triển các mô hình toàn cầu để cải thiện năng lực dự đoán biến động sử dụng đất và lớp phủ ở những khu vực nhạy cảm

Tại Trung Quốc, một nghiên cứu về vấn đề này đã sử dụng tư liệu ảnh vệ tinh Landsat xác định được biến động sử dụng đất tại thành phố Daqing tỉnh Heilongjiang, từ năm 1997 đến 2007 Kết quả nghiên cứu cho thấy, đất xây dựng, đất nông nghiệp và đất chưa sử dụng tăng lên gấp đôi trong khi các vùng đất ngập nước giảm đi 60% Nguyên nhân dẫn đến thay đổi sử dụng đất ở khu vực nghiên

cứu là quản lý đất đai, dân số và các chính sách kinh tế xã hội (Yu et al., 2011)

Đáng chú ý là công trình nghiên cứu về hiện tại, xu hướng và tương lai của biến động sử dụng đất dưới tác động của chính sách được thực hiện bởi các tác giả thuộc Trung tâm thí nghiệm trọng điểm về sử dụng đất, Cục Điều tra và Quy hoạch đất đai, Bộ Tài nguyên và Đất đai Trung Quốc Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp ngoại suy tuyến tính và mạng nơ – ron thần kinh để chỉ ra rằng, không thể giữ được mục tiêu 0,12 tỷ ha đất canh tác trong tương lai nếu sử dụng các phương thức phát triển kinh tế trong giai đoạn 1996 – 2008 Kết quả nghiên cứu cũng khẳng định việc thực hiện pháp luật và các quy định về bảo tồn đất canh tác ảnh hưởng đáng kể

đến biến động sử dụng đất (Wang et al., 2012)

Ngày đăng: 07/03/2017, 07:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ tiến trình nghiên cứu thể hiện trên hình 2.1; 2.2. - Nghiên cứu biến động và đề xuất giải pháp quản lý sử dụng đất hợp lý huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh
Sơ đồ ti ến trình nghiên cứu thể hiện trên hình 2.1; 2.2 (Trang 65)
Hình 2.2. Sơ đồ đánh giá tác động của biến động sử dụng đất - Nghiên cứu biến động và đề xuất giải pháp quản lý sử dụng đất hợp lý huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh
Hình 2.2. Sơ đồ đánh giá tác động của biến động sử dụng đất (Trang 66)
Sơ đồ vị trí Thị huyện tiên yên - Nghiên cứu biến động và đề xuất giải pháp quản lý sử dụng đất hợp lý huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh
Sơ đồ v ị trí Thị huyện tiên yên (Trang 67)
Bảng 3.1. Một số yếu tố khí hậu của huyện Tiên Yên từ năm 2000 - 2010 - Nghiên cứu biến động và đề xuất giải pháp quản lý sử dụng đất hợp lý huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh
Bảng 3.1. Một số yếu tố khí hậu của huyện Tiên Yên từ năm 2000 - 2010 (Trang 69)
Hình 3.4. Cơ cấu dân tộc huyện Tiên Yên năm 2010 - Nghiên cứu biến động và đề xuất giải pháp quản lý sử dụng đất hợp lý huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh
Hình 3.4. Cơ cấu dân tộc huyện Tiên Yên năm 2010 (Trang 77)
Hình 3.6. Sai số và tọa độ điểm nắn ảnh 2005 - Nghiên cứu biến động và đề xuất giải pháp quản lý sử dụng đất hợp lý huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh
Hình 3.6. Sai số và tọa độ điểm nắn ảnh 2005 (Trang 82)
Hình 3.8. Một phần ảnh vệ tinh năm 2010 trước và sau phân tách ảnh - Nghiên cứu biến động và đề xuất giải pháp quản lý sử dụng đất hợp lý huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh
Hình 3.8. Một phần ảnh vệ tinh năm 2010 trước và sau phân tách ảnh (Trang 84)
Bảng 3.5. Mẫu phân loại ảnh - Nghiên cứu biến động và đề xuất giải pháp quản lý sử dụng đất hợp lý huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh
Bảng 3.5. Mẫu phân loại ảnh (Trang 86)
Bảng 3.9. Diện tích và cơ cấu các loại đất năm 2000, 2005 và 2010 - Nghiên cứu biến động và đề xuất giải pháp quản lý sử dụng đất hợp lý huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh
Bảng 3.9. Diện tích và cơ cấu các loại đất năm 2000, 2005 và 2010 (Trang 92)
Hình 3.13. Biểu đồ diện tích các lớp sử dụng đất năm 2000, 2005, 2010 - Nghiên cứu biến động và đề xuất giải pháp quản lý sử dụng đất hợp lý huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh
Hình 3.13. Biểu đồ diện tích các lớp sử dụng đất năm 2000, 2005, 2010 (Trang 96)
Hình 3.14. Bản đồ biến động sử dụng đất giai đoạn 2000 – 2005 - Nghiên cứu biến động và đề xuất giải pháp quản lý sử dụng đất hợp lý huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh
Hình 3.14. Bản đồ biến động sử dụng đất giai đoạn 2000 – 2005 (Trang 98)
Hình 3.18. Một số biến trong mô hình hồi quy - Nghiên cứu biến động và đề xuất giải pháp quản lý sử dụng đất hợp lý huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh
Hình 3.18. Một số biến trong mô hình hồi quy (Trang 106)
Hình 3.19 và 3.20 thể hiện sự thay đổi cơ cấu thu nhập của nhóm hộ 1 ở 2 xã  Đại Thành và Đông Ngũ - Nghiên cứu biến động và đề xuất giải pháp quản lý sử dụng đất hợp lý huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh
Hình 3.19 và 3.20 thể hiện sự thay đổi cơ cấu thu nhập của nhóm hộ 1 ở 2 xã Đại Thành và Đông Ngũ (Trang 121)
Hình 3.21. Độ che phủ rừng huyện Tiên Yên - Nghiên cứu biến động và đề xuất giải pháp quản lý sử dụng đất hợp lý huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh
Hình 3.21. Độ che phủ rừng huyện Tiên Yên (Trang 126)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w