- Phương thức nhờ thu phiếu trơn không thích hợp trong thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu, bởi vì nếu người mua không tốt thì họ có thể nhận hàng nhưng lại có thể gây khó dễ cho việc trả
Trang 2Lời nói đầu
Trong thời gian qua, nước ta đã và đang đang thực hiện cải cách kinh tế theo hướng
mở cửa, trên nguyên tắc "Hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi", và với tinh thần "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả" Một chủ trương như vậy chắc chắn sẽ đưa nền kinh tế Việt Nam hòa nhập vào nền kinh tế thế giới, tham gia ngày càng sâu vào quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế
Trong quá trình đó giao lưu thương mại của Việt Nam và thế giới ngày càng phát triển đòi hỏi mặt dịch vụ kinh tế đối ngoại phát triển tương ứng Trong đó hoạt động thanh toán quốc tế có vai trò hết sức quan trọng
Thông qua thanh toán quốc tế, giá trị hàng hóa xuất-nhập khẩu được thực hiện, hiệu quả thanh toán ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích của các bên tham gia xuất-nhập khẩu, do đó việc kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế là yêu cầu thường xuyên, bức thiết đối với mỗi ngân hàng thương mại
Trước năm 1990 ở Việt Nam, hoạt động thanh toán quốc tế do một ngân hàng ngoại thương đảm nhiệm, chủ yếu là thanh toán với các nước XHCN theo những phương thức thanh toán đơn giản, thuận lợi như phương thức ghi sổ,vv Hiện nay ta thực hiện đa phương hóa quan hệ thương mại, thanh toán chủ yếu vẫn theo các phương thức thanh toán thông dụng quốc tế như ghi sổ, nhờ thu, tín dụng chứng từ và nhiều ngân hàng thương mại cạnh tranh với nhau trong hoạt động thanh toán và tín dụng quốc tế
Từ thực tế đó, việc nghiên cứu hoạt động thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam là một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn Tuy nhiên để nghiên cứu một cách toàn diện về cơ chế tổ chức của hệ thống thanh toán quốc tế, từ đó hoàn thiện các phương thức thanh toán là việc rất khó khăn, đòi hỏi phải có thời gian, sự hiểu biết sâu sắc
cả về lí luận cũng như thực tiễn trong lĩnh vực này
Với hiểu biết hạn hẹp của một sinh viên, với thời gian thực tập chưa nhiều tại Hội
Sở Giao Dịch Trung Ương Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và sự giúp đỡ của giảng
Trang 3viên Hoàng Xuân Quế, trong bài viết này em chỉ xin nêu được những hiểu biết sơ lược về lĩnh vực thanh toán quốc tế và một vài suy nghĩ của bản thân em về hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong công tác thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu thương mại
Theo hướng trên, bài viết này em xin trình bày như sau:
Lời Nói Đầu
Chương I: Những vấn đề cơ bản về thanh toán quốc tế theo phương thức tín
dụng chứng từ
Chương II: Thực trạng về công tác thanh toán xuất nhập khẩu thương mại theo
phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Chương III: Một số giải pháp để nâng cao công tác thanh toán xuất nhập khẩu theo
phương thức tín dụng chứng từ
Kết Luận
Trang 4Chương I Những vấn đề cơ bản về thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
I.Vai trò của thanh toán quốc tế
1 Thanh toán quốc tế
Trong hoạt động thương mại quốc tế, việc thanh toán có thể diễn ra dưới các hình thức như dùng hàng đổi hàng hay chỉ trả bằng tiền tệ Khi chế độ tiền tệ, tín dụng phát triển thì quan hệ thanh toán quốc tế phát triển thành một hệ thống thanh toán hoàn chỉnh, dựa trên cơ sở một hệ thống các ngân hàng thương mại đảm nhiệm toàn bộ quá trình thanh toán
Thanh toán quốc tế phản ánh sự vận động có tính chất độc lập tương đối của giá trị trong quá trình chu chuyển tư bản và hàng hóa giữa các quốc gia, do sự không cân bằng đồng thời giữa sản xuất, tiêu thụ, đầu tư tín dụng giữa các bên tại một thời điểm nhất định
Về bản chất thanh toán quốc tế là chỉ việc chi trả lẫn nhau giữa các quốc gia để hoàn tất các khoản về xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, đầu tư vốn, vay nợ, viện trợ dưới hình thức chuyển tiền hay hình thức thanh toán bù trừ
2 Vai trò của thanh toán quốc tế đối với việc phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam
Với sự gia tăng mạnh mẽ của giao lưu kinh tế quốc tế, mối liên hệ giữa các quốc gia ngày càng mật thiết và dần hình thành một thị trường thế giới thống nhất Các quốc gia có vai trò như một chủ thể kinh tế trên thanh toán và cạnh tranh với nhau để phát triển Tuy nhiên sự cạnh tranh để phát triển tự nó lại phát sinh nhu cầu hợp tác và phân công lao động quốc tế nhằm giải quyết những nhu cầu về tiền vốn, công nghệ, nhân lực, tài nguyên và thị trường tiêu thụ
Trang 5Tham gia vào quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế, các quốc gia có điều kiện tốt nhất để phát triển kinh tế Thực tế cho thấy các nước phát triển đồng thời là những quốc gia tham gia mạnh mẽ vào phân công lao động quốc tế Các quốc gia chậm phát triển
có chính sách phát triển kinh tế hướng ngoại đều đạt một tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nhanh chóng vươn lên đạt trình độ tiên tiến Ngày nay các quốc gia đều thay đổi chiến lược phát triển kinh tế, thực hiện chính sách kinh tế hướng ngoại, mở cửa để thu hút đầu
tư, công nghệ, phát triển giao lưu thương mại quốc tế
Việt Nam đang trên con đường cải cách và mở cửa nền kinh tế, nỗ lực tạo lập một môi trường thuận lợi cho quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế, trong đó tập trung vào việc cải tạo cơ sở hạ tầng, dịch vụ thông tin, dịch vụ ngân hàng và thanh toán quốc tế
Về hoạt động ngân hàng, sau khi có hai pháp lệnh ngân hàng và công ty tài chính, hợp tác xã tín dụng ra đời, chúng ta đã có một hệ thống ngân hàng hoạt động theo cơ chế thị trường, đáp ứng tốt hơn quá trình lưu thông tiền tệ, tín dụng và thanh toán Trong đó thanh toán quốc tế đóng một vai trò hết sức to lớn bởi vì thông qua thanh toán quốc tế giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu mới được thực hiện qua các khoản tín dụng, đầu tư và mọi giao dịch đối ngoại
Với chính sách kinh tế mở cửa, hướng ngoại đòi hỏi chúng ta phải tổ chức tốt hoạt động ngân hàng đối ngoại, đặc biệt là khâu thanh toán quốc tế, đảm bảo một điều kiện thuận lợi cho quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế của Việt Nam chắc chắn ngày càng phát triển
Thanh toán quốc tế là khâu cuối cùng của quá trình lưu thông hàng hóa và dịch vụ Thanh toán trong nội bộ một quốc gia đã phức tạp, thanh toán quốc tế còn phức tạp và khó khăn hơn do ảnh hưởng của các yếu tố tiền tệ, tín dụng, ngân hàng; sự khác biệt về ngôn ngữ, tập quán cũng như khả năng kiểm soát toàn bộ quá trình từ sản xuất, lưu thông cho đến thanh toán Nếu nghiệp vụ thanh toán mà không theo kịp với nhu cầu phát triển kinh tế thì nó sẽ là một nhân tố kìm hãm sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế
Trang 6Do đó việc đổi mới và hoàn thiện hệ thống thanh toán quốc tế là một yêu cầu cấp bách, thường xuyên đối với bất cứ một quốc gia nào Nghiên cứu về thanh toán quốc tế giúp ta có đánh giá đúng đắn về thực trạng hoạt động ngoại thương của Việt Nam, từ đó có biện pháp cải tiến, hoàn thiện và nâng cao hơn nữa hiệu quả của hoạt động thanh toán quốc
tế
II Các phương thức thanh toán quốc tế
Hoạt động thanh toán ở bất cứ một quy mô nào cũng phải đạt được yêu cầu về việc đảm bảo quyền lợi của các bên tham gia Trong hoạt động thương mại quốc tế, quyền lợi của người bán là phải thu được tiền hàng đầy đủ, nhanh chóng với chi phí thấp nhất; với người mua thì phải nhận được hàng hoá đúng số lượng, đảm bảo chất lượng và thời gian giao hàng; còn với trung gian thanh toán thì lợi ích là các khoản tiền hoa hồng và sự an toàn trong kinh doanh
Việc đảm bảo quyền lợi của các bên tham gia trong buôn bán thương mại quốc tế phụ thuộc vào các đIều kiện thanh toán như: tiền tệ, địa điểm, thời gian, phương thức thanh toán Vì vậy, trong hoạt động thanh toán thương mại quốc tế dần dần hình thành nên các phương thức thanh toán được thống nhất áp dụng Ngày nay trong thanh toán quốc tế những phương thức chủ yếu sau thường được sử dụng
1 Phương thức chuyển tiền (Remittance)
1.1 Khái niệm
Phương thức chuyển tiền là phương thức thanh toán trong đó khách hàng (người trả tiền) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người hường lợi) ở một địa điểm nhất định bằng một phương tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu
Trang 7Phương thức chuyển tiền là phương thức đơn giản, thuận lợi và hết ít chi phí ngân hàng Theo phương thức này việc thanh toán là thanh toán trực tiếp giữa bên mua và bên bán ngân hàng chỉ giữ vai trò trung gian Trong thời gian luân chuyển, số tiền này vẫn thuộc bên mua
Phương thức chuyển tiền có nhược điểm là việc trả tiền cho người bán phụ thuộc vào người mua Bởi vậy quyền lợi của bên bán không được đảm bảo Ngược lại trường hợp bên bán nhận được tiền trước thì cũng không biết được việc giao hàng của bên bán có đúng hợp đồng hay không, gây tình trạng ứ đọng vốn, giảm vòng quay của vốn
Phương thức này không đảm bảo quyền lợi cho các bên mua bán trong thanh toán xuất nhập khẩu thương mại
1.2 Các bên tham gia
a Người trả tiền (người mua, người mắc nợ) hoặc người chuyển tiền (người đầu tư, kiều bào chuyển tiền về nước, người chuyển kinh phí ra nước ngoài) là người yêu cầu chuyển tiền ra nước ngoài
b Người hưởng lợi (người bán, chủ nợ, người tiếp nhận vốn đầu tư, hoặc người nào
đó do người chuyển tiền chỉ định)
c Ngân hàng chuyển tiền là ngân hàng thực hiện lệnh chuyển tiền (thông thường là ngân hàng nước người trả tiền)
d Ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển tiền thông thường là ngân hàng ở nước người hưởng lợi
Trang 81
1 Giao dịch thương mại
2 Viết đơn yêu cầu chuyển tiền (bằng thư/điện) cùng với ủy nhiệm chi (nếu có tài khoản tại ngân hàng)
3 Chuyển tiền ra nước ngoài cho ngân hàng đại lý
4 Chuyển tiền cho người nhận
1.4 Trường hợp áp dụng
1 Trả tiền nhập khẩu với nước ngoài
- Khi nào thì chuyển tiền: Thường là ngay sau khi nhận xong hàng hoá, hoặc là sau khi
nhận được chứng từ hàng hoá, cũng có khi chuyển tiền trước khi giao hàng
- Số tiền được chuyển dựa vào:
+ Trị giá của hoá đơn thương mại
+ Kết quả của việc nhận hàng về số lượng và chất lượng để quy ra số tiền phải trả
- Chuyển tiền bằng thư chậm hơn chuyển tiền bằng điện, SWIFT
2 Thanh toán trong lĩnh vực phi mậu dịch
3 Thanh toán các chi phí có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá (tiền phạt trả tiền ứng trước, hoa hồng, chuyển vốn ra nước ngoài đầu tư, chuyển kiều hối )
4 Chuyển tiền kiều hối
1.5 Các yêu cầu chuyển tiền
1 Muốn chuyển tiền phải có giấy phép của Bộ chủ quản hoặc Bộ Tài Chính
Trang 9- Hợp đồng mua bán ngoại thương
- Giấy phép xuất nhập khẩu và quota nhập khẩu
- ủy nhiệm chi ngoại tệ và phí chuyển tiền
3 Viết đơn chuyển tiền qua Vietcombank hoặc một ngân hàng thương mại nào đó được phép thanh toán quốc tế ghi đủ:
- Tên, địa chỉ của người hưởng lợi, số tài khoản nếu người hưởng lợi yêu cầu
- Số ngoại tệ xin chuyển cần ghi rõ bằng số, chữ và các loại ngoại tệ xin chuyển
Lưu ý: - Đây là một phương thức thanh toán không có sự tham gia của các ngân hàng với chức năng là người mở tài khoản và thực thi thanh toán
- Chỉ mở tài khoản đơn biên, không mở tài khoản song biên Nếu người mua
mở tài khoản để ghi thì tài khoản ấy chỉ là tài khoản theo dõi, không có giá trị thanh toán giữa hai bên
- Chỉ có hai bên tham gia thanh toán: người bán và người mua
Trang 102.3 Ưu nhược điểm
- Ưu điểm: Phương thức này tạo điều kiện thuận lợi cho người nhập khẩu mua hàng
hoá mà chưa phải trả tiền ngay Thực chất đây là một hình thức tín dụng mà người bán dành cho người mua
- Nhược điểm: Mức độ rủi ro lớn do việc trả tiền phụ thuộc vào người mua, thời gian thu hồi vốn của nhà xuất khẩu chậm
2.4 Trường hợp áp dụng
- Thường dùng cho thanh toán nội địa
- Hai bên mua bán phải thật sự tin cậy nhau
- Dùng trong phương thức mua bán hàng đổi hàng, nhiều lần thường xuyên trong một định kỳ nhất định (6 tháng, 1 năm)
- Phương thức này chỉ lợi cho người mua
- Dùng cho thanh toán tiền gửi bán hàng ở nước ngoài
- Dùng trong thanh toán phi mậu dịch như tiền cước phí vận tải, phí bảo hiểm, tiền hoa hồng trong nghiệp vụ môi giới, uỷ thác, tiền lãi trong cho vay và đầu tư
Trang 11 Khi áp dụng cần chú ý:
- Quy định thống nhất đồng tiền ghi trên tài khoản
- Căn cứ ghi nợ của người bán là hoá đơn giao hàng
- Căn cứ nhận nợ của người mua là:
+ Dựa vào giá trị hoá đơn giao hàng
+ Dựa vào kết quả nhận hàng ở nơi nhận hàng
- Phương thức chuyển tiền bằng thư, điện cần phải thống nhất thỏa thuận của hai bên
- Giá hàng trong phương thức ghi sổ thường cao hơn giá hàng bán ngay Chênh lệch này là tiền lãi phát sinh ra của số tiền ghi sổ trong khoảng thời gian bằng định kỳ thanh toán theo mức lãi suất được người mua chấp nhận
- Định kỳ thanh toán có hai cách quy định:
+ Quy định x ngày kể từ ngày giao hàng đối với từng chuyến hàng
+ Quy định theo mốc thời gian của niên lịch
- Việc chuyển tiền thanh toán chậm của người mua được giải quyết như thế nào, có phạt trả chậm không, mức phạt bao nhiêu, tính như thế nào?
- Nếu phát sinh sự khác nhau giữa số tiền ghi nợ của người bán và số tiền nhận nợ của người mua thì giảI quyết như thế nào?
3 Phương thức thanh toán nhờ thu (Collection Payment)
3.1 Khái niệm
Phương thức thanh toán nhờ thu là phương thức thanh toán trong đó người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho khách hàng, ủy thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền ở người mua trên cơ sở hối phiếu của người bán lập ra
Trang 123.2 Các bên tham gia
a Người nhờ thu là bên giao chỉ thị nhờ thu cho ngân hàng (thường là người bán hoặc cung ứng dịch vụ)
b Ngân hàng chuyển là ngân hàng mà người nhờ thu giao chứng từ và chỉ thị nhờ thu
c Ngân hàng xuất trình là ngân hàng nhận nhờ thu từ ngân hàng chuyển để xuất trình chứng từ đến người trả tiền
d Người trả tiền là người mà chứng từ xuất trình để đòi tiền theo chỉ thị nhờ thu 3.3 Các loại nhờ thu
3.3.1 Nhờ thu phiếu trơn
Là phương thức trong đó người bán hoặc người cung ứng dịch vụ ủy thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra, còn chứng
từ hàng hóa thì gửi thẳng cho người mua không qua ngân hàng
1 Người bán giao hàng lập bộ chứng từ giao hàng gửi thẳng cho người mua
2 Người bán ký phát hối phiếu đòi tiền người mua và nhờ ngân hàng thu hộ tiền hối
Trang 133 Ngân hàng bên bán chuyển hối phiếu cho ngân hàng bên mua để yêu cầu trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền
4 Ngân hàng bên mua chuyển hối phiếu cho người mua để trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền
5 Người mua trả tiền mặt hoặc từ chối trả tiền
6 Ngân hàng bên mua chuyển trả tiền hoặc hoàn lại hối phiếu bị từ chối trả tiền cho ngân hàng bên bán
7 Ngân hàng bên bán chuyển tiền hoặc trả lại hối phiếu bị từ chối trả tiền cho người bán
- Phương thức nhờ thu phiếu trơn không thích hợp trong thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu, bởi vì nếu người mua không tốt thì họ có thể nhận hàng nhưng lại có thể gây khó dễ cho việc trả tiền cho người bán hoặc người mua trả tiền hối phiếu (đối với hối phiếu trả tiền ngay) nhưng họ không biết người bán giao hàng như thế nào vì chứng từ gửi hàng không đi kèm hối phiếu, tốc độ thanh toán theo cách này chậm và ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian đơn thuần mà thôi Do đó trong Ngân hàng Ngoại thương ít dùng phương thức này
- Phương thức nhờ thu phiếu trơn được áp dụng trong các trường hợp sau:
+ Người bán và người mua tin cậy lẫn nhau hoặc có quan hệ liên doanh với nhau dưới dạng công ty mẹ và công ty con hoặc là chi nhánh của nhau
+ Thanh toán về các dịch vụ có liên quan tới xuất-nhập khẩu hàng hóa, vì việc thanh toán này không cần thiết phải kèm theo chứng từ như tiền cước phí vận tải, bảo hiểm, phạt bồi thường
3.3.2 Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary collection)
Là phương thức trong đó người bán sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ, lập bộ chứng từ thanh toán nhờ thu (chứng từ gửi hàng và hối phiếu) và
Trang 14chấp nhận trả tiền thì ngân hàng mới trao toàn bộ chứng từ gửi hàng cho người mua để họ nhận hàng
Tuỳ theo thời hạn trả tiền mà phương thức này chia làm hai loại:
Nhờ thu trả tiền đổi chứng từ (Documents against payment - D/P )
Được sử dụng trong trường hợp mua bán trả tiền ngay
- Trình tự tiến hành nghiệp vụ:
1 Người bán giao hàng cho người mua
2 Người bán lập bộ chứng từ thanh toán (hối phiếu + chứng từ gửi hàng) nhờ ngân hàng thu hộ
3 Ngân hàng chuyển toàn bộ bộ chứng từ thanh toán cho ngân hàng bên mua và nhờ ngân hàng này thu hộ tiền ở người mua
4 Ngân hàng bên mua yêu cầu người mua trả tiền hối phiếu để nhận chứng từ đi nhận hàng, ngược lại nếu người mua từ chối trả tiền sẽ giữ lại bộ chứng từ và báo cho ngân hàng bên bán biết
5.6.7 Giống như trình tự nhờ thu phiếu trơn
Nhờ thu chấp nhận đổi chứng từ (Documents against acceptance - D/A)
Trình tự thanh toán giống như D/P nhưng khác ở chỗ người mua chỉ phải ký chấp nhận trả tiền vào hối phiếu thì sẽ được trao toàn bộ chứng từ gửi hàng Đến kỳ hạn trả tiền ghi trên hối phiếu, người mua sẽ chuyển trả tiền cho người bán theo các phương tiện thích hợp Trong nhờ thu kèm chứng từ, người bán ủy thác cho ngân hàng ngoài việc nhờ thu hộ tiền còn có việc nhờ ngân hàng khống chế bộ chứng từ hàng hoá đối với người mua Đây
là điểm khác nhau cơ bản với nhờ thu phiếu trơn Với cách khống chế chứng từ như vậy, quyền lợi của người bán được đảm bảo hơn
Trong giấy uỷ nhiệm ngân hàng thu hộ, người bán thường nêu rõ cách sử lý để ngân hàng căn cứ vào đó mà giải quyết khi xảy ra những tình huống cụ thể:
Trang 151 Có nên hay không nên yêu cầu người mua trả tiền ngay khi ngân hàng giao bộ chứng từ hoặc chờ đến khi hàng đến bên người mua thì mới trả tiền
2 Trả tiền theo tỷ giá nào, nếu như hối phiếu và hoá đơn được lập theo một loại tiền
mà được trả theo một loại khác
3 Phải xử lý như thế nào trong thường hợp hàng hoá đến sớm hơn vận tải đơn Có thể nêu rõ là người mua trả tiền theo hoá đơn khi có sự đảm bảo của ngân hàng là vận đơn
sẽ được giao cho người mua ngay sau khi ngân hàng nhận được Trong những trường hợp khác, uỷ nhiệm ngân hàng lưu kho hàng hoá cho đến khi nhận được chứng từ
4 Ngân hàng phải xử lý như thế nào khi người mua từ chối chấp nhận trả tiền hoặc người mua không có khả năng thanh toán
Tuy nhiên nhờ thu kèm chứng từ còn bộc lộ nhược điểm là mặc dù người bán thông qua ngân hàng mới chỉ khống chế được quyền định đoạt hàng hóa của người mua, nhưng chưa khống chế được việc trả tiền của người mua, người mua có thể kéo dài việc trả tiền bằng cách dây dưa chưa nhận chứng từ hàng hóa hoặc có thể không trả tiền cũng được nếu tình hình thị trường bất lợi cho họ hoặc người mua về mặt tài chính thiếu hụt không có khả năng thanh toán Mặt khác việc trả tiền còn quá chậm, từ lúc gửi hàng cho đến khi nhận được tiền trong phương thức này có khi kéo dài vài tháng hoặc nửa năm Trong phương thức này, ngân hàng chỉ có vai trò là người trung gian thu tiền hộ, còn không có trách nhiệm đến việc trả tiền của người mua
- Thường được áp dụng trong những trường hợp sau:
+ Số tiền hàng xuất khẩu thường là hàng mẫu
+ Hàng xuất khẩu chưa ký hợp đồng, chỉ gửi bán hoặc trường hợp khó bán nhờ người nhập khẩu tiêu thụ hộ
+ Người xuất khẩu không thực hiện đúng các điều kiện của thư tín dụng phải chuyển sang uỷ thác thu
Trang 163.3.3 Vấn đề sử dụng phương thức nhờ thu
Văn bản pháp lý thông dụng của phương thức nhờ thu là bản “ Quy tắc thống nhất
về nhờ thu chứng từ thương mại” của phòng thương mại quốc tế, bản sửa đổi năm 1995 số xuất bản 522 có hiệu lực từ 1-1-1996
Muốn sử dụng được bản quy tắc này, hai bên mua và bán phải thống nhất quy định trong hợp đồng Hiện nay phương thức này còn được áp dụng trong các trường hợp như xuất khẩu thăm dò thị trường đối với những mặt hàng mới bán trong thị trường lần đầu, mặt hàng có giá trị thấp, chất lượng không đồng đều, hoặc trong trường hợp áp dụng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ mà bộ chứng từ có sai sót nghiêm trọng khoong khắc phục được thì người bán cũng lập bộ chứng từ thanh toán nhờ thu qua ngân hàng của mình Trong trường hợp người mua từ chối thanh toán vì lý do nào đó thì khi đó người bán phải tự giải quyết việc bán số hàng đã gửi đi này Lúc này quyền lợi của bên bán sẽ thiệt hại
4 Phương thức tín dụng chứng từ (Documentary Credit)
Đây là phương thức thanh toán thông dụng nhất hiện nay, khối lượng thanh toán ngày càng rộng lớn, do đó Phòng Thương Mại Quốc tế tại Pari đã ban hành quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ để các bên xuất khẩu và nhập khẩu, các ngân hàng
có liên quan đến nhu cầu áp dụng, nhằm tránh những sự hiểu lầm đáng tiếc có thể xảy ra 4.1 Khái niệm
Phương thức tín dụng chứng từ là một cam kết thanh toán có điều kiện của ngân hàng Một cách đầy đủ hơn, tín dụng chứng từ là một văn bản cam kết của một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng - Issuing Bank) cho người bán (hoặc người hưởng lợi - Beneficiary) theo yêu cầu và sự chỉ thị của người mua (Applicant) để trả ngay hoặc tới một thời điểm xác định trong phạm vi thời hạn đã xác định và căn cứ vào các chứng từ đã được quy định
Trang 174.2 Các bên tham gia
- Người mua tức là người yêu cầu mở L/C (the Applicant for the Credit)
- Người hưởng lợi L/C tức là người bán, người xuất khẩu hay bất cứ người nào khác
do người bán chỉ định (the Benificiary)
- Các ngân hàng thường có rất ít, nhất là ngân hàng mở L/C (the Issuing Bank), ngân hàng thông báo ( the Advising Bank ) ngoài ra còn có thể có các ngân hàng khác tham gia như:
+ Ngân hàng xác nhận (the Confirming Bank)
+ Ngân hàng hoàn trả (the Reimbursing Bank) tức là một ngân hàng khác được ngân hàng mở L/C hoặc ngân hàng xác nhận chỉ định thay mình trả tiền
+ Ngân hàng chuyển tiền (the Remitting Bank) tức là ngân hàng chuyển chứng từ
+Ngân hàng chiết khấu (the Negotiating Bank) là ngân hàng đứng ra mua hối phiếu hay thương lượng chứng từ do người bán ký phát cho ngân hàng theo yêu cầu của ngân hàng mở L/C
Trong thực tế, nghiệp vụ về tín dụng chứng từ không nhất thiết phải có đủ các loại ngân hàng nói trên cùng tham gia Thông thường chỉ có 3 ngân hàng tham gia là ngân hàng
mở, ngân hàng thông báo và ngân hàng hoàn trả
4.3 Trình tự tiến hành nghiệp vụ
2
Trang 183 Khi nhận được L/C này, ngân hàng thông báo sẽ thông báo toàn bộ nội dung về việc mở L/C đó và chuyển bản gốc L/C cho người xuất khẩu
4 Ngườixuất khẩu nếu chấp nhận L/C thì tiến hành giao hàng, nếu có điều nào trong L/C chưa thoả mãn thì tiến hành đề nghị mở sửa đổi L/C, bổ sung L/C cho phù hợp với hợp đồng
5 Sau khi giao hàng, người xuất khẩu tiến hành lập bộ chứng từ thanh toán theo yêu cầu của L/C xuất trình thông qua ngân hàng thông báo hoặc một ngân hàng nào đó (nếu L/C không hạn chế thanh toán) để yêu cầu đòi tiền ngân hàng này kiểm tra chứng từ
và làm thủ tục đổi tiền theo chỉ thị của L/C và gửi chứng từ cho ngân hàng mở L/C
6 Ngân hàng mở L/C kiểm tra bộ chứng từ thanh toán, nếu thấy phù hợp với L/C thì tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu, nếu thấy không phù hợp thì từ chối thanh toán
và gửi trả lại toàn bộ chứng từ cho ngân hàng gửi chứng từ
7 Ngân hàng mở L/C đòi tiền người nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ hàng hóa cho người nhập khẩu
8 Người nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì hoàn trả tiền lại cho ngân hàng mở L/C, nếu không phù hợp thì có quyền từ chối trả tiền
Người nhập khẩu
Người xuất khẩu
Trang 19III Thư tín dụng thương mại là công cụ quan trọng của phương thức tín dụng chứng
từ
Thư tín dụng (Letter of Credit - L/C) là văn bản pháp lý trong đó ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu, nếu họ xuất trình được một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với nội dung của L/C đó
Thư tín dụng có tính chất quan trọng, nó hình thành trên cơ sở hợp đồng mua bán tức là phải căn cứ vào nội dung và yêu cầu của hợp đồng Người nhập khẩu làm đơn yêu cầu mở L/C và sau khi L/C đã được mở rồi thì nó hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán
1 Nội dung chủ yếu của L/C
1.1 Số hiệu, địa điểm, ngày mở L/C
- Tất cả các L/C đều phải có số hiệu riêng của nó Tác dụng của số hiệu là dùng để trao đổi, thư từ, điện tín có liên quan đến việc thực hiện L/C
- Địa điểm mở L/C là nơi mà ngân hàng mở L/C viết cam kết trả tiền cho người xuất khẩu Địa điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn luật pháp áp dụng khi xảy ra tranh chấp nếu có xung đột pháp luật về L/C đó
- Ngày mở L/C là ngày bắt đầu phát sinh sự cam kết của ngân hàng mở L/C với người xuất khẩu, là ngày ngân hàng mở L/C với người xuất khẩu chính thức chấp nhận đơn xin mở L/C của người nhập khẩu, là ngày bắt đầu tính thời gian hiệu lực của L/C và cuối cùng là ngày căn cứ để người xuất khẩu kiểm tra xem người nhập khẩu thực hiện việc
mở L/C có đúng thời hạn quy định trong hợp đồng hay không
1.2 Tên, địa chỉ những người liên quan đến L/C
Những người liên quan đến L/C được chia làm hai loại:
Trang 20* Các thương nhân: Bao gồm người nhập khẩu (người mở L/C)và người xuất khẩu (người hưởng lợi)
* Các ngân hàng liên quan đến L/C: Bao gồm ngân hàng mở L/C, ngân hàng thông báo, ngân hàng hoàn trả, ngân hàng xác nhận ngân hàng chiết khấu
- Ngân hàng mở L/C (the Opening Bank or the Issuing Bank) là ngân hàng được hai bên mua bán thỏa thuận lựa chọn và quy định trong hợp đồng, nếu chưa có quy định trước thì người nhập khẩu có quyền lựa chọn Quyền lợi và nghĩa vụ của ngân hàng mở L/C như sau:
+ Căn cứ vào đơn xin mở L/C của người nhập khẩu để mở L/C và tìm cách thông báo nội dung L/C đó cùng với việc gửi bản gốc L/C cho người xuất khẩu Thông thường việc thông báo và gửi L/C cho người xuất khẩu phải thông qua một ngân hàng đại
lý của mình ở nước người xuất khẩu
+ Sửa đổi, bổ sung những yêu cầu của người xin mở L/C, của người xuất khẩu đối với L/C đã được mở, nếu có sự đồng ý của họ
+ Kiểm tra chứng từ thanh toán của người xuất khẩu gửi đến, nếu thấy các chứng từ phù hợp với những điều quy định trong L/C và không mâu thuẫn lẫn nhau thì có thể thương lượng và trả tiền cho người xuất khẩu và đòi lại tiền ngân hàng người nhập khẩu, ngược lại thì từ chối thanh toán
+ Kiểm tra chứng từ thanh toán của người xuất khẩu gửi đến, ngân hàng chỉ chịu trách nhiệm kiểm tra “bề ngoài” của chứng từ xem có phù hợp với L/C hay không, chứ không chịu trách nhiệm về kiểm tra tính chất pháp lý của chứng từ, tính chất xác thực của chứng từ Mọi sự tranh chấp về tính chất “bên trong” của chứng từ là do người xuất khẩu và người nhập khẩu tự giải quyết
+ Ngân hàng được miễn trách nhiệm khi ngân hàng rơi vào các trường hợp bất khả kháng như chiến tranh, đình công, nổi loạn, khởi nghĩa, lụt lội, động đất, hoả hoạn Nếu L/C hết hạn giữa lúc đó, ngân hàng cũng không chịu trách nhiệm thanh toán
Trang 21+ Mọi hậu quả phát sinh do lỗi lầm của mình, ngân hàng mở L/C phải chịu trách nhiệm, ngân hàng được hưởng một khoản thủ tục phí mở L/C theo quy định của từng ngân hàng
- Ngân hàng thông báo (the Advising Bank): Thường là các ngân hàng đại lý của ngân hàng mở L/C ở nước người xuất khẩu Quyền lợi và nghiã vụ của ngân hàng thông báo như sau:
+ Khi nhận được điện thông báo của ngân hàng mở L/C về việc mở L/C, ngân hàng này sẽ chuyển toàn bộ nội dung L/C đã nhận được cho người xuất khẩu dưới hình thức văn bản
+ Ngân hàng thông báo chỉ chịu trách nhiệm chuyển nguyên văn bức điện đó, chứ không chịu trách nhiệm phải dịch, diễn giải các từ chuyên môn ra tiếng địa phương Nếu ngân hàng thông báo sai thì phảI chịu trách nhiệm Do đó cuối bức đIện mở L/C
thường có câu: “Please note that we assume no responsibility for any error and/or
ommision in the transmisson and/or translation of the cable” Tức là: “Xin lưu ý, chúng tôi
không chịu trách nhiệm về bất cứ sự lỗi lầm hay thiếu sót trong khi chuyển và dịch bức điện này”
+ Khi nhận được bộ chứng từ thanh toán của người xuất khẩu chuyển đến, ngân hàng phảI chuyển ngay và nguyên vẹn bộ chứng từ thanh toán đó đến ngân hàng mở L/C Ngân hàng không chịu trách nhiệm về những hậu quả phát sinh do sự chậm trễ hoặc mất mát chứng từ trên đường đi đến ngân hàng mở L/C, miễn là chứng minh được rằng mình đã gửi nguyên vẹn và đúng hạn bộ chứng từ đó qua bưu điện
- Ngân hàng hoàn trả (the Negotiating Bank or the Paying Bank): Có thể là ngân hàng thông báo mở L/C và có thể là một ngân hàng khác do ngân hàng mở L/C ủy nhiệm Nếu địa điểm trả tiền được quy định tại nước người nhập khẩu thì ngân hàng trả tiền thường là ngân hàng mở L/C Trách nhiệm của ngân hàng trả tiền giống như ngân hàng mở L/C khi nhận được bộ chứng từ thanh toán của người xuất khẩu gửi đến
Trang 22- Ngân hàng xác nhận (the Confirming Bank): Là ngân hàng đứng ra xác nhận cho ngân hàng mở L/C theo yêu cầu của họ, ngân hàng xác nhận thường là một ngân hàng lớn,
có uy tín trên thị trường tín dụng và tài chính quốc tế hoặc ngân hàng thông báo
Ngân hàng mở L/C phải yêu cầu một ngân hàng khác phải xác nhận cho mình sẽ làm giảm uy tín của mình Mặt khác, muốn được xác nhận thì ngân hàng mở L/C phải trả thủ tục phí rất cao và đôi khi phải đặt cọc trước, mức tiền đăt cọc có thể đạt tới 100% giá trị của thư tín dụng (full cash cover)
có thể được thanh toán, vì ngân hàng sẽ đưa ra lý do bộ chứng từ thanh toán không phù hợp với điều kiện quy định trong L/C Cách ghi tiền tốt nhất là ghi một số giới hạn mà người xuất khẩu có thể đạt được dù là hàng giao có tính chất nguyên chiếc hay cái rời 1.4 Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền và thời hạn giao hàng
- Thời hạn hiệu lực của L/C là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu, nếu người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ thanh toán trong thời hạn đó
và phù hợp với những điều kiện quy định trong L/C Thời hạn hiệu lực của L/C bắt đầu tính từ ngày mở L/C (Date of Issue) đến ngày hết hiệu lực (Date of Espiry)
- Thời hạn trả tiền ngay hay trả tiền về sau phụ thuộc vào quy định của hợp đồng Nếu việc đòi tiền bằng hối phiếu thì thời hạn trả tiền được quy định ở yêu cầu ký phát hối
phiếu Ví dụ: “Available agianst presentation of your draft at sight on Bank of Tokyo”
Trang 23(thanh toán khi xuất trình hối phiếu trả tiền ngay) Thời hạn trả tiền có thể nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C nếu như trả tiền ngay, hoặc có thể nằm ngoài thời hạn hiệu lực của L/C nếu như trả tiền có kì hạn Song có điều quan trọng là những hối phiếu có kỳ hạn phải được xuất trình để chấp nhận trong thời hạn hiệu lực của L/C
- Thời gian giao hàng (Date of Delivery): Thời hạn này cũng được ghi trong L/C và
do hợp đồng mua bán quy định Thời hạn giao hàng có thể có quan hệ chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của L/C
Trong trường hợp vì lý do nào đó, hai bên thoả thuận phải kéo dài thời hạn giao hàng thêm x ngày mà không đề cập đến việc kéo dài thời hạn hiệu lực của L/C, thì đương nhiên ngân hàng mở L/C cũng phải hiểu rằng thời hạn hiệu lực mặc nhiên cũng được kéo dài thêm x ngày sau đó Song để tránh tranh chấp, trong điện đề nghị điều chỉnh thời hạn giao hàng, người xuất khẩu cũng đề nghị kéo dài thời hạn hiệu lực của L/C Ngược lại nếu hai bên thoả thuận kéo dài thời hạn hiệu lực của L/C mà không nói đến kéo dài thời hạn giao hàng thì không thể hiểu là thời hạn giao hàng cũng tự động được kéo dài
1.5 Những nội dung về hàng hóa
Tên hàng, số lượng, trọng lượng, quy cách phẩm chất bao bì, ký mã hiệu cũng được ghi vào L/C
1.6 Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng hóa
Các điều kiện cơ sở giao hàng ( FOB, CIP, C&F), nơi gửi và nơi giao hàng, cách vận chuyển và cách giao hàng cũng được ghi vào trong L/C
1.7 Những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình
Đây là nội dung then chốt của L/C, bởi vì bộ chứng từ thanh toán quy định trong L/C là một bằng chứng của người xuất khẩu chứng minh rằng mình đã hoàn thành nghĩa
vụ giao hàng và làm đúng như điều quy định trong L/C, do vậy ngân hàng mở L/C phải dựa vào đó để tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu, nếu bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những điều quy định trong L/C
Trang 241.8 Sự cam kết trả tiền của ngân hàng mở L/C
Đây là nội dung cuối cùng của L/C và nó ràng buộc trách nhiệm của ngân hàng mở L/C đối với L/C này Sự cam kết của ngân hàng mở L/C đối với L/C phải nêu bật được ba
+ Là sự cam kết dự phòng (bảo lưu), tức là ngân hàng chỉ cam kết tôn trọng các hối phiếu xuất trình đúng hạn và phù hợp với các đIều kiện của L/C, còn có trả tiền hay không tùy thuộc vào việc xem xét bộ chứng từ thanh toán phù hợp với L/C và không mâu thuẫn với nhau
1.9 Chữ ký trên L/C hay mã khoá
L/C thực chất là một cam kết trả tiền có điều kiện của ngân hàng mở L/C nên người kí nó phải là người có chữ ký uỷ quyền Nếu L/C mở bằng Telex thì L/C phải có mã khoá đúng do hai bên quy định thì L/C mới có giá trị
1.10 Những điều khoản đặc biệt khác
Ngoài những nội dung kể trên khi cần thiết, ngân hàng mở L/C và người nhập khẩu
có thể thêm những nội dung khác như có thể đòi hoàn trả tiền bằng điện, về điều kiện đóng gói hoặc ghi chú khác
2.Tính chất của L/C
Điều 3 trong “Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ” bản sửa đổi
năm 1993 số 500 của phòng thương mại quốc tế quy định: “ Các thư tín dụng về bản chất
là những giao dịch riêng biệt với hợp đồng này có thể làm cơ sở cho L/C, nhưng các ngân
Trang 25hàng không hề có liên quan gì hoặc không hề bị ràng buộc bởi những hợp đồng đó, thậm chí ngay cả khi có bất kỳ một điều dẫn chiếu nào đến các hợp đồng đó được ghi vào L/C ”
Như vậy, thư tín dụng có các tính chất sau:
- Thư tín dụng được hình thành trên cơ sở hợp đồng mua bán nhưng sau khi ra đời lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán Tính chất này cực kì quan trọng đối với việc
sử dụng L/C trong thanh toán quốc tế
- Thư tín dụng là một văn bản thể hiện sự cam kết của ngân hàng nước người nhập khẩu đối với người xuất khẩu để thực hiện nghĩa vụ trả tiền quy định trong điều khoản thanh toán của hợp đồng thương mại Do đó thư tín dụng phải dựa trên cơ sở hợp đồng Những nội dung cơ bản của hợp đồng mua bán như tên hàng, số lượng, giá cả và tổng trị giá hợp đồng, quy cách phẩm chất, bao bì, thời hạn giao hàng, nơi hàng đến, người trả tiền, người hưởng lợi là căn cứ duy nhất của người mua để dựa vào đó mở L/C cam kết trả tiền cho người bán Khi nhận được thư tín dụng, người bán phải kiểm tra L/C đó Hợp đồng mua bán là căn cứ để người bán kiểm tra L/C Nếu L/C không mâu thuẫn với hợp đồng thì người bán sẽ giao hàng và thực hiện nghĩa vụ của mình Còn ngược lại thì người bán đề nghị người mua sửa đổi thư tín dụng cho phù hợp rồi mới giao hàng
Nhưng vì L/C lại do ngân hàng mở để cam kết trả tiền theo yêu cầu của người mua, cho nên sau khi L/C đã được mở tại một ngân hàng nhất định vào một thời gian nhất định thì nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán Tính chất độc lập của thư tín dụng thể hiện ở chỗ là nghĩa vụ của ngân hàng đối với người hưởng lợi L/C (tức là người bán) không phụ thuộc vào mối quan hệ giữa người mua và người bán Ngân hàng mở thư tín dụng chỉ căn cứ vào đơn yêu cầu mở L/C của người mua chứ không căn cứ vào hợp đồng
và chỉ căn cứ vào nội dung L/C để trả tiền cho người bán, căn cứ vào những chứng từ mà người bán xuất trình Việc thanh toán của ngân hàng không căn cứ vào thực trạng hàng hóa Nếu thực trạng hàng hóa không đúng với chứng từ thì hai bên mua bán phải trực tiếp giải quyết với nhau không liên quan gì đến ngân hàng, không liên quan đến phương thức thanh toán tín dụng chứng từ; nếu người mua không thanh toán tiền với ngân hàng thì ngân
Trang 26hàng vẫn phải hoàn thành nghĩa vụ trả tiền cho người bán làm đầy đủ và đúng với các điều khoản trong L/C
Những tính chất nêu trên của L/C đã tạo cho nó có những đặc thù riêng và có những lợi thế mà các phương thức thanh toán khác không có được
3 Các loại thư tín dụng
Các loại thư tín dụng thương mại trong thanh toán quốc tế gồm:
3.1 Thư tín dụng không hủy ngang (Irrevocable Letter of Credit)
Là loại L/C sau khi được mở ra thì ngân hàng mở L/C không được sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ trong thời gian hiệu lực của nó trừ khi có sự thỏa thuận khác của các bên tham gia L/C
Một thư tín dụng không ghi chữ Irrevocable thì đương nhiên coi là không thể hủy
bỏ được, tức là ngân hàng mở L/C muốn hủy bỏ bổ sung hay sửa đổi nó thì phải có sự đồng ý của các bên tham gia
L/C không hủy ngang được áp dụng rộng rãi nhất trong quốc tế và nó là loại L/C cơ bản nhất
3.2 Thư tín dụng không hủy ngang có xác nhận (Cofirmed Irrevocable L/C)
Là loại L/C không thể hủy bỏ được, một ngân hàng khác đảm bảo trả tiền theo yêu cầu của khách hàng mở L/C Theo L/C này người xuất khẩu ký phát hối phiếu đòi tiền ngân hàng mở L/C nhưng nếu ngân hàng mở L/C không có khả năng thanh toán thì chứng
từ đòi tiền được gửi thẳng cho ngân hàng xác nhận (the Confirming Bank) để yêu cầu thanh toán
Trách nhiệm của ngân hàng xác nhận giống như ngân hàng mở L/C, do đó ngân hàng mở L/C phải trả thủ tục phí xác nhận (full cash cover), có khi còn phải đặt cọc tiền tới 100% giá trị L/C tại ngân hàng xác nhận
Trang 27Do có hai ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền cho người xuất khẩu, hơn nữa ngân hàng xác nhận là ngân hàng có uy tín về tài chính và tín dụng quốc tế nên loại L/C này là loại L/C có đảm bảo nhất cho quyền lợi của người xuất khẩu
3.3 Thư tín dụng không hủy ngang miễn truy đòi (Irrevocable without recourse Credit)
Là loại L/C không thể hủy ngang mà sau khi người bán đã được ngân hàng trả tiền rồi, nếu về sau có sự tranh chấp về chứng từ thanh toán thì người bán không hoàn trả số tiền họ đã nhận được trong bất cứ một trường hợp nào
Khi dùng loại L/C này, người xuất khẩu phải ghi lên hối phiếu câu: “Without recourse to drawers” tức là “Miễn truy đòi lại người ký phát” và trong đó L/C cũng phải ghi nhận như vậy
Loại L/C này cũng được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế
3.4 Thư tín dụng chuyển nhượng ( Transferable Credit)
Là thư tín dụng không thể hủy bỏ trong đó quy định quyền của ngân hàng trả tiền được trả toàn bộ hay một phần số tiền của L/C cho một hay nhiều người theo lệnh của người hưởng lơi đầu tiên L/C chuyển nhượng chỉ được chuyển nhượng một lần và chi phí chuyển nhượng là do người hưởng lợi đầu tiên chịu
3.5 Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving Credit)
- Là loại L/C không thể huỷ bỏ sau khi sử dụng xong hoặc đã hết thời hạn hiệu lực thì nó lại có giá trị như cũ và như vậy nó tuần hoàn cho đến khi nào tổng giá trị được thực hiện
- Thư tín dụng tuần hoàn cần ghi rõ ngày hết hạn hiệu lực cuối cùng, số lần tuần hoàn và giá trị tối thiểu của mỗi lần đó
- Nếu việc tuần hoàn căn cứ vào thời hạn hiệu lực của L/C trong mỗi lần tuần hoàn cần ghi rõ: Có cho phép số dư của L/C trước cộng dồn vào những L/C kế tiếp hay không, nếu không cho phép thì gọi là L/C tuần hoàn khong tích lũy (Revoling non - Cumulative
Trang 28Credit) Còn nếu có gọi là thư tín dụng tuần hoàn tích luỹ (the Irrevoling Cumulative Credit)
về L/C kế tiếp thì nó có giá trị như cũ
Thư tín dụng tuần hoàn thường được sử dụng khi các bên tin cậy lẫn nhau mua hàng thường xuyên, định kỳ, khối lượng lớn và trong thời hạn dài
3.6 Thư tín dụng thanh toán chậm (Deferred Payment Credit)
Đây là L/C không hủy ngang, trong đó ngân hàng mở L/C hay ngân hàng xác nhận cam kết với người hưởng lợi sẽ thanh toán dần toàn bộ số tiền của L/C trong những thời hạn quy định rõ ràng trong L/C đó Khi xuất trình chứng từ số tiền của L/C cũng có thể được thu như một khoản tiền ứng trước Loại này áp dụng cho hợp đồng giao hàng nhiều lần
3.7 Thư tín dụng giáp lưng (Back - to - Back Credit)
Là loại thư tín dụng mà bên xuất khẩu căn cứ vào một thư tín dụng của bên nhập khẩu đã mở, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình mở một L/C cho người khác hưởng
Như vậy về cơ bản L/C gốc và L/C giáp lưng giống nhau Ngoài ra chúng có một số điểm khác nhau như sau:
+ Người hưởng lợi (xuất khẩu) của L/C gốc lại là người xin mở L/C giáp lưng
Trang 29+ Kim ngạch của L/C gốc phải lớn hơn (hoặc bằng) kim ngạch của L/C giáp lưng
+ Thời gian giao hàng của L/C giáp lưng phải lớn hơn L/C gốc Loại L/C giáp lưng thường đựơc áp dụng trong việc mua bán chuyển khẩu, tái xuất hay trong trường hợp người mua muốn mua hàng của khách nước ngoài nhưng họ không thể mở L/C trực tiếp cho người ấy hưởng, vì vậy phải thông qua trung gian đứng ra mua hộ Để có thể áp dụng loại L/C này yêu cầu hai thư tín dụng gốc và giáp lưng phảI được thực hiện thông qua một ngân hàng trực tiếp phục vụ nhà xuất khẩu (theo L/C gốc)
3.8 Thư tín dụng dự phòng (Standby Credit)
Là loại thư tín dụng được sử dụng phổ biến ở Mỹ Sau khi ngân hàng phục vụ mở thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng, thì người nhập khẩu cũng yêu cầu người xuất khẩu mở L/C dự phòng cho mình hưởng
L/C dự phòng khác L/C thông thường ở những điểm sau:
- Người làm đơn xin mở L/C là người xuất khẩu (không phải là người nhập khẩu), trên cơ sở đó ngân hàng phục vụ bên xuất khẩu phát hành L/C dự phòng
- Người hưởng lợi L/C dự phòng là người nhập khẩu (không phải là ngưòi xuất khẩu)
- L/C dự phòng được sử dụng không phải như một phương tiện cấp vốn hay là một phương tiện trả tiền, mà là một phương thức đảm bảo thực hiện hợp đồng Nếu người xuất khẩu không thực hiện đúng việc giao hàng thì ngân hàng mở L/C dự phòng phải chịu trách nhiệm về tài chính đối với người nhập khẩu
L/C dự phòng ra đời do yêu cầu của việc nhập khẩu ngày càng cao Người nhập khẩu phải cấp tín dụng cho người xuất khẩu dưới dạng: tiền đặt cọc, ký quỹ, tiền ứng trước, chi phí mở L/C Các khoản tín dụng này chiếm tới 10-15% tổng giá trị đơn đặt hàng Vì vậy việc đảm bảo hoàn lại số tiền đó cho người nhập khẩu khi người xuất khẩu không thực hiện đúng nghĩa vụ giao hàng có một ý nghĩa quan trọng Ngân hàng phục vụ
Trang 30người xuất khẩu phải mở L/C dự phòng để cam kết với người mua, thực hiện việc hoàn trả này
3.9 Thư tín dụng đối ứng (The Reciprocal Credit)
Loại L/C không thể hủy ngang này chỉ có giá trị hiệu lực khi L/C kia đối ứng với
nó được mở L/C đối ứng được áp dụng trong phương thức mua bán hàng đổi hàng hay thương mại gia công, nó đảm bảo quyền lợi cho người gia công hàng kém, bởi vì sản phẩm làm ra có đặc điểm riêng do người đặt hàng quy định, nên nhìn chung chỉ có người đặt hàng tiêu thụ
Trong quan hệ giao dịch này thì người bán đồng thời là người mua và ngược lại Như vậy bên nhập khẩu nguyên liệu mở cho bên xuất khẩu một L/C bảo đảm thanh toán giá trị nguyên liệu nhập khẩu và L/C này chỉ có hiệu lực khi bên xuất khẩu về phần mình cam kết nhập khẩu lại những thành phẩm được sản xuất ra từ những nguyên liệu đó bằng việc mở lại L/C đối ứng L/C này chỉ có hiệu lực nếu thành phẩm được sản xuất chính từ nguyên liệu cung cấp trên
Hai L/C đối ứng với nhau, tuy đối tượng thanh toán có khác nhau nhưng các L/C này đều có những điều kiện cơ bản chung, dựa trên cơ sở hợp đồng thương mại mà hai bên
đã kí Mỗi một L/C vừa manh tính chất đôc lập về đối tượng thanh toán, vừa mang tính chất ràng buộc về nội dung pháp lý của quá trình thanh toán qua lại đó
4 Ưu nhược điểm của thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
4.1 Ưu điểm:
Hiện nay, phương thức tín dụng chứng từ được sử dụng rộng rãi phổ biến trong thanh toán quốc tế giữa các quốc gia với nhau Trong tương lai, phương thức này chắc chắn vẫn là phương thức chủ yếu trong thanh toán thương mại quốc tế
Bởi lẽ trong quan hệ mua bán thì người bán muốn thu hồi nhanh, an toàn số tiền bán của họ, còn người mua thì lại muốn có hàng trong tay thì mới trả tiền, nếu trả tiền trước họ không biết được hàng hóa có được giao đúng theo hợp đồng hay không, người bán thì khi
Trang 31giao hàng họ không biết chắc được có thu hồi được tiền hay không Biện pháp thỏa hiệp giữa hai bên là việc thanh toán sẽ được tiến hành sau khi giao hàng tượng trưng, tức là giao các chứng từ di chuyển sở hữu hàng hóa từ người bán sang người mua và ngân hàng
có chức năng trung gian thanh toán là người thích hợp nhất để thực hiện quá trình này
Đồng thời khi tiến hành nghiệp vụ này ngân hàng thu được một khoản lợi ích như thủ tục phí khá lớn, ngoài ra ngân hàng còn huy động thêm một khoản tiền gửi (khi có kí quỹ) phục vụ cho các hoạt động của các nghiệp vụ khác như cho vay xuất nhập khẩu, bảo lãnh, xác nhận
Theo phương thức tín dụng chứng từ thì quyền lợi của người bán được bảo đảm trên cam kết bằng L/C của ngân hàng mở L/C miễn là họ xuất trình được chứng từ thanh toán phù hợp với điều kiện thanh toán của L/C Quyền lợi của người nhập khẩu được bảo đảm
vì họ chỉ phải trả tiền khi người bán đã giao hàng theo đúng L/C Đây chính là lí do khiến cho phương thức tín dụng chứng từ được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế
4.2 Nhược điểm
Tuy nhiên, phương thức thanh toán này cũng còn hạn chế, xuất phát từ việc ngân hàng chỉ có thể khống chế được về mặt hình thức của chứng từ, chứ không thể kiểm soát được tính chất pháp lí hay tính xác thực của các loại chứng từ đó Việc người bán có thể không trung thực trong việc lập chứng từ thanh toán như giả mạo chứng từ, hoặc thay đổi chứng từ để đi nhận tiền trong khi giao hàng không phù hợp với các điều khoản đã ghi trong L/C là điểm hạn chế của phương thức tín dụng chứng từ
Bên cạnh đó, nếu người mua và người bán không thiện chí với nhau, người mua có thể tìm ra lỗi rất nhỏ trên chứng từ để từ chối thanh toán tiền mặc dù hàng hóa rất đúng phẩm chất, chất lượng và thời hạn như quy định
Ngoài ra nhược điểm lớn nhất là phải thanh toán theo quy trình rất tỉ mỉ, máy móc đòi hỏi các bên tiến hành rất cẩn thận, nhất là khâu lập và kiểm tra chứng từ Chỉ cần một
sơ suất nhỏ trong việc lập chứng từ và kiểm tra chứng từ cũng có thể trở thành nguyên nhân bác bỏ việc thanh toán
Trang 325.Những vấn đề sử dụng phương thức tín dụng chứng từ
Văn bản pháp lý quốc tế thông dụng của tín dụng chứng từ là “Quy tắc và cách thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ” bản sửa đổi 1995 của phòng thương mại quốc tế phát hành số 500 Bản quy tắc này mang tính chất pháp lý tùy ý, có nghĩa là khi áp dụng
nó các bên tham gia phải thỏa thuận ghi vào văn bản của hợp đồng và phải được dẫn chiếu trong L/C
UCP (Uniform Customs and Pratice for Documentary Credit) là văn bản pháp lý chứa đựng những nguyên tắc không có tính chất bắt buộc do vậy các bên sử dụng có quyền lựa chọn Những quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ là một yếu tố quan trọng trong buôn bán quốc tế và nó ngày càng trở nên cần thiết hơn trong thanh toán quốc
tế Đó là do thực tiễn buôn bán quốc tế tiếp tục đòi hỏi phải có một tập hợp các quy phạm quốc tế thừa nhận để đIều chỉnh việc sử dụng tín dụng chứng từ Từ khi ra đời đến nay
“Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ” (UCP) đã được điều chỉnh thường xuyên Mỗi lần điều chỉnh sửa đổi đều do những thay đổi trong kỹ thuật vận tải và thủ tục chứng từ đòi hỏi phải đáp ứng kịp thời Thanh toán quốc tế được tiến hành giữa người mua và người bán hàng, giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu nên phải tôn trọng các luật lệ và tập quán của hai nước đang áp dụng có liên quan các quan hệ kinh tế đối ngoại của họ
UCP không ràng buộc về mặt pháp lý với các nước trên thế giới cũng như không mang tính luật pháp quốc tế Việc các nước tham gia áp dụng quy tắc này là hoàn toàn tự nguyện Các bên tham gia vào tín dụng chứng từ sẽ bị ràng buộc bởi UCP mỗi khi tín dụng chứng từ có dẫn chiếu đến việc áp dụng UCP để giải quyết các tranh chấp nếu có
Hiện nay, UCP 1993 bản 500 được coi là hoàn chỉnh nhất và ngày càng nhiều ngân hàng các nước khác nhau thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế UCP này thực sự được coi là cẩm nang cho nghiệp vụ thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
Do vậy hiện nay ở Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và các đơn vị
Trang 33lý điều chỉnh các loại thư tín dụng được áp dụng trong thanh toán quốc tế giữa Việt Nam với nước ngoài
IV.Rủi ro và ngăn ngừa rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ
Chúng ta biết rằng, ngoại thương là việc buôn bán của một nước với một nước khác, bao gồm toàn bộ các giao dịch xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ Buôn bán quốc tế thường từ hai nước trở lên tham gia vào một dịch vụ ít nhất là hai thương nhân từ hai nước khác nhau Chính vì vậy trong giao dịch sẽ gặp một số khó khăn, trở ngại như không cùng ngôn ngữ, mỗi nước lại có một luật lệ khác nhau về dân sự, về chính sách ngoại thương cũng như các luật lệ khác Mỗi nước sử dụng đồng tiền riêng của mìnhvà có những chế độh quản lý ngoại hối riêng Ngoài ra người mua và người bán ở cách xa nhau về địa lý, phong tục, tập quán buôn bán cũng có những nét khác nhau Tất cả những điểm khác biệt trên thường gây ra những trở ngại, khó khăn trong giao dịch buôn bán giữa nước này với nước khác
1 Những rủi ro phát sinh trong thanh toán tín dụng chứng từ
1.1 Rủi ro đối với ngân hàng mở (the Issuing Bank)
1.1.1 Rủi ro về tỷ giá
Khi nhập hàng, nhà nhập khẩu không thể lường trước được mức độ trượt giá đồng nội tệ so với ngoại tệ mạnh nên khi nhập hàng về, tỷ giá trượt mạnh, đối với những mặt hàng giá bán cạnh tranh không thể tăng được, nhà nhập khẩu không muốn nhận hàng vì sợ
bị lỗ Khi đó, nếu tỷ lệ ký quỹ không bù đắp được tỷ lệ trượt giá của nội tệ thì rủi ro có thể xảy ra đối với ngân hàng mở
1.1.2 Rủi ro trong quá trình vận chuyển
Trong quá trình vận chuyển hàng hoá từ nước nhà xuất khẩu đến nước nhà nhập
Trang 34bên, ICC đã ban hành “Các điều kiện thương mại quốc tế” để các bên thoả thuận lựa chọn, nhà nhập khẩu thích chọn những điều kiện với chi phí nhập hàng càng thấp càng tốt mà ít coi trọng đến hậu quả rủi ro xảy ra Do đó nếu rủi ro xảy ra trong quá trình vận chuyển thì trách nhiệm không thuộc về nhà nhập khẩu nên ngân hàng mở gặp rủi ro
1.1.3 Rủi ro do nhà nhập khẩu mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản
Đây là loại rủi ro gây thiệt hại nặng nề nhất cho ngân hàng mở, bởi vì ngân hàng
mở buộc phải thanh toán cho người bán trong khi không thể thu hồi được vốn lại từ phía người mua Nguyên nhân là do ngân hàng mở không tiến hành thẩm định khi doanh nghiệp lần đầu tiên đến quan hệ mở L/C hoặc do trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhà nhập khẩu bị thua lỗ liên tục mà ngân hàng mở không hay biết
1.2 Những rủi ro đối với ngân hàng thông báo
Rủi ro xảy ra đối với ngân hàng thông báo khi ngân hàng này quyết định thông báo phải một L/C giả trong khi chính ngân hàng này chưa đồng ý với tình trạng mã khoá (hay mẫu chữ ký uỷ quyền đối với trường hợp phát hành L/C) mà không có bất kỳ một ghi chú nào về tình trạng mã khoá hay mẫu chữ ký uỷ quyền đó cho người bán biết (cũng như khi ngân hàng thông báo nhận được L/C không đầy đủ, không rõ ràng), hoặc khi ngân hàng thông báo quyết định không thông báo L/C mà không gửi thông báo về quyết định của mình cho ngân hàng mở biết
1.3 Rủi ro đối với ngân hàng chiết khấu chứng từ
1.3.1 Rủi ro do những nguyên nhân bất khả kháng
Đó là khi xảy ra thiên tai, nổi loạn, bạo động, chiến tranh, đảo chính Nếu ngày xuất trình chứng từ hoặc ngày hết hạn hiệu lực của L/C rơi đúng vào các ngày này thì theo UCP là ngân hàng mở được miễn trách nhiệm thanh toán trong khi nhà xuất khẩu đã giao hàng và ngân hàng đã chiết khấu bộ chứng từ
Trang 351.3.2 Rủi ro trong quá trình vận chuyển
Trong quá trình vận chuyển hàng hoá, rủi ro có thể xảy ra mà trách nhiệm thuộc về nhà nhập khẩu do không mua bảo hiểm Nếu nhà nhập khẩu không thể dựa vào lỗi chứng
từ để từ chối thanh toán trước thì người ta sẽ căn cứ vào trách nhiệm ký kết hợp đồng ngoại thương để phân xử Nhưng nếu tình hình tài chính của nhà nhập khẩu xem như vô vọng, nhà xuất khẩu bị rủi ro và ngân hàng chiết khấu cũng có thể gặp rủi ro do bị gia tăng các khoản nợ khó đòi
1.3.3 Rủi ro do nhà nhập khẩu từ chối thanh toán
Đây là loại rủi ro gây thiệt hại nặng nề nhất cho người bán, nếu người bán không có khả năng thanh toán thì ngân hàng chiết khấu sẽ gánh chịu rủi ro Trong trường hợp này, ngân hàng mở buộc phải từ chối thanh toán khi bộ chứng từ có lỗi mặc dù lỗi đó rất nhỏ
mà nếu bình thường người mua thấy không cần thiết phải bắt và đã bỏ qua
2 Khả năng ngăn ngừa rủi ro
2.1 Đối với những rủi ro bất khả kháng
Tại một số nước để có thể giảm bớt những thiệt hại về rủi ro người ta đã hình thành nên các hãng bảo hiểm Tại Cộng hoà liên bang Đức, có hãng bảo hiểm và tín dụng là HERMES, HAMBURG Đây là hãng bảo hiểm của chính phủ, nó đảm nhiệm bảo hiểm 85-90% các rủi ro Như vậy các nhà xuất khẩu ở Cộng hoà liên bang Đức chỉ chịu trách nhiệm 10% rủi ro về thanh toán với nguyên nhân về chính trị hoặc 15% rủi ro về nguyên nhân kinh tế
2.2 Đối với những rủi ro trong vận chuyển hàng hóa
Trong trường hợp này, các bên tham gia ký hợp đồng với các hãng bảo hiểm tư nhân hoặc nhà nước thì hợp đồng bảo hiểm sẽ được bảo hiểm cho hàng hóa tới mức 110% trị giá hàng hóa tổn thất (các bên ký kết hợp đồng có thể chuyển giao cho nhau những rủi
ro thông qua các điều kiện giao hàng tương ứng)
Trang 362.3 Đối với những rủi ro về tỷ giá và tiền tệ
Các bên tham gia ký hợp đồng thương mại khi muốn tránh những rủi ro này thông thường thực hiện các biện pháp sau:
2.3.1 Nghiệp vụ hối đoái kỳ hạn
Việc mua bán ngoạI hối mà tỷ giá được xác định xác định ngay lúc ký hợp đồng, những việc giao ngoại hối sẽ được thực hiện sau đó một thời gian xác định, chảng hạn 1tháng, 2 tháng hay 3 tháng Để tránh rủi ro do biến động của tỷ giá gây nên, các nhà xuất nhập khẩu quy định với ngân hàng mình một tỷ giá ở thời điểm cố định để mình phải mua hoặc bán một số lượng ngoại tệ nhất định
2.3.2 Nghiệp vụ hối đoái kỳ hạn có quyền chọn (option)
Nghiệp vụ này cũng tương tự như nghiệp vụ hối đoái kỳ hạn nhưng đồng thời có thêm quyền chọn
2.4 Đối với rủi ro trong thực hiện hợp đồng
Để tránh những rủi ro trong thực hiện hợp đồng thương mại đã ký kết, các bên tham gia hợp đồng cần có sự thoả thuận với nhau về những điều kiện thanh toán hợp lý cũng như các điều kiện khác Theo đó các bên tham gia sẽ trao đổi với nhau về những rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng cũng như các chi phí phát sinh
Các bên tham gia có thể yêu cầu ngân hàng đứng ra bảo lãnh cũng như bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh tiền đặt cọc, bảo lãnh về sự đảm bảo thực hiện hợp đồng
Trang 37Ngoài ra để có sự xem xét kỹ càng trước lúc ký hợp đồng, người nhập khẩu có thể yêu cầu nhà xuất khẩu gửi hàng mẫu đến trước hay yêu cầu giấy kiểm tra chất lượng hàng hoá do các tổ chức trung gian có tiếng cấp
Trang 38
Chương II : Thực trạng về công tác thanh toán hàng nhập khẩu theo phương thức tín
dụng chứng từ tại Ngân hàng Công thương Đống Đa
I Quá trình hình thành và hoạt động của Ngân hàng Công thương Đống Đa
1 Tổng quan về Ngân hàng Công thương Đống Đa
Cách đây 50 năm, ngày 6/5/1951, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam- nay là Ngân hàng nhà nước Việt Nam được thành lập Đây là mốc lịch sử quan trọng đánh dấu sự phát triển của cách mạng Việt Nam, của công cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân pháp nói chung và của nền tiền tệ- tín dụng nước nhà nói riêng
Chuyển từ Ngân hàng nhà nước thành chi nhánh Ngân hàng Công thương Đống đa từ tháng 7 năm 1988, để kịp hoà nhập với sự nghiệp đổi mới kinh tế, đổi mới hoạt động toàn ngành Ngân hàng, tập thể lãnh đạo và cán bộ CNV chi nhánh Ngân hàng Công thương Đống đa đã quyết tâm phấn đấu thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ được Ngân hàng cấp trên giao phó, với mục tiêu: “ Kinh tế phát triển, an toàn vốn, tôn trọng pháp luật, lợi nhuận hợp lý”, thực hiện theo phương châm “ Tiếp tục đổi mới, nâng cao trách nhiệm, trân trọng khách hàng” Đến nay Ngân hàng Công thương Đống đa đã khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong nền kinh tế, đứng vững và phát triển trong cơ chế mới, chủ động
mở rộng mạng lưới giao dịch, đa dạng hoá các mặt kinh doanh, dịch vụ tiền tệ- Ngân hàng, thường xuyên tăng cường cả nguồn vốn và sử dụng vốn, thay đổi cơ cấu đầu tư phục vụ phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá nền kinh tế, tăng cường vật chất kỹ thuật để từng bước đổi mới công nghệ hiện đại hoá Ngân hàng Kết quả kinh doanh dịch vụ Ngân hàng Công thương Đống đa năm sau cao hơn năm trước, đóng góp cho ngân sách nhà nước ngày càng lớn, đời sống cán bộ CNV được cải thiện, uy tín Ngân hàng Công thương Đống đa ngày càng được khách hàng mến
Trang 39Ngân hàng Công thương Đống Đa có trên 300 cán bộ CNV đang làm việc thuộc biên chế với kinh nghiệm dày dạn, thực hiện tốt các công tác nhiệm vụ và là cơ sở cho Chi nhánh đạt được mục tiêu đề ra và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao Tổ chức bộ máy kinh doanh của chi nhánh ngân hàng Công thương Đống Đa gồm trụ sở chính tại 187 Tây Sơn và 2 phòng giao dịch Cát Linh và Kim Liên cùng với 14 quỹ tiết kiệm nằm rải rác trong khu vực, chịu sự chỉ đạo, điều hành tập trung của Ngân hàng Công thương Đống Đa
Sơ đồ bộ máy tổ chức của Ngân hàng Công thương Đống Đa
Phòng
Phòng nguồn vốn
Phòng thông tin điện
Phòng kế toán tàichính
Trang 401.2.1 Ban lãnh đạo:
- Chịu trách nhiệm điều hành việc sử dụng vốn trong kinh doanh theo phương án
sử dựng đảm bảo phát triển vốn Thực hiện phương án phân phối lợi nhuận sau khi nộp các khoản cho ngân sách theo qui định
- Chịu trách nhiệm trước nhà nước về việc huy động và sử dụng các nguồn vốn vào hoạt động kinh doanh Cử người thực hiện việc quản lý phần vốn đầu tư liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp khác
- Chịu trách nhiệm vật chất đối với những thiệt hại do lỗi chủ quan gây ra cho doanh nghiệp
- Xây dựng các định mức phù hợp với điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp theo qui đinh của pháp luật
- Chịu trách nhiệm về số liệu báo cáo tài chính, số liệu quyết toán và các thông tin tài chính khác
- Xây dựng kế hoạch tài chính dài hạn và kế hoạch tài chính hàng năm phù hợp với kế hoạch kinh doanh trình Ngân hàng Công Thương Trung ương thông qua
và đăng ký với cơ quan tài chính nhà nước
- Thực hiện các trách nhiệm khác theo quy định của nhà nước