1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Luận văn Thạc sỹ Hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay

85 478 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 714,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3.1 DỰ BÁO TÌNH HÌNH TÔN GIÁO VÀ YÊU CẦU ĐỐI VỚI CÔNGTÁC QLNN VỀ TÔN GIÁO Ở BẮC NINH THỜI GIAN TỚI 3.2 GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QLNN VỀ TÔN GIÁO Ở BẮC NINH 57

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA TP.HCM

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG

ĐỀ TÀI:

Hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn

tỉnh Bắc Ninh hiện nay.

GVHD : PGS.TS.Ngô Hữu Thảo HVTH : Hà Thị Xuyên

Trang 2

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Chương 1

NHẬN THỨC CHUNG VỀ TÔN GIÁO, QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

ĐỐI VỚI TÔN GIÁO VÀ TÌNH HÌNH TÔN GIÁO

1.2.1 Một số đặc điểm của tỉnh Bắc Ninh liên quan đến tôn giáo 191.2.2 Tình hình tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 21

Chương 2

CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÔN GIÁO

Ở BẮC NINH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

29

2.1 SỰ CHỈ ĐẠO CỦA TỈNH UỶ, UBND TỈNH VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY

LÀM CÔNG TÁC QLNN VỀ TÔN GIÁO Ở BẮC NINH

29

2.1.1 Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Bắc Ninh chỉ đạo công tác Tôn giáo 292.1.2 Tổ chức bộ máy làm công tác QLNN về tôn giáo ở Bắc Ninh 33

2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

TÔN GIÁO Ở BẮC NINH

2.2.6 Quản lý hoạt động truyền đạo trái pháp luật 42

Trang 4

3.1 DỰ BÁO TÌNH HÌNH TÔN GIÁO VÀ YÊU CẦU ĐỐI VỚI CÔNG

TÁC QLNN VỀ TÔN GIÁO Ở BẮC NINH THỜI GIAN TỚI

3.2 GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ CÔNG TÁC

QLNN VỀ TÔN GIÁO Ở BẮC NINH

57

3.2.1 Tập trung nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm, trách nhiệm

của HTCT về công tác tôn giáo và QLNN đối với tôn giáo

57

3.2.2 Công tác quản lý nhà nước cần tăng cương, tập trung hơn nữa tới

các hoạt động có tính trọng điểm, phức tạp của tôn giáo trên địabàn

58

3.2.3 Công tác QLNN cần quan tâm hơn đến công tác vận động quần

chúng, tín đồ, chức sắc các tôn giáo và xây dựng lực lượng chínhtrị ở cơ sở

Trang 5

3.3.1 Đối với Trung ương 69

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội mà còn là một thực thể xãhội, ra đời và phát triển từ cả ngàn năm nay Từ khi ra đời, tôn giáo đã trải qua nhữngthăng trầm và không ngừng biến đổi theo sự biến đổi của tồn tại xã hội, nhưng chungnhất, nó luôn là một nhu cầu tinh thần của đa số nhân loại Trong quá trình tồn tại vàphát triển, tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và đếntập quán của nhiều quốc gia, của các tộc người trong một quốc gia, theo cả các chiều:tích cực và tiêu cực Những năm gần đây, tôn giáo trên thế giới không chỉ phục hồi

và phát triển, đáp ứng nhu cầu tâm linh của con người, mà còn làm nảy sinh không ítcuộc xung đột giữa các dân tộc trong một quốc gia, hay giữa các quốc gia với nhau

Ở Việt Nam cũng vậy, là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáođang có xu hướng phát triển mạnh, đến nay - năm 2011, Nhà nước ta đã công nhận tưcách pháp nhân cho 13 tôn giáo, với 33 tổ chức Giáo hội Trong đó, các tôn giáo bảnđịa (nội sinh) và các tôn giáo được du nhập từ nước ngoài vào (ngoại sinh) đều đượctạo điều kiện bình đẳng hoạt động theo pháp luật Tình hình đó như là sự phản ánh vềquá trình đất nước đổi mới, Việt Nam đã có sự phát triển khá mạnh mẽ trên tất cả cáclĩnh vực của đời sống xã hội, đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân đượccải thiện rõ rệt, vì thế tôn giáo càng được khẳng định rõ hơn, là nhu cầu tinh thần củamột bộ phận nhân dân

Nhưng, bên cạnh những sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội lành mạnh, tuânthủ pháp luật, thì vẫn còn có hiện tượng một số người lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo

để hành nghề mê tín dị đoan, mê hoặc nhân dân, cao hơn, phá hoại khối đại đoàn kếttoàn dân tộc Trước tình hình đó, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôngiáo càng cần phải được tăng cường, không chỉ trên bình diện vĩ mô mà còn ở cáckhu vực, các địa phương trong cả nước

Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là một nhiệm vụ quan trọng và có

ý nghĩa quyết định sự thành bại của công tác tôn giáo trong tình hình mới Các Nghịquyết, Chỉ thị của Đảng về công tác tôn giáo đều nhấn mạnh đến vai trò của công tác

Trang 7

này và việc: “Tăng cường quản lý nhà nước về tôn giáo” là một trong những giảipháp chủ yếu của công tác tôn giáo hiện nay.

Bắc Ninh là một tỉnh thuộc miền Bắc nước ta, là cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô

Hà Nội Tỉnh Bắc Ninh mặc dù có diện tích không lớn, nhưng dân số lại đông và có

vị trí địa lý chính trị quan trọng, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của đồng bằngChâu thổ Sông Hồng, có nguồn nhân lực dồi dào và là tỉnh vốn có truyền thống ngànnăm văn hiến và cách mạng

Số lượng và quy mô tôn giáo ở Bắc Ninh cũng không lớn, song lại là vị trí “địatôn giáo” rất quan trọng Đó là, về đạo Công giáo, Bắc Ninh có Toà Giám mục, làtrung tâm, đầu não của Giáo phận Bắc Ninh, gồm 12 tỉnh khác nhau Còn Phật giáo,Bắc Ninh từng có trung tâm Luy Lâu mà gần hai nghìn năm trước đã được xem làmột trung tâm Phật giáo lớn, bằng hoặc hơn cả trung tâm Phật giáo Lạc Dương vàBành Thành của Trung Quốc, còn đến nay, tên chùa Dâu, Keo, Phật Tích vẫn nứctiếng toàn cõi Việt Nam Hiện nay bên cạnh 2 tôn giáo chính là Phật giáo và Cônggiáo, trên địa bàn Bắc Ninh đã xuất hiện cả đạo Tin Lành, một tôn giáo được xem làtôn giáo của thời CNH, HĐH

Trong những năm qua tình hình tôn giáo, tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh BắcNinh ổn định, sinh hoạt tôn giáo và đời sống tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra bình thườngđúng với chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Đại bộ phận chứcsắc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo trong tỉnh an tâm, phấn khởi, tin tưởng vào sựnghiệp đổi mới của Đảng, về những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước; tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, các hoạt động từ thiện, nhân đạo,xây dựng gia đình văn hoá ở khu dân “sống tốt đời, đẹp đạo”, tích cực thực hiệnthắng lợi các nhiệm vụ chính trị của địa phương Tuy nhiên, tình hình tôn giáo trênđịa bàn tỉnh Bắc Ninh cũng nổi lên một số vấn đề có tính phức tạp Đó là, hoạt động

mê tín, dị đoan diễn ra khá phổ biến; một số cơ sở thờ tự của tôn giáo chưa tuân thủcác quy định của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, Luật Di sản và của các quy định củatỉnh Khi xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự, tổ chức tôn giáo vẫn thiếu hồ sơ xin phép;triển khai khi chưa được sự đồng ý của các cơ quan có thẩm quyền Tình hình khiếu

Trang 8

kiện đòi lại đất đai, cơ sở cũ của giáo hội còn tiềm ẩn dấu hiệu phức tạp; hoạt độngtruyền đạo Tin lành trái phép và các đạo lạ trên địa bàn tỉnh vẫn xảy ra.

Công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở tỉnh Bắc Ninh những nămqua đã có nhiều tiến bộ, đạt được một số kết quả nhất định Nhưng bên cạnh đó, côngtác này cũng còn một số hạn chế, như: Một bộ phận cán bộ đảng viên nhận thức vềchủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với tôn giáo còn hời hợt; sự phối hợpgiữa các cấp, các ngành còn thiếu tập trung và đồng bộ; việc giải quyết các vấn đềliên quan đến tôn giáo còn kéo dài, gây tâm trạng phản cảm cho quần chúng tín đồ,chức sắc tôn giáo Việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với tôn giáo củachính quyền nhiều lúc, nhiều nơi còn cứng nhắc

Từ thực tế tình hình trên, tôi chọn để tài: “Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với

hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay”, để làm luận văn thạc sỹ

quản lý hành chính công

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tôn giáo trong thời gian

qua đã có nhiều công trình nghiên cứu Đó là: “Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trong điều kiện xây dựng nhà nước dân chủ, pháp quyền Việt Nam hiện nay” của PGS.TS Nguyễn Hữu Khiển; "Một số vấn đề cấp bách trong quản lý tôn giáo ở

một số tỉnh phía Bắc" của GS.TS Đỗ Quang Hưng; “Mác-Angghen về tôn giáo” của

PGS Nguyễn Đức Sự chủ biên); “Một số vấn đề lý luận và thực trạng tôn giáo Việt

Nam” của GS Đặng Nghiêm Vạn; Mối quan hệ giữa chính trị và tôn giáo trong thời

kỳ mở rộng giao lưu quốc tế và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, PGS, TS Ngô Hữu Thảo, chủ nhiệm (1998); Cuốn sách

“Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam lý luận và thực tiễn" của GS.TS Đỗ Quang Hưng; “Một số tôn giáo ở Việt Nam hiện nay” của TS Nguyễn Thanh Xuân;

“Đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam” của TS.Nguyễn Đức Lữ; Đề tài cấp Bộ “55 năm đường lối chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam (1945-2000)” của Ban Tôn giáo Chính phủ; Đề tài cấp Bộ “Công tác an ninh trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Việt Nam” của Bộ Công an

Trang 9

Những công trình trên đề cập đến nhiều khía cạnh, cả lý luận và thực tiễn củavấn đề quản lý tôn giáo, song cụ thể ở địa bàn Bắc Ninh thì chưa có.

Ở tỉnh Bắc Ninh, vì nhiều lý do khác nhau nên hiện nay vấn đề nâng cao hiệuquả công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo hãy còn rất ít đề tài đi sâunghiên cứu, nếu có thì thời điểm nghiên cứu đã khá lâu, trước khi có Pháp lệnh tínngưỡng, tôn giáo, như luận văn cao cấp lý luận chính trị của Nguyễn Quang Khải,năm 2004 Vì vậy, hướng đề tài mà tôi lựa chọn hy vọng sẽ làm sáng tỏ hơn về vấn

đề quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 M ục tiêu nghiên cứu:

Luận văn từ việc khái quát những nhận thức chung về tôn giáo, về quản lý nhànước đối với tôn giáo và phân tích thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạtđộng tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua, đề xuất một số giảipháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước đốivới hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh

3.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với tôn giáo

- Đánh giá được thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôngiáo ở Bắc Ninh trong thời gian qua

- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lýnhà nước về tôn giáo ở Bắc Ninh trong tình hình mới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu là công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo

ở tỉnh Bắc Ninh Phạm vi nghiên cứu, về không gian, là địa bàn tỉnh Bắc Ninh; vềthời gian là từ khi có Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2004), đến nay

5 Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn:

Luận văn được triển khai dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo và quản lý nhà

Trang 10

nước đối với hoạt động tôn giáo Luận văn cũng xuất phát từ thực tiễn công tác quản

lý nhà nước đối với tôn giáo ở tỉnh Bắc Ninh thời gian qua

Triển khai luận văn này, tác giả sử dụng những nguyên tắc phương pháp luậncủa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời sử dụng cácphương pháp của các khoa học cụ thể, như tổng hợp và phân tích, khái quát hoá,thống kê, so sánh, lịch sử và lôgic, xã hội học, tôn giáo học

6 Đóng góp mới của luận văn

6.1 V ề mặt lý luận:

Bước đầu luận văn làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đốivới tôn giáo; khái quát mang tính lý luận từ thực tiễn công tác quản lý nhà nước đốivới hoạt động tôn giáo ở Bắc Ninh

6.2 V ề mặt thực tiễn:

- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo để xây đựng chủtrương, biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ởBắc Ninh và các tỉnh vùng đồng bằng miền Bắc có tình hình tôn giáo tương tự vớiBắc Ninh

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và học tập tại trườngChính trị tỉnh

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3chương, 7 tiết

Trang 11

Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ TÔN GIÁO, QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

TÔN GIÁO VÀ TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở TỈNH BẮC NINH

1.1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ TÔN GIÁO VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÔN GIÁO

1.1.1 Nhận thức chung về tôn giáo

Tôn giáo, theo tiếng Latinh (Religare) có nghĩa là sự nối liền với cái tột cùng,

như sự gắn bó với Chúa, với Thượng đế; hoặc được hiểu là sự phản ánh mối quan hệgiữa con người với thần thánh; giữa thế giới vô hình với thế giới hữu hình; giữa cáithiêng liêng với cái trần tục

Theo quan điểm mác-xít, tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội màcòn là một thực thể xã hội Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, tôn giáo phảnánh hư ảo tồn tại xã hội, có kết cấu gồm: Tâm lý, tình cảm, niềm tin và hệ tư tưởngtôn giáo Còn với tính cách là một thực thể, hay một hiện tượng xã hội, tôn giáo thuộcthượng tầng kiến trúc xã hội, được quy định bởi hạ tầng cơ sở xã hội Cụ thể hơn, tôngiáo ra đời từ 3 nguồn gốc: Kinh tế - xã hội, nhận thức và tâm lý Là một hiện tượng

xã hội, kết cấu của tôn giáo bao gồm cả yếu tố vật chất và tinh thần, mà thông thường

là các yếu tố: ý thức (giáo lý), nghi lễ, luật lệ và tổ chức

Cũng cần phân biệt tôn giáo với tín ngưỡng và mê tín dị đoan Tôn giáo và tín

ngưỡng có sự khác nhau, song có quan hệ chặt chẽ, mà ranh giới để phân biệt chỉ làrất tương đối Tín ngưỡng có các nghĩa rộng, hẹp khác nhau, nghĩa rộng, đó là niềmtin và sự ngưỡng mộ của con người vào một hiện tượng, một lực lượng, một điều gì

đó, thông thường để chỉ một niềm tin tôn giáo; nghĩa hẹp là các hình thức khác vớitôn giáo, như người Việt Nam thường gọi “tín ngưỡng dân gian” Còn mê tín dị đoan,

đó là tình trạng người ta quá tin vào cái siêu nhiên, đến mất lý trí, mê muội, tốn tiềncủa và huỷ hoại sức khoẻ, thậm chí cả sinh mạng, vậy nên “Hoạt động mê tín phải bịphê phán và loại bỏ” [13]

Trang 12

Quan điểm mác - xít về tôn giáo không dừng lại ở vấn đề bản chất, nguồn gốc,chức năng và tính chất của nó, mà còn rất quan tâm đến việc chỉ ra thái độ, nguyêntắc của người cộng sản khi tiếp cận, giải quyết những vấn đề tôn giáo.

Về thái độ của người cộng sản đối với tôn giáo, mặc dù cho rằng, thế giới

thống nhất ở tính vật chất, ngoài ra không có thế giới nào khác ngoài vật chất đangtồn tại và đương nhiên không có thần thánh, ma quỷ nào tồn tại ngoài những đam mê

và dục vọng của chính con người, thế nhưng Chủ nghĩa Mác - Lênin không bao giờchủ trương tuyên chiến với tôn giáo, mà ngược lại luôn tôn trọng niềm tin tôn giáocủa nhân dân C.Mác từng nói, kẻ nghịch đạo không phải là kẻ phỉ báng thần thánhcủa quần chúng mà chỉ là người đồng tình với quan điểm quần chúng, người sáng tạo

ra thần thánh

Có một số người cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin mâu thuẫn tuyệt đối với đứctin tôn giáo, do đó không có thể dung hợp giữa chủ nghĩa xã hội và tôn giáo và lậpluận này là không đúng, vì đã chủ quan đẩy mâu thuẫn, từ mâu thuẫn ở phương diệnnhận thức - không đối kháng, trở thành mâu thuẫn đối kháng

Lý tưởng của những người cộng sản là xây dựng “Thiên đường” nơi trần thếbằng bàn tay và khối óc của chính con người Tuy vậy, người cộng sản không hề cóchủ trương phủ nhận tôn giáo mà thừa nhận nó như một nhu cầu tất yếu của một bộphận nhân dân trong tiến trình phát triển của lịch sử Hơn nữa, tôn giáo và chủ nghĩa

xã hội có điểm tương đồng là đều mong muốn có một xã hội hạnh phúc, công bằng,bác ái, lấy điều thiện thắng điều ác

“Đối với chúng ta, sự thống nhất của cuộc đấu tranh thật sự cách mạng đó củagiai cấp bị áp bức để sáng tạo nên một cảnh cực lạc trên trái đất, là quan trọng hơn sựthống nhất ý kiến của những người vô sản về cảnh cực lạc trên thiên đường” [80,tr.174 ] Rồi nữa, “Trong cương lĩnh của chúng ta, chúng ta không tuyên bố và chúng

ta không nên tuyên bố chủ nghĩa vô thần của chúng ta Khắp nơi bọn tư sản phảnđộng đã chú trọng khêu lên những sự thù hằn tôn giáo, để làm cho quần chúng chú

ý về phía đó, khiến họ không để ý đến những vấn đề chính trị và kinh tế thật sự quantrọng và chủ yếu, những vấn đề mà giai cấp vô sản toàn nước Nga, thực tế đoàn kết lại

Trang 13

với nhau trong cuộc đấu tranh cách mạng của mình, hiện đang giải quyết” [80,

tr.174-175 ]

C.Mác và Ph.Ăng ghen từng căn dặn người cộng sản: “Không thể đả kích tôngiáo dưới hình thức thù địch cũng như dưới hình thức khinh bạc, chung cũng nhưriêng Nghĩa là, nói chung không được đả kích vào nó” [20, tr 23]

Sau này, Lênin cũng viết: “Còn như tuyên chiến với tôn giáo, coi đó là nhiệm

vụ chính trị của đảng công nhân, thì đó chỉ là một luận điệu vô chính phủ chủ nghĩa”.[81, tr.511.]

Vậy, theo chỉ dẫn của các nhà kinh điển mác - xít, Nhà nước của giai cấp vôsản nên xem tôn giáo là việc tư nhân, nghĩa là không nên phê phán những vấn đềthuộc thế giới bên kia Chuyện có thiên đường địa ngục, thần này thánh khác là vấn

đề của thần học, của tôn giáo Nhưng với tư cách là chủ thể quản lý xã hội, trong đó

có tôn giáo, thì Nhà nước có trách nhiệm và quyền hạn trên 2 vấn đề liên quan đến

tôn giáo, đó là Pháp luật và chính trị.

Theo chỉ dẫn đó, trong tiến trình cách mạng Việt Nam, nhà nước ta chưa baogiờ có chủ trương tiêu diệt tôn giáo, phủ nhận thượng đế của người có đạo, mà luôntôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, nghiêm cấm phân biệt sự đối xử vì lý do tínngưỡng, tôn giáo

Vậy khi giải quyết vấn đề tôn giáo, chúng ta cần phải đứng vững trên những nguyên tắc nào? Về điều này, theo quan điểm mác - xít, được khái quát trên 4 nguyên

xã hội; muốn xoá bỏ ảo tưởng nảy sinh trong tư tưởng con người, phải xoá bỏ nguồngốc sinh ra ảo tưởng ấy; phải xác lập được một xã hội hiện thực không có áp bức, bấtcông, nghèo đói và thất học cùng các tệ nạn nảy sinh trong nó Tất nhiên việc cải

Trang 14

tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới là một quá trình lâu dài, đòi hỏi phải khai thác vàphát huy tiềm năng của mọi cộng đồng xã hội, trong đó có đồng bào các tôn giáo.

Hai: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân.

Các nhà kinh điển Mác - xít quan tâm không chỉ tôn trọng quyền tự do tínngưỡng, mà còn cả quyền tự do không tín ngưỡng Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng

và không tín ngưỡng sẽ bảo đảm quan hệ tốt đẹp giữa những người vô thần và hữuthần, giữa những người có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau Nội dung căn bản củaquyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng là:

- Mọi công dân có quyền theo đạo, truyền đạo hoặc bỏ đạo; được hoàn toàn tự

do theo tôn giáo mình thích hoặc không theo một tôn giáo nào

- Tất cả mọi công dân có tín ngưỡng và không tín ngưỡng đều bình đẳng vềnghĩa vụ và quyền lợi

- Tất cả mọi tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân đều bình đẳng nhưnhau Nhà nước không coi tôn giáo nào là quốc đạo

Tuy nhiên cần chú ý rằng: Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng đồng thời phảichống lại những kẻ lợi dụng tôn giáo vì mục đích phi tôn giáo, mặt khác, không dungtúng cho những kẻ hành nghề mê tín dị đoan

Ba: Có quan điểm lịch sử cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo.

Nguyên tắc này có một ý nghĩa thực tiễn rất lớn Nó đòi hỏi chủ thể lãnh đạo,quản lý xã hội khi giải quyết vấn đề tôn giáo phải phù hợp với không gian, thời gian

cụ thể, như Lênin đã nhắc nhở: “Người mác - xít phải biết chú ý đến toàn bộ tình hình

Trang 15

giải pháp, cũng như tuyệt đối hoá một loại giải pháp nào đó đều là tai hại cho cả tôngiáo và cho chính trị cầm quyền.

Kế thừa và vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những tư tưởng đặc sắc về vấn đề này.

Trước hết cần thấy, tư tưởng của Người về tín ngưỡng, tôn giáo là sự vận dụngsáng tạo và phát triển Chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của ViệtNam Với Người, “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chânchính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” [46, tr.268] Nhưng,xuất phát từ đặc điểm lịch sử, văn hoá của dân tộc Á - Đông, Hồ Chí Minh cho rằng:

“C.Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử,

như-ng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhânloại Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộchọc phương Đông Đó chính là nhiệm vụ mà các Xô viết đảm nhiệm (ban thuộc địa

của chúng tôi vừa nhận được thư mời chúng tôi tham gia công tác này)” [45, tr.465].

Cũng trên quan điểm duy vật về lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ ChíMinh luôn nhấn mạnh đến việc phải xây dựng một xã hội tiến bộ thì mới có thể giảiquyết được vấn đề tôn giáo một cách tốt đẹp Từ chỗ nhấn mạnh: Tôn giáo không hềđối lập với CNXH, Người đã chăm lo chu đáo đến đồng bào có tôn giáo theo tinhthần “phần xác no ấm, phần hồn thong dong”

Trong ứng xử với tín đồ, chức sắc tôn giáo, Người thể hiện nổi bật tư tưởnghoà hợp, khoan dung, đó là sự cảm thông, chấp nhận và tôn trọng cái dị biệt, miễn làkhông trái với lợi ích chung của dân tộc, từ đó mà đạt được mục tiêu tương đồng

Chính vì thế, đồng bào Phật tử thấy Hồ Chí Minh như "Hiện thân" của vị “Bồ tát

Quán Thế Âm” vì "nhân duyên" dân tộc Việt Nam đau thương "trầm luân" trong nỗi

nhục mất nước ở cõi "Sha- bà" mà xuống cứu khổ cứu nạn Ngày nay, trong Phật giáo

và trong xã hội Việt Nam, tên Hồ Chí Minh được gán với quả vị Phật giáo, là Bồ tát

Hồ Chí Minh Còn đồng bào đạo Công giáo và đạo Tin lành luôn khâm phục và cảmđộng về việc, Người đã nguyện hy sinh cho Việt Nam độc lập, cho thế giới hoà bình,

nên thấy Người như bóng dáng của "Đức Chúa Ki-Tô” hy sinh thân mình để cứu

chuộc nhân loại

Trang 16

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo với tính cách là những quan điểm, nguyêntắc, tác giả khái quát như sau:

Thứ nhất, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc, tôn giáo với

cách mạng và tôn giáo với giai cấp, đó phải là nội dung cốt lõi trong chủ trương,chính sách tôn giáo của cách mạng Việt Nam

Thứ hai, luôn phải có tinh thần vận dụng, phát triển nguyên lý chủ nghĩa Mác

-Lênin và tham khảo kinh nghiệm của các nước khác về vấn đề tôn giáo, xem đó là cơ

sở quyết định cho việc xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách tôn giáo phù hợpvới từng giai đoạn cách mạng Việt Nam

Thứ ba, tôn trọng tự do tín ngưỡng phải đi đôi với đấu tranh chống mọi âm

mưu lợi dụng tôn giáo; phải khắc phục những mặc cảm tôn giáo, những hành vi làmtổn thương đến tình cảm quần chúng tín đồ

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo đã bổ sung cho Chủ nghĩa Mác - Lênin và

nó có sức sống từ thực tiễn của đất nước, dân tộc ta, để người cộng sản Việt Nam cóthái độ mềm mại hơn, khách quan hơn đối với tôn giáo

1.1.2 Quản lý nhà nước đối với tôn giáo

1.1.2.1 Khái ni ệm "Quản lý nhà nước" và “Quản lý nhà nước đối với tôn giáo”

Khái niệm “quản lý nhà nước” được hiểu ở cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội của Nhà nước, sử

dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động củacon người do tất cả các cơ quan Nhà nước (Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp) tiến hành

để thực hiện các chức năng của Nhà nước đối với xã hội

Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước là dạng quản lý xã hội mang quyền lực Nhà

nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơquan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, UBND các cấp)

Giáo trình Quản lý hành chính nhà nước của Học viện Hành chính quốc gia đãnêu: QLNN là hoạt động của Nhà nước trên lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư phápnhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của Nhà nước; là dạng quản lý xã hội

Trang 17

mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh cácquan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người [38].

Vậy, chủ thể QLNN là các cá nhân hay tổ chức mang quyền lực Nhà nước tácđộng tới đối tượng quản lý Còn đối tượng QLNN là toàn bộ công dân Việt Nam vànhững người không phải là công dân Việt Nam đang sống, làm việc trên lãnh thổ ViệtNam cùng toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội

Từ các khái niệm quản lý nhà nước như trên, khái niệm quản lý nhà nước đối

với tôn giáo cũng được hiểu theo hai nghĩa, rộng và hẹp.

Nghĩa rộng: Đó là quá trình dùng quyền lực nhà nước (quyền lập pháp, hành

pháp, tư pháp) của các cơ quan Nhà nước theo qui định của pháp luật để tác động,điều chỉnh, hướng các quá trình tôn giáo và hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức,

cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật, đạt được mục tiêu cụ thể quản lý

Nghĩa hẹp: Đó là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật

của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ và UBND các cấp) để điềuchỉnh các quá trình tôn giáo và mọi hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhântôn giáo diễn ra theo đúng qui định của pháp luật

Theo đó, QLNN đối với tôn giáo ở cả 2 nghĩa rộng, hẹp, đều tập trung, trước

hết và chủ yếu là quản lý các “hoạt động tôn giáo” Cụ thể hơn, đó là các hoạt động

tôn giáo liên quan, ảnh hưởng trực tiếp đến các lĩnh vực của đời sống xã hội Hoạtđộng đó là gì? Về việc này, tại khoản 5, điều 3 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo đã nêu:

“Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ

chức của tôn giáo”[77, tr.2].

Truyền bá giáo lý, giáo luật (còn gọi là truyền đạo) là việc tuyên truyền những

lý lẽ về sự ra đời, về luật lệ tôn giáo Thông qua hoạt động truyền đạo, niềm tin tôngiáo của tín đồ được củng cố, luật lệ của tôn giáo được các tín đồ thực hiện Cònngười chưa phải là tín đồ, hoạt động truyền đạo giúp họ hiểu, tin và theo tôn giáo.Vậy, hoạt động truyền đạo chính là để củng cố và phát triển tín đồ Tất nhiên, việctruyền đạo phải tuân thủ các quy định của pháp luật và nội dung, phương pháp truyềnđạo phải đúng với giáo lý của tôn giáo đó

Trang 18

Thực hành giáo luật, lễ nghi (còn gọi là hành đạo) là hoạt động của tín đồ,

chức sắc, nhà tu hành tôn giáo thể hiện sự tuân thủ nghiêm ngặt những quy định,phép tắc, thoả mãn đức tin tôn giáo của cá nhân hay cộng đồng tín đồ

Hoạt động quản lý tôn giáo là các tổ chức, giáo hội tôn giáo thực hiện các quy

định của giáo luật, thực hiện hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo, đảm bảo duytrì trật tự, hoạt động trong tổ chức tôn giáo

Trong các hoạt động đó, việc phân định ranh giới giữa hoạt động truyền đạovới hoạt động hành đạo cũng chỉ là tương đối, có không ít trường hợp trong hoạtđộng hành đạo có hoạt động truyền đạo

Từ đó chúng ta thấy, chủ thể QLNN về tôn giáo nếu theo nghĩa rộng của kháiniệm, thì đó là các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống lập pháp, hành pháp và tư pháp;còn theo nghĩa hẹp, nó chỉ gồm các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống hành pháp cáccấp

Còn khách thể QLNN đối với tôn giáo, đó là hoạt động tôn giáo của các tổchức tôn giáo, của tín đồ, chức sắc, nhà tu hành Là công dân Việt Nam, tín đồ, chứcsắc tôn giáo, nhà tu hành vừa mang những đặc điểm chung của người Việt Nam,nhưng đồng thời cũng có những nét đặc trưng riêng của người có đạo

Chúng tôi, trong luận văn này thường dùng khái niệm “QLNN đối với tôngiáo”, hoặc “QLNN về tôn giáo”, khi đó được hiểu là “QLNN đối với các hoạt độngtôn giáo”

Theo Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, tín đồ, đó là những người tin theo mộttôn giáo và được tổ chức tôn giáo thừa nhận Chức sắc tôn giáo là tín đồ có chức vụ,phẩm sắc trong tôn giáo Còn nhà tu hành, đó là tín đồ tự nguyện thực hiện thường

xuyên nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật của tôn giáo mà mình tin theo [77, tr.2].

Người làm công tác QLNN đối với tôn giáo, với họ, có một đòi hỏi bắt buộc là phảinắm vững về đặc điểm của tín đồ, chức sắc các tôn giáo, với tư cách là khách thểQLNN

Ở nước ta, tín đồ tôn giáo có đặc điểm là: Đa số họ là nông dân, vốn có bản

chất cần cù lao động, có lòng yêu nước nồng nàn, căm thù kẻ xâm lược và tầng lớpbóc lột Song bên cạnh đó, do cả vô thức và ý thức, một số tín đồ hoạt động tôn giáo

Trang 19

chưa tuân thủ pháp luật, tai hại hơn, bị các thế lực thù địch lợi dụng, nghe theo kẻ xấutham gia vào các vụ việc phức tạp, điểm nóng tôn giáo Một đặc điểm khác là, trongmỗi tín đồ đều có sự thống nhất (nhưng không đồng nhất) giữa mặt công dân và mặttín đồ Là công dân, họ có mọi quyền và nghĩa vụ đối với nhà nước như mọi công dânkhác Là người có tín ngưỡng tôn giáo, họ có niềm tin ở Chúa, Phật , có quyền lợi

và trách nhiệm đối với giáo hội Đây chính là đặc điểm quan trọng cần phải nắmvững

Còn chức sắc, nhà tu hành tôn giáo cũng có những đặc điểm chung của một tín

đồ, song họ còn có các đặc điểm riêng Đó là: Họ là những người được tổ chức tôngiáo lựa chọn, đào tạo cơ bản, nên có năng lực quản đạo và trình độ thần học cao;được tổ chức tôn giáo phong chức, phong phẩm Họ đại diện ở những mức độ khácnhau cho các tổ chức tôn giáo Họ vừa chăn dắt tín đồ, vừa quản lý nền hành chínhđạo theo thẩm quyền Trong quan hệ với tín đồ, họ là những người rất gần gũi, nắmbắt kịp thời tâm tự, nguyện vọng của tín đồ Như thế, họ có vị trí, vai trò và ảnhhưởng rất lớn, rất sâu sắc trong tín đồ, được tín đồ yêu quí, trân trọng và bảo vệ

Tiếp nữa, người làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo cũng phải nắm

vững đặc điểm của tổ chức tôn giáo Đó là: Tổ chức tôn giáo điều hành các hoạt động

tôn giáo; đại diện cho tín đồ trong quan hệ với Nhà nước và với các tổ chức khác cóliên quan Mỗi tôn giáo có bộ máy tổ chức riêng, hoạt động theo hiến chương, điều lệcủa mình Các tôn giáo có tư cách pháp nhân đều thể hiện đường hướng hành đạo gắn

bó, đồng hành cùng dân tộc Đa số các tổ chức tôn giáo có liên hệ đồng đạo với tổchức tôn giáo nước ngoài

Ngoài ra, khách thể QLNN về tôn giáo còn có cả cơ sở vật chất phục vụ các sinhhoạt tôn giáo Trong đó, cơ sở thờ tự không đơn giản chỉ là một thực thể vật chất, màcòn bao hàm ý nghĩa thiêng liêng, hội họp, văn hóa Còn đồ dùng việc đạo như kinhsách, tượng thờ, tranh ảnh, hoành phi, câu đối, lư hương, chuông mõ, nhạc cụ,…mỗithứ có chức năng, công dụng riêng trong sinh hoạt tôn giáo, nhưng đều có đặc điểm

là có giá trị vật chất và có ý nghĩa biểu đạt Ngoài ra, phục vụ cho sinh hoạt tôn giáocộng đồng còn có vườn hoa, trường học, nhà dòng, cơ sở từ thiện, nhà trẻ, bệnh xá,…

Trang 20

Nó là tài sản của giáo hội và là nơi diễn ra các hoạt động tôn giáo, được Nhà nướccấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giao cho tổ chức tôn giáo quản lý.

Như vậy, việc nắm chắc những đặc điểm của khách thể quản lý là một yêu cầutiên quyết đối với chủ thể quản lý, giúp cho công tác QLNN về tôn giáo có hiệu lựcmạnh và hiệu quả cao

Một vấn đề khác cũng cần nhận thức rõ, đó là vấn đề pháp nhân và thể nhân

tôn giáo Pháp nhân tôn giáo, đó là bộ máy tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận Còn thể nhân tôn giáo, đó là cá nhân tôn giáo (tín đồ) được tổ chức tôn giáo công

nhận

1.1.2.2 Tính t ất yếu tăng cường QLNN đối với tôn giáo

Vì sao phải tăng cường công tác QLNN đối với tôn giáo, việc này được xuấtphát từ các lý do khách quan và cơ bản

Thứ nhất, hoạt động tôn giáo có liên quan đến tất cả các lĩnh vực của đời sống

xã hội, do đó, với chức năng quản lý xã hội của mình, để đảm bảo cho xã hội ổn định,phát triển bình thường, tất yếu Nhà nước phải tăng cường quản lý các hoạt động tôngiáo

Thứ hai, sự nghiệp đổi mới do Đảng ta lãnh đạo diễn ra trên tất cả các lĩnh vực

của đời sống xã hội, trong đó có đời sống tôn giáo, vậy để đường lối, chính sách,pháp luật được hiện thực hoá, để đồng bào có và không có tôn giáo đoàn kết trongkhối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực cho sự thành công của công cuộc côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, Nhà nước phải tăng cường quản lý các hoạt động tôn giáo

Thứ ba, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách lợi dụng tôn giáo hống phá cách

mạng, vậy để đập tan âm mưu đó và để đồng bào lương - giáo tích cực tham gia xâydựng và bảo vệ Tổ quốc, tất yếu Nhà nước phải tăng cường quản lý các hoạt động tôngiáo

Thứ tư, Việt Nam mở cửa, hội nhập để phát triển, theo đó, các thế lực thù địch

cũng thông qua con đường hợp tác, liên doanh, du lịch thâm nhập vào những vùngnhạy cảm về tôn giáo, mua chuộc một số chức sắc, tín đồ tôn giáo, vậy để hội nhập quốc

tế có nhiều thành công, Nhà nước phải tăng cường quản lý các hoạt động tôn giáo

Trang 21

1.1.2.3 M ục tiêu, nguyên tắc và nội dung của QLNN về tôn giáo

Nội dung cơ bản của QLNN về tôn giáo được ghi nhận tại Pháp lệnh tínngưỡng, tôn giáo và được cụ thể hoá tại Nghị định số 22 của Chính phủ, hướng dẫnthực hiện Pháp lệnh trên Còn trước Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, Nhà nước ta mới

chỉ có Nghị định số 69 (năm 1991), Quy định về các hoạt động tôn giáo, và Nghị định số 26 (năm 1999), Về các hoạt động tôn giáo Như vậy, cho đến thời điểm này,

công cụ trực tiếp cho QLNN về tôn giáo chính là Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, cònluật thì chưa có

Vì thế vừa qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, ở nội dungtôn giáo, Báo cáo chính trị đã nêu: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tínngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng Phát huy những giá trị văn hóa,đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồsống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiếnchương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được nhà nước công nhận, đúng quy địnhcủa pháp luật Đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành

vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc”

[33, tr.245].

Còn trong Cương lĩnh xây dựng đất nước - bổ sung, phát triển, năm 2011,khẳng định: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tínngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật Đấu tranh và xử lýnghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tínngưỡng tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân” [33, tr.81]

Theo đó, quan điểm về vấn đề tôn giáo tại đây có những điểm mới là “Tiếp tụchoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm củaĐảng”; “quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiếnchương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được nhà nước công nhận, đúng quy địnhcủa pháp luật”

Trang 22

Từ đó, công tác QLNN về tôn giáo, từ mục tiêu, nguyên tắc và nội dung chođến phương pháp, cần phải được xác định rõ và bổ sung cho phù hợp với quan điểmcủa Đảng Về mục tiêu, theo chúng tôi, đó là:

Thứ nhất, QLNN đối với tôn giáo trước hết phải bảo đảm được quyền tự do tín

ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, để các hoạt độngtôn giáo được diễn ra bình thường, theo hướng tuân thủ pháp luật Rằng: “Người cótín ngưỡng, tín đồ được tự do bày tỏ đức tin, thực hành các nghi thức thờ cúng, cầunguyện và tham gia các hình thức sinh hoạt, phục vụ lễ hội, lễ nghi tôn giáo và họctập giáo lý tôn giáo mà mình tin theo" [77, tr3]

Thứ hai, QLNN đối với hoạt động tôn giáo phải phát huy được những gia trị

văn hoá và mặt tích cực, khắc phục những hạn chế, tiêu cực của tôn giáo trong sựphát triển của đất nước theo định hướng XHCN

Thứ ba, QLNN đối với tôn giáo phải góp phần củng cố, phát triển đồng bào có

và không có tín ngưỡng, tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cùng chungsức, chung lòng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Thứ tư, QLNN về tôn giáo phải đảm bảo tăng cường được vai trò lãnh đạo của

Đảng, quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo

Với mục tiêu đó, công tác QLNN đối với tôn giáo phải được dựa trên 3nguyên tắc sau:

Một, phải đứng vững trên đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà

nước về tôn giáo

Hai, phải đảm bảo để mọi tôn giáo hoạt động theo hướng tuân thủ hiến pháp,

pháp luật; để những hoạt động tôn giáo ích nước, lợi dân, vì lợi ích chính đáng và hợppháp của tín đồ được đảm bảo; hoạt động mê tín dị đoan phải bị phê phán và loại bỏ

Ba, phải xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật mọi hành vi lợi dụng tôn giáo để

chống phá chế độ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Còn về nội dung QLNN đối với tôn giáo, xuất phát từ quan điểm của Đảng vàtheo quy định pháp lý, có thể khái quát như sau:

Trước hết, với tính cách là một quy trình của QLNN đối với tôn giáo thì bao

gồm những nội dung:

Trang 23

- Xây dựng chiến lược dài hạn, kế hoạch năm năm và hàng năm thuộc lĩnh vựctôn giáo;

- Ban hành các văn bản qui phạm pháp luật đối với hoạt động tôn giáo;

- Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật đối với hoạt động tôn giáo;

- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với hoạt động tôn giáo;

- Qui định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo;

- Qui định về việc phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong công tác quản lýnhà nước đối với hoạt động tôn giáo;

- Tổ chức quản lý công tác nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chứclàm công tác tôn giáo;

- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật vềhoạt động tôn giáo

Tất cả những nội dung trên đều có ý nghĩa xác định cụ thể, nhưng lại có mốiquan hệ mật thiết với nhau, vì thế không thể xem nhẹ một nội dung nào

Tiếp theo, QLNN về tôn giáo với tính cách là giải quyết bằng quyền lực nhà

nước các hoạt động tôn giáo ở những lĩnh vực cụ thể khác nhau, thì nó bao gồm các

nội dung sau:

- Quản lý nhà nước các hoạt động tín ngưỡng;

- Quản lý việc đăng kí hoạt động của tổ chức tôn giáo và công nhận tổ chức tôngiáo;

- Quản lý việc chia tách, sáp nhập, hợp nhất các tổ chức tôn giáo trực thuộc;

- Việc đăng kí người vào tu và hoạt động của dòng tu, tu viện, hội đoàn tôngiáo;

- Quản lý việc phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử; cách chức,bãi nhiệm, thuyên chuyển trong tôn giáo;

- Quản lý về đại hội, hội nghị của tổ chức tôn giáo;

- Về việc đăng kí hoạt động tôn giáo (thường xuyên, đột xuất, ngoài cơ sở tôngiáo);

- Quản lý việc xây, sửa, cải tạo các công trình tôn giáo;

- Về đất đai, tài sản tôn giáo;

Trang 24

- Về hoạt động in ấn, xuất bản, phát hành các ấn phẩm tôn giáo;

- Quản lý việc kinh doanh, xuất, nhập khẩu kinh sách tôn giáo và đồ dùng việcđạo;

- Quản lý việc mở trường, lớp đào tạo, bồi dưỡng những người hoạt động tôngiáo chuyên nghiệp, giải thể trường đào tạo;

- Quản lý việc quyên góp; hoạt động từ thiện nhân đạo của các tôn giáo;

- Quản lý việc quan hệ quốc tế của các tổ chức và cá nhân tôn giáo;

- Quản lý về việc đình chỉ hoạt động tôn giáo

Những nội dung quản lý như trên được quy định tại Pháp lệnh tín ngưỡng, tôngiáo và trong Nghị định số 22/2005/NĐ-CP Tuy nhiên cho đến nay, nó đã và đang

có nhu cầu phải bổ sung cho phù hợp với thực tiễn Về vấn đề này, chúng tôi sẽ đềcập ở các chương sau

QLNN đối với tôn giáo có một số phương pháp chủ yếu được áp dụng như:Phương pháp giáo dục, thuyết phục, phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế,phương pháp cưỡng chế và phương pháp tổng hợp

Như vậy, QLNN đối với tôn giáo là tất yếu, không chỉ ở nước ta mà còn đốivới các nước khác Tuy nhiên, về mục đích, nội dung cụ thể của QLNN về tôn giáocũng khác nhau qua mỗi giai đoạn Vậy, chủ thể quản lý cần nắm vững quan điểmlịch sử cụ thể để công tác này có hiệu quả, hiệu lực cao nhất

1.2 TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở BẮC NINH 1.2.1 Một số đặc điểm của tỉnh Bắc Ninh liên quan đến tôn giáo

Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ, nằm gọn trong châu thổ sôngHồng, liền kề với thủ đô Hà Nội Phía Bắc Bắc Ninh giáp tỉnh Bắc Giang, phía Namgiáp tỉnh Hưng Yên và một phần Hà Nội, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương và phíaTây giáp thủ đô Hà Nội Bắc Ninh có nhiều thuận lợi cho sự phát triển toàn diện trêncác lĩnh vực xã hội và cũng là địa bàn mở rộng của Hà Nội qua xây dựng các thànhphố vệ tinh, là mạng lưới gia công cho các xí nghiệp của thủ đô trong quá trình côngnghiệp hoá - hiện đại hoá Bắc Ninh còn là cầu nối giữa Hà Nội và các tỉnh trung du,miền núi phía Bắc, trên đường bộ giao lưu chính với Trung Quốc và có vị trí quantrọng đối với an ninh quốc phòng

Trang 25

Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Bắc Ninh là 807,6 km2, trong đó đất nôngnghiệp chiếm 64,7%; đất lâm nghiệp chiếm 0,7%, đất chuyên dùng và đất ở chiếm23,5% & đất chưa sử dụng còn 11,1% Riêng đất đô thị là 1.158,9 ha chiếm 1,44%diện tích tự nhiên.

Về đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh Bắc Ninh

Trong những năm, qua kinh tế Bắc Ninh có những bước phát triển đáng kể cả

về quy mô và chất lượng Đặc biệt hệ thống 61 làng nghề truyền thống như: đúc đồng(Đại Bái, Gia Bình), sắt thép (Đa Hội - Từ Sơn), gỗ mỹ nghệ (Đồng Kỵ, Phù Khê -

Từ Sơn), đã và đang góp phần không nhỏ cho sự phát triển của Bắc Ninh Nhữngnăm qua, cùng với một số tỉnh đồng bằng Bắc bộ, Bắc Ninh đã đẩy mạnh việc thu hútđầu tư nước ngoài, hội nhập kinh tế quốc tế Đến nay trên địa bàn tỉnh đã có 15 khucông nghiệp, với 10 khu đã đi vào hoạt động, với 496 dự án đầu tư, trong đó 231 dự ánđầu tư nước ngoài của 8 quốc gia và các vùng lãnh thổ (Nhật Bản 37, Hàn Quốc 68,singapore 9, Đài Loan 22, Trung quốc 13 ) Tổng số CNVCLĐ tại tỉnh Bắc Ninhhiện nay là 132.650 người, trong đó khối khu vực ngoài quốc doanh 89.508 người, khuvực có vốn đầu tư nước ngoài 18.410 người, khu vực hành chính sự nghiệp 23.583người Tính đến tháng 5/2011, có 241 doanh nghiệp đi vào hoạt động thu hút 62.827lao động, trong đó người Bắc Ninh là 29.849 người chiếm 47,5%, còn lại là lao độngngoại tỉnh Tình hình đó đã làm biến đổi cơ bản bộ mặt của một tỉnh vốn có nền kinh

tế nông nghiệp là chính, chuyển sang nền kinh tế công nghiệp theo hướng hiện đại

Ở Bắc Ninh, nét tự hào về một nền văn hoá truyền thống không chỉ là nhữnggiá trị văn hoá phi vật thể, mà còn lưu giữ được hàng loạt địa danh gắn liền với ditích lịch sử - văn hoá và con người Kinh Bắc Những nơi đó, bên cạnh giá trị văn hoá,khoa học, lịch sử đáng trân trọng, thì còn là các điểm đang ngày càng hấp dẫn dukhách trong và ngoài nước tới tham quan du lịch

Nguồn nhân lực của Bắc Ninh khá dồi dào, với dân số hiện nay trên 1 triệungười Bắc Ninh có 8 đơn vị hành chính, với 126 xã, phường, thị trấn Tình hìnhchính trị xã hội của tỉnh trong những năm qua cơ bản ổn định; tốc độ tăng trưởngkinh tế khá cao, bình quân đạt 15,1% năm; đời sống của nhân dân nói chung, đồngbào có tôn giáo nói riêng, từng bước được cải thiện; quốc phòng an ninh được củng

Trang 26

cố vững chắc Số người trong độ tuổi lao động là 484.900 người (chiếm 50.5%),trong đó số qua đào tạo chiếm 18% Trình độ dân trí của người dân Bắc Ninh cao,hàng năm có 30% - 40% học sinh phổ thông thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng,trung học chuyên nghiệp.

Bắc Ninh vốn tự hào là quê hương của chùa tháp, đền đài, của lễ hội và sinhhoạt văn hoá dân gian nổi tiếng Nét nổi bật trong truyền thống văn hiến của ngườiKinh Bắc là truyền thống hiếu học và khoa bảng Suốt hơn 800 năm khoa cử chữ Hándưới thời phong kiến, Bắc Ninh đã sản sinh ra hơn 600 vị tiến sỹ Trong đó, nhiều vị

đã trở thành các nhân vật lịch sử, danh nhân văn hoá của đất nước, dân tộc, như LêVăn Thịnh, Nguyễn Gia Thiều, Dương Tử Do, Nguyễn Đăng Đạo, Nguyễn CôngHoan, Nguyễn Cao, Họ không chỉ là những nhà chính trị, quân sự, ngoại giao, màcòn là những nhà văn, nhà thơ tiêu biểu cho nền văn hiến Kinh Bắc nói riêng và củaViệt Nam nói chung

1.2.2 Tình hình tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

1.2.2.1 Tình hình tôn giáo nói chung

Trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có 2 tôn giáo chính, là Công giáo và Phật giáo, với

275 chức sắc, 632 cơ sở thờ tự, với 12.908 tín đồ, chiếm khoảng 11,28% dân cư tỉnh.Nhưng mấy năm gần đây, trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện thêm một tôn giáo nữa, đó làđạo Tin Lành và mặc dù tín đồ chưa đông (gần 100 người), nhưng xu hướng pháttriển tới đây chắc chắn sẽ rất mạnh

So với cả nước, các tôn giáo ở Bắc Ninh chiếm tỷ lệ nhỏ về số lượng quy môtín đồ, chức sắc Song từ phương diện tầm vai trò, địa tôn giáo thì Bắc Ninh từ hơnmột ngàn năm trước đây đã được thừa nhận là cái nôi, trung tâm Phật giáo của ViệtNam Còn với đạo Công giáo, Bắc Ninh cũng là trung tâm đầu não của Giáo phậnBắc Ninh, với Toà Giám mục nằm giữa TP Bắc Ninh, cai quản địa bàn giáo dân ở 10tỉnh trung du, đồng bằng Bắc Bộ

Hoạt động của các tôn giáo ở Bắc Ninh trong những năm qua cơ bản là ổnđịnh, sinh hoạt tôn giáo và đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của tín đồ, chức sắc diễn rabình thường Đại bộ phận chức sắc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo trong tỉnh antâm và tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo và phấn khởi trước những

Trang 27

thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và của đất nước Tín đồ, chức sắctích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội làm giàu cho gia đình, quê hương, đồngthời tham gia thường xuyên các hoạt động từ thiện, nhân đạo, xây dựng gia đình vănhoá ở khu dân cư, “sống tốt đời, đẹp đạo” và thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chínhtrị của địa phương.

Tuy nhiên, tình hình tôn giáo, tín ngưỡng ở tỉnh Bắc Ninh thời gian qua cũngnổi lên một số vấn đề cần quan tâm từ phương diện QLNN Đó là: hoạt động mê tín,

dị đoan ở một số lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo còn xảy ra; một số hoạt động tại cơ sởthờ tự của tôn giáo chưa tuân thủ các quy định của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo,của Luật di sản và các quy định khác của TW và địa phương Trong xây dựng, sửachữa cơ sở thờ tự, một số chức sắc tự ý huy động giáo dân triển khai khi hồ sơ xinphép còn thiếu, hoặc chưa được sự đồng ý của các cấp có thẩm quyền

Trong đạo Phật, việc cư trú, trụ trì của nhiều vị tăng ni tại các cơ sở thờ tự chưahợp pháp, gây khó khăn cho công tác QLNN Việc khiếu kiện đòi lại đất đai, cơ sở cũcủa các giáo hội còn tiềm ẩn dấu hiệu phức tạp Đặc biệt, hoạt động truyền đạo Tinlành trái phép và các đạo lạ trên địa bàn tỉnh đã và đang diễn ra vừa công khai, vừa

âm ỉ, rất khó kiểm soát từ phương diện công tác tôn giáo của các cơ quan chức năng

1.2.2.2 Tình hình, đặc điểm một số tôn giáo trên địa bàn

- Về đạo Phật ở Bắc Ninh

Bắc Ninh là địa bàn đầu tiên - sớm nhất của nước ta mà Phật giáo du nhập vào.Phật giáo ra đời vào thế kỷ thứ VI TCN, tại Ấn Độ và đến thế kỷ thứ III TCN, dướithời Asoka (Adục), Phật giáo phát triển rất mạnh, nhiều tăng sĩ đi sang các nướctruyền đạo Theo một số nhà khảo cổ học, chính tại thời kỳ này Phật giáo đã có mặt ởvùng Đồ Sơn (Hải Phòng), có điều, ý kiến này chưa có căn cứ vững chắc

Theo một số thư tịch cổ, như: Hậu Hán thư, Tuỳ thư, Lý hoặc luận, kinh Tứ

thập nhị chương,… thì cuối thế kỷ II SCN, Phật giáo đã du nhập trực tiếp từ Ấn Độ

vào nước ta Nơi tiếp nhận Phật giáo đầu tiên là vùng Luy Lâu (còn gọi là Liên Lâuhay Doanh Lâu), nay là vùng Dâu, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh

Trang 28

Các nhà nghiên cứu, như Nguyễn Quang Khải, nguyên Trưởng ban Tôn giáotỉnh Bắc Ninh, đã cho rằng, sở dĩ Phật giáo được du nhập đầu tiên vào vùng Dâu,Thuận Thành, là do nơi đây có một số điều kiện thuận lợi Đó là:

Về mặt giao thông, vùng Luy Lâu có con sông Dâu (nay đã chết) là một chi lưucủa sông Cái (sông Hồng), vừa sâu vừa rộng, đổ nước ra biển Đông Lòng sôngkhông có ghềnh thác, không có bãi cát nổi, nên rất thuận tiện cho việc đi lại củathuyền bè

Về mặt kinh tế- xã hội, thời kỳ đó Luy Lâu là thủ phủ của đế chế Hán, nên cómật độ dân cư đông đúc, buôn bán rất nhộn nhịp Mặt khác, người đứng đầu xứ Giaochâu thời ấy là Sỹ Nhiếp, là một trí thức thông hiểu sâu sắc cả Nho, Lão và rất có

cảm tình với đạo Phật Sách Hậu Hán thư chép rằng: “mỗi khi vương- chỉ Sỹ

Nhiếp-ra khỏi thành, có đến hàng chục người Hồ đi theo” (người Hồ tức là các tăng sĩ ẤnĐộ)

Về mặt tín ngưỡng dân gian, ở vùng Dâu là tín ngưỡng của cư dân nôngnghiệp, vốn coi trọng thờ các nhiên thần, như thần Mây, thần Mưa, thần Sấm, thầnChớp, thần thổ công, thổ địa Họ cũng thờ ông bà tổ tiên…và có cả tín ngưỡng thờ

đá, tín ngưỡng phồn thực,… Những tín ngưỡng này rất phù hợp với tín ngưỡng thờcúng của đạo Phật

Với những điều kiện thuận lợi như vậy nên các tăng sĩ Ấn Độ, trên đường đihoằng dương Phật pháp đã thấy Luy Lâu là nơi đất lành để có thể thực hiện được sứmệnh truyền giáo của mình

Phật giáo Bắc Ninh hiện nay có một số đặc điểm như sau:

Về tình hình tăng ni, theo thống kê năm 2008, cả tỉnh có 221 tăng ni, (kể cả

một số chưa có đầy đủ thủ tục hành chính) Trong đó, huyện Từ Sơn (nay là thị xã TừSơn) có 29 người, huyện Tiên Du có 28, huyện Yên Phong có 30, huyện Gia Bình có

21, huyện Thuận Thành có 27, huyện Lương Tài có 15, huyện Quế Võ có 13 và TP.Bắc Ninh có 58 người Nếu phân loại họ theo các tiêu chí đạo - đời thì: Có 01 Hòathượng, 2 Ni trưởng (1 vị mới viên tịch), 19 Ni sư, 15 Đại đức, 89 Tỷ khưu ni, 21 Sa

di ni, còn lại là hình đồng

Trang 29

Hiện nay có 1 vị là đại biểu HĐND tỉnh, 4 vị là đại biểu HĐND huyện, thị xã,

7 vị là đại biểu HĐND xã; 1 vị là thành viên Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh, 8 vị làthành viên Uỷ ban MTTQ Việt Nam huyện Có 4 người là đảng viên Đảng CSVN (2nam, 2 nữ; 2 chính thức, 1 dự bị, 1 không sinh hoạt)

Về trình độ Phật học, 12 vị có bằng Cao cấp Phật học, 51 vị có trình độ Trungcấp, 50 vị có trình độ Cơ bản Phật học Trong số này, có 12 vị học ở Trường Cao cấpPhật học Quán Sứ, Hà Nội, 15 vị tốt nghiệp trường Phật học TP Hồ Chí Minh, một

số học ở trường Trung cấp Phật học Hà Nội, 31 người tốt nghiệp Trường trung cấpPhật học Bắc Ninh

Về nguồn gốc xuất thân, đa số tăng ni ở tỉnh Bắc Ninh xuất thân từ nông dân;

có 4 người là công nhân viên chức nhà nước; 5 người trước khi đi tu đã tham giaquân đội và 1 người xuất thân là sinh viên đại học

Tình hình tổ chức của Phật giáo Bắc Ninh, năm 2001, Trường Trung cấp Phật

học được thành lập, đào tạo tăng ni của tỉnh đạt trình độ Trung cấp Phật học Phầngiảng dạy nội điển đều do các vị Hòa thượng và Đại đức trong Tỉnh hội Phật giáođảm nhiệm; phần bổ túc kiến thức văn hóa và phần ngoại điển, nhà trường nhờ Trungtâm Giáo dục thường xuyên huyện Quế Võ giúp đỡ

Tháng 9/2007, tại Đại hội Đại biểu Phật giáo tỉnh Bắc Ninh lần thứ VI đã suy

cử Ban Trị sự gồm 27 vị, do Hoà thượng Thích Thanh Sam làm Trưởng ban Ban Trị

sự đã suy cử ra Ban Thường trực, gồm 13 vị và thành lập các ban chuyên môn theoqui định của Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam1 Các huyện, thị xã đều cóBan Đại diện Phật giáo gồm có 3 thành viên, Trưởng Ban là ủy viên Ban Trị sự Phậtgiáo tỉnh

Hiện nay Tỉnh hội Phật giáo Bắc Ninh có 1 vị được suy cử làm Phó Pháp Chủ,kiêm Chánh Thư ký Hội đồng Chứng minh Trung ương GHPG Việt Nam; 01 vị trongHội đồng Trị sự Trung ương GHPG Việt Nam; 1 vị là Uỷ viên Uỷ ban Trung ươngMTTQ Việt Nam, đại biểu HĐND tỉnh; 01 vị Đại đức tham gia Hội Liên hiệp Thanhniên Việt Nam; 05 tham gia đại biểu HĐND cấp huyện, thành phố; 03 vị tham gia

1 Đó là: Ban Hoằng pháp, Ban Tăng sự, Ban Giáo dục tăng ni, Ban Hướng dẫn phật tử, Ban Kinh tế Tài chính, Ban

Quan hệ Quốc tế, Ban Nghi lễ, Ban Từ thiện xã hội, Văn phòng.

Trang 30

HĐND cấp xã, phường, thị trấn và một số là thành viên Uỷ ban MTTQ các cấphuyện, xã.

Về cơ sở thờ tự, tính đến năm 2008, cả tỉnh Bắc Ninh có 581 ngôi chùa, trong

đó có 53 chùa được công nhận di tích lịch sử cấp Quốc gia, 25 chùa là di tích lịch sửcấp tỉnh Các chùa phân bổ, ở huyện Lương Tài 95 chùa, huyện Gia Bình 88, huyệnThuận Thành 83, huyện Tiên Du 62, thị xã Từ Sơn 44, huyện Yên Phong 66, huyệnQuế Võ 77, TP.Bắc Ninh có 66 ngôi chùa

Những ngôi chùa ở Bắc Ninh có đặc điểm là quy mô rất to lớn, cổ kính và kiếntrúc tạo tác rất công phu, tài nghệ, như chùa Dâu, chùa Phật Tích, chùa Dạm, chùaBút Tháp, chùa Tiêu Sơn, Cổ Pháp, Đây là những công trình kiến trúc, điêu khắc cógiá trị lịch sử và giá trị văn hóa vô giá của Bắc Ninh và của dân tộc Việt Nam, xứngdanh là những danh lam cổ tự nổi tiếng, những di sản kiến trúc tiêu biểu của dân tộc,rất cần được bảo quản trùng tu, tôn tạo

Có thể nói, Phật giáo ở Bắc Ninh từ xưa đến nay đã phát huy được truyềnthống yêu nước, gắn bó với dân tộc Chức sắc, nhà tu hành và Phật tử Bắc Ninh luôntin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, thực hiện phương châm

hành đạo “Đạo pháp, dân tộc, chủ nghĩa xã hội”.

- Tình hình đạo Công giáo ở Bắc Ninh

Thời điểm xuất hiện đạo Công giáo ở Bắc Ninh, theo tư liệu của Tòa Giám

mục Bắc Ninh và của giáo xứ Tử Nê, đã có từ thời kỳ 1716- 1720 (thời chúa An Đôvương Trịnh Cương và vua Lê Dụ tông) Nơi xuất hiện các giáo sỹ Công giáo đầutiên là làng Tử Nê, xã Tân Lãng, huyện Lương Tài Người truyền đạo Công giáo đầutiên vào vùng này là giáo sĩ Giuong Messari, thuộc dòng Thừa sai, người Bồ ĐàoNha Sở dĩ đạo Công giáo được truyền vào Tử Nê đầu tiên, vì các giáo sĩ nhận thấy

Tử Nê có vị trí nằm cạnh sông Bái Giang, một đường giao thông thủy rất thuận lợicho việc đi lại; nhân dân lại có đời sống kinh tế trù phú; người dân có nếp sống hòamục, giàu lòng nhân ái,…

Đến năm 1826, đạo Công giáo phát triển sang làng Hương La, Ngọc Cục, BáiGiang (xã Tân Lãng) và Dị sử (nay là thôn Phượng Giáo, thuộc thị trấn Thứa) Năm

1880, đạo Công giáo phát triển lên làng Ngăm Điền (xã Lãng Ngâm, huyện Gia

Trang 31

Bình), rồi từ đây phát triển sang làng Cứu Sơn (xã Đông Cứu) và Cổ Thiết (xã GiangSơn) Năm 1882, đạo Công giáo phát triển đến làng Bùi Sải (tức Lai Tê), làng Nghĩa

La, xã Trung Chính, làng Bùi Xá (tức Thọ Ninh xã Phú Lương) Năm 1884, các thôn:Quỳnh Bội, Thủ Pháp, Ngô Thôn, Tháp Dương, Thanh Hà, Văn Thanh, Bình Giang

đã lác đác có người theo đạo

Tại các làng ở khu vực Bắc Đuống, đạo Công giáo cũng được truyền vào sớm.Năm 1802, đã có giáo sĩ nước ngoài đến làng Xuân Hòa (xã Đại Xuân, Quế Võ)truyền đạo và từ đây dần phát triển ra các vùng lân cận Năm 1869, giáo sĩ phươngTây đến làng Dũng Vi (xã Tri Phương huyện Tiên Du) Năm 1880, các nhà truyềngiáo đã vào các làng Thị Cầu, Đáp Cầu, trung tâm thị xã Năm 1894, làng Ngô Khê(xã Phong Khê, Yên Phong) bắt đầu có người theo đạo

Thời kỳ này, các giáo sĩ rất tích cực truyền giáo và người đi đầu là Giám mụcColomer Lễ Trong bức thư viết năm 1889, Giám mục Lễ đã cho biết thực tế: “Nhờ

ơn Chúa, địa phận trở nên rất thịnh vượng Người xin theo đạo đông lắm Có nhiềulàng xin trở lại hết Trước năm 1884, tại tỉnh lỵ Bắc Ninh chỉ có một gia đình có đạo,

mà bây giờ đã được 300 giáo dân rồi…”[68, tr,9]

Tình hình Công giáo Bắc Ninh hiện nay

Tỉnh Bắc Ninh có Toà Giám mục Bắc Ninh Giáo phận Bắc Ninh nằm trên địabàn 5 tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc; 4 huyện thuộcthủ đô Hà Nội và một số xã, huyện thuộc các tỉnh: Lạng Sơn, Tuyên Quang, HàGiang, Phú Thọ, Hưng Yên và Hải Dương Giáo phận trải rộng trên diện tích 24.600km2, với tổng dân số gần 9 triệu người, trong đó có khoảng 125.000 tín hữu, chiếm tỷ

lệ 1,38 % dân số, với 336 giáo họ Trên địa bàn giáo phận, miền thượng du có một sốđồng bào dân tộc ít người cũng theo đạo

Ngày 07/10/2008, giám mục Cosma Hoàng Văn Đạt được phong chức Giámmục chính tòa Tổng số linh mục của giáo phận là 58, riêng địa bàn tỉnh Bắc Ninh,đến đầu năm 2011, có 1 giám mục và 20 linh mục

Tình hình giáo hạt, giáo xứ, giáo họ Ở Bắc Ninh hiện nay đạo Công giáo tổ

chức thành 2 giáo hạt: Nam Đuống và Bắc Đuống, với 6 giáo xứ và 34 giáo họ Cácgiáo xứ là: Tử Nê, (gồm các giáo họ: Phượng giáo, Hương La, Ngọc Cục, Bái Giang,

Trang 32

Khương Tự, Ngọc Khám, Ngô Thôn, Cứu Sơn, Tân Cương); Lai Tê (giáo họ: ThọNinh, Nghĩa La); Xuân Hòa (giáo họ: Xuân Bình, Phượng Mao, Trại Phán, Trại Hà,Trại Đường, Xuân Thủy, Bất Phí, Kim Chân); Phong Cốc (giáo họ: Kiều Lương,Xuân Thủy, Mao Trung, Guột, Quảng Lãm, Phố Mới, Từ Phong); TP Bắc Ninh (giáohọ: Thị - Đáp Cầu, Thanh Sơn, Nam Viên, Văn Trung, Ngô Khê, Đồng Nhân, NguyệtCầu, Trung Nghĩa) và giáo xứ Cẩm Giang (giáo họ: Dũng Vi, Vĩnh Phú, Đồng Lạng,Trà Sơn).

Tình hình các ban hành giáo và các hội đoàn Bắc Ninh hiện có 6 BHG xứ và

34 BHG họ, với 157 thành viên (109 nam, 48 nữ) Trong đó, các huyện Lương Tài có

45, Quế Võ có 37, Tiên Du có 27, Yên Phong có 10, Gia Bình có 16, Thuận Thành có

6, thị xã Từ Sơn có 7, TP Bắc Ninh có 9 Cụ thể số thành viên của mỗi BHG là: 3BHG có 8 thành viên; 4 BHG có 7 thành viên; 1 BHG có 6 thành viên; 11 BHG có 5thành viên; 5 BHG có 4 thành viên; 7 BHG có 3 thành viên; 5 BHG có có 2 thànhviên

Về đất đai, cơ sở thờ tự của các xứ, họ đạo Công giáo Theo số liệu thống kê

năm 2003, các xứ họ đạo Công giáo Bắc Ninh đang sử dụng tổng số diện tích đất đailà: 117.383,5 m2

Cả tỉnh có 33 nhà thờ, trong đó có 5 nhà thờ được xây dựng từ thế kỷ XIX, 20nhà thờ được xây dựng trước năm 1945, 3 nhà thờ xây dựng sau năm 1954 và 1 nhàthờ xây dựng sau năm 1979 Về số lần sửa chữa lớn, có 23 nhà thờ được sửa chữamột lần, 6 nhà thờ sửa chữa 2 lần, 4 nhà thờ sửa chữa 3 lần Hiện còn 5 nhà thờ hưhỏng, xuống cấp Số còn lại còn tốt hoặc tương đối tốt Có 3 nhà nguyện (Quế Võ 2,Yên Phong1) Hầu hết các nhà thờ đều có tượng chúa Giê su, Đức Mẹ Maria, thánhquan thầy; có tranh 14 đường thánh giá, có tháp chuông, có bục để linh mục giảngkinh, có ghế để giáo dân dự lễ và có dàn nhạc

- Tình hình đạo Tin Lành:

Đạo Tin lành xuất hiện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh bắt đầu từ tháng 02/2003 tạiTrần Xá, Yên Trung huyện Yên Phong Cho đến nay đạo Tin lành đã truyền vào 18điểm thuộc 7/8 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh, bao gồm các huyện Thuận Thành,Gia Bình, Yên Phong, Lương Tài, TP.Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn

Trang 33

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đã có 90 người theo đạo Tin Lành, trong đóthị xã Từ Sơn có 11 người, TP Bắc Ninh 37 người, huyện Gia Bình 07, huyện ThuậnThành 23 và huyện Yên Phong có 12 người Tin lành truyền vào Bắc Ninh hầu hết làcác hệ phái chưa có tư cách pháp nhân, như: Nhân chứng Giêhôva, Việt Nam truyềngiáo, Liên đoàn Truyền giáo Phúc âm - Hội thánh Phúc âm, Nhân chứng lời sựsống

Những người theo đạo Tin lành ở Bắc Ninh có đặc điểm là, đa số là người bịbệnh tật, có hoàn cảnh khó khăn, neo đơn và học sinh Do họ được đối trượng truyềnđạo tuyên truyền “ai ốm đau bệnh tật thì theo học và tin nhận Chúa, đọc kinh thánh,hát thánh ca, cầu nguyện sẽ khỏi bệnh” Ngoài ra, các đối tượng truyền đạo còn tổchức cho tín đồ đi picnic, có hỗ trợ một phần kinh phí

Hình thức truyền đạo Tin lành, nếu là người lớn thì tuyên truyền bằng kinh sách,còn trẻ em được tuyên truyền bằng hình thức kể chuyện

Việc truyền đạo Tin lành trái phép ở một số địa phương đã gây chia rẽ, mất đoànkết, phương hại đến tình cảm trong dòng họ, gia đình, làng xóm láng giềng… Bởi vì,đạo Tin lành không thờ cúng ông bà tổ tiên, nên trái với thuần phong, mỹ tục, truyềnthống bản địa Mặt khác, đạo còn làm mất ổn định về an ninh chính trị địa phương.Như vậy, để nhận thức và tác động một cách khoa học trên vấn đề tôn giáo, cầnphải dựa vào cơ sở lý luận mác - xít QLNN về tôn giáo là tất yếu khách quan, có nộidung, nguyên tắc và phương pháp cụ thể, nhằm đoàn kết lương giáo, hoà hợp dân tộc.Tỉnh Bắc Ninh không có nhiều tôn giáo, tín đồ không đông như một số tỉnh kề bên.Song tôn giáo và tín đồ các tôn giáo ở đây có những đặc điểm riêng, rất đáng kể, nhưPhật giáo từng là cái nôi của Phật giáo Việt Nam; đạo Công giáo du nhập vào BắcNinh khá sớm và là đầu não của giáo phận Bắc Ninh, có các địa bàn phụ thuộc rấtrộng lớn Riêng đạo Tin lành ở Bắc Ninh mới du nhập vào, bắt đầu thu hút tín đồ từthành phần yếu thế, bằng cách thức mê tín Song, với đà phát triển của kinh tế có vốnđầu tư nước ngoài, chắc chắn những năm tiếp theo đây, đạo Tin lành sẽ phát triểnnhanh cả về quy mô, hệ phái và cơ cấu dân cư

Trang 34

Chương 2 CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÔN GIÁO Ở BẮC NINH VÀ

NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

2.1 SỰ CHỈ ĐẠO CỦA TỈNH UỶ, UBND TỈNH VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY LÀM CÔNG TÁC QLNN VỀ TÔN GIÁO Ở BẮC NINH

2.1.1 Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Bắc Ninh chỉ đạo công tác tôn giáo

Trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã quan tâm đổi mới về quanđiểm, chính sách đối với tôn giáo Nghị quyết số 24/NQ-TW, của Bộ Chính trị khẳngđịnh: “Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài, tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thầncủa một bộ phận nhân dân Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộcxây dựng xã hội mới Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọngquyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện đoàn kết Lương - Giáo, đoàn kết toàndân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ” Theo đó, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghịđịnh số 69/NĐ-HĐBT, ngày 21/3/1991, về quy định các hoạt động tôn giáo CònHiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1992, đến năm 2001, có sửa đổi, bổsung về vấn đề tôn giáo (điều 70) Ngày 02/7/1998, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 37/CT-

TW, về công tác tôn giáo trong tình hình mới và ngày 19/4/1999, Chính phủ ban hànhNghị định số 26/1999/NĐ-CP, về các hoạt động tôn giáo, thay thế Nghị định số69/HĐBT

Ngày 12/3/2003, có Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban chấp hành TW Vềcông tác tôn giáo, và đến ngày 18/6/2004, UBTV Quốc hội khoá 11 đã ban hànhPháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; còn Chính phủ, ngày 01/3/2005, ra Nghị định22/2005/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo.Riêng đối với đạo Tin lành, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 01/CT-TTg, ngày04/2/2005, về một số công tác đối với đạo Tin Lành Đối với nhà đất liên quan đếntôn giáo, ngày 31/12/2008, Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị 1940/CT-TTg, về nhà,đất liên quan đến tôn giáo

Ngoài ra, còn có một số văn bản hướng dẫn của Nhà nước và các Bộ, ngànhliên quan, như: Quyết định của Bộ trưởng Bộ Văn hoá-Thông tin, số 72/1998/QĐ-

Trang 35

BVHTT, ngày 17/01/1998, Ban hành quy chế tạm thời về xuất bản các xuất bảnphẩm tôn giáo; Thông báo số 184 TB/TƯ, ngày 31/11/1998, của Thường vụ BộChính trị và thông báo số 225 TB/TƯ, ngày 7/10/1999 của Bộ Chính trị (khoá VIII),

về chủ trương đối với đạo Tin Lành trong tình hình mới; Quyết định số 125/QĐ-TTgcủa Chính phủ về chương trình thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấphành Trung ương Đảng khoá IX

Các văn bản trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các tôn giáo vàmang tính đổi mới hơn nhiều so với trước Nó là cơ sở pháp lý trực tiếp để Tỉnh ủy,UBND tỉnh Bắc Ninh chỉ đạo, triển khai công tác tôn giáo nói chung và công tácQLNN đối với tôn giáo nói riêng trên địa bàn tỉnh mình

Cụ thể, ngày 23/8/1999, UBND tỉnh Bắc Ninh ban hành Kế hoạch số

23/1999/KH-UB, về việc thực hiện Nghị định số 26/1999/NĐ-CP, ngày 19/4/1999,

của Chính phủ Về các hoạt động tôn giáo Kế hoạch này đã phân định rõ trách nhiệm

của từng ngành, từng cấp trong công tác tôn giáo và xác định nhiệm vụ cụ thể choBan Tôn giáo tỉnh, với tư cách là cơ quan chuyên môn có chức năng tham mưu giúpUBND tỉnh thực hiện chức năng QLNN về tôn giáo trên địa bàn

Sau khi có Nghị quyết số 24-NQ/TW và Chỉ thị số 37-CT/TW của Bộ Chính trị, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã có Kế hoạch số 15-KH/TU, ngày 24/12/1998, về thực

hiện Chỉ thị số 37-CT/TW; Kế hoạch số 24-KH/TU, ngày 21/2/2000, về Phát triển

đảng viên là người Công giáo và Chỉ thị số 05-CT/TU, ngày 09/5/2002, về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng đối với công tác tôn giáo trong tình hình

mới.

Khi Ban chấp hành TW Đảng (khoá IX) ra Nghị quyết số 25-NQ/TW về Côngtác tôn giáo và khi Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 125/2003/QĐ-TTg, vềviệc phê duyệt Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW, Tỉnh uỷ Bắc Ninh đã xây dựng Chương trình số 46/CTr/TU, ngày

14//5/2003, thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 (phần 2) Ban chấp hành TW Đảng khoá IX về công tác tôn giáo Thực hiện Hướng dẫn số 2831-HD/TTVH, ngày

25/3/2003, của Ban Tư tưởng văn hoá TW về việc nghiên cứu, quán triệt, tuyêntruyền và tổ chức thực hiện các Nghị quyết Hội nghị TW lần thứ 7 (khoá IX), Ban

Trang 36

Thường vụ Tỉnh uỷ đã có Kế hoạch số 29-KH/TW ngày 02/4/2003 về triển khai,

nghiên cứu, quán triệt và tổ chức các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khoá IX).

Ban chấp hành Tỉnh uỷ đã xây dựng Chương trình hành động số 46-Ctr/TU về công

tác tôn giáo Chủ tịch UBND tỉnh có Quyết định số 982/QĐ-CT, ngày 29/8/2003, về việc phê duyệt kế hoạch của UBND tỉnh thực hiện chương trình hành động của Chính phủ và của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về công tác tôn giáo.

Ngày 8/8/2008, Ban TV tỉnh uỷ có Quyết định số 579-QĐ/TU về việc kiện

toàn Ban chỉ đạo công tác tôn giáo tỉnh; ra Quy chế làm việc số 01-QC/BCĐ, ngày

30/12/2008, phân công nhiệm vụ cho các thành viên Ban chỉ đạo

Để triển khai và thực hiện Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định số22/NĐ-CP, ngày 1/3/2005, của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Pháplệnh tín ngưỡng, tôn giáo, UBND tỉnh Bắc Ninh đã ra Quyết định số 11/2009/QĐ-

UBND, ngày 22/01/2009, về việc ban hành Quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục,

thời hạn giải quyết một số việc về tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.

Còn Sở Nội vụ đã có Hướng dẫn số 101/HD-SNV, ngày 09/3/2009, hướng dẫn thực

hiện một số điều của Quyết định này.

Thực hiện Nghị định số 22/2004/NĐ-CP, ngày 21/01/2004, của Chính phủ vềkiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác tôn giáo thuộc UBND các cấp; Nghị định số172/2004/NĐ-CP, ngày 29/9/2004, quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộcUBND huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Thông tư số 25/2004/TT-BNV, ngày19/4/2004, hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức cơ quanchuyên môn giúp UBND QLNN về công tác tôn giáo ở địa phương, UBND tỉnh Bắc

Ninh đã có Quyết định số 216/2004/QĐ-UB, ngày 27/12/2004, về việc quy định tổ

chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Bắc Ninh; Quyết định số

102/2004/QĐ-UB, ngày 30/6/2004, về việc ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ,

quyền hạn, tổ chức bộ máy và mối quan hệ công tác của Ban Tôn giáo tỉnh Bắc Ninh.

Có thể nói, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Bắc Ninh đã nhanh chóng và kịp thời thể chếhoá các văn bản của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo, không chỉ thể hiện thái

độ nghiêm túc đối với nguyên tắc tập trung dân chủ, mà còn là việc làm có tính tiênquyết, quyết định để cho công tác tôn giáo nói chung và công tác QLNN về tôn giáo

Trang 37

nói riêng của Bắc Ninh luôn được chủ động và thành công Đây nên xem là một bàihọc quý đối với quy chế lãnh đạo, quản lý đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước, từcấp TW đến địa phương.

2.1.2 Tổ chức bộ máy làm công tác QLNN về tôn giáo ở Bắc Ninh

Sau khi có Nghị định số 22/2004/NĐ-CP, ngày 21/01/2004, của Chính phủ vềkiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác tôn giáo thuộc UBND các cấp và Thông tư số25/2004/TT-BNV, ngày 19/4/2004, của Bộ Nội vụ về kiện toàn tổ chức bộ máy làmcông tác tôn giáo thuộc UBND các cấp, UBNH tỉnh Bắc Ninh đã có Quyết định số

102/2004/QĐ-UB, ngày 30/6/2004, về việc ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ,

quyền hạn, tổ chức bộ máy và mối quan hệ công tác của Ban Tôn giáo tỉnh Bắc Ninh.

Theo quy định này, Ban Tôn giáo tỉnh là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, cóchức năng tham mưu, giúp UBND tỉnh QLNN về tôn giáo tại địa phương và thựchiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của UBND tỉnh; góp phần đảmbảo sự thống nhất quản lý trong lĩnh vực công tác tôn giáo từ TW đến địa phương.Ban Tôn giáo có chức năng quản lý công tác tôn giáo, chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổchức, biên chế và công tác của UBND tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra vềnghiệp vụ của Ban Tôn giáo Chính phủ

Ngày 8/8/2007, Chính phủ có Nghị định số 08/NĐ-CP "Về việc chuyển banThi đua - khen thưởng TW, Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban cơ yếu Chính phủ vào BộNội vụ" và đến ngày 04/02/2008, Chính phủ ban hành Nghị định 13/2008/NĐ-CP,quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc

TW Trong đó, điểm a, khoản 1, điều 8, chương II quy định: "Sáp nhập Ban Thi đua Khen thưởng và Ban Tôn giáo các tỉnh, thành phố trực thuộc TW hoặc bộ phận làm

-công tác tôn giáo các tỉnh, thành phố trực thuộc TW vào Sở Nội vụ" Ngày

04/6/2008, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 04/2008/TT-BNV "Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Nội vụ, Phòng Nội vụ thuộc

UBND cấp tỉnh, cấp huyện" Trong đó, điểm đ, khoản 2, mục III quy định: "UBND cấp tỉnh quyết định thành lập Ban tôn giáo hoặc Phòng Tôn giáo Ban Tôn giáo (nếu có) là tổ chức tương đương Chi cục trực thuộc Sở, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng" Cũng tại Thông tư này quy định, công tác tôn giáo ở địa

Trang 38

phương sẽ nằm trong Phòng Nội vụ thuộc UBND cấp huyện, do đó không có PhòngTôn giáo ở cấp huyện nữa Ngày 20/5/2010, Bộ Nội vụ lại có Thông tư số04/2010/TT-BNV, hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và biên chếcủa Ban Tôn giáo trực thuộc Sở Nội vụ thuộc UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc

TW Căn cứ vào những văn bản trên, UBND tỉnh đã có Quyết định số

139/QĐ-UBND, ngày 2/12/2010, về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu

tổ chức của Ban Tôn giáo tỉnh trực thuộc Sở Nội vụ tỉnh Bắc Ninh Quyết định này

thay thế Quyết định số 102/2004/QĐ-UB, ngày 30/6/2004

Theo Quyết định này, Ban Tôn giáo tỉnh là tổ chức tương đương Chi cục trựcthuộc Sở Nội vụ, giúp Giám đốc Sở tham mưu cho UBND tỉnh thực hiện chức năngQLNN về lĩnh vực tôn giáo; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạtđộng của Sở; chịu sự hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Ban Tôn giáo Chínhphủ trực thuộc Bộ Nội vụ Ban Tôn giáo tỉnh có tư cách pháp nhân, có con dấu và tàikhoản riêng, có trụ sở, biên chế, kinh phí hoạt động do ngân sách nhà nước cấp theoquy định của pháp luật

Ban Tôn giáo tỉnh thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Xây dựng trình cấp có thẩm quyền các dự thảo văn bản quy phạm pháp luậtthuộc lĩnh vực tôn giáo

- Xây dựng trình Giám đốc Sở Nội vụ ban hành theo thẩm quyền hoặc trìnhcấp có thẩm quyền ban hành chương trình, quy hoạch, kế hoạch dài hạn, năm năm vàhàng năm về lĩnh vực tôn giáo

- Thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vàchương trình, quy hoạch, kế hoạch dài hạn năm năm và hàng năm về lĩnh vực tôngiáo sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt

- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáođối với cán bộ, công chức, viên chức và tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, nhân

sỹ các tôn giáo trong phạm vi quản lý của tỉnh

- Giải quyết theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền giải quyết nhữngvấn đề cụ thể về tôn giáo theo quy định của pháp luật Chủ trì, phối hợp với các sở,

Trang 39

ngành tham mưu cho Sở Nội vụ trình UBND giải quyết những vấn đề phát sinh trongtôn giáo; là đầu mối liên hệ giữa chính quyền địa phương với các tổ chức tôn giáo.

- Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnhvực tôn giáo theo quy định của pháp luật

- Thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác tôn giáo cho côngchức, viên chức thuộc phạm vi quản lý của Ban

- Thực hiện việc áp dụng chính sách đãi ngộ đối với những tổ chức, cá nhântôn giáo

- Thực hiện việc nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực tôn giáo, tổng kết thựctiễn, cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng và thực hiện các chủ trương chínhsách đối với tôn giáo

- Tham gia quản lý các khu di tích, danh lam, thắng cảnh có liên quan đến tôngiáo

- Hướng dẫn tổ chức làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo thuộc PhòngNội vụ cấp huyện giải quyết những vấn đề cụ thể về tôn giáo theo quy định của phápluật

- Quản lý về tổ chức, biên chế, tài chính, tài sản, cán bộ, công chức thuộc Bantheo phân cấp của Giám đốc Sở Nội vụ và theo quy định của pháp luật

- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Sở Nội vụ hoặc cơ quan có thẩmquyền giao theo quy định của pháp luật

Ban Tôn giáo tỉnh Bắc Ninh, nếu trước năm 2005, chỉ có 5 cán bộ, thì nay đãtăng lên 9, trong đó có 01 Trưởng ban, 02 phó ban (01 Phó ban kiêm Trưởng phòng)

và 01 Trưởng phòng hành chính, còn lại là chuyên viên Ở cấp huyện, trước đây chỉ

có 01 lãnh đạo Văn phòng UBND huyện kiêm nhiệm, nay có đồng chí phó PhòngNội vụ trực tiếp phụ trách công tác tôn giáo và 01 chuyên viên theo dõi giúp việc.Còn ở cấp xã, ngoài Phó Chủ tịch UBND phụ trách còn có đồng chí cán bộ Văn hoáhoặc MTTQ làm công tác tôn giáo

Có thể nói, Ban tôn giáo Bắc Ninh, cũng như các tỉnh khác (cả Ban tôn giáoChính phủ), trong thời gian qua đã có những biến đổi lớn về bộ máy, nhân sự Trong

đó đáng kể nhất là, từ một ban ngang với sở, thì nay là một bộ phận trực thuộc sở Sự

Trang 40

biến đổi đó đã tạo ra tâm trạng băn khoăn của một số ít người, nhất là những ngườigiữ cương vị chủ chốt Chúng tôi chia xẻ với các đồng chí đó, bởi không phải không

có yếu tố hợp lý Song về cơ bản, chúng tôi cho rằng, sự biến đổi đó là khởi đầu củanhững cải cách bộ máy làm công tác QLNN đối với tôn giáo, để nó có chất lượng caohơn, có hiệu lực rõ ràng hơn và có hiệu quả tốt hơn Đó là chưa nói, công tác QLNNđối với tôn giáo, nếu hiểu theo nghĩa rộng và cả nghĩa hẹp thì không thể chỉ do mộtBan tôn giáo đảm đương Sự biến động theo chiều hướng phát triển chất lượng của bộmáy QLNN về tôn giáo, theo cảm nhận của chúng tôi, đã và đang được thể hiện từBan tôn giáo Chính phủ, khi mà cán bộ được tăng cường có chất lượng hơn, một sốchức năng được mở rộng và đi vào chiều sâu hơn, điều kiện làm việc tốt hơn 2

2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÔN GIÁO Ở TỈNH BẮC NINH

2.2.1 Quản lý về hoạt động xây dựng, trùng tu, sửa chữa cơ sở thờ tự

Về nguyên tắc, Nhà nước ta bảo hộ các tài sản hợp pháp của tôn giáo, nghiêmcấm việc xâm phạm đến tài sản đó Đối với đất đai có các công trình do cơ sở tôngiáo sử dụng, gồm đất chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện, trường đào tạonhững người chuyên hoạt động tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, các cơ sở kháccủa tôn giáo , được Nhà nước cho phép hoạt động và được sử dụng ổn định lâu dài.Vấn đề là, việc quản lý sử dụng phải tuân thủ theo quy định của Luật đất đai và củaChỉ thị 1940 của Thủ tướng Chính phủ Nhà nước tạo điều kiện cho các tổ chức tôngiáo được cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới các công trình tín ngưỡng, tôn giáo Việcsửa chữa, nâng cấp, xây dựng này tuân thủ theo quy định của pháp luật về xây dựng

Trong những năm qua, công tác QLNN đối với hoạt động xây dựng, trùng tu,sửa chữa cơ sở thờ tự ở tỉnh Bắc Ninh luôn được các cơ quan có thẩm quyền quantâm, đảm bảo cho các tôn giáo có cơ sở và điều kiện hành đạo Ban Tôn giáo tỉnh đãtham mưu cho UBND giải quyết kịp thời, đúng quy định của pháp luật về các vấn đềliên quan đến đất đai, xây dựng, nâng cấp cơ sở tôn giáo, đáp ứng được nhu cầu vànguyện vọng chính đáng của các tôn giáo

2 Ban tôn giáo Chính phủ đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trường bồi dưỡng, đào tạo cán bộ làm công tác tôn giáo và Viện nghiên cứu chính sách tôn giáo.

Ngày đăng: 07/03/2017, 06:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá IV (1981), Nghị quyết số 40/NQ-TW về tăng cường công tác tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 40/NQ-TW vềtăng cườngcông tác tôn giáo
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá IV
Năm: 1981
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ Bảy (khoá IX) (2003), Nghị quyết số 25/NQ-TW, ngày 12/3/2003 về công tác tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghịquyết số 25/NQ-TW, ngày 12/3/2003 về công tác tôn giáo
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ Bảy (khoá IX)
Năm: 2003
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1998), Chỉ thị số 37/CT-TW ngày 02/7/1998 về công tác tôn giáo trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 37/CT-TW ngày02/7/1998 về công tác tôn giáo trong tình hình mới
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 1998
6. Ban Tôn giáo Chính phủ (2001), Các văn bản pháp luật quan hệ đến tín ngưỡng tôn giáo, NXB tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản pháp luật quan hệ đến tín ngưỡngtôn giáo
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính phủ
Nhà XB: NXB tôn giáo
Năm: 2001
7. Ban Tôn giáo Chính phủ (2003), Tập văn bản về tổ chức và đường hướng hành đạo của các tôn giáo tại Việt Nam, NXB Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập văn bản về tổ chức và đường hướng hànhđạo của các tôn giáo tại Việt Nam
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính phủ
Nhà XB: NXB Tôn giáo
Năm: 2003
11. Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương ( 2003), Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết Hội nghị lần thứ bày Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu các Nghịquyết Hội nghị lần thứ bày Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
12. Bộ Chính trị ( 1990), Nghị quyết số 24/NQ-TW ngày 16/10/1990 về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 24/NQ-TW ngày 16/10/1990 về tăng cườngcông tác tôn giáo trong tình hình mới
13. Bộ Chính trị (02/07/1998), Chỉ thị số 37 - CT/TW về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 37 - CT/TW về tăng cường công táctôn giáo trong tình hình mới
14. Bộ Nội vụ (2004), Thông tư số 25/2004/TT-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức cơ quan chuyên môn giúpUBND quản lý nhà nước về công tác tôn giáo ở địa phương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số25/2004/TT-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệmvụ, quyền hạn và cơ cấu tổchức cơ quan chuyên môn giúp
Tác giả: Bộ Nội vụ
Năm: 2004
20. C.Mác-Ăng ghen toàn tập (1995), tập1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: tập1
Tác giả: C.Mác-Ăng ghen toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
24. Chính phủ ( 2005), Nghị định số 22/2005/NĐ-CP ngày 01/3/2005 hướngdẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, NXB Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 22/2005/NĐ-CP ngày 01/3/2005 hướng"dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo
Nhà XB: NXB Tôn giáo
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1986
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trongthời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sựthật
Năm: 1991
27. Đảng Cộng sản Việt Nam (1992), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trịQuốc gia
Năm: 1992
28. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
Năm: 1996
29. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đại hội lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội lần thứ 5, Ban Chấp hànhTrung ương Đảng khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
Năm: 1998
30. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
Năm: 2001
31. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghịlần thứbảy, BanChấp hành Trung ương khoá IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
32. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiệnĐại hội đại biểu toàn quốclần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
Năm: 2006
33. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
Năm: 2011

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w