Nghiên cứu về nghi lễ vòng đời của người Dao Thanh Y ở xã Bằng Cả, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh giúp chúng ta hiểu biết một cách toàn diện và có hệ thống sự đa dạng trong văn hóa của
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS Phạm Quang Hoan
2 TS Đặng Thị Hoa
Hà Nội - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung trình bày trong luận án là kết quả điều tra khảo sát thực địa của tác giả tại tỉnh Quảng Ninh Các số liệu, kết quả trong luận án hoàn toàn trung thực
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án Tiến sĩ về đề tài: Nghi lễ vòng đời của người
Dao Thanh Y ở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn
chân thành tới:
- Ban Giám hiệu trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội - Nhà Hát NTTH nơi tôi đang công tác, đã tạo điều kiện về thời gian để tôi hoàn thành chương trình học tập và thực hiện luận án
- Học viện Khoa học xã hội và Khoa Dân tộc học đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận án
- Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ninh, cán bộ huyện, xã
và đồng bào Dao Thanh Y, Dao Thanh Phán, xã Bằng Cả, huyện Hoành Bồ, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh, địa bàn nơi tôi điền dã, nghiên cứu đã nhiệt tình giúp đỡ và cộng tác giúp tôi thu thập thông tin, tư liệu của luận án
- Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã chia sẻ, khích lệ tôi trong thời gian thực hiện luận án
- Tập thể hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Quang Hoan và TS Đặng Thị Hoa đã tư vấn, định hướng khoa học rõ ràng cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận án Tập thể hướng dẫn đã có những ý kiến gợi mở
và đóng góp trực tiếp vào các nội dung nghiên cứu của luận án
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 06 tháng 6 năm 2016
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 8
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
1.2 Các khái niệm tiếp cận và cơ sở lý thuyết 14
1.3 Giới thiệu về người Dao Thanh Y ở tỉnh Quảng Ninh 21
Chương 2: NGHI LỄ SINH ĐẺ VÀ CHĂM SÓC, NUÔI DẠY CON 34
2.1 Quan niệm của người Dao Thanh Y về con người và sinh đẻ 34
2.2 Nghi lễ và kiêng cữ trong quá trình mang thai 35
2.3 Nghi lễ và các kiêng kỵ khi sinh con 38
2.4 Lễ đặt tên 40
2.5 Nghi lễ nhận con nuôi 44
2.6 Biến đổi trong nghi lễ sinh đẻ 44
Chương 3: NGHI LỄ TRƯỞNG THÀNH (LỄ CẤP SẮC) 50
3.1 Tên gọi và ý nghĩa của lễ cấp sắc trong cộng đồng người Dao ở nước ta 50
3.2 Lễ cấp sắc của người Dao Thanh Y ở Hoành Bồ tỉnh Quảng Ninh 53
3.3 Các bước chuẩn bị nghi lễ 56
3.4 Các bước nghi lễ cấp sắc 60
3.5 Những biến đổi trong nghi lễ cấp sắc 67
Chương 4: NGHI LỄ TRONG HÔN NHÂN VÀ CƯỚI XIN 72
4.1 Quan niệm của người Dao về hôn nhân 72
4.2 Các nghi lễ trong đám cưới 76
4.3 Các nghi lễ sau đám cưới 87
4.4 Biến đổi trong nghi lễ hôn nhân 90
Chương 5: NGHI LỄ TANG MA 99
5.1 Quan niệm của người Dao Thanh Y về sự tồn tại của linh hồn và cái chết 99
Trang 55.2 Nghi lễ trong tang ma 101
5.3 Biến đổi trong nghi lễ tang ma 116
Chương 6: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 119
6.1 Kết quả 119
6.2 Bàn luận 126
KẾT LUẬN 145
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH 149
TÀI LIỆU THAM KHẢO 150
DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI CUNG CẤP THÔNG TIN 161
PHỤ LỤC ………
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống của các dân tộc luôn là vấn
đề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm Trong xu thế phát triển hiện nay, dưới
sự tác động mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa, kinh tế thị trường và đô thị hóa, nhiều thành tố của nghi lễ trong văn hóa truyền thống tộc người đang bị biến đổi Trong bối cảnh đó, nghiên cứu về văn hóa tộc người nói chung, nghi
lễ vòng đời của các tộc người nói riêng có ý nghĩa quan trọng, góp phần gìn giữ
và phát huy các giá trị bản sắc văn hóa của các tộc người
Dân tộc Dao là một trong số ít các dân tộc ở Việt Nam có nhiều nhóm địa phương như: Dao Tiền, Dao Đỏ, Dao Tuyển, Dao Họ, Dao Quần Chẹt, Dao Thanh Y, Dao Lô Gang…, Mỗi nhóm Dao có những đặc trưng văn hoá riêng, đa dạng trong các thành tố văn hoá nhưng lại thống nhất trong một số nghi lễ truyền thống tộc người Nghiên cứu về nghi lễ vòng đời của người Dao Thanh Y ở xã Bằng Cả, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh giúp chúng ta hiểu biết một cách toàn diện và có hệ thống sự đa dạng trong văn hóa của tộc người Dao nói chung, người Dao Thanh Y nói riêng, đồng thời cung cấp những luận cứ và tư liệu khoa học cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu khoa học, góp phần bảo tồn và phát huy văn hóa các giá trị truyền thống của người Dao Thanh Y trước sự mai một và biến đổi, trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa
Hoành Bồ là huyện miền núi của tỉnh Quảng Ninh, có 5 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó, người Dao có hơn 10.515 người với hai nhóm chính
là Dao Thanh Y và Dao Thanh Phán Người Dao Thanh Y cư trú tập trung ở các xã: Tân Dân (1.804 người), Bằng Cả (1.239 người), Đồng Lâm (2.095 người) Những giá trị văn hóa phi vật thể của người Dao Thanh Y như: Hội làng, lễ cấp sắc, hát giao duyên, tục cưới hỏi, ma chay được duy trì và bảo
Trang 8tồn từ đời này sang đời khác Trong đó, nghi lễ vòng đời của người Dao Thanh
Y đã trở thành dấu ấn trong tiềm thức, là nét đẹp văn hóa tinh thần không thể thiếu của mỗi người dân nơi đây và cũng là một nét sinh hoạt văn hóa cộng đồng mang đặc trưng văn hóa truyền thống của các dân tộc ở Việt Nam
Các loại hình sinh hoạt văn hóa của mỗi dân tộc được hình thành từ những thói quen, phong tục tập quán trong đời sống sinh hoạt phù hợp với điều kiện tự nhiên, mang những biểu trưng riêng, đậm bản sắc văn hóa tộc người Nghi lễ vòng đời của người Dao Thanh Y là một di sản văn hóa quý báu, đồng thời cũng là một kho tư liệu rất quý giúp cho việc nghiên cứu về nhiều lĩnh vực như: Tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa tộc người… Các nghi lễ vòng đời của người Dao Thanh Y cũng chứa đựng nhiều nội dung tư tưởng mang tính giáo dục sâu sắc, thể hiện bản chất tốt đẹp và mang đậm bản sắc dân tộc Dao Thông qua nội dung các bài cúng khấn, các bài hát trong nghi lễ
đã nói lên khát vọng của con người mong muốn có một cuộc sống hạnh phúc, thể hiện những quan niệm về đạo đức, chứa đựng những giá trị nhân văn mang tính hướng thiện và có tính giáo dục sâu sắc Đồng thời cũng thể hiện quan niệm đạo đức về lòng chung thủy, tình nghĩa vợ chồng qua lễ kết hôn; quan niệm về nguồn gốc, tổ tiên dòng họ qua lễ cúng Bàn Vương; học giáo lý của Đạo giáo, học đạo lý làm người qua lễ cấp sắc
Trong quá trình hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, việc giao lưu và tiếp biến văn hóa của người Dao ở Việt Nam nói chung và người Dao Thanh Y ở
xã Bằng Cả, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh nói riêng đã và đang diễn ra Khi vốn văn hóa các dân tộc, đặc biệt là ở nhóm Dao Thanh Y, đang dần biến đổi, thậm chí có thể mai một mất đi, thì việc nghiên cứu và bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa ấy trong cuộc sống đương đại là rất cần thiết Do đó, việc nghiên cứu về nghi lễ vòng đời của người Dao Thanh Y trong bối cảnh hiện nay không chỉ góp phần giữ gìn truyền thống văn hóa tốt đẹp của tộc người
mà còn cung cấp những luận cứ khoa học giúp tỉnh Quảng Ninh nhận rõ
Trang 9những giá trị văn hóa của người Dao Thanh Y để có hướng bảo tồn, kế thừa
và phát huy những mặt tốt cho việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, giúp
cơ quan quản lý nhà nước có những giải pháp phù hợp trong việc ổn định an ninh chính trị, kinh tế, xã hội, bảo tồn và phát huy các di sản của các tộc
người phù hợp với tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII Về xây dựng
và phát triển nền văn hoá Việt Nam, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, và tiếp
tục triển khai Nghị quyết Trung ương 9, khóa XI Về xây dựng và phát triển
văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước
Xuất phát từ những nhận thức trên, với thực tế hơn 25 năm làm công tác văn hóa, tác giả luận án là một giảng viên, biên đạo múa dân gian, dân tộc Nghiên cứu và tìm hiểu nghi lễ vòng đời của người Dao Thanh Y, với mong muốn đóng góp thêm vào sự hiểu biết sâu sắc hơn những đặc trưng văn hoá, về nguồn gốc lịch sử, về sự giao lưu, ảnh hưởng văn hoá của nhóm Dao Thanh Y với các nhóm Dao khác ở tỉnh Quảng Ninh, từ đó cung cấp những tư liệu khoa học cho các cấp chính quyền địa phương nơi đây trong việc đề xuất, tìm ra các giải pháp thích hợp trong việc giữ gìn, làm giàu bản sắc văn hoá phù hợp với chủ trương, chính sách về nếp sống văn hoá mới của Đảng và Nhà nước tại địa
phương Vì vậy, tác giả đã chọn vấn đề Nghi lễ vòng đời của người Dao Thanh
Y ở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành
Nhân học
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu luận án
- Nghiên cứu có hệ thống và toàn diện nghi lễ vòng đời của người Dao Thanh Y ở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh, góp phần làm sáng tỏ đặc trưng văn hóa của người Dao Thanh Y trong đời sống văn hóa tinh thần truyền thống cũng như những biến đổi hiện nay
- Thông qua nghiên cứu, làm rõ những yếu tố biến đổi trong nghi lễ vòng đời của người Dao Thanh Y từ năm 1986 đến nay, tìm ra những giá trị và một
Trang 10số hạn chế của các nghi lễ trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hoá tộc người
- Đề xuất quan điểm và giải pháp cho việc bảo tồn và phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt không còn phù hợp trong nghi lễ vòng đời của người Dao Thanh Y
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận án
- Đối tượng nghiên cứu của luận án là nghi lễ vòng đời (gồm: sinh đẻ, cấp sắc, hôn nhân và tang ma) của nhóm Dao Thanh Y ở Quảng Ninh, trong
đó tập trung nghiên cứu, thu thập tư liệu tại xã Bằng Cả, huyện Hoành Bồ
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu nghi lễ sinh đẻ, nghi lễ trưởng thành (lễ cấp sắc), nghi lễ hôn nhân và nghi lễ tang
ma của người Dao Thanh Y từ truyền thống đến biến đổi Phạm vi truyền thống được giới hạn là giai đoạn trước năm 1986; Giai đoạn biến đổi được xác định là từ đổi mới năm 1986 đến nay
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Phương pháp luận
Thực hiện luận án này, tác giả dựa trên cơ sở lý luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin để xem xét đối tượng nghiên cứu có mối quan hệ lịch đại và đồng đại, có sự vận động, biến đổi liên tục trong quá trình phát triển của lịch sử từ truyền thống đến hiện đại; nghiên cứu sự biến đổi trong các nghi lễ vòng đời của người Dao Thanh Y ở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh trong mối tương tác với các điều kiện kinh tế - xã hội, giao lưu tiếp biến văn hóa tộc người Luận án còn dựa trên các quan điểm đổi mới của Đảng và Nhà nước ta về văn hóa, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tộc người phục vụ cho mục đích phát triển và hướng tới phát triển bền vững
Phương pháp nghiên cứu
Trang 11Trong quá trình thực hiện luận án, tác giả đã sử dụng những phương pháp cơ bản sau:
- Phương pháp điền dã dân tộc học: Đây là phương pháp chủ đạo, quan
trọng nhất nhằm thu thập tài liệu để xây dựng luận án Tác giả đã sử dụng các công cụ nghiên cứu trong điền dã dân tộc học như: Quan sát thực địa, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm: Mỗi công cụ được sử dụng linh hoạt tuỳ thuộc vào nhóm đối tượng Tác giả đã thực hiện hơn 35 cuộc phỏng vấn sâu với các đối tượng, lựa chọn khác nhau về lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp và địa vị xã hội như thầy cúng, chủ hộ gia đình, nghệ nhân, cán bộ quản lý… Đây là những người am hiểu phong tục tập quán của người Dao Thanh Y ở địa phương để tìm hiểu chi tiết về các nghi lễ vòng đời Qua phỏng vấn sâu, tác giả đã thu thập được các tư liệu cần thiết để so sánh đồng đại, lịch đại, so sánh giữa các nhóm đối tượng cung cấp thông tin… Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng để thu thập thông tin chung của cộng đồng và các ý kiến đánh giá dựa vào cộng đồng
Bằng các công cụ nghiên cứu, tác giả tập trung thu thập các tư liệu như: quá trình thực hiện nghi lễ, các nghi thức, các trò diễn Trong quá trình sử dụng phương pháp quan sát, phỏng vấn, ghi chép của điền dã Dân tộc học có sự trợ giúp của một số phương tiện như máy camera, máy ảnh, máy ghi âm …
- Phương pháp tọa đàm, xin ý kiến chuyên gia: Tác giả thực hiện trao đổi
trực tiếp với những chuyên gia nghiên cứu về lĩnh vực nghi lễ như các cán bộ nghiên cứu văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh, các chuyên gia ở Trung ương có kinh nghiệm nghiên cứu trong lĩnh vực về nghi lễ vòng đời, có kiến thức về văn hoá Dao…, để thu thập những ý kiến đánh giá chuyên sâu và những kinh
nghiệm của họ phục vụ cho các vấn đề nghiên cứu của luận án
- Phương pháp hệ thống, so sánh, thống kê: Trong quá trình nghiên
cứu, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu hệ thống, so sánh, thống kê có chọn lọc nguồn tài liệu của các nhà khoa học khác để kế thừa bổ sung và rút ra các điểm riêng và chung của đề tài Một số vấn đề trong luận án
Trang 12được so sánh cả lịch đại và đồng đại nhằm tìm ra sự biến đổi của nghi lễ vòng
đời và những tác động của nó trong đời sống xã hội của người Dao Thanh Y
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án là công trình nghiên cứu tổng thể, toàn diện, có hệ thống và chuyên sâu đầu tiên dưới góc độ chuyên ngành Nhân học về nghi lễ vòng đời của người Dao Thanh Y ở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
- Góp phần hiểu biết sâu sắc hơn về những đặc trưng văn hoá của nhóm Dao Thanh Y, về sự giao lưu, ảnh hưởng văn hoá giữa họ với các nhóm Dao cũng như với các dân tộc khác ở tỉnh Quảng Ninh Việc nghiên cứu cũng giúp chúng ta hiểu biết đầy đủ hơn về truyền thống văn hóa, nguồn gốc lịch sử của người Dao Thanh Y tại một địa phương
- Góp thêm nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu, giảng dạy, các nhà quản lý và hoạch định, thực thi chính sách về phát huy các giá trị văn hoá truyền thống tộc người trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Quảng Ninh và với dân tộc Dao ở nước ta hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án
Luận án được xây dựng từ các tư liệu thực tế, dưới góc nhìn Nhân học, góp phần cung cấp cho người đọc một cách có hệ thống những thông tin mới
về nghi lễ vòng đời của người Dao Thanh Y
Qua việc thực hành các nghi lễ (như sinh đẻ, lễ cấp sắc, hôn nhân, tang ma) chúng ta thấy được giá trị văn hoá, thẩm mỹ, thế giới quan, nhân sinh quan, bản sắc văn hoá tộc người trải qua các giai đoạn phát triển của xã hội, thấy được những mặt tích cực cũng như yếu tố không còn phù hợp với đời sống văn hoá mới góp phần làm cơ sở khoa học cho các cấp chính quyền địa phương nơi đây trong việc đề xuất, xây dựng và triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách về nếp sống văn hoá mới của Đảng và Nhà nước tại địa phương, các giải pháp thích hợp trong việc giữ gìn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong phong trào xây dựng nông thôn mới,
Trang 13phát triển du lịch văn hoá, du lịch cộng đồng ở huyện Hoành Bồ và Festival
Hạ Long của tỉnh Quảng Ninh
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án được kết cấu thành 6 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và giới thiệu địa bàn nghiên cứu
Chương 2: Nghi lễ sinh đẻ và chăm sóc, nuôi dạy con Chương 3: Nghi lễ trưởng thành (lễ cấp sắc)
Chương 4: Nghi lễ trong hôn nhân và cưới xin Chương 5: Nghi lễ tang ma
Chương 6: Kết quả và bàn luận
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT,
GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
Nghiên cứu về người Dao ở Việt Nam của các tác giả nước ngoài thời kỳ Pháp thuộc chủ yếu là các linh mục, sĩ quan, một số nhà nghiên cứu khoa học Pháp Nhiều tài liệu viết về người Dao ở nước ta được công bố trên các tập san của Trường Viễn đông Bác cổ (BEFEO) và xuất bản thành sách Đó là các bài
viết của M.Abadie và A.Bonifacy như: Một cuộc công cán ở vùng người Mán
từ tháng 10 năm 1901 đến cuối tháng giêng năm 1902 [5] Hầu hết các công
trình nghiên cứu này đề cập đến các khía cạnh văn hóa của một số nhóm Dao ở nước ta như ngôn ngữ, sản xuất kinh tế, phong tục tập quán trong sinh đẻ, cưới xin, ma chay Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ dừng lại dưới dạng mô tả khái quát và không đi sâu về các nghi lễ vòng đời
Trong số các tác giả người Pháp, đáng chú ý là A Bonifacy, một nhà ngôn ngữ học, đã điều tra điền dã ở nhiều địa phương có người Dao cư trú và thống kê các tên gọi của từng nhóm Dao (cả tên tự gọi và tên các dân tộc khác gọi) Ông đã tiến hành phân loại các nhóm Dao trên cơ sở dựa vào hai phương
ngữ, trong đó các nhóm Dao gọi từ người là Mun có Mán Quần Trắng, Mán Lam Điền, Mán Quần Cộc; còn những nhóm gọi từ người là Miên có Mán
Tiền, Mán Đại Bản hay Mán Sừng Có lẽ ông đọc được các loại sách ghi chép bằng chữ Nôm Dao, nên một số công trình nghiên cứu của ông về tôn giáo tín ngưỡng và văn học dân gian đến nay vẫn còn giá trị tham khảo
Các học giả Xô Viết trước đây cũng quan tâm nghiên cứu về người Dao
ở Việt Nam Có thể kể đến một số tác giả như A.I.Lexkinen, N.N.Tsebocxrov, I.A.Tsebocxrova, M.V.Kriukov Trong đó, đáng chú ý tới công trình "Chủng tộc, Dân tộc, Văn hóa" được xuất bản năm 1971 bằng tiếng Nga Công trình này đã đề cập đến các yếu tố nhân chủng và một số tập quán liên quan đến các
Trang 15nhóm Dao Đỏ, Dao Thanh Y và Dao Quần Trắng ở Việt Nam, song hầu như không có tư liệu về nghi lễ vòng đời của tộc người này
Ngoài ra, phải kể đến một số bài viết của các học giả quốc tế và Việt Nam
đã trình bày tại Hội nghị quốc tế học về người Dao được tổ chức tại Trung Quốc và Việt Nam Những bài tham luận khoa học này đã góp phần làm rõ các vấn đề liên quan tới văn hóa và sự biến đổi kinh tế - xã hội của người Dao
ở Việt Nam và các nước trong khu vực
1.1.2 Nghiên cứu của các tác giả trong nước
Trong các tài liệu thư tịch, người Dao được giới thiệu về nguồn gốc, một
số phong tục tập quán dưới tên gọi là Man Chẳng hạn như: Kiến văn tiểu lục
của Lê Quý Đôn [30]; “Hưng hóa xứ phong thổ lục" [11]… Các công trình
này ít nhiều đề cập đến nhóm man (từ chỉ chung cho một số dân tộc thiểu số ở miền núi), trong đó có người Dao Đáng chú ý là tác phẩm Hưng Hóa ký lược
của Phạm Thận Duật có đề cập nhiều đến các dân tộc ở vùng Tây Bắc Việt
Nam, trong đó có người Dao Trong mục Phong tục tập quán, Phạm Thận
Duật có nhắc đến đôi nét về người Mán Sừng (Dao Đỏ), người Mán Đạn Tiên (Dao Làn Tiên) Tuy nhiên, ông mới chỉ đề cập tới tên gọi, đặc điểm trang phục và một số tập quán trong hoạt động kinh tế, lối sống [18]
Từ sau khi giải phóng miền Bắc đến nay, để phục vụ cho việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, nhiều nhà nghiên cứu Dân tộc học, Văn hóa học đã có nhiều công trình nghiên cứu về người Dao ở Việt Nam Đáng chú ý là Trần Quốc Vượng [114], [115], [116]; Bế Viết Đẳng [26], [27], [28];Bàn Tài Đoàn [29];Nguyễn Khắc Tụng [89], [90]; Phan Hữu Dật [13], [14], [15], [16], [17]; Lý Hành Sơn [67], [68], [69], [70], [71]; Trần Hữu Sơn [72], [73], [74], [75];Lê Sỹ Giáo [34];Phạm Quang Hoan, Hùng Đình Quý [52]; Nguyễn Ngọc Thanh [77]; Ngô Đức Thịnh [82], [83], [84];Triệu Tài Lâm [58]; Hoàng Lương [65]; Vương Xuân Tình [86]; Phạm Văn Dương [24]… Các công trình nghiên cứu trên đã cho chúng ta một cái nhìn tổng thể
và khá chi tiết về người Dao ở Việt Nam Với nhiều nguồn tư liệu điền dã phong phú, chính xác, cụ thể, các tác giả đã đề cập khái quát về tên gọi,
Trang 16nguồn gốc lịch sử, địa bàn cư trú, các hình thức sinh kế, đời sống vật chất, phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, văn học nghệ thuật, tri thức dân gian và những biến đổi trong đời sống sinh hoạt của dân tộc Dao ở nước ta từ sau 1954 đến nay
Cũng từ 1954 đến nay, nghiên cứu trực tiếp về các nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Dao, có một số công trình nghiên cứu của Lý Hành Sơn:
Những tập tục liên quan đến dân số và kế hoạch hóa gia đình của người Dao Tiền ở huyện Ba Bể, Cao Bằng [68], Lễ cưới của người Dao Tiền ở Ba Bể, Bắc Kạn [69], Các nghi lễ chủ yếu trong chu kì đời người của nhóm Dao Tiền
ở Bắc Kạn [71], Lễ cấp sắc và bản sắc văn hóa Dao [70]… Trên cơ sở mô tả
khá sinh động các nghi lễ chủ yếu trong chu kì đời người và quá trình biến đổi của những nghi lễ đó, tác giả Lý Hành Sơn đã làm rõ vai trò, chức năng, giá trị của những nghi lễ này cũng như đặc trưng văn hóa của người Dao nói chung, nhất là người Dao Tiền ở Bắc Kạn
Việc nghiên cứu cụ thể về các nghi lễ trong chu kỳ đời người của dân tộc
Dao còn thấy ở các công trình khác như: Tục cấp sắc của người Dao và tính
giáo dục của nó trong sự phát triển văn hoá xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai [36], Tập tục chu kỳ đời người của các tộc người ngôn ngữ Mông - Dao ở Việt Nam[61], Người Dao ở Lạng Sơn[63], Lễ cưới người Dao Tuyển
[75], Phong tục tập quán của người Dao Thanh Hoá [111]…
Điểm lại các công trình nghiên cứu về người Dao ở Việt Nam cho thấy, các nhà nghiên cứu dân tộc học, văn hóa học đã quan tâm tới nhiều khía cạnh, lĩnh vực trong đời sống văn hóa - xã hội của người Dao Đây là nguồn tài liệu phong phú và quí giá để nghiên cứu một cách toàn điện hơn, sâu sắc hơn về các nghi lễ vòng đời của dân tộc Dao ở nước ta
1.1.3 Nghiên cứu về người Dao ở Quảng Ninh
Năm 1999, trong khuôn khổ Chương trình bảo tồn văn hóa phi vật thể,
Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Quảng Ninh đã thực hiện dự án điều tra, sưu tầm
lễ cấp sắc của người Dao Thanh Phán ở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh Dự
án đã sưu tầm đầy đủ lễ cấp sắc, mô tả đầy đủ các bước trong lễ cấp sắc của
Trang 17người Dao Thanh Phán và Dao Thanh Y tại địa phương, 15 nghi lễ của người Dao Thanh Y và 12 nghi lễ của người Dao Thanh Phán đã được công trình trình bày sơ lược các bước trong nghi lễ, cũng như diễn giải ý nghĩa của các bức tranh bắt buộc phải có trong lễ cấp sắc Có thể nói, lễ cấp sắc là một trong những phong tục cổ truyền của người Dao chứa đựng nhiều yếu tố văn hóa tâm linh cũng như nghệ thuật rất phong phú và đa dạng Những yếu tố đó có tính nhân văn sâu sắc và được coi như triết lý sống của người dân
Năm 2005, Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở báo cáo điều tra, sưu tầm hội làng của người Dao Thanh Y ở xã Bằng Cả, huyện Hoành
Bồ đã lập dự án bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Dao xã Bằng Cả, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh Trong dự án này, các tác giả đã trình bày các nhóm Dao hiện đang sinh sống tại Quảng Ninh và cách thức phân loại của từng nhóm Dao, cũng như đề cập một cách khái quát về đời sống kinh tế - xã hội của người Dao tại xã Bằng Cả
Ngoài những chương trình lớn kể trên, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ninh (trước đây là Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Quảng Ninh) còn chỉ đạo thực hiện việc sưu tầm, bảo tồn các loại hình dân ca, dân vũ Dao, lập dự án đầu tư bảo tồn làng truyền thống dân tộc Dao Thanh Y Qua dự án bảo tồn làng truyền thống của người Dao Thanh Y cho thấy, đây là chủ trương lớn của tỉnh trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa gắn với phát triển du lịch, gắn với mục tiêu bảo tồn cảnh quan môi trường sống, sinh hoạt đặc thù và tập quán canh tác truyền thống Bảo tồn không gian văn hóa, cảnh quan thiên nhiên gắn với phong tục tập quán sinh hoạt của người dân, cây trồng, các quy trình, phương thức sản xuất, công cụ sản xuất…
Có một số nhà nghiên cứu đã quan tâm tới người Dao ở Quảng Ninh Chẳng hạn như: Nguyễn Quang Vinh, nguyên là một sĩ quan biên phòng tỉnh Quảng Ninh, đã có một số công trình nghiên cứu về người Dao, trong đó, tác
phẩm Một số vấn đề người Dao Quảng Ninh [113], đã nghiên cứu khá toàn
diện về các vấn đề đặt ra hiện nay ở vùng dân tộc thiểu số nói chung và khu vực người Dao nói riêng, mô tả khái quát về những đặc điểm văn hóa nổi bật của các nhóm Dao sinh sống tại địa phương, đặc biệt nhấn mạnh tới những
Trang 18vấn đề liên quan tới tình hình an ninh, quốc phòng tại các huyện trong tỉnh có người Dao sinh sống Tác giả Nguyễn Quang Vinh đã tổng kết các vấn đề có tính thực tiễn của bộ đội biên phòng trong khu vực biên giới, chính vì vậy, đây là một trong những tài liệu phục vụ cho bộ đội biên phòng và cho cả các nhà nghiên cứu sử dụng khi đi thực tế tại khu vực người Dao tại Quảng Ninh
Nguyễn Bảo Đồng (2007) và cộng sự đã có công trình nghiên cứu về các giá trị y học cổ truyền của người Dao vùng Đông Bắc Việt Nam, trong đó tập trung khảo cứu chủ yếu vào người Dao ở Quảng Ninh Các tác giả khẳng định, người Dao ở Quảng Ninh còn lưu giữ rất nhiều tri thức địa phương về chữa bệnh bằng thuốc nam gia truyền Việc khám chữa bệnh bằng YHCT vẫn tồn tại song song với hệ thống khám chữa bệnh của Nhà nước là do đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh cho người dân, nhất là người nghèo Chính việc tham gia của hệ thống thầy lang đã góp phần không nhỏ trong việc đảm bảo sức khỏe cho người dân, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn không có điều kiện đến các cơ sở y tế của Nhà nước [31]
Ở một góc nhìn khác, Trần Văn Hà, Lê Minh Anh (2007) đã nghiên cứu
biến đổi tập quán ăn uống của người Dao Thanh Phán ở xã Tân Dân, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh Theo các tác giả, những món ăn được gọi là
truyền thống của người Dao khi hạ sơn còn lại rất ít, bản thân người dân cũng rất ít khi sử dụng và chế biến món ăn truyền thống của mình Các món ăn trong những dịp quan trọng như đám cưới, cấp sắc cũng có sự thay đổi rõ rệt khi mà món ăn thuần Dao có tỷ lệ rất nhỏ, trong khi đó các món ăn có tính chất hỗn hợp Kinh - Dao có tỷ lệ khá cao, chiếm tỷ lệ từ 40 - 60% tùy thuộc vào loại hình nghi lễ Đối với việc ăn uống hàng ngày cũng đơn giản rất nhiều khi mà lớp trẻ ngày càng tham gia nhiều vào công việc tại các công ty hay cơ quan nhà nước Theo các tác giả, nhóm có số lượng thay đổi nhiều nhất tập trung vào những người tư 20 - 40 tuổi, hầu hết những người này có thiên hướng đi ra ngoài (buôn bán, công chức, bộ đội…) Như vậy, có thể nói sự biến đổi nhanh chóng về kinh tế - xã hội trong những năm đổi mới và quá trình đô thị hóa đã tác động mạnh mẽ tới văn hóa ẩm thực của người Dao, tuy nhiên sự thay đổi đó
Trang 19ở các cộng đồng cũng khác nhau nhất là cộng đồng thuần Dao vào cộng đồng hỗn hợp [44]
Trong đề tài “Gia đình truyền thống của người Dao Thanh Phán ở xã
Hòa Bình, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh với xây dựng gia đình văn hóa mới hiện nay”, Nguyễn Thị Thắm đã chỉ ra những yếu tố truyền thống trong
gia đình, vai trò của người phụ nữ Dao trong gia đình và xã hội cũng đã được nâng cao đáng kể, họ được tham gia các hoạt động của cộng đồng và có tiếng nói nhất định trong gia đình Vấn đề giáo dục trong gia đình, các mối quan hệ giữa cha mẹ, con cái, dòng họ cũng có sự thay đổi theo hướng tích cực, ngoài các yếu tố truyền thống vẫn được duy trì thì những nét mới trong việc kết hợp các hình thức giáo dục từ nhà trường và cộng đồng cũng được quan tâm [80]
Vi Văn An trong bài nghiên cứu Tục lệ tang ma của người Dao Thanh
Phán ở Quảng Ninh (Tham luận tại Hội thảo quốc tế về người Dao năm 1995
tại Thái Nguyên) đã đề cập tới khía cạnh của phong tục tập quán của nhóm Dao Thanh Phán qua tục lệ tang ma cũng như sự tồn tại của linh hồn, quan niệm về cái chết và sự ảnh hưởng của Tam giáo đối với tục lệ tang ma [1]
Nghiên cứu về người Dao ở Quảng Ninh còn có các tác giả: Trần Văn
Hà (1996), Những biến đổi về kinh tế - xã hội của người Dao ở xã Tân Dân,
huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh” [43,tr.65- 64], Trần Văn Hà (2006), Biến đổi các nghi lễ truyền thống tại hai làng người Dao ở tỉnh Quảng Ninh
[44, tr.12 - 19]; Tạ Hữu Dực (2007), Thực trạng và xu hướng biến đổi cơ
cấu xã hội nông thôn miền núi (nghiên cứu trường hợp ở xã Tân Dân, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh) [25, tr.53- 62]; Nguyễn Anh Dũng (1998), Cuộc sống của người Dao Thanh Y xã Quảng Phong, huyện Quảng Hà, tỉnh Quảng Ninh [44, tr.12-19].Và một số bài viết của tác giả như: Nguyễn Thị
Thu Hà (2014) Văn hoá truyền thống trong lễ trưởng thành của người Dao
Thanh Y, Hoành Bồ, Quảng Ninh, Tạp chí KHXH miền Trung, số 3, tr
.55-60 [40]; Nguyễn Thị Thu Hà (2014), Nghi lễ tang ma của người Dao Thanh
Y ở Hoành Bồ, Quảng Ninh, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số 365, tr 18-22
[41]; Nguyễn Thị Thu Hà (2015), Nghi lễ hôn nhân của người Dao Thanh Y
Trang 20ở Quảng Ninh trong bối cảnh hiện nay, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 367,
tr 47-51 [42]; Nguyễn Thị Thu Hà (2014), Bảo tồn và phát huy dân ca của
người Dao Thanh Y ở Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh, Tạp chí Văn hoá nghệ
thuật Quân đội, số 11, tr 41-43 [39]…
Như vậy, nhiều vấn đề về người Dao ở nước ta đã được đề cập trong nhiều tác phẩm, bài viết của không ít học giả trong và ngoài nước Tuy nhiên, các nghiên cứu đã công bố mang tính khái quát và chủ yếu đi sâu vào một số lĩnh vực cụ thể, chưa có nghiên cứu nào đề cập một cách có hệ thống và chuyên sâu về nghi lễ đời người của dân tộc Dao, nhất là nhóm Dao Thanh Y
ở xã Bằng Cả, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
1.2 Các khái niệm, tiếp cận và cơ sở lý thuyết
1.2.1 Một số khái niệm
Trong khuôn khổ nghiên cứu về nghi lễ vòng đời của người Dao Thanh
Y ở xã Bằng Cả, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh, tác giả luận giải làm rõ một số khái niệm cơ bản sau:
- Văn hóa tộc người
Văn hóa tộc người là tổng thể các yếu tố văn hóa mang tính đặc trưng
và đặc thù tộc người, nó thực hiện chức năng cố kết tộc người và phân biệt tộc người này với tộc người khác Các yếu tố văn hoá tộc người là ngôn ngữ mẹ
đẻ, trang phục, các tín ngưỡng và nghi lễ, là vốn dân gian truyền miệng, tri thức dân gian về tự nhiên, xã hội, về bản thân con người, tâm lý dân tộc… Mỗi tộc người có nguồn gốc lịch sử, ngôn ngữ, hoạt động sinh kế, lối sống, nghi lễ, tôn giáo tín ngưỡng riêng, tạo thành đặc trưng của mỗi tộc người và
để phân biệt tộc người này với tộc người khác [83, tr 229- 230]
- Gia đình là loại hình chung sống có từ hai hay nhiều cá nhân tự xem
mình có quan hệ với nhau, phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế và cùng thực hiện những chức năng trong các lĩnh vực đời sống
- Nghi lễ
Khái niệm nghi lễ được hiểu ở nhiều mức độ khác nhau, với cách nhìn tổng quát, Từ điển tiếng Việt đã quan niệm: Nghi lễ là nghi thức và trình tự
Trang 21tiến hành của một cuộc lễ [91] Mở rộng khái niệm, Từ điển Nhân học định nghĩa: Nghi lễ là hành động nghi thức diễn ra trong bối cảnh thờ cúng tôn giáo Nghi lễ liên quan đến toàn bộ hoạt động của con người, chuyển tải các thông điệp địa vị văn hóa và xã hội của các cá nhân, bất kỳ hành động của con người nào có khía cạnh nghi lễ [93]
Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu, nghi lễ không phải là phản ứng lại cuộc đời, đó là phản ứng với cái mà tư duy làm nên cuộc đời Đó không phải là sự đáp ứng trực tiếp đối với thế giới hoặc thậm chí là với kinh nghiệm của thế giới, mà đó là phản ứng đối với con người nghĩ về thế giới (Levis Strauss, 1976) “Nghi lễ thường có bốn yếu tố chính là, hoạt động xã hội lặp đi lặp lại gồm hàng loạt các động tác có tính biểu tượng dưới múa, hát, lời nói, điệu bộ, thao tác trên một số đồ vật nào đó; nghi lễ tách riêng khỏi các hoạt động thường ngày của xã hội; nghi lễ theo đúng một mô hình nhất định
do văn hóa đặt ra; hoạt động nghi lễ liên quan chặt chẽ đến một số tư tưởng thường xuất hiện trong huyền thoại Mục đích của thực hiện nghi lễ là để hướng dẫn việc lựa chọn tư tưởng nêu trên và thực thi chúng qua biểu tượng Tuy nhiên, theo quan điểm Nhân học, nghi lễ bao gồm nhiều hoạt động với tầm rộng hơn các hiểu chung nêu trên bởi: Nghi lễ tạo ra hành động, nghi lễ hoàn toàn có quyền chuyển đổi, nghi lễ và vui chơi luôn gắn liền và bổ sung cho nhau” [37, tr 22- 23]
Đặng Nghiêm Vạn cho rằng: Nghi lễ có thể dùng để giải tỏa những nỗi bất an của con người ở cuộc sống trần tục, cũng có thể đưa con người đến gần hơn thế lực siêu nhiên mà họ tin tưởng [99]
Như vậy, từ các khái niệm trên, có thể thấy rằng, nghi lễ luôn có cấu trúc rõ ràng, nhất quán về tư tưởng gắn với sinh hoạt đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân, hình thành nên một quy định mà ở đó tất cả mọi người phải tuân theo Nghi lễ là hoạt động xã hội lặp đi lặp lại, gồm một loạt các động tác có tính chất biểu tượng dưới dạng múa, ca hát, lời nói, điệu bộ, thao tác trên một số đồ vật nghi lễ tách riêng khỏi các hoạt động thường ngày trong xã hội Hoạt động nghi lễ liên quan chặt chẽ đến một số tư tưởng
Trang 22thường xuất hiện trong huyền thoại Đó có thể là những tư tưởng về bản chất cái xấu, cái ác, về quan hệ giữa con người và thế giới thần linh
- Nghi lễ vòng đời là toàn bộ những nghi lễ liên quan đến chu kỳ của một
con người từ khi sinh ra, lớn lên, kết hôn và chết Trong mỗi xã hội có những nghi lễ đánh dấu các mốc quan trọng của đời người như: lễ đặt tên, lễ trưởng thành, lễ cưới, lễ tang
Theo Từ điển tiếng Việt, thứ nhất, chu kỳ là khoảng thời gian nhất định
để một quá trình tuần hoàn lặp lại sự diễn biến của nó một cách đều đặn Thứ hai, chu kỳ là khoảng thời gian tương đối không đổi giữa hai lần diễn ra kế tiếp nhau của một hiện tượng thường xuyên lặp đi lặp lại [91]
- Chu kỳ đời người được hiểu: (1) Chu kỳ đời người là quá trình sống
của một con người, một cá thể sinh vật, nhìn một cách toàn bộ từ lúc mới sinh
ra cho đến lúc chết (2) Chu kỳ đời người là toàn bộ đời sống xã hội với những hoạt động, những sự kiện xảy ra trong đó [98]
- Sinh đẻ là sự sinh sôi nảy nở để bảo tồn nòi giống, là công việc của
phụ nữ trong khi họ cố gắng và dùng cơ dạ con của họ để đẩy những đứa con
từ thế giới riêng bên trong tử cung ra một xã hội và văn hóa rộng lớn hơn [98] Trevathan (1987) đã miêu tả khá chi tiết về sinh đẻ của người phụ nữ Theo ông, có thể thấy, bản chất và ý nghĩa xã hội của sự sinh đẻ đảm bảo quá trình sinh học, rất cá nhân, nhưng lại phủ dày văn hóa Trong tất cả các nền văn hóa, sinh đẻ là một nghi lễ chuyển tiếp, nhấn mạnh những tín ngưỡng sâu sắc nhất của một nền văn hóa mà tín ngưỡng này được trao truyền và tái khẳng định trong thời gian chuyển tiếp cơ bản Các tập quán sinh đẻ hướng sự tập trung vào các giá trị cơ bản của văn hóa, nói cho người quan sát biết nhiều
về cách mà văn hóa quan niệm về thế giới và vị trí của người phụ nữ [98]
- Hôn nhân theo nghĩa chung nhất là sự liên minh giữa nam và nữ được
hợp thức hóa bởi tập quán và luật pháp của xã hội, nhằm chung sống giới tính
và tái sản xuất ra con người, từ đó sản sinh những quyền hạn và trách nhiệm
của vợ và chồng trong quan hệ với nhau và với con cháu của họ
Trang 23- Nghi lễ hôn nhân được hiểu là những nghi lễ diễn ra theo tập quán
hoặc theo quy định của cộng đồng trong mỗi cuộc hôn nhân Nghi lễ hôn nhân
là thủ tục khẳng định cuộc hôn nhân đó là hợp pháp làm thay đổi địa vị xã hội của con người Để tiến tới hôn nhân cũng như khi đã đạt được cuộc hôn nhân, mỗi tộc người kể cả mỗi nhóm địa phương tộc người đều trải qua những nghi
lễ nhất định theo quy định mang tính tập quán của tộc người hay nhóm tộc người đó Nghi lễ hôn nhân, ngoài mục đích không chỉ đảm bảo cho việc chứng kiến và có được sự công nhận từ phía cộng đồng về việc hôn nhân, mà còn để thực hiện một số yếu tố tâm linh gắn với cuộc hôn nhân Thông qua nghi lễ hôn nhân thấy được bản sắc văn hóa tộc người và giá trị nhân văn ẩn chứa trong đó
Để làm rõ nghi lễ hôn nhân của người Dao Thanh Y ở xã Bằng Cả, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh, tác giả luận án tập trung vào các nghi lễ trước đám cưới, trong và sau đám cưới Qua đó, làm rõ trình tự các bước mà nghi lễ hôn nhân của nhóm Dao Thanh Y còn được thực hiện cũng như các bước đã lược bỏ
so với hiện tại
- Tang ma là khái niệm dùng để chỉ cách thức và nghi lễ liên quan
đến người chết và những tín ngưỡng gắn liền với nghi lễ đó mà trọng tâm
là làm thế nào để đưa linh hồn người chết về "an cư" ở thế giới bên kia Với tư cách là hiện tượng mang tính phổ quát, người ta thừa nhận, ở khắp mọi nơi, cái chết đều được hiểu theo cùng một cách H.R.River (1926) đã nhận xét rằng, nhờ những hoàn cảnh nghi lễ cụ thể, người chết được giao cho thế giới tổ tiên chứ không phải cho thế giới của những người đang sống và như vậy họ không còn được nuôi dưỡng cũng như không còn được nhắc tới [98] Durkheim (1915) cho rằng, những tình trạng tâm linh có thể không bao giờ giải thích được cho các tập quán văn hóa bởi sức mạnh không thể bác bỏ của cái chết đối với việc làm toát lên những tình cảm mạnh mẽ nhất, được xem là nguồn của các nghi lễ tang ma khắp mọi nơi Vấn đề đặc biệt mà ông quan tâm là ở chỗ, cái chết thường làm nổi lên những tình cảm mạnh mẽ dường như chỉ gây thêm sự nguy hại cho nhóm
Trang 24có người quá cố Tuy nhiên, sự giải thích cho các nghi lễ liên quan đến người chết đòi hỏi sự gắn kết đến bối cảnh văn hóa và xã hội mà nó nằm trong đó
- Truyền thống được hiểu là thói quen được hình thành đã lâu trong lối
sống và nếp nghĩ, được trao truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác
- Biến đổi là sự thay đổi thành khác trước hoặc sự thay đổi, điều thay
đổi khác với trước, như: biến đổi xã hội, biến đổi văn hóa, biến đổi tôn giáo tín ngưỡng Nghi lễ vòng đời của người Dao Thanh Y ở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh không phải là bất biến mà nó luôn luôn vận động, biến đổi
để thích nghi với hoàn cảnh và yêu cầu của thực tiễn tại địa phương
1.2.2 Cách tiếp cận và cơ sở lý thuyết
- Cách tiếp cận của đề tài là dưới góc độ Nhân học, do vậy việc nghiên
cứu nghi lễ đời người được chú trọng nhiều hơn về các biểu hiện, chức năng
và vai trò của các nghi lễ trong đời sống xã hội tộc người Trong khuôn khổ của luận án, tác giả tiếp cận một số lý thuyết cơ bản của Nhân học, đặc biệt là những giá trị văn hóa tộc người và sự biến đổi, tiếp biến của văn hóa trong quá trình vận động và phát triển của xã hội và của mỗi tộc người, mỗi nhóm tộc người trong những bối cảnh cụ thể
- Lý thuyết bản sắc văn hoá tộc người
Bản sắc văn hóa tộc người chính là cái hồn, cái sức sống của mỗi dân tộc thể hiện trong nhiều khía cạnh của văn hóa, đặc biệt là các thành tố văn hóa vật thể và phi vật thể truyền thống như: Trang phục, nhà ở, ẩm thực, truyện kể dân gian, dân ca, dân vũ, tri thức địa phương, nghi lễ và tín ngưỡng… Nghi lễ vòng đời là một trong những thành tố văn hóa còn lưu giữ lại được nhiều nét bản sắc riêng của mỗi tộc người, mỗi nhóm tộc người và luôn được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác [83]
Việc áp dụng lý thuyết bản sắc văn hóa tộc người vào nghiên cứu nghi
lễ vòng đời của người Dao Thanh Y ở huyện Hoành Bồ tỉnh Quảng Ninh, sẽ góp phần quan trọng xác định các đặc trưng văn hoá và bảo tồn, phát huy các
Trang 25giá trị bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay
- Lý thuyết Nghi lễ chuyển đổi
Vào thế kỷ XX, nhà Nhân học người Bỉ Anorld Van Gennep trong tác
phẩm bằng tiếng Pháp Les rites de passage, xuất bản năm 1960, đã đưa ra lý
thuyết về Nghi lễ chuyển đổi Theo ông, nghi lễ chuyển đổi là những nghi lễ đánh dấu sự chuyển đổi của cá nhân trong suốt vòng đời, từ tình trạng này sang tình trạng khác, từ vai trò, địa vị này sang vai trò, địa vị khác, hợp nhất những kinh nghiệm của con người và kinh nghiệm văn hóa với vòng đời: ra đời, sinh con, trưởng thành, kết hôn và chết đi Nghi lễ chuyển đổi thường đi kèm với những lễ nghi diễn ra xung quanh những sự kiện liên quan đến đời người như việc ra đời của một đứa trẻ, tuổi vào đời, hôn lễ, thượng thọ và được tiến hành như một sự tiếp nhận khi một cá nhân được chuyển từ vị thế xã hội này sang một vị thế xã hội khác Nghi lễ chuyển đổi là lý thuyết đề cập đến một loại hình sinh hoạt văn hóa được thực hiện nhằm đánh dấu sự chuyển đổi
vị thế của con người trong xã hội Mỗi nghi lễ phụ thuộc theo nền văn hóa của mỗi tộc người và tiến hành dưới những hình thức khác nhau [3]
Áp dụng lý thuyết nghi lễ chuyển đổi, luận án mô tả các nghi vòng đời của người Dao Thanh Y và phân tích những quan niệm về sự trưởng thành và đặc trưng văn hóa của người Dao Thanh Y ở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
- Lý thuyết biến đổi văn hóa
Cuối thế kỷ XIX, một số nhà Nhân học phương Tây đã có những quan điểm tiến bộ trong việc xem xét, đánh giá các nền văn hóa Một loạt các quan điểm mới về biến đổi văn hóa đã xuất hiện trong bối cảnh này, và một trong những cách tiếp cận biến đổi văn hóa trong Nhân học Hoa Kỳ với đại diện là Julian Steward (1902 - 1972) Theo ông, mỗi nền văn hóa có cách tiến hóa khác nhau tùy thuộc vào những điều kiện đặc thù của nền văn hóa đó Để chứng minh điều này, ông tiến hành nghiên cứu so sánh các cách tiến hóa của nhiều nền văn hóa qua phân tích quá trình phát triển lịch sử của mỗi nền văn hóa Ông gọi nghiên cứu của mình là sinh thái học văn hóa (cultural ecology)
Trang 26và nghiên cứu văn hóa theo lập trường của tiến hóa đa hệ Năm 1955, Julan Steward xuất bản công trình Lý thuyết về biến đổi văn hóa - phương pháp luận
về tiến hóa đa hệ (Theory of Cuture Change - The Methodology of Multilinear Evolution)
Biến đổi văn hóa là quy luật tất yếu, tuy nhiên trong quá trình biến đổi văn hoá để thích ứng với môi trường mới, mỗi một dân tộc vẫn cần phải lưu giữ, phát huy những giá trị tinh hoa văn hóa của dân tộc mình.Tùy vào từng giai đoạn phát triển của nhau mà biến đổi văn hóa nhanh, chậm hay mang những sắc thái khác nhau, và biến đổi văn hóa chính là động lực của sự phát triển Văn hóa không phải là bất biến mà nó luôn vận động và biến đổi để duy trì và phát triển yếu tố truyền thống Sự biến đổi đó ngày càng rộng lớn về quy mô và nhanh, mạnh về cường độ, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi mà không một dân tộc nào, đất nước nào có thể đứng ngoài lề sự giao lưu, hội nhập trên nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh
tế, thương mại và văn hóa Các yếu tố văn hóa mới sẽ ngày càng khẳng định được vị thế của mình và dần phù hợp hơn với cuộc sống, được cộng đồng xã hội chấp nhận
Văn hoá “nhất thành” nhưng không phải là bất biến, mà trong quá trình phát triển và tồn tại của dân tộc, văn hoá luôn biến đổi, giàu có hơn và phong phú hơn Một nền văn hoá lành mạnh không chỉ bảo lưu, bảo tồn cái
cũ, cái truyền thống mà còn phải luôn đổi mới để tự làm giàu hơn, phong phú hơn Văn hoá không chỉ bảo lưu cái giá trị của quá khứ mà còn hướng
về tương lai Một xã hội năng động, giao tiếp sẽ tạo điều kiện cho văn hoá biến đổi, ngày một phong phú hơn, giàu có hơn [83]
Như vậy, giao lưu tiếp biến văn hóa là kết quả của sự trao đổi và vừa là bản thân của sự trao đổi Có giao lưu tiếp biến văn hóa mới có thể hiểu được giá trị
và tầm quan trọng của giao lưu văn hóa trong quá trình vận động và phát triển của xã hội Quá trình này luôn đặt cho mỗi tộc người phải xử lý tốt mối quan
hệ biện chứng giữa yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh
Trang 27Ngày nay dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập diễn ra mạnh mẽ thì việc giao lưu, biến đổi và tiếp biến văn hóa ở mỗi cộng đồng tộc người là không thể tránh khỏi Giao lưu, ảnh hưởng cả về mặt tích cực và tiêu cực Vì vậy, trong luận án, tác giả đã sử dụng lý thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa để xem xét văn hóa của người Dao Thanh Y thông qua nghi lễ vòng đời trong trạng thái tĩnh và động, từ đó nhận diện được nguyên do của xu hướng biến đổi trong quá trình phát triển của xã hội
1.3 Giới thiệu về nhóm Dao Thanh Y ở tỉnh Quảng Ninh
1.3.1.Vài nét về người Dao ở Việt Nam và người Dao ở Quảng Ninh
Trong các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, người Dao có dân số khá đông xếp vào hàng thứ 9, gồm nhiều ngành nhóm khác nhau Tên gọi chính thức trong danh mục 54 thành phần các dân tộc ở Việt Nam là Dao Tuy nhiên, người Dao được biết đến với nhiều tên gọi khác như Mán, Dạo, Xá,… Tên tự
gọi của người Dao là Kiềm Miền hay Dìu Miền (người ở rừng) Dân tộc Dao
có nhiều nhóm khác nhau: Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Lô Gang, Dao Tiền, Dao Quần Trắng, Dao Làn Tẻn (Dao Áo Dài) và Dao Thanh Y… Các nhóm Dao phân bố ở nhiều địa phương trong cả nước Riêng nhóm Dao Thanh Y phân bố chủ yếu ở khu vực Đông Bắc nước ta, bao gồm các tỉnh: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bắc Giang Đặc điểm phân biệt của nhóm Dao Thanh Y với các nhóm Dao khác là phụ nữ đội mũ nhỏ bằng kim loại trên đầu, áo thêu hoa văn rất đặc sắc Về ngôn ngữ, tiếng nói của nhóm Dao Thanh Y phần nhiều gần với nhóm Dao Áo dài hơn so với các nhóm khác [27]
Dân tộc Dao vốn là một tộc người có tập quán di cư Trong quá trình
cư trú ở nước ta, người Dao liên tục di chuyển giữa các địa phương Các cuộc di chuyển đó phổ biến trong lịch sử và tiếp tục duy trì cho đến ngày nay Trong chục năm gần đây, người Dao lại tiếp tục di cư vào các tỉnh Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ, mở rộng địa bàn cư trú của mình ra nhiều vùng trong cả nước
Trang 28Người Dao cư trú ở Quảng Ninh đã từ rất lâu đời Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 1989, dân số người Dao ở Quảng Ninh là 36.177 người, đến năm
2009 tăng lên 59.156 người Đồng bào cư trú khá tập trung tại các huyện như Ba Chẽ (8123 người), Bình Liêu (7800 người), Tiên Yên (10.000 người), Hoành Bồ (10.515 người), Đầm Hà (5900 người), Hải Hà (9816 người), Uông Bí (3000 người) và Thành phố Móng Cái (1924 người)
Trước đây, người Dao cư trú khá rải rác trên các sườn núi Mỗi thôn chỉ
có 5- 7 nóc nhà Hiện nay, làng bản của người Dao ở Quảng Ninh khá mật tập Có những làng lớn hàng trăm hộ gia đình, định cư và ổn định đời sống
Nghề sống chính của dân tộc Dao tỉnh Quảng Ninh trước kia là nông nghiệp nương rẫy du canh du cư, canh tác theo phương thức phát đốt-chọc-tỉa, trồng được vài vụ lại bỏ đi tìm đất mới Ngày nay, họ đã định canh định cư, biết canh tác ruộng nước kết hợp với chăn nuôi gia súc, trồng rừng, làm thủ công nghiệp như dệt vải, đóng đồ gỗ, làm nghề rèn… Đặc biệt là bà con đã biết xóa bỏ phương thức sản xuất tự cung tự cấp, bước đầu đã làm quen với nền kinh tế sản xuất hàng hóa thị trường, tiếp thu kiến thức mới của người Kinh trong việc chọn giống cây, vật nuôi để tăng năng suất
Người Dao ở Quảng Ninh cũng thờ cúng tổ tiên như người Dao ở các tỉnh khác Ma tổ tiên được thờ riêng trong từng gia đình hoặc tại nhà tộc trưởng Tổ tiên thường được thờ cúng 9 đời, nhưng việc thờ cúng hàng ngày người ta chỉ thờ khấn đến ông tổ 3 đời Bàn thờ tổ tiên được coi là nơi tôn nghiêm nhất trong nhà Người Dao có khá nhiều tín ngưỡng và nghi lễ có quan hệ đến nông nghiệp Thường trong mỗi khâu sản xuất, người ta đều phải chọn ngày tốt giờ tốt rất kĩ lưỡng, các tiết trong năm đều phải kiêng (24 tiết) Kiêng cữ đã nhiều mà cúng bái thì cũng không phải là ít, một trong những ngày lễ cúng không thể thiếu được là lễ cúng thóc giống, hay lễ cúng Bàn Vương, lễ cúng vào dịp lập thu, lễ cúng cơm mới, cúng hồn lúa đều là lễ cúng riêng ở từng nhà
Gia đình của người Dao ở Quảng Ninh là gia đình nhỏ phụ quyền Mỗi gia đình chỉ bao gồm một cặp vợ chồng và các con cái, thỉnh thoảng có gia đình có
Trang 29thêm ông bà Mỗi thành viên trong gia đình sống trong một ngôi nhà Những gia đình đông con trai, các con thứ lập gia đình và ra ở riêng Chủ nhà thường là người đàn ông lớn tuổi nhất Nếu người cha già ốm yếu thì người con cả sẽ thay thế, nhưng công việc trong gia đình đều có sự bàn bàn bạc chung và quyền quyết định vẫn thuộc về người chủ gia đình
1.3.2 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu
Bằng Cả là một xã miền núi nằm ở phía Tây Bắc của huyện Hoành Bồ, phía
Đông giáp xã Quảng La, phía Tây giáp Phường Vàng Danh, phía Bắc giáp xã Tân Dân Xã Bằng Cả nằm cách trung tâm huyện Hoành Bồ 20 km, có tổng diện tích là 3.500 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 116 ha, lâm nghiệp là 2.490 ha; bao gồm 3 thôn với 305 hộ, 1.414 nhân khẩu Đến năm 2013, hầu hết các đường giao thông liên thôn đã được bê tông hóa từ nguồn vốn 135 và xây dựng nông thôn mới (đã đạt 15/19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới) Tuy là một
xã miền núi nhưng Bằng Cả có hệ thống giao thông thuận tiện ( có đường Quốc
lộ 279 đi tiếp giáp) tạo ra sự giao lưu kinh tế và trao đổi hàng hoá thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội giữa hai tỉnh Quảng Ninh và Bắc Giang, thuận lợi trong các lĩnh vực dịch vụ thương mại [118]
1.3.3 Người Dao Thanh Y ở xã Bằng Cả, huyện Hoành Bồ
Địa bàn cư trú và nguồn gốc lịch sử của người Dao Thanh Y ở xã Bằng
Cả, huyện Hoành Bồ
Theo các tài liệu đã được công bố thì Quảng Ninh là tỉnh có nhiều người Dao Thanh Y cư trú Dựa vào kết quả của Tổng cục Thống kê -Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 huyện Hoành Bồ có 10.515 người Dao Thanh Y, riêng xã Bằng Cả có 1.239 người chiếm tới 87,6 % tổng dân số của huyện
Bảng 1 Dân số dân tộc Dao ở huyện Hoành Bồ
cộng
Tỷ lệ % so với dân số toàn xã
Ghi chú nhóm Dao
Thị trấn Trới Tổng dân số 9 899
Xã Kỳ Thượng Tổng dân số 666
Trang 30Tổng cộng dân số toàn huyện 46 288
Tổng cộng dân số người Dao trong huyện 10 515 22,7
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Tổng điều tra Dân số và nhà ở 1.4.2009
Người Dao Thanh Y là một trong 7 nhóm Dao có nhiều đặc điểm sinh kế
và văn hóa rất độc đáo Nhóm Dao Thanh Y tập trung nhiều ở các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn và Tuyên Quang …, Quảng Ninh là địa bàn đầu tiên mà người Dao Thanh Y đặt chân đến, sau đó họ tiếp tục di cư lên các tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang cư trú, một bộ phận ngược lên Yên Bái, Lào Cai thành nhóm Dao Làn Tẻn hay còn gọi là Dao Tuyển Xoay quanh cái tên Dao Thanh
Y, nhà Dân tộc học Phan Hữu Dật đã giải thích như sau: Thanh Y có nghĩa là áo chàm, áo xanh, và người Dao Thanh Y là nhóm Dao mặc y phục màu chàm Dao
Trang 31Thanh Y còn có tên tự gọi là Pân ẩy Các nhóm Dao khác cùng sinh sống liền kề gọi họ là Pờ ây hoặc Pan ây, nếu dịch ra tiếng phổ thông thì có nghĩa Thanh Y là
như vậy [15]
Người Dao di cư đến địa bàn xã Bằng Cả từ năm 1946, đông nhất là năm
1960 Có nhiều nhóm di cư, chủ yếu là từ Lục Nam, Lục Ngạn (Bắc Giang) chuyển xuống Ba Chẽ, sau đó di chuyển về đây Lúc đầu chuyển đến đây chỉ
có 6 - 7 hộ Dao Thanh Y Trước đó có đồn kiểm lâm của Pháp chiếm đóng tại thôn này Gia đình họ Lý (tên là Lý Lập Phúc) đến xã này đầu tiên với vai trò tham gia cách mạng Năm 1960, số hộ ở đây đã tăng lên 30 hộ người Dao Thanh Y, đến năm 1964 xã có thêm những hộ người Dao Thanh Phán [118]
Những đặc điểm kinh tế, xã hội
Trong thời kỳ đổi mới, nhiều chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, nhiều dự án hỗ trợ và phát triển các vùng dân tộc miền núi Đối với xã Bằng Cả, của người Dao Thanh Y hôm nay đang đổi mới từng ngày từng giờ
Dự án kinh tế đã đang thực hiện kiên cố hóa kênh mương dài 9 km đưa nước tưới tiêu cho đồng ruộng Đập ngăn nước được xây dựng, đường giao thông được nhựa hóa đến trung tâm xã dài 3 km Các công trình xây dựng: trường học, bệnh xá, nhà mẫu giáo, bưu điện văn hoá xã, nhà văn hóa cộng đồng, khu dân cư mới được hình thành Điện thắp sáng đã về đến tất cả các bản làng Các mô hình kinh tế đang chuyển đổi và phát triển cây, con, vườn rừng, trang trại, nghề thủ công và các dịch vụ phục vụ cho nông nghiệp
Cũng như các vùng dân tộc Dao ở các địa phương khác, người Dao Thanh Y ở xã Bằng Cả chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp Căn cứ vào đối tượng khai thác, kỹ thuật canh tác và cây trồng, có thể thấy phân chia thành
hai loại nghề chính: Nông nghiệp ruộng nước và trồng trọt
Nông nghiệp ruộng nước Trước cách mạng tháng Tám, người Dao
Thanh Y ở xã Bằng Cả đã chuyển sang sinh sống bằng nông nghiệp ruộng nước Sau cách mạng, nhất là sau cuộc cách mạng chống thực dân Pháp giành thắng lợi, xu hướng chuyển sang làm ruộng nước ngày càng phát triển Ngày nay, nhờ có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đồng bào đã biết kết hợp làm
Trang 32ruộng, trồng rừng, trông cây ăn quả, chăn nuôi Việc định canh định cư đã tạo
ra một nếp sống sinh hoạt khác hẳn trước kia, làng mạc nhà cửa được xây dựng một cách cố định, mang tính chất lâu dài, đời sống không ngừng được cải thiện
Có thể thấy, hình thức canh tác của đồng bào là phát - đốt - tỉa trên nền đất dốc, trong quá trình giao thoa và giao tiếp văn hóa với dân tộc Kinh, Tày, Sán Dìu , sống trong địa bàn, họ đã tiếp thu những tiến bộ khoa học cũng như những kinh nghiệm sản xuất canh tác trồng lúa nước trên đồng ruộng Dần dần cơ sở ruộng nước ngày càng được mở rộng bằng cách khai phá thêm
Tỉ lệ của nông nghiệp ruộng nước ngày càng tăng và dần chiếm vị trí trọng yếu, việc làm nương bị đẩy xuống hàng thứ yếu và tồn tại như là ngành kinh
tế phụ trong gia đình nhằm mục đích tăng thêm nguồn thu nhập lương thực, thực phẩm
Trồng trọt Trước đây, địa vực sinh sống của đồng bào chủ yếu là ở trên
những vùng núi cao, cây lúa nương giữ vị trí quan trọng với một vụ chính là
hè thu Do điều kiện canh tác như vậy, nên sản lượng lương thực thấp, cuộc sống luôn bấp bênh Việc trồng xen canh gối vụ các loại cây hoa màu khác giúp đảm bảo nhu cầu về lương thực thực phẩm cho cuộc sống của đồng bào
Nghề thủ công truyền thống Đối với người Dao Thanh Y ở xã Bằng Cả,
huyện Hoành Bồ, nhìn chung nghề thủ công chưa phát triển, chủ yếu làm theo mùa vụ và mang tính chất tự nhiên Sản phẩm của các nghề thủ công chủ yếu
để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đời sống hàng ngày
Nghề đan lát Trước đây, người Dao Thanh Y ở xã Bằng Cả ai cũng
thành thạo với nghề đan lát, nguyên vật liệu để đan lát chủ yếu là bằng tre, nứa, vầu, mai, trúc, song, mây, guột… Đồng bào thường sản xuất các vật dụng phục
vụ cho sinh hoạt như: chiếc sọt, bồ đựng thóc, nong, nia, giần, sàng ,
Nghề mộc Sống ở miền rừng núi, gỗ là nguyên liệu chính để dựng nhà
và làm các đồ dùng trong gia đình, trong sinh hoạt Do vậy, nghề mộc rất gần
gũi với người Dao Thanh Y ở xã Bằng Cả
Trang 33Nghề làm giấy Làm giấy là một nghề khá phổ biến ở các nhóm Dao, làm
giấy là một nghề truyền thống từ lâu đời, họ làm ra được loại giấy chất liệu rất tốt và nét chữ giữ được lâu Nhiều quyển sách cúng, sách hát đã được sao chép
từ hơn 100 năm mà đến nay vẫn giữ nguyên được nét chữ Nguyên liệu chủ yếu
để làm giấy là các loại vầu non, nứa, trúc, vỏ cây gió (trầm hương)
Nghề rèn Nghề này không phổ biến đối với người Dao Thanh Y ở xã
Bằng Cả, chỉ có một bộ phận nhỏ làm được Họ chủ yếu làm ra những sản phẩm để phục vụ cho công việc sản xuất như: dao, cuốc, cày, lưỡi rừu…
Nghề dệt Nghề dệt là một nghề thủ công truyền thống của người Dao
Đồng bào tự sản xuất các đồ dùng bằng vải như quần áo, khăn mũ, thắt lưng, túi xách, cái địu, vỏ chăn, màn… Khung cửi của người Dao Thanh Y, xã Bằng Cả, huyện Hoành Bồ khá thô sơ, các bộ phận đều làm bằng gỗ và tre Thoi cũng làm bằng gỗ dài khoảng 40 cm, hai đầu nhọn, bụng thoi to trong đựng một suốt sợi dài 10cm, lưng thoi thẳng và dẹp như lưỡi dao Ngoài tác dụng đan sợi ngang, thoi còn có tác dụng chèn các sợi ngang đó sát lại với nhau Với kiểu khung cửi này, năng suất dệt được nâng cao thêm nhiều Công việc dệt vải chủ yếu được tiến hành vào những tháng từ cuối thu năm trước cho đến đầu xuân năm sau là lúc tương đối nhàn rỗi Ngày nay, chỉ còn lại rất
ít người Dao Thanh Y biết dệt thổ cẩm
Hái lượm: Đối với người Dao Thanh Y, tuy đời sống đã được nâng lên
nhưng nguồn thức ăn từ tự nhiên đem lại vẫn đóng một vai trò nhất định trong cuộc sống của họ Đồng bào thu hái các loại măng rừng, các loại rau, các loại nấm, các loại hoa quả, các loại động vật Mật ong là một loại đặc sản quý của núi rừng, đồng bào thường dùng để làm thuốc bổ và chữa bệnh Người Dao Thanh Y ở xã Bằng Cả, huyện Hoành Bồ xem mật ong là sản phẩm quý mà thiên nhiên ban tặng, "mật ong, rau bao, củ mài, măng” là những lâm sản được đồng bào chú ý Măng rừng là nguồn thức ăn phong phú của đồng bào nơi đây, măng mọc theo mùa nhưng đồng bào hái nhiều về chế biến, bảo quản
ăn quanh năm Có hai loại măng: măng đắng và măng ngọt, trong đó đồng bào thường dùng măng đắng để làm thuốc
Trang 34Đặc điểm văn hóa
Người Dao Thanh Y ở xã Bằng Cả, bên cạnh các nghi lễ như cấp sắc, hôn nhân… đồng bào người Dao nơi đây còn có hội làng Hội làng của người Dao Thanh Y ở xã Bằng Cả được tổ chức vào ngayg ½ hàng năm, đây là một hình thức sinh hoạt cộng đồng rộng rãi, gắn liền với nền sản xuất nông nghiệp trồng lúa, tục cúng cơm mới tạ ơn trời đất, Bàn Vương (một nhân vật huyền thoại, thuỷ tổ của người Dao) Đại diện, thường là nam giới đến nhà ông tộc trưởng làm lễ cúng khấn tổ tiên, trời đất phù hộ, con cháu được khỏe mạnh, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt Sau đó mọi người cùng ăn cỗ, uống rượu với nhau chúc tụng và động viên nhau Đây là nét sinh hoạt truyền thống, một phong tục đẹp, gắn kết cộng đồng, thể hiện ước vọng vươn tới cuộc sống ấm no hạnh phúc trong cuộc sống cộng đồng ở người Dao Thanh Y
ở xã Bằng Cả
Xã Bằng Cả có gần 305 hộ (số liệu của UBND xã Bằng Cả) Quan hệ dòng họ thể hiện qua cấu trúc của làng: Đặc điểm cư trú, trong làng có nhiều dòng họ, trong các dòng họ không có sự phân biệt, họ sống quây quần bên nhau, giúp đỡ nhau trong cuộc sống Họ nội, ngoại thường làm nhà gần nhau, các con khi ở riêng cũng làm nhà gần bố mẹ đẻ của mình Mỗi dòng họ, có một người đứng đầu gọi là trưởng họ, trưởng họ có trách nhiệm giúp đỡ các thành viên trong các công việc lớn như cấp sắc, hôn nhân, tang ma… Đặc biệt, mỗi khi trong dòng họ có người ốm đau, hoạn nạn dù ở xa hay gần họ đều tự nguyện đến thăm hỏi, không chỉ trong chuyện buồn mà ngay cả trong những cuộc vui, hay các ngày lễ Tết… người ta quyên góp công sức, thóc gạo, sẻ chia khó khăn Trong dòng họ, các thành viên đoàn kết thương yêu nhau, tương trợ, sẻ chia cùng nhau khắc phục mọi khó khăn là nét nổi bật của cộng đồng người Dao nơi đây
Nhà ở Trước đây, ngôi nhà truyền thống của người Dao Thanh Y chủ
yếu là nhà nửa sàn nửa đất Nguyên vật liệu để làm nhà chủ yếu là gỗ để làm cột kèo, ván hoặc tre để đan vách và làm dui, cỏ tranh dùng để lợp, những nguyên vật liệu này có sẵn tại chỗ, nhà thường có bốn gian, bộ khung nhà đơn
Trang 35giản, cột ngoàm, mái lợp tranh hoặc tre chẻ lòng máng kiểu âm dương Nửa nhà thuộc phần nền đất (nửa nhà phía sau) thường có hai hoặc ba phòng nhỏ cho chủ nhà và các con, nhà có hai hoặc ba cửa ra vào, hai bên hông và một đằng trước nhà Vách ngăn giữa nhà có bàn thờ tổ tiên Nửa nhà thuộc về bên phải cho khách nam, nửa nhà bên trái dành cho khách nữ Tiếp đến là phòng ngủ của vợ chồng con trai chủ nhà Ngoài ra, bên hiên nhà thường được bố trí các vật dụng sinh hoạt lớn như cối giã gạo, cối xay
Hiện nay, người Dao Thanh Y không giữ được ngôi nhà truyền thống của tộc người mình, đa số người Dao ngày nay ở nhà xây nền đất giống kiểu nhà của người Kinh [ Ảnh 2] Việc bố trí các không gian sinh hoạt cũng như vật liệu, kiểu dáng công trình của người Dao Thanh Y ở xã Bằng Cả hiện đã mai một rõ rệt Điều này lại càng khẳng định nhu cầu cấp thiết cho việc bảo tồn một không gian văn hoá thuần Dao Thanh Y tại địa phương, với những giá trị văn hoá tốt đẹp, góp phần thúc đẩy gìn giữ văn hoá, phong tục tập quán dân tộc Dao hiện nay
Dân ca Trong cộng đồng người Dao dân ca gắn liền với đời sống của họ
Trong một ngày từ lúc tỉnh giấc đã nghe tiếng hát chào mừng ngày mới, rồi đi lên nương, đi xuống ruộng đồng, đi ra bến sông, bờ suối, tiếng xay ngô, giã gạo, quay xa, cho đến đêm khuya tự tình với người yêu, hầu như giờ phút nào cũng cần đến tiếng hát lời ca Nếu kể một đời người thì từ lúc nằm nôi, đã được nuôi bằng lời ru, lớn lên chơi đùa trong tiếng hát; mười tám, đôi mươi tỏ tình trong tiếng ca, về già bên mâm rượu hát “lời dạy con cháu”, cho đến lúc chết, hồn bay theo tiếng nhạc tiễn đưa… dù bất kỳ trong bước đi nào của đời người, dân tộc Dao cũng tắm mình trong thơ ca Thơ ca đã thực sự trở thành một bộ phận trong cuộc sống của tộc người Dao Chưa ai có thể đếm được những câu dân ca của họ
Trang phục Trang phục là một nét văn hoá mà con người tạo ra để thoả mãn
nhu cầu sử dụng và nhu cầu thẩm mỹ Ngoài ra nó còn biểu hiện cho những giá trị văn hoá của mỗi tộc người và thông qua đó ta có thể thấy được tâm hồn của
Trang 36tộc người đó Trang phục của người Dao Thanh Y được kết hợp hai bộ phận:
Y phục và đồ trang sức
Trang phục nữ giới : Qua tư liệu điền dã tại Quảng Ninh tác giả luận án
thấy, về mặt trang phục, nhóm Dao Thanh Y miền tây (Hoành Bồ, Uông Bí) mặc áo dài, quần dài, đầu đội mũ nhỏ, tuy nhiên, nhóm Dao Thanh Y miền Đông (Tiên Yên, Quảng Hà, Móng Cái) lại mặc áo dài quần cộc, đầu đội mũ
to Cùng là nhóm Dao Thanh Y nhưng trang phục hoàn toàn khác nhau Đây
là sự khác biệt rất hiếm gặp ở một nhóm Dao cùng sinh sống trong một tỉnh [Ảnh 3, Ảnh 7]
Trang phục của Phụ nữ Dao Thanh Y ở xã Bằng Cả có mầu sắc sặc sỡ,
áo dài màu chàm, tay rộng, cửa tay đáp một khoanh vải đỏ rộng khoảng 15
cm Cổ áo thấp có thêu hình chữ vạn và có sự phân biệt với nẹp ngực Hai thân trước thì so le: thân bên phải ngắn, thân bên trái dài, nẹp trong của mỗi thân đều là vải đỏ Áo không có khuy, khi mặc thân dài vắt chéo lên thân ngắn rồi ngoài buộc dây lưng Quần của phụ nữ Dao Thanh Y cắt theo kiểu
"chân què", ống hẹp vừa, dưới gấu không thêu Yếm là một vuông vải trắng, gần cổ có thêu và cũng có hai bán cầu bằng bạc
Đồ trang sức của người Dao Thanh Y, cũng giống như các nhóm Dao khác gồm có: đôi khuyên tai, vòng cổ thường đeo bốn cái, hai cái nhỏ và hai cái to, vòng tay thường từ hai đến ba cái Tóc được vuốt ngược lên rồi cuốn thành búi tóc nhỏ trên đỉnh đầu, các búi tóc này được cột lại với nhau bằng một sợi dây gai Cột mũ làm bằng xơ mướp, ngoài lợp bằng chỉ đen Trên đỉnh mũ gắn một ngôi sao bạc mười cánh Xung quanh thành mũ có hai hàng khuy bạc đính song song, gồm 40 cái, đường kính mỗi khuy khoảng 1,5 cm Bên ngoài mũ được phủ một cái khăn nhỏ thêu bằng chỉ đen, đặc biệt là các
mô típ chữ Hán cách điệu Đây cũng là sự khác biệt để nhận biết trang phục của người Dao Thanh Y ở xã Bằng Cả với các nhóm Dao khác trong vùng
Trang phục nam giới: Nam giới mặc áo chàm đen, áo ngắn năm thân,
cổ cao, cài khuy bên nách phải, thêu một đường tâm trước ngực, dưới gấu và hai bên bả vai Quần được cắt theo kiểu “chân què” Ngày nay, đàn ông người
Trang 37Dao Thanh Y ít sử dụng quần áo truyền thống của mình, thường họ chỉ mặc vào các ngày quan trọng như lễ cấp sắc, lễ hôn nhân, lễ Tết… những ngày
bình thường hầu hết mặc quần áo như người Kinh
Trước đây, nền kinh tế của người Dao Thanh Y mang tính chất tự cung
tự cấp, từ cái ăn đến cái mặc đều do sức lao động của họ, nhưng hiện nay do
sự phát triển của cơ chế thị trường, đời sống được nâng cao hơn, việc đi lại mua bán, giao dịch thuận lợi, nên việc trồng bông, dệt vải hầu như không còn tồn tại đối với người Dao Thanh Y Một số phụ nữ Dao Thanh Y cho rằng dệt được một bộ quần áo truyền thống rất kỳ công và mất nhiều thời gian
Ẩm thực: Người Dao Thanh Y có các món ăn truyền thống như: thịt thú
rừng sấy khô, thịt lợn ướp chua, hay bánh làm bằng gạo nếp như bánh chưng
gù, bánh dầy… và xôi nếp nhiều màu: xanh đen, đỏ, vàng, tím được nhuộm bằng các loại lá hay các loại củ quả lấy trên rừng Tất cả những thứ trên đều được trồng bằng một thứ gạo nếp trồng trên nương vừa dẻo vừa thơm
Ngoài bữa ăn thường nhật trong phạm vi gia đình, còn có các bữa ăn tổ chức vào dịp lễ, Tết trong những dịp này, các loại thức ăn được chế biến nhằm dâng cúng tổ tiên hoặc các thế lực siêu nhiên Vì vậy, lương thực, thực phẩm đều
có sự lựa chọn theo yêu cầu cụ thể của từng nghi lễ và việc chế biến cũng có những nét khác biệt so với ngày thường Người Dao kiêng không ăn thịt chó (đặc biệt là Dao Thanh Y), họ cho rằng con chó ăn đủ thứ tạp uế, cho nên thịt chó cũng uế tạp như vậy, đặc biệt là những người thầy cúng càng kiêng kị kĩ hơn Theo quan niệm của đồng bào, đàn ông "biết việc hơn phụ nữ" Do vậy, trong các nghi thức tín ngưỡng hay nhà có khách, chủ bếp chính là người đàn ông, phụ nữ chỉ đóng vai trò phụ Đồng thời việc tiếp khách và các công việc ngoại giao trong gia đình là người đàn ông
Người Dao Thanh Y nổi tiếng với đặc sản rượu bâu (tìu bâu) Rượu
bâu được làm từ gạo nếp tự trồng lấy, với cách ngâm ủ đặc biệt đã tạo lên
hương vị thơm nồng, êm dịu, có tác dụng giải khát, bồi bổ sức khỏe rất tốt Đặc biệt trong cách uống rượu của người Dao nơi đây luôn thể hiện cách đôn
Trang 38hậu, nhiệt tình, chân thành, và mến khách Đó là một nét văn hoá ẩm thực đặc sắc của địa phương
Chữ viết Chữ viết của người Dao Thanh Y ở xã Bằng Cả, hầu như đã bị
lãng quên, những người còn biết đến chữ viết của người Dao Thanh Y là thầy cúng và các già làng, trưởng bản Lớp trẻ bây giờ ít người biết đến chữ viết của tộc người mình, đó là vấn đề đáng báo động Qua nhiều đợt điền dã tại huyện Hoành Bồ tác giả luận án đã phỏng vấn nhiều thanh thiếu niên ở thôn Hai xã Bằng Cả thấy rằng các em không biết viết tiếng Dao, nhưng lại giao tiếp với nhau bằng tiếng Dao, điều đấy cho thấy trong các gia đình, dòng họ luôn ý thức gìn giữ ngôn ngữ qua truyền khẩu chứ không qua cách viết, nên các em chỉ biết giao tiếp mà không viết được ngôn ngữ của tộc người mình
Tiếng nói Hàng ngày, các thành viên trong gia đình, dòng họ, làng bản
người Dao Thanh Y ở Hoành Bồ, giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ của tộc người mình, như vậy tiếng nói của người Dao Thanh Y gần như vẫn còn nguyên vẹn, từ trẻ thơ tập nói đã được bố, mẹ, ông bà dậy phát âm thứ tiếng mẹ
đẻ của mình, đó là một điều đáng trân trọng Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, khi nền kinh tế thị trường nước ta đang trên đà phát triển, bản sắc văn hoá dần mai một thậm chí mất đi, thì việc khuyến khích đồng bào phát huy, gìn giữ ngôn ngữ của tộc người mình là rất cần thiết Như vậy, người Dao Thanh Y xã
Bằng Cả sẽ không bao giờ bị mất đi tiếng nói của tộc người mình
Tiểu kết chương 1
Cho đến nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu về người Dao ở Việt Nam, trong đó có người Dao ở Quảng Ninh Phần lớn các công trình đi sâu nghiên cứu về đời sống văn hóa tộc người như văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, các nhóm Dao Đeo Tiền, Dao Đỏ, Dao Lô Gang, Dao Làn Tẻn hay Dao Quần Chẹt được nghiên cứu nhiều hơn, hầu hết các công trình, sách hay các nghiên cứu nhỏ như khóa luận, luận văn, luận án thường tập trung nghiên cứu các nhóm Dao này Đối với nhóm Dao Thanh Y và Dao Quần Trắng, số lượng nghiên cứu hay bài viết về nhóm tộc người này còn khá khiêm tốn, đặc biệt chưa
có một khảo cứu chuyên sâu nào về các nghi lễ vòng đời của những nhóm này từ
Trang 39góc nhìn chuyên ngành Nhân học Các nghiên cứu về nghi lễ vòng đời và vai trò của nghi lễ trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa tộc người ở người Dao nói chung và ở nhóm Dao Thanh Y ở tỉnh Quảng Ninh nói riêng còn rất hạn chế
Tác giả luận án đã làm rõ một số khái niệm cơ bản trong nghiên cứu về nghi lễ vòng đời, đồng thời trình bày các lý thuyết nghiên cứu được sử dụng trong luận án như: Lý thuyết bản sắc văn hoá tộc người, lý thuyết biến đổi văn hoá, lý thuyết nghi lễ chuyển đổi
Địa bàn nghiên cứu chính của đề tài luận án là xã Bằng Cả, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh Người Dao Thanh Y ở đây chiếm tỷ lệ khá cao trong dân số của xã và sống chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp dưới hình thức canh tác ruộng nương, kết hợp với chăn nuôi, trồng trọt, thủ công truyền thống và trao đổi mua bán… Tác giả luận án đã tập trung khảo sát về nghi lễ vòng đời của người Dao Thanh Y, cụ thể là các nghi lễ sinh đẻ, nghi lễ hôn nhân, lễ cấp sắc, lễ tang ma Trong quá trình khảo sát, tác giả có nghiên cứu
so sánh với nhóm Dao Thanh Phán cư trú xen kẽ trong vùng
Hiện nay, cuộc sống vật chất và tinh thần của người Dao Thanh Y xã Bằng Cả đang từng bước được nâng lên Nhưng có một điều không hề thay đổi đó là các yếu tố văn hóa truyền thống trong các nghi lễ vòng đời như: cưới xin, tang ma, cấp sắc…, được người Dao Thanh Y duy trì, gìn giữ trao truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác như một nguyên tắc Mà trong đó, làng bản, dòng họ và gia đình là cơ sở để duy trì các đặc trưng văn hoá
Trang 40
Chương 2
NGHI LỄ SINH ĐẺ VÀ CHĂM SÓC, NUÔI DẠY CON
2.1 Quan niệm của người Dao Thanh Y về con người và sinh đẻ
Người Dao Thanh Y quan niệm rằng, sinh đẻ là ước vọng của loài người, sinh sôi nảy nở để bảo tồn nòi giống Có nhiều con để phụng dưỡng cha mẹ tuổi già, là lớp người nỗi dõi tông đường của tổ tiên dòng họ Nếu khi chết đi mà không có người thờ cúng, đó là sự bất hạnh lớn đối với mỗi con người Chính từ quan niệm trên, người Dao Thanh Y ở xã Bằng Cả, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh rất coi trọng nghi lễ sinh đẻ Sinh đẻ như là một
sự kiện quan trọng trong đời sống gia đình của người Dao Thanh Y Họ quan niệm, gia đình hạnh phúc là gia đình có đông con, nhiều cháu Do vậy, họ rất chú trọng việc sinh đẻ, nuôi dạy đứa con thành người
Người Dao Thanh Y quan niệm rằng, con cái là tài sản quý giá không chỉ của riêng cặp vợ chồng mà là của đại gia đình, dòng họ Từ khi chuẩn bị kết hôn, bố mẹ tìm kiếm vợ cho con trai, chú trọng tìm những cô gái trong những gia đình có nhiều con cái, nhất là xem người mẹ của cô gái đó có phúc hậu, sinh và nuôi dưỡng được nhiều con hay không và nếu có nhiều con trai thì càng tốt Mong muốn sinh được nhiều con là nguyện vọng chung của các gia đình người Dao Tuy nhiên, người Dao Thanh Y ở Hoành Bồ cũng giống như người Dao ở các địa phương khác, việc sinh con trai hay con gái không quá quan trọng mà điều họ thực sự mong muốn là nuôi nấng, chăm sóc những đứa con để chúng trở thành người Trẻ em là niềm hạnh phúc cho cả gia đình
và luôn được quan tâm dạy bảo, chăm sóc Mỗi cá nhân khi lớn lên, trưởng thành và lập gia đình sinh được nhiều con và nuôi được con trưởng thành mới là điều quan trọng Những cặp vợ chồng sinh được nhiều con, nuôi con khỏe mạnh, dễ nuôi và con ngoan ngoãn thường được dân làng tôn trọng, những người phụ nữ như vậy thường được các gia đình trong thôn mời làm