TIỂU LUẬN MÔN TRIẾTHỌC ĐỀ TÀI: VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC KHÁCH QUAN ĐỂ LÀM RÕ CÁC VẪN ĐỀ CÒN TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN NỘI BỘ KHU VỰC CÔNG CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY Giảng viên hướng dẫn
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT
HỌC
ĐỀ TÀI:
VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC KHÁCH QUAN
ĐỂ LÀM RÕ CÁC VẪN ĐỀ CÒN TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN NỘI BỘ KHU VỰC CÔNG
CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn : TS BÙI VĂN MƯA
Nhóm thực hiện : NHÓM 05
Lớp : CAO HỌC K25 – TỐI THỨ 3
Trang 2TP.HCM, THÁNG 08 -2016
BÁO CÁO TÌNH HÌNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Nhóm 05
Stt Họ &Tên Nội dung công việc
Mức độ hoàn thành
1 Trương Nhất Nam
-Tìm tài liệu, thảo luận -Viết lời mở đầu, mục 1.2
2 Lê Trần Huỳnh Như
(Nhóm Trưởng)
-Tìm tài liệu, thảo luận -Viết chương 1 ( mục 1.1)
3 Phan Văn Thống
-Tìm tài liệu, thảo luận -Viết chương 2
-Hiệu chỉnh
100%
4 Trần Thị Trang
-Tìm tài liệu, thảo luận -Viết chương 3, kết luận
LỜI MỞ ĐẦU
Trang 3nghiệp Cùng với sự phát triển năng động và ngày càng phức tạp của nền kinh tế, vai trò và chức năng của KTNB trong việc đưa ra đảm bảo về việc đơn vị có thể kiểm soát một cách hữu hiệu rủi ro đã dần được công nhận trong tất cả các khu vực kinh tế công, kinh tế tư nhân, và cả các tổ chức phi lợi nhuận Ở nước ta, thuật ngữ về KTNB tuy đã được đề cập tới từ cuối những năm 90 nhưng phải đến thời gian gần đây, thì KTNB mới được nhắc đến nhiều như là một công cụ hoặc một chức năng quản trị của đơn vị Bên cạnh đó kể từ khi Việt Nam áp dụng chính sách mở cửa, thực hiện nền kinh tế thị trường, đặc biệt là trở thành thành viên của WTO thì kiểm toán độc lập đã trở nên quen thuộc đối với hầu hết các doanh nghiệp Tuy nhiên, kiểm toán nội bộ vẫn chỉ là một khái niệm mới ở Việt Nam mặc dù vẫn tồn tại bộ phận kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp nhà nước lớn Thực tế rất nhiều nhà quản lý chưa quen thuộc với khái niệm kiểm toán nội bộ và chưa nhận thức được tầm quan trọng của bộ phận này Rất nhiều bộ phận kiểm toán nội bộ ở các Tổng công ty, Tập đoàn nhà nước đóng vai trò như một chức năng kiểm tra của bộ phận kế toán Ngoài ra trên thực tế, các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước lại có xu hướng loại bỏ chức năng kiểm toán nội bộ và
sử dụng kiểm toán độc lập như là một sự đảm bảo góp phần cải thiện hoạt động của
họ Chính vì vậy nhận thức về kiểm toán nội bộ đang trở nên cần thiết không chỉ cho ban giám đốc, nhà quản lý mà còn chính cho bộ phận kiểm toán nội bộ và các bộ phận khác có liên quan
Thực tế cho thấy Việt Nam đang thiếu một cấu trúc, cơ cấu kiểm toán nội bộ hiệu quả Ngoài ra hoạt động kiểm toán nội bộ còn thiếu và yếu về nguồn lực, kiến thức Do đó cần có cái nhìn đúng đắn về thực trạng kiểm toán nội bộ ở các đơn vị khu vực công để từ đó có các giải pháp cũng như hướng đi đúng đắn cho hoạt động kiểm
toán bộ Và đây cũng là lý do chọn đề tài “ Vận dụng nguyên tắc khách quan để làm
rõ các vấn đề còn tồn tại trong hoạt động KTNB khu vực công của Việt Nam hiện nay”.
Trang 4CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC KHÁCH QUAN VÀ KIỂM
TOÁN NỘI BỘ 1
1.1 Nguyên tắc khách quan 1
1.1.1 Cơ sở lý luận của nguyên tắc khách quan 1
1.1.2 Yêu cầu của nguyên tắc khách quan trong nhận thức và thực tiễn 3
1.2 Khu vực công và kiểm toán nội bộ 4
1.2.1 Khu vực công 4
1.2.2 Kiểm toán nội bộ 4
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC KHÁCH QUAN ĐỂ LÀM RÕ CÁC VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG KTNB KHU VỰC CÔNG CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY 5
2.1 Thực trạng KTNB ở các đơn vị khu vực công của Việt Nam hiện nay 5
2.2 Thực trạng KTNB Việt Nam so với KTNB trên thế giới: 6
CHƯƠNG 3: XUẤT PHÁT TỪ THỰC TRẠNG ĐỀ RA CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KTNB Ở CÁC ĐƠN VỊ KHU VỰC CÔNG 9
3.1 Đối với quản lý của Nhà nước 9
3.2 Đối với các đơn vị 11
KẾT LUẬN 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 5CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC KHÁCH QUAN VÀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ
1.1 Nguyên tắc khách quan
1.1.1 Cơ sở lý luận của nguyên tắc khách quan
Nguyên tắc khách quan lần đầu tiên được bàn đến trong triết học duy vật kinh nghiệm của Ph.Bêcơn Bêcơn thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất Khoa học không biết một cái gì khác ngoài thế giới vật chất, ngoài giới tự nhiên Ông cho rằng con người cần phải thống trị, phải làm chủ giới tự nhiên Điều đó có thực hiện được không hoàn toàn phụ thuộc vào sự hiểu biết của con người Bêcơn cho rằng tri thức là sức mạnh, sức mạnh là tri thức Do đó cần có một khoa học mới lấy giới tự nhiên làm đối tượng nghiên cứu nhằm biến tự nhiên thành “giang sơn” của con người Tuy nhiên, trong nền triết học này, nguyên tắc khách quan không thể hiện được tầm quan trọng của các nhân tố chủ quan của ý thức trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người
Khắc phục hạn chế trên của nguyên tắc khách quan trong tiết học tư sản cận đại, đồng thời chỉ ra sai lầm của việc tuyệt đối hóa nhân tố chủ quan của các trào lưu triết học duy tâm, chủ nghĩa duy vật biện chứng ra đời Và dựa trên nội dung lý luận của
nguyên lý thế giới thống nhất ở tính vật chất và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất
và ý thức để xây dựng các yêu cầu của nguyên tắc khách quan.
Thứ nhất, vật chất có vai trò quyết định đối với ý thức: Vật chất tồn tại vĩnh
viễn, và ở một giai đoạn phát triển nhất định của mình nó mới sản sinh ra ý thức Do ý thức phản ánh thế giới vật chất, nên trong quá trình nhận thức đối tượng chúng ta không được xuất phát từ ý thức, từ ý kiến chủ quan của chúng ta về đối tượng mà phải xuất phát từ chính bản thân đối tượng, từ bản chất của chính nó; Không được “bắt” đối tượng tuân theo ý thức, tư duy, mà phải “bắt” ý thức, tư duy tuân theo đối tượng; Không ép đối tượng thỏa mãn một sơ đồ chủ quan hay một “logic” nào đó, mà phải rút
ra những sơ đồ từ đối tượng, tái tạo trong ý thức, tư duy các hình tượng, tư tưởng – cái logic phát triển của chính đối tượng đó Theo Ph.Ăngghen: “… các nguyên lý không
Trang 6Nhóm 5-Tiểu luận triết học
phải là điểm xuất phát của sự nghiên cứu mà là kết quả cuối cùng của nó; Những nguyên lý ấy không phải được ứng dụng vào giới tự nhiên và vào lịch sử loài người,
mà được trừu tượng hóa vào giới tự nhiên và vào lịch sử loài người; Không phải giới
tự nhiên và loài người phải phù hợp với các nguyên lý, mà trái lại các nguyên lý chỉ đúng trong chừng mực chúng phù hợp với giới tự nhiên và lịch sử” Có thể nói, quá trình tìm hiểu bản chất của sự vật, hiện tượng cũng là quá trình tìm kiếm, chọn lựa, sử dụng những con đường, cách thức, phương tiện thâm nhập hữu hiệu vào “thế giới” bên trong của sự vật Những phương pháp nhận thức như thế không thể mang đến cho sự vật, hiện tượng một cái gì đó xa lạ với chính nó và trong quá trình nhận thức thế giới
Thứ hai, ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất: Giới tự
nhiên và xã hội không bao giờ tự bộc lộ toàn bộ bản chất của mình ra thành các hiện tượng điển hình Con người không phải chỉ nhận thức những cái gì đã được bộc lộ ra trước chủ thể Do đó, để phản ánh khách thể như một chỉnh thể, chủ thể tư duy không thể không bổ sung những yếu tố chủ quan như đề xuất các giả thuyết, đưa ra các dự đoán khoa học… Thiếu những điều này tư duy sẽ không mang tính biện chứng, sẽ không thể hiện bản tính sáng tạo thông qua trí tưởng tượng của mình Quá trình phát triển của nhận thức là quá trình khách quan hóa cái chủ quan và loại bỏ cái tùy tiện bám vào kết quả nhận thức Tiêu chuẩn cao nhất về tính khách quan cũng như cách nhận biết cái khách quan trong cái chủ quan là thực tiễn xã hội Con người không cảm nhận trực tiếp thế giới vi mô, nhưng con người khẳng định được tính khách quan của tri thức về thế giới đó qua những nhà máy điện nguyên tử, các hệ thống máy tính, các thiết bị Yêu cầu phát huy tính năng động sáng tạo của chủ thể đòi hỏi chủ thể tư duy phải biến đổi, thậm chí cải tạo đối tượng để tìm ra bản chất của nó Những biến đổi, cải tạo đó là chủ quan nhưng không phải tùy tiện, mà là những biến đổi và cải tạo đối tượng phù hợp quy luật của hiện thực thuôc lĩnh vực nghiên cứu
Như vậy, yêu cầu của nguyên tắc khách quan đòi hỏi phải tôn trọng quy luật khách quan và hành động theo quy luật khách quan và đồng thời phải gắn bó với tính năng động chủ quan, phát huy tính sáng tạo của ý thức
2
Trang 7Yêu cầu khách quan trong xem xét có ý nghĩa rất quan trọng trong nhận thức các hiện tượng thuộc đời sống xã hội Đối tượng nghiên cứu bao gồm cả cái vật chất lẫn tinh thần, chứa đầy những cái chủ quan, những cái lý tưởng, và luôn chịu sự tác động của các lực lượng tự phát của tự nhiên lẫn những lưc lượng tự giác của con người Cần phải cụ thể hóa nguyên tắc khách quan trong xem xét các hiện tượng xã hội, tức là phải kết hợp nó không chỉ với yêu cầu phát huy tính năng động, sáng tạo của chủ thể mà còn kết hợp nó với nguyên tắc tính đảng Điều này có nghĩa là nguyên tắc khách quan trong xem xét không chỉ bao hàm yêu cầu phải xuất phát từ chính bản thân đối tượng, từ những quy luật vận động và phát triển của nó, không được thêm bớt chủ quan tùy tiện, mà nó còn đòi hỏi phải biết phân biệt những quan hệ vật chất với những quan hệ tư tưởng, các nhân tố khách quan với các nhân tố chủ quan của tồn tại
xã hội đó nhằm tránh sự áp đặt một cách võ đoán và chủ quan
1.1.2 Yêu cầu của nguyên tắc khách quan trong nhận thức và thực tiễn
Trong hoạt động nhận thức chủ thể phải:
Xuất phát từ hiện thực khách quan để tái hiện lại nó như nó vốn có mà không được đưa ra những nhận định, đánh giá tùy tiện chủ quan
Biết phát huy tính năng động sáng tạo của chủ thể, dám đưa ra các giả thuyết khoa học có giá trị về khách thể, đồng thời biết cách tiến hành kiểm chứng các giả thuyết đó bằng thực nghiệm
Trong hoạt động thực tiễn chủ thể phải:
Xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan: Căn bản là tôn trọng quy luật, nhận thức và hành động theo quy luật Tôn trọng vai trò quyết định của đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần của con người, xã hội Nhận thức và hành động của con người phải xuất phát từ thực tế khách quan để xác định mục đích, đề ra đường lối chủ trương, chính sách, kế hoạch, biện pháp, phải lấy thực tế khách quan làm cơ sở, phương tiện, phải tìm ra những nhân tố vật chất, tổ chức những nhân tố ấy thành lực lượng vật chất để hành động
Trang 8Nhóm 5-Tiểu luận triết học
Dựa trên các quy luật khách quan đó vạch ra các chương trình, mục tiêu, kế hoạch, tìm kiếm các biện pháp, công cụ, phương thức để tổ chức thực hiện các chương trình, mục tiêu, kế hoạch đó; Kịp thời điều chỉnh, uốn nắn hoạt động của con người theo lợi ích và mục đích được đặt ra
1.2 Khu vực công và kiểm toán nội bộ
1.2.1 Khu vực công
Khái niệm: Có nhiều cách hiểu khác nhau về khu vực công Trong thực tế,
thuật ngữ "khu vực công" (public sector) thường được hiểu đồng nghĩa với "khu vực nhà nước" (state sector) Theo đó, khu vực nhà nước là khu vực hoạt động của xã hội, trong đó nhà nước giữ vai trò quyết định, chi phối Thuật ngữ này thường được dùng
để phân biệt với "khu vực tư" hay "khu vực phi nhà nước", tức là khu vực hoạt động sản xuất sản phẩm và dịch vụ do tư nhân quyết định
Một cách hiểu phổ biến về khu vực công dựa trên quan hệ sở hữu, theo đó khu vực công là khu vực thuộc sở hữu nhà nước Tùy thuộc vào từng quốc gia trong việc phân chia quyền sở hữu mà hoạt động của nó thuộc về khu vực công, khu vực tư hay hỗn hợp giữa hai khu vực Ví dụ, đất đai ở nhiều quốc gia là đối tượng thuộc khu vực công vì nó thuộc sở hữu nhà nước và vì vậy, quản lý đất đai được thực hiện theo những nguyên tắc quản lý tài sản công Trong khi đó ở một số quốc gia khác, đất đai bao gồm cả sở hữu của nhà nước, sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể
1.2.2 Kiểm toán nội bộ
Theo “Các chuẩn mực nghề nghiệp” do IIA ban hành tháng 5/1978 thì: “KTNB
là một chức năng xác minh độc lập được thiết lập bên trong một tổ chức để xem xét, đánh giá các hoạt động với tư cách là một sự hỗ trợ đối với tổ chức Mục tiêu của KTNB nhằm trợ giúp cho các thành viên của tổ chức thực hiện được trách nhiệm của mình một cách hiệu quả Cuối cùng, KTNB trang bị cho họ cách thức phân tích, đánh giá, các đề xuất, các khuyến nghị và thông tin liên quan tới hoạt động xem xét lại Mục tiêu KTNB còn đưa ra khung kiểm soát hiệu quả ở mức chi phí hợp lý
4
Trang 9CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC KHÁCH QUAN ĐỂ LÀM RÕ CÁC VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG KTNB KHU VỰC CÔNG CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Thực trạng KTNB ở các đơn vị khu vực công của Việt Nam hiện nay
Một trong những yêu cầu của nguyên tắc khách quann trong hoạt động nhận thức đó là phải xuất phát từ hiện thực khách quan để tái hiện lại nó như nó vốn có mà không được đưa ra những nhận định, đánh giá tùy tiện chủ quan Tức là ngay bây giờ chúng ta cần nhìn nhận vào thực trạng KTNB ở Việt Nam hiện nay đang có những gì
và thiếu những gì phản ánh một cách chân thật nhất để từ đó mới có thể đưa ra những
kế hoạch, chương trình, mục tiêu để hoàn thiện và phát triển hơn từ phía Nhà nước cũng như bản thân các doanh nghiệp cụ thể là các nhà quản lý
Thực trạng KTNB ở các đơn vị khu vực công cụ thể như sau:
Các văn bản pháp luật về KTNB do Nhà nước ban hành:
Quy chế KTNB trong các DNNN được ban hành tại Quyết định số 832 –TC/QĐ-CĐKT của Bộ Tài chính ngày 28/10/1997 là văn bản pháp lý đầu tiên đề cập đến các quy định về mục đích, chức năng, nguyên tắc, phạm vi, nhiệm vụ, nội dung cũng như các vấn đề về tổ chức và nhân sự của KTNB ở các DNNN
Tính đến nay đã có thêm 3 văn bản pháp lý liên quan đến KTNB do Bộ Tài chính ban hành, đó là:
Thông tư số 52/1998-TT/BTC ngày 16/4/1998 hướng dẫn tổ chức bộ máy KTNB tại DNNN
Công văn số 287/TC/TCDN ngày 3/8/1998 về việc bổ nhiệm kiểm toán viên nội bộ
Thông tư 171/1998/TT/BTC ngày 22/12/1998 hướng dẫn thực hiện KTNB tại DNNN
Trang 10Nhóm 5-Tiểu luận triết học
Hoạt động và hiệu quả của bộ phận KTNB:
Hiện nay khung pháp lý cao nhất cho hoạt động mang dáng dấp như KTNB đối với các đơn vị có sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước (KPNSNN) là Quyết định số 67/2004/QĐ-BTC của Bộ Tài chính về việc ban hành “Quy chế về tự kiểm tra tài chính, kế toán tại các cơ quan, đơn vị có sử dụng kinh phí NSNN” Theo đó, các đơn
vị có sử dụng KPNSNN phải xây dựng và vận hành hệ thống tự kiểm tra tài chính, kế toán theo quyết định này
Hoạt động tự kiểm tra tài chính, kế toán của các đơn vị được tổ chức thành bộ phận chuyên trách đặt dưới sự điều hành trực tiếp của thủ trưởng đơn vị và là một hoạt động bắt buộc Việc đặt bộ phận tự kiểm tra tài chính, kế toán dưới sự điều hành trực tiếp của thủ trưởng đơn vị làm ảnh hưởng tới tính độc lập, tính khách quan, dẫn đến làm giảm hiệu quả hoạt động của bộ phận này
Chức năng tự kiểm tra tài chính, kế toán bị đồng nhất với chức năng KTNB Trách nhiệm giữa các cấp lãnh đạo với bộ phân tự kiểm tra tài chính, kế toán của đơn
vị chưa phân định rõ ràng Công tác tự đánh giá đối với bộ phận kiểm tra tài chính, kế toán chưa được thực hiện và bị coi nhẹ Hoạt động tự kiểm tra tài chính, kế toán của các đơn vị trong thời gian qua mới chỉ dừng lại công tác hậu kiểm, những vấn đề phát hiện thường là những sai phạm đã xảy ra, chưa có tác dụng trong việc phát hiện, ngăn ngừa, quản lý rủi ro và nhất là tư vấn cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực hiện có của đơn vị
Bước vào hội nhập kinh tế quốc tế, các đơn vị có sử dụng kinh phí NSNN đang phải đối mặt với những tồn tại như năng lực quản trị điều hành yếu kém, công nghệ thông tin lạc hậu, nguồn vốn NSNN cấp ngày càng hạn hẹp,… Để khắc phục những hạn chế này, đồng thời nâng cao năng lực quản trị điều hành và phát triển bền vững thì một trong những yêu cầu cấp bách nhất hiện nay là các đơn vị có sử dụng kinh phí NSNN cần phải xây dựng và nâng cao hiệu quả của bộ phận KTNB
6