TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCMKHOA KẾ TOÁN KIỂM TOÁN TRIẾT HỌC Bài tiểu luận VẬN DỤNG Ý NGHĨA CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ TRONG GIẢI THÍCH HÀNH VI GIAN LẬN VÀ TRỐN THUẾ THU NHẬP
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA KẾ TOÁN KIỂM TOÁN
TRIẾT HỌC Bài tiểu luận
VẬN DỤNG Ý NGHĨA CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ TRONG GIẢI THÍCH HÀNH VI GIAN LẬN VÀ TRỐN THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
GVHD: TS Bùi Văn Mưa Nhóm thực hiện: Nhóm 1– Lớp Tối thứ 3 – K25
Trang 2BÁO CÁO TÌNH HÌNH LÀM VIỆC NHÓM
Danh sách thành viên nhóm 1:
1 Bùi Thị Năm: Nhóm trưởng
2 Võ Thị Bích Hà
3 Phạm Anh Thư
Quá trình làm việc nhóm:
- Sau khi thành lập nhóm, nhóm tiến hành họp nhóm để định hướng chọn đề tài;
- Tiến hành tìm tài liệu và đưa đến quyết định chọn đề tài;
- Thảo luận nội dung đề tài và lập dàn bài;
- Phân công nội dung trình bày;
- Tổng hợp nội dung các phần, và tiến hành điều chỉnh thành bài hoàn chỉnh
Tất cả các công việc trên được thực hiện tại lớp, sau giờ học và kết hợp với tương tác trên 1 Group được lập trên Facebook
Tổng kết quá trình làm việc, tất cả các thành viên tiến hành đánh giá mức độ đóng góp của từng thành viên, và nhất trí đưa đến kết quả như sau:
STT TÊN MỨC ĐỘ ĐÓNG GÓP
2 Võ Thị Bích Hà 100%
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Như chúng ta điều biết, phạm trù là những khái niệm rộng nhất phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật và hiện tượng thuộc một lĩnh vực nhất định, hay đơn giản hơn phạm trù chính là kết quả của những quá trình phản ánh những mối liên hệ được lặp đi lặp lại của đời sống, trong đó không thể không nhắc đến cặp phạm trù nguyên nhân kết quả, với tầng suất xuất hiện trong hiện thực có thể nói là nhiều nhất và phổ biến nhất, nó là một trong những mối liên hệ tự nhiên đầu tiên được phản ánh vào bộ óc con người
Một Nhà nước muốn có nền tài chính quốc gia lành mạnh thì phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân, tất cả các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước đều được đáp ứng qua các nguồn thu từ thuế, phí và các hình thức thu khác như: vay mượn, viện trợ nước ngoài, bán tài nguyên quốc gia, thu khác Song thực tế các hình thức thu ngoài thuế đó có rất nhiều hạn chế, bị ràng buộc bởi nhiều điều kiện Do đó thuế được coi là khoản thu quan trọng nhất vì khoản thu này mang tính chất ổn định và khi nền kinh tế càng phát triển thì khoản thu này càng tăng Có thể nói vai trò của thuế
- đặc biết là thuế thu nhập doanh nghiệp - rất quan trọng, bởi vì nó chính là nguồn thu của ngân sách nhà nước, là công cụ góp phần điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô Thuế thu nhập doanh nghiệp quan trọng là vậy nhưng hiện nay với một hệ thống pháp luật về thuế ngoằn ngoèo, hướng dẫn thực thi phức tạp, chịu sự quản lý của nhiều ban ngành khác nhau thì việc có những lỗ hổng để những hành vi gian lận và trốn thuế xảy ra là không thể tránh khỏi
Nhóm thực hiện đề tài nhận thấy rằng càng ngày số lượng các vụ vi phạm thuế thu nhập doanh nghiệp càng cao, mức độ tinh vi càng tăng, gây thất thoát hàng tỷ đồng
ngân sách nhà nước Do đó nhóm đã quyết định thực hiện đề tài “VẬN DỤNG Ý
NGHĨA CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ TRONG GIẢI THÍCH HÀNH VI GIAN LẬN VÀ TRỐN THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM” nhằm đi tìm những lời giải thích cụ thể cho hành vi không tuân thủ
pháp luật này
Trang 42 Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ ý nghĩa của cặp phạm trù nguyên nhân kết quả cũng như giải thích khái quát về nội dung của thuế thu nhập doanh nghiệp Từ đó sẽ vận dụng ý nghĩa của cặp phạm trù này để giải thích những hành vi gian lận, trốn thuế thu nhập doanh nghiệp xảy ra trong đời sống hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
- Cặp phạm trù nguyên nhân kết quả
- Thuế thu nhập doanh nghiệp
- Ý nghĩa của cặp phạm trù nguyên nhân kết quả trong giải thích hành vi gian lận va trốn thuế thu nhập doanhg nghiệp
Phạm vi nghiên cứu:
- Các vấn đề liên qua đến thuế thu nhập doanh nghiệp;
- Gian lận, trốn lậu thuế tại Việt Nam;
- Cặp phạm trù nguyên nhân, kết quả
4 Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tài liệu, tổng hợp, phân tích.
Trang 5CHƯƠNG I: TÓM TẮT NỘI DUNG CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN KẾT QUẢ VÀ THỰC TRẠNG HÀNH VI GIAN LẬN, TRỐN THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
I Cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả
1 Khái niệm nguyên nhân và kết quả
Nguyên nhân và kết quả là một cặp phạm trù trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin và là một trong những nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ mối quan hệ biện chứng hai phạm trù là:
- Nguyên nhân: chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau, gây ra một biến đổi nhất định nào đó
- Kết quả: chỉ những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau gây ra, qua đó phản ánh mối quan hệ hình thành của các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan
2 Tính chất của mối liên hệ nhân quả
Phép biện chứng duy vật của triết học Marx-Lenin khẳng định mối liên hệ nhân quả có tính khách quan, tính phổ biến, tính tất yếu, cụ thể:
- Tính khách quan: mối liên hệ nhân quả là cái vốn có của bản thân sự vật, không phụ thuộc vào ý thức của con người, dù con người biết hay không biết, thì các sự vật vẫn tác động lẫn nhau và sự tác động đó tất yếu gây nên biến đổi nhất định Con người chỉ phản ánh vào trong đầu óc mình những tác động và những biến đổi, tức là mối liên
hệ nhân quả của hiện thực, chứ không sáng tạo ra mối liên hệ nhân quả của hiện thực
từ trong đầu mình
- Tính phổ biến: mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội đều có nguyên nhân nhất định gây ra, không có hiện tượng nào không có nguyên nhân, chỉ có điều là nguyên nhân đó đã được nhận thức hay chưa mà thôi Không nên đồng nhất vấn đề nhận thức của con người về mối liên hệ nhân quả với vấn đề tồn tại của mối liên hệ đó trong hiện thực
- Tính tất yếu: cùng một nguyên nhân nhất định, trong những điều kiện giống nhau sẽ gây ra kết quả như nhau, tuy nhiên trong thực tế không thể có sự vật nào tồn
Trang 6tại trong những điều kiện, hoàn cảnh hoàn toàn giống nhau Do vậy tính tất yếu của mối liên hệ nhân quả trên thực tế phải được hiểu là: nguyên nhân tác động trong những điều kiện và hoàn cảnh càng ít khác nhau bao nhiêu thì kết quả do chúng gây ra càng giống nhau bấy nhiêu
3 Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
Mối quan hệ giữa nguyên nhân kết quả là mối quan hệ khách quan, bao hàm tính tất yếu không có nguyên nhân nào không dẫn tới kết quả nhất định và ngược lại không
có kết quả nào không có nguyên nhân
Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả vì vậy nguyên nhân phải có trước kết quả, một nguyên nhân nhất định trong những hoàn cảnh nhất định chỉ có thể gây ra những kết quả nhất định và mọi kết quả xác định bao giờ cũng sinh ra bởi nguyên nhân xác định, nếu các nguyên nhân và hoàn cảnh càng ít khác nhau thì kết quả do chúng gây nên cũng sẽ ít khác nhau
Mối quan hệ nguyên nhân và kết quả là mối quan hệ phức tạp vì cùng một nguyên nhân có thể gây ra nhiều kết quả khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể; và cùng một kết quả có thể gây nên bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, tùy tác động riêng
rẽ hay tác động cùng lúc lên sự vật mà hiệu quả tác động của từng nguyên nhân sẽ khác nhau
Nếu nguyên nhân tác động lên sự vật cùng môi trường thì sẽ gây lên ảnh hưởng cùng chiều với sự hình thành kết quả, ngược lại nếu nguyên nhân tác động khác nhau lên sự vật theo các hướng khác nhau thì chúng sẽ làm suy yếu, thâm chí hoàn toàn tiêu diệt tác dụng của nhau
Mối quan hệ nhân quả là một chuỗi những sự kiện tiếp nối giữa nguyên nhân và kết quả, không có nguyên nhân đầu tiên và kết quả cuối cùng, trong một số trường hợp nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hóa cho nhau, có thể trong mối quan hệ này là nguyên nhân nhưng xét trong mối quan hệ khác thì là kết quả và ngược lại
4 Ý nghĩa phương pháp luận
Từ việc phát hiện mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả, có thể nhận thấy cặp phạm trù nguyên nhân kết quả có ý nghĩa như sau:
Trang 7Mối liên hệ nhân quả có tính khách quan và tính phổ biến, nghĩa là không có sự vật, hiện tượng nào trong thế giới vật chất lại không có nguyên nhân, nhưng không phải con người có thể nhận thức ngay được mọi nguyên nhân Do đó cần phải tìm ra nguyên nhân của những hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy từ trong thế giới hiện thực, trong bản thân các sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới vật chất chứ không được tưởng tượng ra từ trong đầu óc của con người, tách rời thế giới hiện thực
“Hoạt động của con người là hòn đá thử vàng của tính nhân quả” – Ph.Ăng-ghen
Vì nguyên nhân luôn có trước kết quả nên muốn tìm nguyên nhân của một hiện tượng nào đấy cần tìm trong những sự kiện, những mối liên hệ xảy ra trước khi hiện tượng đó xuất hiện
Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra, những nguyên nhân này có vai trò khác nhau đối với việc hình thành kết quả Vì vậy trong hoạt động thực tiễn chủ thể cần phân loại các nguyên nhân, tìm ra nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên ngoài, nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan đồng thời, phải nắm được chiều hướng tác động của các nguyên nhân, từ
đó có biện pháp thích hợp tạo điều kiện cho nguyên nhân có tác động tích cực đến hoạt động và hạn chế sự hoạt động của nguyên nhân có tác động tiêu cực
II Thực trạng gian lận, trốn thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam
1 Một số khái niệm liên quan
- Thuế thu nhập doanh nghiệp: là loại thuế trực thu, thu trên kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp, đối tượng nộp thuế là tất cả các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập đều phải nộp
- Hành vi gian lận thuế: là hành vi của cá nhân, tổ chức cố ý làm sai lệch các thông tin kế toán – tài chính làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, miễn, giảm
- Hành vi trốn thuế: là hành vi của các cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật về thuế dẫn đến làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, miễn, trả
Trang 82 Đặc điểm của hành vi gian lận, trốn thuế
Về chủ thể: là các cá nhân, tổ chức có hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc các hoạt động khác mà theo quy định của pháp luật thuộc đối tượng chịu thuế đã thực hiện các hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về thuế dẫn đến giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn, miễn, giảm
Về đối tượng: là các quy định pháp luật về thuế liên quan đến số thuế phải nộp hoặc số thuế được hoàn, miễn, giảm
Về mục đích, hậu quả của hành vi: mục đích của hành vi trốn thuế và gian lận thuế là giống nhau, làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm
3 Một số hành vi gian lận, trốn thuế
- Khai man không đúng sự thật về tình hình thu nhập;
- Sử dụng hóa đơn giả, hóa đơn bất hợp pháp, hay không phát hành hóa đơn bán
hàng;
- Ghi chép sai lệch, không đầy đủ, chính xác các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào
sổ sách;
- Hoạt động chuyển giá trong các công ty có giao dịch, liên kết ở các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
4 Một vài số liệu được công bố của ngành thuế Việt Nam
Tại Hội nghị tổng kết công tác tài chính - ngân sách nhà nước năm 2015, đến ngày 28/12/2015, thu cân đối ngân sách nhà nước đạt xấp xỉ 957.000 tỷ đồng, trong năm 2015, cơ quan thuế đã tiến hành thanh tra, kiểm tra 70.059 doanh nghiệp và kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế 1.227.180 hồ sơ Kết quả thanh tra, kiểm tra
đã phát hiện và kiến nghị xử lý 31.007.540 triệu đồng, trong đó: tăng thu, xử phạt là 10.246.781 triệu đồng; giảm khấu trừ 1.167.503 triệu đồng; giảm lỗ 19.593.256 triệu đồng Số tiền thuế đã nộp vào ngân sách 6.982.269 triệu đồng, bao gồm:
- Về thanh tra, ngành thuế đã thanh tra 8.705 doanh; tổng số truy thu, truy hoàn,
phạt là 5.215.206 triệu đồng, giảm khấu trừ 591.925 triệu đồng, số giảm lỗ 10.365.943 triệu đồng; số đã nộp ngân sách 3.151.834 triệu đồng
Trang 9- Về kiểm tra, ngành thuế đã kiểm tra 59.296 doanh nghiệp; tổng số truy thu,
phạt và truy hoàn 4.728.108 triệu đồng, giảm khấu trừ 519.617 triệu đồng, giảm lỗ 8.952.686 triệu đồng; số đã nộp ngân sách 3.526.968 triệu đồng
- Ngành thuế cũng đã thực hiện kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế
với 1.227.180 hồ sơ; xử lý điều chỉnh thu vào ngân sách 303.467 triệu đồng, số giảm khấu trừ 55.961 triệu đồng, giảm lỗ 274.627 triệu đồng
- Về kiểm tra nội bộ, toàn hệ thống thuế đã thực hiện 2.058 cuộc, phát hiện số
tiền thuế sai phạm là 127.184 triệu
- Kiểm tra 69.541 doanh nghiệp, cơ quan thuế cũng truy thu, truy hoàn, phạt
5.775,91 tỷ đồng, giảm khấu trừ 575,3 tỷ đồng, giảm lỗ 10.418,64 tỷ đồng, đặc biệt qua kiểm tra 1.332.799 hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế, ngành Thuế đã điều chỉnh thuế hơn 900 tỷ đồng, kiểm tra rà soát các hồ sơ khai thuế tại cơ quan thuế đã phát hiện những sai sót, ẩn của người nộp thuế, qua đó điều chỉnh tăng số thuế kê khai hoặc ấn định số thuế mà doanh nghiệp phải nộp vào ngân sách nhà nước
- Thực hiện chuyên đề đấu tranh chống chuyển giá, toàn ngành đã tiến hành
thanh tra, kiểm tra 4.751 doanh nghiệp lỗ, có dấu hiệu chuyển giá và doanh nghiệp có hoạt động giao dịch liên kết Theo đó đã giảm lỗ 10.050 tỷ đồng; truy thu, truy hoàn và phạt 1.062,74 tỷ đồng; giảm khấu trừ là 302 tỷ đồng; số thuế đã nộp ngân sách nhà nước 887 tỷ đồng
Hiện, công tác hiện đại hóa phương thức kê khai và nộp thuế đang được Bộ Tài chính triển khai mạnh mẽ, từ chỗ quản lý thủ công, đến nay 98% doanh nghiệp đã kê khai thuế điện tử, 55% đã nộp thuế điện tử Đối với các hộ cá thể, Bộ Tài chính cũng đang từng bước nghiên cứu để có thể phối hợp với các tổ chức, doanh nghiệp ủy nhiệm thu, tiến tới người dân có thể nộp thuế thông qua phương tiện điện tử như qua điện thoại
Như vậy có thể thấy, tình trạng sai phạm về thuế diễn ra khá phức tạp, ngành thuế cũng đã có những bước đi mạnh mẽ, tuy nhiên, công tác ngăn ngừa, phát hiện, đấu tranh, xử lý các sai phạm sẽ là thách thức rất đối với ngành thuế Việt Nam
Trang 10CHƯƠNG II: VẬN DỤNG CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ TRONG GIẢI THÍCH THỰC TRẠNG GIAN LẬN VÀ TRỐN THUẾ THU
NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
I Nguyên nhân gian lận và trốn thuế thu nhập doanh nghiệp
1 Nguyên nhân chủ quan
1.1 Những nguyên nhân thuộc về cán bộ thuế và cơ quan thuế
- Công tác tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn và giải thích các chính sách về thuế chưa được chú trọng đúng
mức, chưa đi vào chiều sâu, còn mang tính hình thức Do đó, chưa đạt được hiệu quả trong việc nâng cao tính tuân thủ tự nguyện, hiểu biết pháp luật về thuế cho các đối tượng nộp thuế
- Quy trình và các biện pháp quản lý thuế còn chưa thật sự chặt chẽ, dẫn đến công tác quản lý không đạt được hiệu quả mong muốn Bộ máy quản lý thuế còn khá cồng kềnh, phức tạp, chưa có các quy định rõ ràng về nguyên tắc tổ chức hoạt động và
cơ cấu của bộ máy
- Công tác thanh tra, kiểm tra thuế là nghiệp vụ quan trọng, giúp cơ quan thuế đạt mục tiêu thu đúng, thu đủ, thu kịp thời; đồng thời đảm bảo công bằng giữa các đối tượng nộp thuế và sự nghiêm minh của pháp luật Thông qua công tác thanh tra, kiểm tra thuế sẽ góp phần phòng ngừa những mặt tiêu cực trong tác kê khai và nộp thuế Tuy nhiên, công tác thanh tra, kiểm tra thuế chưa thực sự chú trọng đúng mức, đôi lúc còn thiếu khoa học dẫn đến hiệu quả thực hiện chưa cao, số lượng hồ sơ thanh tra còn tồn đọng lớn
- Trình độ chuyên môn và thực thi chính sách thuế của một bộ phận cán bộ thuế còn hạn chế, chưa đáp ứng được các yêu cầu của công tác quản lý thuế, đặc biệt trong nền kinh tế phát triển nhanh, yêu cầu quản lý hiện đại và các cải cách hành chính trong quản lý thuế
- Thái độ và phong cách ứng xử của một số cán bộ thuế chưa thật sự chuyên nghiệp, tận tụy; vẫn còn tồn tại những biểu hiện quan liêu, cửa quyền Sự biến chất, thoái hóa về đạo đức, phẩm chất của một bộ phận cán bộ làm công tác quản lý thuế,