LỜI MỞ ĐẦUSự thành công của quá trình phát triển kinh tế ở nước ta đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm một lựa chọn đúng đắn trên con đường CNH-HĐH đất nước.. 2
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI: PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM
GVHD: Thầy Bùi Văn Mưa SVTH: Nhóm 6 (lớp tối thứ 3)
1 Nguyễn Thi Thái Hà
2 Nguyễn Thị Thiên Thanh
3 Lê Đức Vượng
4 Trần Thị Ngọc Duyên
5 Phạm Hoài An
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Tp HCM, ngày …… tháng …… năm 201…
Giáo viên hướng dẫn
Trang 3MỤC LỤC
BÁO CÁO TÌNH HÌNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI iv
LỜI MỞ ĐẦU 1
I) Quan điểm Mác-Lê nin về nhân tố con người 1
1) Khái niệm về nhân tố con người 1
2) Vai trò của nhân tố con người trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam 2
II) Phát huy nhân tố con người phục vụ cho sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam 3
1) Thực trạng về phát huy nhân tố con người trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam 3
2) Nguyên nhân làm hạn chế khả năng phát huy nhân tố con người trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam 6
3) Giải pháp chủ yếu nhằm phát huy hiệu quả nhân tố con người trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam 7
III) Kết luận 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO 10
PHỤ LỤC 11
Trang 4BÁO CÁO TÌNH HÌNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 09/08/2016: Cả nhóm họp lựa chọn đề tài.
16/08/2016: Cả nhóm chốt đề tài và xây dựng dàn bài, tham khảo ý kiến thầy Sau
khi tham khảo ý kiến thầy, nhóm chốt dàn ý và phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm theo dàn ý về nhà tìm hiểu
23/08/2016: Cả nhóm nộp bài theo phân công, tổng hợp bài và gửi lại cho các
thành viên đọc lại, bổ sung chỉnh sửa Tất cả các thành viên đều phải nêu ý kiến đóng góp cho toàn bộ nội dung bài làm
29/08/2016: Chốt nội dung chính thức bài tiểu luận Chỉnh sửa, định dạng đúng
chuẩn nộp thầy Nhóm trưởng họp đánh giá phần trăm đóng góp và hoàn thành nhiệm vụ của các thành viên Sau khi họp, cả nhóm thống nhất phần đánh giá như sau:
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Sự thành công của quá trình phát triển kinh tế ở nước ta đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm một lựa chọn đúng đắn trên con đường CNH-HĐH đất nước Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp Việt Nam vì thế đóng góp của họ vào kin tế, GDP của đất nước là rất lớn Tuy nhiên vì là doanh nghiệp “vừa và nhỏ” nên họ gặp cũng không ít khó khăn không ít trong các mặt chính trị, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở kỹ thuật, nguồn nhân lực…Không thể phủ nhận là trình độ chuyên môn của nhân viên cũng như sự quản lý yếu kém của các nhà lãnh đạo cũng là một trong những khó khăn và thách thức lớn đối với doanh nghiệp nhỏ ở Việt Nam hiện nay
Vì vậy, bài tiểu luận tiến hành tìm hiểu vai trò của nhân tố con người và phát huy nhân tố con người trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam để từ đó có thể đưa
ra vấn đề và thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ, góp phần phát triển kinh tế đất nước
Trong quá trình thực hiện cũng có vài sai sót, kính mong nhận được sự góp ý của thầy và các bạn để bài làm được hoàn thiện hơn Nhóm cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Bùi Văn Mưa đã truyền đạt cho nhóm và các bạn trong lớp những kiến thức triết học nền tảng nhất để nhóm có thể thực hiện được bài tiểu luận này
I) Quan điểm Mác-Lê nin về nhân tố con người.
1) Khái niệm về nhân tố con người.
Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học, đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội
Với quan điểm duy vật triệt để và phương pháp duy vật biện chứng C.Mác và Ph Ăng ghen đã tạo ra một bước ngoặt trong việc nhận thức bản chất con người Các ông xuất phát từ con người thực tiễn, con người hiện thực, con người cải tạo thế giới và thông qua hoạt động vật chất con người Đó là một động vật có tính xã hội với tất cả những nội dung văn hóa- lịch sử của nó
Trang 6Như vậy, bản chất con người không phải là trừu tượng mà là hiện thực, không phải là tự nhiên mà là lịch sử, không phải là cái vốn có trong mỗi cá thể riêng lẻ mà là tổng hòa của toàn bộ quan hệ xã hội Đây là phát hiện có giá trị to lơn của Mác về bản chất con người
Nhận thức đúng đắn về khái niệm nhân tố con người là khái niệm dung để chỉ một
hệ thống các yếu tố, năng lực, phẩm chất, đặc trưng của con người, làm cho con người trở thành chủ thể của lịch sử, tức trở thành con người tích cực trong hoạt động thực tiễn, sáng tạo trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Khái niệm “nhân tố con người” đòi hỏi phân biệt “nhân tố” (yếu tố) người với các yếu tố khác như yếu tố kinh tế, yếu tố chính trị, yếu tố xã hội, trong đời sống xã hội; đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của
“nhân tố người” trong các “yếu tố: kinh tế, chính trị, xã hội, ”
Bên cạnh đó, khái niệm phát huy nhân tố con người là chăm lo, tạo ra những điều kiện cần thiết để mỗi con người, mỗi cộng đồng người thể hiện tối đa các yếu tố, năng lực, phẩm chất, của mình trong mọi lĩnh vực hoạt động sáng tạo, nhằm đẩy mạnh sự phát triển kinh tế-xã hội vì hạnh phúc của mỗi con người Đây cũng là quá trình làm cho mỗi con người trở thành chủ thể có ý thức trong sáng tạo lịch sử
2) Vai trò của nhân tố con người trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam
Sự nghiệp phát triển kinh tế ở Việt Nam nói chung và các DNNVV nói riêng cũng phải phụ thuộc vào nguồn lực con người và do nguồn lực này quyết định Bởi những lí do sau:
Thứ nhất, các nguồn lực khác như vốn tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng chúng, chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực khi được kết hợp với nguồn lực con người thông qua hoạt động có ý thức của con người
Thứ hai, các nguồn khác là hữu hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt, trong khi đó nguồn lực con người là vô tận Nó không chỉ tái sinh và tự sinh sản về mặt sinh học mà còn tự đổi mới không ngừng nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lí
Thứ ba, trí tuệ con người có sức mạnh vô cùng to lớn một khi nó được vật thể hóa, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Trang 7Thứ tư, thực tiễn của chính nước ta cho thấy sự thành công của phát triển kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào việc hoạch định đường lối chính sách cũng như cách tổ chức thực hiện của con người
Qua toàn bộ phân tích trên đây, ta có thể đi đến kết luận rằng nguồn lực con người có vai trò quyết định cho sự thành công của quá trình phát triển kinh tế nói chung và của các DNNVV nói riêng
II) Phát huy nhân tố con người phục vụ cho sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
ở Việt Nam.
1) Thực trạng về phát huy nhân tố con người trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam.
Nhân sự là chìa khóa thành công của mọi doanh nghiệp Do đó, phải có những nỗ lực phi thường bằng hành động thực tiễn trong việc huy động và sử dụng nguồn lực này thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam có thể thành công Đó cũng là lý do vì sao nhiều nhà khoa học kêu gọi phải tiến hành một cuộc “cách mạng con người” mà thực chất là cách mạng về chất lượng nguồn lao động Và bởi vậy, mỗi bước tiến lên của cuộc “cách mạng con người” sẽ đem lại những thành tựu to lớn cho các doanh nghiệp nào áp dụng và làm chủ được vấn đề quản trị con người
a) Những thành tựu đạt được trong việc phát huy nhân tố con người trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam.
Có thể thấy phát huy nhân tố con người trong doanh nghiệp (ở đây xét ở DNNVV) xoay quanh mối quan hệ giữa người lao động với nhà quản trị trong việc phát triển đồng đều dưới tác động của môi trường trong và ngoài doanh nghiệp nhằm đem lại lợi ích ở cả hai bên mà cụ thể công tác quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp và các chính sách Nhà nước, thị trường bên ngoài doanh nghiệp
Nói dưới góc độ triết học phát huy nhân tố con người trong doanh nghiệp là mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất (gồm người lao động và tư liệu sản xuất) và quan hệ sản xuất (gồm quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức – quản lý, quan hệ trong phân phối) Vì quan
Trang 8hệ sở hữu là quan hệ đối với tư liệu sản xuất, nên ta tập trung đánh giá thành tựu đạt được trong phát huy nhân tố con người trong DNNVV ở VN ở hai quan hệ còn lại
Quản trị nguồn nhân lực là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo - phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lần nhân viên
Xét ở quan hệ tổ chức – quản lý:
Về tuyển dụng, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực:
Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Thống kê (Việt Nam), tình hình tuyển dụng, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở DNNVV đã và đang phát triển khả quan
Từ giai đoạn 2008-2011, tỷ lệ số lượng DNNVV so với tổng số DN tăng từ 96,98% lên đến 97,61%, đi cùng với là tỷ lệ số lượng người lao động trong DNNVV so với trong tổng số DN tăng từ 42,12% lên đến 46,44% (theo Bảng 1 phần Phụ lục) Điều này cho thấy lượng lượng lao động trong DNNVV vẫn đang là thành phần chính trong hoạt động tạo ra giá trị cho doanh nghiệp
Trong 2015, theo số liệu Niên giám thống kê 2015, số sinh viên tốt nghiệp, lực lượng lao động có chất lượng, giai đoạn từ 2012-2014 tăng 425.200 lên 441.800 (theo Bảng 2 phần Phụ lục), tạo ra lực lượng lao động có chất lượng dồi dào, từ đó việc bổ sung nguồn nhân lực DNNVV đang yêu cầu ngày càng tăng
Về duy trì nguồn nhân lực:
Quyền bình đẳng giữa người sử dụng lao động và người lao động trong các DNNVV của Việt Nam hiện nay đã được cải thiện một cách đáng kể qua các chính sách
về phúc lợi, bảo hiểm của chính doanh nghiệp cũng như sự giám sát, yêu cầu của Nhà nước qua các văn bản luật lao động, bảo hiểm, công đoàn nhằm đảm bảo quyền lợi người lao động
Việc thị trường được mở rộng bởi các DNNVV vốn nước ngoài đã du nhập vào một văn hóa DN mới từ vốn, công nghệ, cho đến phúc lợi người lao động Các chính sách bảo hiểm nhân thọ hay chế độ tuần làm 5 ngày là những điểm mới cho việc nuôi dưỡng nguồn nhân lực của chính doanh nghiệp
Trang 9Tất cả những điểm trên đều duy trì sự bền vững nguồn nhân lực của DNNVV.
Xét ở quan hệ trong phân phối:
Để đảm bảo duy trì nguồn nhân lực, việc phân chia thành quả lao động cho người lao động của chủ doanh nghiệp đã có nhiều khác biệt tốt hơn Đó là tác động của từ chất lượng người lao động ngày càng tăng cao, trình độ chủ doanh nghiệp về giá trị lao động, đến yếu tố DN từ nước ngoài đã đem lại chính sách lương cạnh tranh cho người lao động tại các DNNVV Chính sách Nhà nước về mức lương tối thiểu được điều chỉnh hằng năm cũng là một điểm cần lưu ý khi nó phản ánh được việc tái phân phối giá trị lao động cho người lao động
b) Những khó khăn, thách thức, hạn chế đối với việc phát huy nhân tố con người trong DNNVV ở VN
Xét trong quan hệ tổ chức – quản lý:
Về tuyển dụng, đào tạo, phát triển và duy trì nguồn nhân lực:
Lực lượng lao động có chất lượng nhiều nhưng đáp ứng được nhu cầu của DNNVV lại không nhiều Nguyên nhân là chất lượng đào tạo đã không được chú trọng mà chỉ theo số lượng, là ảnh hưởng uy tín, giá trị lao động của lực lượng lao động có chất lượng
Chủ DN chưa tôn trọng lợi ích của người lao động theo hợp đồng lao động Ở các đơn vị sản xuất kinh doanh việc thuê mướn lao động còn tuỳ tiện Trách nhiệm của cả chủ
DN và người lao động không được quy định rõ ràng Việc tránh né các chính sách Luật lao động, bảo hiểm hay công đoàn là chuyện phổ biến
Vấn đề an toàn lao động của người lao động vẫn bị bỏ ngỏ dù Nhà nước đã ban hành văn bản Luật Môi trường lao động ở nhiều cơ sở bị ô nhiễm nghiêm trọng, nhất là ở các làng nghề, khu công nghiệp, khu chế xuất Thực trạng tai nạn lao động, cháy, nổ, bệnh nghề nghiệp vẫn còn nghiêm trọng, thậm chí có nơi, có lúc có biểu hiện chiều hướng gia tăng…Sức khoẻ, tính mạng của người lao động đang bị đe doạ bởi những căn bệnh nghề nghiệp
Trang 10 Xét ở quan hệ trong phân phối:
Giá trị người lao động bị chủ DN bỏ qua, không quan tâm việc duy trì nguồn nhân lực Điểm này có thể xét cả góc độ người lao động có chất lượng đã không đáp ứng được yêu cầu của chủ DN hoặc người lao động phổ thông chưa cập nhập đủ thông tin để bảo vệ bản thân hoặc xét cả góc độ tư duy, trình độ của chính chủ DN không đánh giá đúng công sức người lao động
Các chính sách của Nhà nước nhằm đảm bảo công bằng cho người lao động khó có thể giám sát được, cũng như chế tài chưa đủ sức răn đe chủ DN vi phạm Yếu tố công nghệ thông tin, hướng dẫn, hỗ trợ nâng cao hiểu biết về quyền lợi chính đáng của chính người lao động chưa được phát triển
2) Nguyên nhân làm hạn chế khả năng phát huy nhân tố con người trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của con người, ta có thể nhận thấy rằng con người là yếu tố cấu thành nên tổ chức DN, vận hành DN và quyết định sự thành bại của DN Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực không thể thiếu được của DN Mặt khác, quản lý các nguồn lực khác cũng sẽ không có hiệu quả nếu DN không quản lý tốt nguồn nhân lực, vì suy cho cùng mọi hoạt động quản lý đều thực hiện bởi con người Xét về mặt kinh tế, quản trị tốt nguồn nhân lực giúp cho các DN khai thác các khả năng tiềm tàng, nâng cao năng suất lao động và lợi thế cạnh tranh của DN về nguồn nhân lực Về mặt xã hội, quản trị tốt nguồn nhân lực thể hiện quan điểm rất nhân bản về quyền lợi của người lao động, đề cao vị thế và giá trị của người lao động, chú trọng giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa tổ chức, DN và người lao động
Hiện nay, các DN Việt Nam trung bình chỉ sử dụng khoảng 40% năng suất của nguồn nhân lực mà họ đang sở hữu và tỷ lệ này còn khó lý giải hơn nữa ở nhóm nhân
viên khối văn phòng Nguyên nhân của vấn đề này cơ bản nằm ở sự yếu kém về công tác quản trị nguồn nhân lực Cụ thể như sau:
- Nhận thức chưa đúng của nhiều cán bộ lãnh đạo về vai trò then chốt của con người đối với sự thành công của DN