Phương pháp biện chứng của triết học khẳng định rằng mọi sự vật và hiện tượng luôn có mối quan hệ với nhau trong trạng thái vận động biến đổi để phát triển mà nguồn gốc của nó là sự đấu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TRIẾT HỌC
MỐI QUAN HỆ CẶP PHẠM TRÙ NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC TRONG NGUYÊN TẮC GHI CHÉP KẾ TOÁN
LỚP: 16C1PHI50102 KHÓA 25 (2015 – 2017) GVHD: TS BÙI VĂN MƯA
TP HCM, tháng 08 năm 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TRIẾT HỌC
MỐI QUAN HỆ CẶP PHẠM TRÙ NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC TRONG NGUYÊN TẮC GHI CHÉP KẾ TOÁN
TP HCM, tháng 08 năm 2016
THÀNH VIÊN
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Ngày … tháng … năm …
TS Bùi Văn Mưa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Mặc dù chưa có nhiều kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu và kiến thức còn hạn chế nhưng cùng với sự trợ giúp của giảng viên hướng dẫn, sự tổng hợp tài liệu từ kho sách báo của thư viện và sự nỗ lực của tập thể nhóm, đã giúp chúng em hoàn thành bài tiểu luận này
Tập thể nhóm xin chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu nhà trường đã tạo những điều kiện học tập tốt nhất với cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại giúp quá trình nghiên cứu và hoàn thành bài tiểu luận của nhóm được dễ dàng hơn
Các cán bộ quản lí thư viện đã tạo điều kiện tốt nhất cho chúng em vào tham khảo tài liệu, tìm kiếm thông tin từ sách báo, từ hệ thống Internet
Đặc biệt là giảng viên: TS Bùi Văn Mưa đã hướng dẫn cặn kẽ cho chúng em
phương thức thực hiện bài tập nhóm này
Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2016
Trang 5BIÊN BẢN ĐÚC KẾT ĐÁNH GIÁ I/ Đánh giá về kết quả công việc.
Nội dung công việc Người được
phân công
bài tiểu luận
Tham gia đóng góp
ý kiến đề xuất đề tài
nghiên cứu theo yêu
cầu của thầy
Cả nhóm Các thành viên đều có sự
tham gia đóng góp ý kiến Mỗi thành viên 2%
Tổng hợp công việc
phân công cho các
thành viên trong
nhóm
Á Bình – Minh Triết
Các thành viên đều nhất trí với phần phần công việc được giao
Á Bình: 3%
M Triết: 2%
Phần lời mở đầu Kim Chi
Phần lời mở đầu tương đối tốt, đảm bảo được nội dung
mà cả nhóm đã thống nhất, không chỉnh sửa nhiều
Kim Chi: 10%
Phần cơ sở lý luận Ngọc Phú – Á
Bình
Phần bài C Phú khá đầy đủ nhưng vẫn chưa nêu rõ phần ý nghĩa phương pháp luận
C Bình bổ sung phần ý nghĩa cặp phạm trù nội dung và hình thức
N phú: 10%
Á Bình: 5%
Phần nội dung về
nguyên tắc ghi chép
kế toán
Á Bình – Minh Triết
Bài viết có ý tưởng nhưng chưa nêu bật được nội dung các nguyên tắc cơ bản trong ghi chép kế toán cũng như chưa thể hiện rõ vai trò mang tính chất “bắt cầu”
cho phần nội dung sau
Ô Triết đã dựa trên ý tưởng
Á Bình 5%
M Triết 15%
Trang 6của C Bình tiến hành sửa chữa lại phần nội dung này
Phần nội dung về
việc vận dụng cặp
phạm trù nội dung
và hình thức trong
nguyên tắc ghi chép
kế toán
T Dung – M
Triêt
Bài viết có ý tưởng trong việc vận dụng cặp phạm trù nội dung và hình thức vào giải thích mối quan hệ giữa nội dung kinh tế và tài khoản kế toán Tuy nhiên,
lý luận chưa sâu sắc, lập luận chưa thể hiện rõ vấn
đề mà nhóm cần làm nổi bật
Ô Triết đã dựa trên ý tưởng của C Dung tiến hành sửa chữa lại phần nội dung này
T Dung: 10%
M Triết: 15%
Triết
Bài viết còn thiên phần nhiều về lĩnh vực kế toán, chưa nói rõ được mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm làm nổi bật tính ứng dụng rộng rãi của phép biện chứng duy vật
Ô.Triết đã tiến hành chỉnh sửa lại dựa trên ý tưởng C
Dung
T Dung :4%
M Triết: 6%
Tổng kết bài, định
dạng trang, kiểm tra
lỗi chính tả, tài liệu
tham khảo
Á Bình Cả nhóm đều nhất trí nội
dung đã được tổng hợp Á Bình: 5 %
II / Kết quả đúc kết đánh giá
Trang 7Trương Á Bình Nhóm Phó 20% B
III/ Nhận xét chung
Nhìn chung, các thành viên trong nhóm đều có sự tích cực và có nhiều cố gắng tham gia đóng góp, xây dựng bài tiểu luận: “Mối quan hệ cặp phạm trù nội dung và hình thức trong nguyên tắc ghi sổ kế toán”
Trưởng nhóm
Lý Minh Triết
Trang 8MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
1.1 Khái niệm 2
1.2 Mối quan hệ biện chứng 2
1.3 Ý nghĩa phương pháp luận 3
CHƯƠNG 2: MỐI QUAN HỆ NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC TRONG NGUYÊN TẮC GHI CHÉP KẾ TOÁN 4
2.1 Khát quát về nguyên tắc ghi chép kế toán 4
2.1.1 Đối tượng ghi chép của kế toán 4
2.2.2 Tài khoản và phương pháp ghi sổ kép 5
2.2 Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung kinh tế và tài khoản kế toán trong nguyên tắc ghi chép kế toán 6
2.2.1 Tính thống nhất giữa nội dung kinh tế và tài khoản kế toán 6
2.2.2 Nội dung kinh tế giữa vai trò quyết định so với tài khoản kế toán 7
2.2.3 Tài khoản kế toán có tính độc lập tương đối; nhờ tính độc lập tương đối mà tài khoản kế toán có thể tác động trở lại nội dung kinh tế 8
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN 9
TÀI LIỆU THAM KHẢO 10
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
Triết học được gọi là khoa học của các khoa học, trong triết học phép biện chứng duy vật nói riêng, triết học Mác-xít nói chung có vị trí hết sức quan trọng trong khoa học
và cuộc sống Những tri thức của triết học đang là công cụ tư duy sắc bén để con người nhận thức và cải tạo thế giới, đang được vận dụng hàng ngày vào các lĩnh vực hoạt động của con người
Nguyên lý kế toán ra đời gắn liền với quá trình tái sản xuất, nó là tất yếu khách quan của mọi hình thái kinh tế xã hội Lịch sử hình thành nguyên lý kế toán vận hành theo quá trình của nhận thức từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng Ban đầu, kế toán được hình thành từ những quan sát, đo lường của con người đối với kết quả lao động của họ Sản xuất xã hội phát triển kéo theo sự phát triển của kế toán, hình thành kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa kế toán được phát triển thành một khoa học
Ngày nay, khoa học kế toán được hiểu là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động Phương pháp biện chứng của triết học khẳng định rằng mọi sự vật và hiện tượng luôn có mối quan hệ với nhau trong trạng thái vận động biến đổi để phát triển mà nguồn gốc của nó là sự đấu tranh của các mặt đối lập Điều này được thể hiện rõ trong từng nội dung của hệ thống kế toán
Nguyên lý về sự phát triển trong triết học khẳng định mọi sự vật, hiện tượng luôn vận động biến đổi, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc ở những cấp độ cao dần Điều này được thể hiện rõ nét trong chương về đối tượng kế toán Trong quá trình hoạt động của đơn vị tài sản và nguồn vốn không đứng im mà nó không ngừng vận động, chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác trong quá trình tái sản xuất, kết thúc một chu kỳ nó lại được bắt đầu bởi một chu kỳ với sự gia tăng về quy mô, số lượng giúp doanh nghiệp không những tồn tại mà còn phát triển mạnh Bởi vậy, nguyên lý về sự phát triển và các cặp phạm trù cơ bản trong triết học đã được sử dụng để xây dựng các nội dung của kế
toán Bài tiểu luận này tập trung nghiên cứu vấn đề “Mối quan hệ cặp phạm trù nội
dung và hình thức trong nguyên tắc ghi chép kế toán”
[1]
Trang 10CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái niệm
Nội dung: Phạm trù triết học dùng để chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, những yếu
tố, những quá trình tạo nên sự vật, hiện tượng
Hình thức: Phạm trù triết học dùng để chỉ một hệ thống các mối liên hệ tương đối
bền vững ổn định, tạo nên cấu trúc nội tại của nội dung, và là phương thức tồn tại của bản thân sự vật
Phép biện chứng duy vật phân biệt hình thức bên trong với hình thức bên ngoài; chú trọng đến hình thức bên trong bản thân sự vật vì nó gắn liền với nội dung
1.2 Mối quan hệ biện chứng
- Tính thống nhất giữa nội dung và hình thức: Không có hình thức nào không
chứa nội dung, và ngược lại, không có nội dung nào không được thể hiện qua một vài hình thức nhất định Cũng một nội dung, trong những điều kiện khác nhau, được thể hiện bằng những hình thức tồn tại khác nhau, và ngược lại, cùng một hình thức, trong những điều kiện khác nhau, thể hiện được nhiều nội dung khác nhau
- Nội dung giữ vai trò quyết định đối với hình thức (nội dung nào thì hình thức nấy): Nội dung là mặt động, không ổn định, dễ biến đổi; Hình thức là mặt tĩnh, khá ổn
định, ít biến đổi
+ Sự vận động, phát triển của bản thân sự vật bao giờ cũng bắt đầu từ sự biến đổi của nội dung Khi nội dung biến đổi đến một mức nào đó sẽ tạo ra sự không phù hợp (tức xung đột hay mâu thuẫn) giữa nội dung và hình thức
+ Sự xung đột hay mâu thuẫn này đòi hỏi phải giải quyết bằng cách phá bỏ hình thức cũ, xác lập hình thức mới, sao cho phù hợp với nội dung (ở một trình độ) mới Điều này làm cho sự vật chuyển sang một trạng thái mới về chất
- Hình thức có tính độc lập tương đối, nhờ tính độc lập tương đối mà hình thức
có thể tác động trở lại nội dung: Khi phù hợp với nội dung, hình thức thúc đẩy sự phát
triển của nội dung Khi không phù hợp với nội dung, hình thức sẽ kìm hãm sự phát triển của nội dung Tuy nhiên, sự kìm hãm này chỉ mang tính chất tạm thời, đến một lúc nào
[2]
Trang 11đó, nội dung sẽ tự “giải phóng” mình ra khỏi sự kìm hãi của hình thức để tiếp tục phát triển
1.3 Ý nghĩa phương pháp luận
Trong hoạt động nhận thức, muốn hiểu được thực trạng của sự vật phải phát hiện được nội dung và hình thức của nó trong sự thống nhất lẫn nhau mà không được tuyệt đối hóa cái này, coi thường cái kia
Trong hoạt động thực tiễn, phải biết khai thác và sử dụng mọi hình thức có thể có để giải quyết tốt nhiệm vụ thực tiễn (nội dung) đặt ra; phải chống lại quan điểm bảo thủ, đầu
óc thủ cựu chỉ biết làm theo kiểu cũ, duy trì hình thức cũ, lẫn quan điểm chủ quan nóng vội, tùy tiện thay đổi hình thức một cách vô căn cứ; phải thấy được vai trò quyết định của nội dung, biết xây dựng những nội dung phù hợp với hình thức và điều kiện sẵn có; biết tác động đến sự thay đổi nội dung để cải biến sự vật Phải nắm vững điều kiện, cách thức thay đổi của hình thức cũng như sự tác động ngược lại của hình thức đến nội dung để vạch ra đối sách thích hợp, rồi thông qua hoạt động thực tiễn, sử dụng nhiều công cụ, phương tiện, biện pháp thích hợp (mà trước hết là những công cụ, phương tiện, biện pháp vật chất) để can thiệp đúng lúc, đúng chỗ, đúng mức độ vào tiến trình hoạt động, phát triền của đối tượng, lèo lái nó theo đúng quy luật và hợp lợi ích chúng ta
[3]
Trang 12CHƯƠNG 2: MỐI QUAN HỆ NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC TRONG NGUYÊN
TẮC GHI CHÉP KẾ TOÁN 2.1 Khát quát về nguyên tắc ghi chép kế toán
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội loài người là sự hình thành và phát triển của nghề nghiệp kế toán, nhu cầu ghi chép trong quá trình trao đổi thương mại đã trở thành một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự phát triển không ngừng của hệ thống kế toán của nhiều nước trên thế giới Ngày nay, thông qua quá trình phân tích và đánh giá về hệ thống kế toán của từng quốc gia, chúng ta có thể tìm thấy được những đặc trưng về kinh tế, chính trị và văn hóa của mỗi nước Đó là bởi vì tuy từng hệ thống kế toán kế toán có sự khác nhau về quy định, quan điểm kế toán nhưng suy cho cùng mỗi một bút toán ghi chép đều dùng để phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tương ứng
Từ đó, cũng là nguồn gốc hình thành nên hệ thống các tài khoản kế toán cũng như các phương thức ghi chép kế toán
2.1.1 Đối tượng ghi chép của kế toán
Để ra đời và hoạt động bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải có một tài sản nhất định, tài sản đó có thể bằng hiện vật (tài sản cố định) hay hiện kim (tiền) Nhiệm vụ của kế toán là ghi chép các hoạt động liên quan tới tài sản, tài sản đó do đâu mà có (tức là nguồn hình thành của tài sản) và sự vận động của tài sản trong quy trình hoạt động (tạo ra doanh thu và chi phí), cụ thể như sau:
Phản ánh đầy đủ nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh vào chứng từ kế toán, số sách kế toán, sổ kế toán và báo cáo tài chính
Phản ảnh kịp thời, đúng thời gian quy định thông tin, số liệu kế toán
Phản ánh rõ ràng, dễ hiểu và chính xác thông tin, số liệu kế toán
Phản ánh trung thực hiện trạng, bản chất sự việc, nội dung và giá trị nghiệp vụ kinh
tế, tài chính
Thông tin số liệu kế toán phải được phản ánh liên tục, từ khi phát sinh đến khi kết thúc hoạt động kinh tế, tài chính, từ khi thành lập đến khi chấm dứt hoạt động của đơn vị
kế toán; số liệu kế toán phản ánh kỳ này phải kế tiếp theo số liệu kế toán kỳ trước
[4]
Trang 13 Phân loại, sắp xếp thông tin, số liệu kế toán theo trình tự có hệ thống và có thể so sánh được
2.2.2 Tài khoản và phương pháp ghi sổ kép
a/ Tài khoản kế toán
Tài khoản là một phương pháp của kế toán dùng để phân loại và hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế, tài chính theo nội dung kinh tế Với chức năng là phản ánh và giám đốc một cách thường xuyên, liên tục có hệ thống tình hình tăng giảm tài sản và nguồn hình thành tài sản, cũng như những hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tài khoản có đặc trưng sau:
- Về hình thức: Là sổ sách kế toán tổng hợp được dùng để ghi chép số tiền về số hiện
có cũng như sự biến động của từng đối tượng kế toán cụ thể, dựa trên cơ sở phân loại các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo các tiêu thức nhất định
- Về nội dung: Phản ánh một cách thường xuyên và liên tục sự biến động của từng
đối tượng kế toán trong quy trình hoạt động kinh doanh của đơn vị
- Về chức năng: Giám đốc thường xuyên, kịp thời tình hình bảo vệ và sử dụng từng
loại tài sản, từng loại nguồn vốn, từng loại doanh thu và chi chí
b/ Phương pháp ghi sổ kép
Ghi kép hay còn gọi là ghi sổ kép là phương pháp kế toán phản ánh sự biến động của các đối tượng kế toán vào tài khoản kế toán, theo đúng nội dung của từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh và mối quan hệ giữa các loại tài sản, các loại nguồn vốn cũng như các đối tượng kế toán khác
Ghi sổ kép là việc ghép ít nhất hai tài khoản với nhau, một tài khoản ghi nợ và một tài khoản ghi có, để thể hiện mối tương quan và sự biến động của đối tượng kế toán do nghiệp vụ kinh tế phát sinh tạo ra, tổng giá trị bên nợ luôn luôn phải bằng tổng giá trị bên có
Khi thể hiện mối quan hệ tương quan của nghiệp vụ kinh tế phát sinh phải xác định tài khoản nào ghi Nợ, tài khoản nào ghi Có Việc xác định quan hệ Nợ - Có như trên gọi là: Định khoản kế toán Định khoản kế toán là cở sở thực hiện phương pháp ghi sổ kép
[5]
Trang 14 Phương pháp định khoản: bốn bước
Bước 1: Xác định chi tiết đối tượng kế toán
Cụ thể phải xác định chi tiết đối tượng kế toán trong nghiệp vụ kinh tế phát sinh là tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, phải thu khách hàng, doanh thu bán hàng hay chi phí nguyên vật liệu trực tiếp…
Bước 2: Xem xét chi tiết đối tượng kế toán thuộc loại tài khoản nào
Chẳng hạn tiền gửi ngân hàng thuộc tài khoản tài sản; phải thu khách hàng thuộc tài khoản tài sản, phải trả người bán thuộc tài khoản nguồn vốn, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thuộc tài khoản doanh thu hay chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thuộc tài khoản chi phí
Bước 3: Xác định sự tăng hay giảm của đối tượng kế toán
Bước 4: Tra cứu số hiệu tài khoản và dựa vào nguyên tắc quy ước ghi chép vào tài
khoản để định khoản kế toán.
Nói tóm lại, nhiệm vụ của kế toán là việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan tới sự vận động tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp được hệ thống hóa thông qua phương pháp ghi sổ kép nhằm phản ánh chúng vào các tài khoản kế toán trên
hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp Như vậy có thể nói rằng nghiệp vụ kinh tế phát sinh là phạm trù liên quan tới nội dung kinh tế phản ánh đầy đủ sự vận động của tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp, còn các tài khoản kế toán chính là phạm trù liên quan tới hình thức thể hiện, phản ánh nội dung kinh tế phát sinh này
2.2 Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung kinh tế và tài khoản kế toán trong nguyên tắc ghi chép kế toán
2.2.1 Tính thống nhất giữa nội dung kinh tế và tài khoản kế toán
Thứ nhất, không có bất kỳ tài khoản kế toán nào không phản ánh nội dung kinh tế và ngược lại cũng không có bất kỳ nội dung kinh tế nào không được thể hiện qua các tài khoản kế toán Các tài khoản kế toán phản ánh một cách hợp lý và khách quan sự vận
[6]