1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tiểu luận môn triết học ảnh hưởng của nho giáo trong tương lai văn hóa việt nam

17 649 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 106,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VỀ CHÍNH TRỊ – ĐẠO ĐỨC CỦA KHỔNG TỬ ĐỐI VỚI CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY...6 1.. Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức ra đời và tồn tại đến nay

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN

ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO TRONG TƯƠNG LAI

VĂN HÓA VIỆT NAM

Năm 2016

Lớp: KT357

1.Huỳnh Ngọc Mỹ Hạnh 2.Võ Sỹ Lượng

3.Phan Thị Hà Phương 4.Tôn Nữ Thanh Vân 5.Nguyễn Vũ Nhật Ngân

Trang 2

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2

I Quá trình hình thành và phát triển của Nho giáo 2

1 Nho giáo nguyên thủy 2

2 Hán Nho 2

3 Tống Nho 2

II Các sách kinh điển 2

1 Ngũ Kinh 3

2 Tứ Thư 3

III Nội dung cơ bản của Nho giáo 3

1 Tu thân 3

2 Hành đạo 4

IV Đặc điểm của Nho giáo 4

1 Tính du mục phương Bắc 4

2 Tính nông nghiệp phương Nam 4

CHƯƠNG II ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO ĐẾN CON NGƯỜI VIỆT NAM 5

I VẤN ĐỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CON NGƯỜI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 5

1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam giai đoạn hiện nay 5

2 Quan điểm triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về giáo dục đào tạo con người Việt Nam hiện nay 5

II ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VỀ CHÍNH TRỊ – ĐẠO ĐỨC CỦA KHỔNG TỬ ĐỐI VỚI CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY 6

1 Trong phạm vi xã hội 6

2 Trong phạm vi nhà trường 6

3 Trong phạm vi gia đình 6

III NHO GIÁO TRONG TƯƠNG LAI VĂN HÓA VIỆT NAM 6

1 Sự giải thể và chuyển hóa của Nho giáo thế kỷ 20 7

Trang 3

3 Ảnh hưởng hiện đại của Nho giáo về mặt Tôn giáo, Tín ngưỡng 9

4 Cái học tâm tính của Nho giáo trong tương lai 10 KẾT LUẬN 11

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Trung Hoa cổ đại nổi tiếng là chiếc nôi văn hóa khoa học và triết học cổ xưa, đây cũng là nơi ra đời hàng loạt các hệ thống triết học cũng như các nhà triết gia vĩ đại không chỉ của nền văn minh phương Đông mà là còn của cả nhân loại Nho giáo

là một học thuyết chính trị - đạo đức ra đời và tồn tại đến nay đã hơn 2500 năm ở thời Xuân Thu do Khổng Tử sáng lập Nho giáo có một vị thế hết sức to lớn trong đời sống xã hội Trung Quốc trong nhiều thế kỷ

Ngay từ khi xâm nhập vào Việt Nam, Nho giáo đã nhanh chóng thích nghi

và phát triển mạnh mẽ, sự ảnh hưởng của Nho giáo đến đời sống của con người Việt Nam rất sâu sắc và được thể hiện trên nhiều phương diện, đặc biệt là trong lĩnh vực đạo đức không chỉ trong quá khứ mà còn phát huy đến ngày nay góp phàn làm phong phú thêm cho nền văn hóa của Việt Nam Trải qua nhiều biến chuyển xã hội, văn hóa thế kỷ 20, Nho giáo đã mất đi vị thế độc tôn, chính thống trong dân gian của nhièu quốc gia, trong đó có Việt Nam Sự đoán định về tồn tại và sức ảnh hưởng của Nho giáo trong xã hội Việt Nam thế kỷ 21 là công việc lớn, phức tạp và luôn đòi hỏi cần bỏ ra nhiều công sức và nỗ lực nghiên cứu chuyên sâu của nhiều chuyên gia Với đề tài: "Ảnh hưởng của Nho giáo trong tương lai văn hóa Việt Nam", nhóm muốn đề cập một vài nét về ảnh hưởng sâu rộng của tư tưởng đạo đức Nho giáo đối với con người Việt Nam trong quá khứ, từ đó gợi mở những xu hướng chuyển hóa cũng như nguy cơ với văn hóa dân tộc từ những ảnh hưởng mới của Nho giáo trong tương lai

Trang 5

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT

I Quá trình hình thành và phát triển của Nho giáo

Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc, Khổng Tử (sinh ngày 8/9/479 trước công nguyên) phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó Chính vì thế mà người đời sau coi ông là người sáng lập ra Nho giáo

1 Nho giáo nguyên thủy

Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục kinh Sau khi Khổng Tử mất, học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra sách Đại học Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết

ra cuốn Trung Dung Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy

2 Hán Nho

Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký Hán Vũ Đế đưa Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước về tư tưởng Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm Nho giáo thời kỳ này được gọi là Hán Nho Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao quyền lực của giai cấp thống trị Thiên Tử là con của trời, dùng “lễ trị” để che đậy “pháp trị”

3 Tống Nho

Đến đời Tống, Đại Học, Trung Dung được tách ra khỏi Lễ Ký và cùng với Luận ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư Nho giáo thời kỳ nay được gọi là Tống nho Điểm khác biệt của Tống nho với Nho giáo trước đó là việc bổ sung các yếu tố

"tâm linh" (lấy từ Phật giáo) và các yếu tố "siêu hình" (lấy từ Đạo giáo) phục vụ cho việc đào tạo quan lại và cai trị

II Các sách kinh điển

Sách kinh điển gồm hai bộ: Ngũ Kinh và Tứ Thư

Trang 6

1 Ngũ Kinh

a Kinh Thi: sưu tập các bài thơ dân gian có từ trước Khổng Tử, nói nhiều về tình yêu nam nữ nhằm giáo dục mọi người tình cảm trong sáng lành mạnh và cách thức diễn đạt rõ ràng và trong sáng

b Kinh Thư: ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ có trước Khổng Tử

c Kinh Lễ: ghi chép các lễ nghi thời trước Khổng Tử hiệu đính lại mong dùng làm phương tiện để duy trì và ổn định trật tự

d Kinh Dịch: nói về các tư tưởng triết học của người Trung Hoa cổ đại dựa trên các khái niệm âm dương, bát quái,

e Kinh Xuân Thu: ghi lại các biến cố xảy ra ở nước Lỗ, quê của Khổng Tử

f Kinh Nhạc: do Khổng tử hiệu đính nhưng về sau bị thất lạc, chỉ còn lại một

ít làm thành một thiên trong Kinh Lễ gọi là Nhạc ký

2 Tứ Thư

Tứ thư bao gồm Luận Ngữ, Đại Học, Trung Dung và Mạnh Tử Luận ngữ ghi lại lời dạy của Khổng Tử do học trò của ông ghi chép lại Đại học dạy phép làm người để trở thành bậc quân tử Trung dung dạy người ta cách sống dung hòa, không thiên lệch Mạnh Tử ghi lại lời dạy của Mạnh Tử

III Nội dung cơ bản của Nho giáo

1 Tu thân

Người quân tử phải đạt ba điều trong tu thân:

* Đạt Đạo: Đạo có nghĩa là "con đường", hay "phương cách" ứng xử mà

người quân tử phải thực hiện trong cuộc sống

* Đạt Đức: Quân tử phải đạt được ba đức: "nhân - trí - dũng" Về sau, Mạnh

Tử thay "dũng" bằng "lễ, nghĩa" nên ba đức trở thành bốn đức: "nhân, nghĩa, lễ, trí" Hán nho thêm một đức là "tín" nên có tất cả năm đức là: "nhân, nghĩa, lễ, trí, tín" Năm đức này còn gọi là "ngũ thường"

* Biết Thi, Thư, Lễ, Nhạc: Tức là người quân tử còn phải có một vốn văn hóa

toàn diện

Trang 7

2 Hành đạo

Kim chỉ nam cho mọi hành động của người quân tử trong việc hành đạo, tức

là phải làm quan, làm chính trị là hai phương châm là nhân trị và chính danh

Nhân là tình người, nhân trị là cai trị bằng tình người và coi người như bản thân mình Khổng Tử nói: "Người không có nhân thì lễ mà làm gì? (sách Luận ngữ)

Chính danh là mỗi sự vật phải được gọi đúng tên của nó, mỗi người phải làm đúng chức phận của mình "Danh không chính thì lời không thuận, lời không thuận tất việc không thành" (sách Luận ngữ)

Quân tử ban đầu có nghĩa là người cai trị, người có đạo đức và biết thi, thư,

lễ, nhạc Tuy nhiên, sau này từ đó còn có thể chỉ những người có đạo đức mà không cần phải có quyền Ngược lại, những người có quyền không có đức gọi là tiểu nhân

IV Đặc điểm của Nho giáo

1 Tính du mục phương Bắc

Tính "quốc tế" trong Nho giáo thể hiện ở mục tiêu cao nhất của người quân

tử là "bình thiên hạ" Tính "phi dân chủ" và hệ quả của nó là tư tưởng "bá quyền", coi khinh các dân tộc khác, coi mình là trung tâm còn "tứ di” Tính "trọng sức mạnh" được thể hiện ở chữ "Dũng", một trong ba đức mà người quân tử phải có (Nhân - Trí - Dũng) Tính "nguyên tắc" được thể hiện ở học thuyết "chính danh" Tất cả phải có tôn ti, tất cả phải làm việc theo đúng bổn phận của mình

2 Tính nông nghiệp phương Nam

* Tính "hài hòa" là một đặc tính của văn hóa nông nghiệp, trái ngược với tính

trọng sức mạnh của văn hóa du mục Biểu hiện cho tính hài hòa là việc đề cao chữ

"Nhân" và nguyên lý "Nhân trị"

* Tính "dân chủ" là đặc tính khác biệt với văn hóa du mục Khổng Tử nói:

"Dân là chủ của thần, vì thế thánh nhân xưa lo cho việc dân rồi mới lo việc thần" (Kinh Xuân Thu) Trong các quan hệ đó, đều thể hiện tính hai chiều, bình đẳng: Vua sáng, tôi trung; cha hiền con hiếu, anh nhường em tốt, bạn bè tin cậy

* Tính coi trọng văn hóa tinh thần (thi, thư, lễ, nhạc) thể hiện nhiều trong

Kinh Thi Tính "trọng văn" cũng ngược lại với tính "trọng võ" của văn hóa du mục

Trang 8

CHƯƠNG II ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO ĐẾN CON NGƯỜI VIỆT

NAM

I VẤN ĐỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CON NGƯỜI VIỆT NAM GIAI

ĐOẠN HIỆN NAY

1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam giai đoạn hiện nay

Con đường đi lên CNXH của đất nước ta ở thời đại ngày nay có một đặc điểm lớn là không qua giai đoạn phát triển TBCN Hiện nay, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã thu được những thành tựu lớn, bên cạnh đó, nó cũng đang làm thay đổi nhiều chuẩn mực đạo đức và định hướng giá trị

Vì thế, trong giáo dục và đào tạo con người Việt Nam hiện nay nói chung và con người kế toán nói riêng, phải biết dùng quan điểm hiện đại để soi rọi vào truyền thống Nếu chúng ta biết tiếp thu quan điểm tiến bộ, loại trừ những hạn chế trong Nho giáo đồng thời áp dụng những đường lối mới phù hợp với hoàn cảnh hiện nay thì chúng ta sẽ xây dựng thành công con người mới XHCN

2 Quan điểm triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về giáo dục đào tạo con người Việt Nam hiện nay

Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết quan tâm hơn hết đến bản chất vai trò của con người Mác và Ăngghen đã phác hoạ ra những nét chính của con người mới:

đó là những con người đã thực sự làm chủ tự nhiên, xã hội và bản thân; được phát triển toàn diện; và quan hệ giữa người với người là bình đẳng

Trong xã hội mới, con người là chủ thể của xã hội, có vai trò to lớn trong sự nghiệp xây dựng đất nước Để có con người mới đó Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò giáo dục đạo đức, nhất là đạo đức cách mạng

Phương hướng chung của việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa của Đảng là con người phát triển toàn diện cân đối, có trình độ năng lực Đảng đã chủ trương xây dựng con người mới từ con người “truyền thống”

Trang 9

II ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VỀ CHÍNH TRỊ – ĐẠO ĐỨC CỦA KHỔNG TỬ ĐỐI VỚI CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

1 Trong phạm vi xã hội

Cho đến nay, xã hội đã xuất hiện một quan hệ mới: Quan hệ giữa những người Cộng sản và nhân dân lao động Để xây dựng quan hệ tốt đẹp không chỉ giữa Đảng

và nhân dân mà cả trong tất cả các mối quan hệ của xã hội, thì chữ nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, dũng… vẫn có nhiều giá trị quan trọng và được giữ gìn đến ngày này

2 Trong phạm vi nhà trường

Hiện nay nội dung giáo dục đã được thay thế bằng những nội dung mới mang tính khoa học nhằm phát triển nhân cách toàn diện; thực hiện mục đích rèn luyện nhân cách cho con người Đó là tinh thần “Học, học nữa, học mãi” (Lênin); “Tiên học

lễ, hậu học văn”…

3 Trong phạm vi gia đình

Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề giáo dục con người trong gia đình đã đạt được những kết quả đáng kể Chúng ta chủ trương khôi phục gia đình truyền thống với những nếp tốt mà Nho giáo đã làm được Gia đình trong thời hiện nay cũng với mục đích xây dựng nên những mối quan hệ bằng sự mềm dẻo, khéo léo Mọi thành viên bình đẳng trên cơ sở bình đẳng lẫn nhau

Tóm lại, khi nghiên cứu vấn đề ảnh hưởng tư tưởng triết học của Khổng Tử về

sự nghiệp giáo dục đào tạo con người hiện nay, chúng ta cũng không thể không kể đến những mặt hạn chế của Nho giáo còn tồn tại trong xã hội Việc thanh toán những hậu quả xấu của Nho giáo một cách toàn diện và triệt để là cần thiết

III NHO GIÁO TRONG TƯƠNG LAI VĂN HÓA VIỆT NAM

Việt Nam là một quốc gia thuộc vùng chịu ảnh hưởng của Nho giáo Trải qua những chuyển biến xã hội, văn hoá thế kỷ 20, Nho giáo đã mất địa vị độc tôn Giống như mọi hiện tượng văn hoá khác, Nho giáo chịu sự quy định của thực tại, chịu tác động của các điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội, chính trị của Việt Nam cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, chính sách văn hoá, xã hội của Ðảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cùng nhiều nhân tố khác nhau

Trang 10

1 Sự giải thể và chuyển hóa của Nho giáo thế kỷ 20

Thế kỷ 20 là thế kỷ biến động sâu sắc và toàn diện Người ta nhìn nhận sự biến động lớn đó là đứt gẫy, là sự gián cách văn hoá giữa truyền thống và hiện đại

Đó là hai quá trình cùng diễn ra, quá trình giải thể và quá trình chuyển hoá, giải thể

để đi tới chuyển hoá, là sự kết thúc của Nho giáo thời kỳ chuyên chế phong kiến và bắt đầu của Nho giáo thời kỳ cộng hoà, tự do và dân chủ

Quá trình giải thể của Nho giáo thế kỷ 20 đã diễn ra một cách toàn diện, ở cả phương diện chính thống, học thống và đạo thống Nó diễn ra mạnh mẽ khi chế độ giáo dục khoa cử nho học bị xoá bỏ vào năm 1919, được hoàn tất khi cách mạng dân tộc dân chủ năm 1945 toàn thắng bởi sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản, xoá bỏ chế độ thực dân nửa phong kiến

Quá trình giải thể tiếp diễn vào các thập kỷ 60, 70 của thế kỷ 20 và thiên về chính trị Quá trình giải thể đã đồng thời gây ra một quá trình chuyển hoá Nho giáo

đã luân lạc trong dân gian, tuy mất đi phần chính trị, phần ứng dụng của nó -Phương diện tôn giáo, triết học và cả tinh thần nhân văn vẫn tiếp tục tồn tại trong đời sống người Việt Nam Nó tiếp tục được bảo lưu trong đời sống gia tộc, phong tục tập quán, nhân cách, lý tưởng, quan hệ nhân tế của con người Trong định hướng giá trị của con người Việt Nam, nó vẫn ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc

Thế kỷ 20, không còn chỗ dựa chính trị, lại không được lưu truyền qua giáo dục khoa cử, Nho giáo đã mất đi những chỗ dựa hết sức quan trọng Nho giáo một cách tự nhiên chuyển sang tìm chỗ dựa ở tâm thức dân chúng, từ chỗ dựa này, nó vẫn có những cơ hội tái sinh Tuy nhiên vị trí chủ cán của Nho giáo đối với văn hoá Việt Nam truyền thống không thực tiêu biểu và rõ ràng như vị trí của nó đối với văn hoá Trung Quốc, cho nên trong sự chuyển hoá mới, nó cũng rất khó có thể trở thành chủ cán trong văn hoá Việt Nam hiện đại

2 Nguy cơ đối với văn hóa dân tộc và ảnh hưởng mới của Nho giáo

Nho giáo được lựa chọn là tư tưởng chủ đạo ở Việt Nam trong thời trung đại phần quan trọng chủ yếu xuất phát từ nhu cầu xã hội của nhà nước phong kiến trung ương tập quyền mạnh, từ nhu cầu củng cố khối đoàn kết toàn dân tộc Nho giáo và dân tộc, đó là hai vấn đề gắn bó hữu cơ, và có mối quan hệ khăng khít với nhau

Trang 11

Các nhà Nho Việt Nam vừa sống, tu dưỡng theo những nguyên lý đạo đức Khổng Mạnh, lại vừa ứng xử với tư cách người quốc dân luôn đặt lợi ích dân tộc lên trên hết

Trong quá khứ, mỗi bước chuyển biến của dân tộc đều liên quan tới vận mệnh của Nho giáo Ðã thành tiền lệ, các vấn đề văn hoá nảy sinh trong xã hội Việt Nam hầu như không được giải quyết độc lập, đáp ứng những nhu cầu vận động tự thân của văn hoá, mà thường được giải quyết đồng thời, giải quyết cùng lúc với vấn

đề dân tộc Vừa giải quyết vấn đề dân tộc mà đồng thời người ta giải quyết các vấn

đề văn hoá

Chẳng hạn, cuộc kháng chiến chống Minh cứu vong dân tộc thế kỷ 15 với việc chuyển đổi hệ tư tưởng, thay đổi vận mệnh Nho giáo, hay Cách mạng tháng tám năm 45, là cách mạng dân tộc, vừa là cách mạng dân chủ, cách mạng văn hoá

Từ cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20, việc Việt Nam chuyển đổi cơ chế nền kinh tế từ kinh tế kế hoạch hoá quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường và hội nhập thế giới

đã làm nảy sinh những nguy cơ đối với văn hoá Việt Nam Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và chuyển đổi cơ chế kinh tế làm phát xuất những nguy cơ từ bên trong và những nguy cơ bên ngoài kéo đến từ hội nhập quốc tế

Nguy cơ bên trong thể hiện ở sự xói mòn và băng hoại nhiều giá trị văn hoá truyền thống Nguy cơ bên ngoài là việc thâm nhập của văn hoá Âu mỹ, của lối sống Tây phương hiện đại tấn công vào văn hoá bản địa, đe doạ sự tồn tại của bản sắc văn hoá dân tộc

Hai nguy cơ nảy sinh từ bên trong và tác động từ bên ngoài hợp thành môt nguy cơ lớn đe doạ văn hoá dân tộc Lúc này nguy cơ đối với dân tộc không phải chỉ còn ở chỗ độc lập hay không độc lập, mà còn ở chỗ dân tộc có bị hoà tan trong cộng đồng văn hoá nhân loại hay không, đó sẽ là một thảm hoạ lớn và cũng là một loại diệt vong đối với nền văn hóa lâu đời của nước ta

Trước nguy cơ tồn vong của văn hoá dân tộc đó, người Việt Nam đã hướng

về bảo lưu các giá trị truyền thống Phong trào tái sinh văn hoá đã diễn ra mạnh mẽ Tái sinh văn hoá diễn ra một cách tự nhiên trong dân gian và nằm trong chiến lược giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc của Ðảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam

Ngày đăng: 07/03/2017, 00:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w