1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Kỹ năng tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn của học viên sĩ quan cấp phân đội

189 298 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 189
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Kỹ năng tự học các môn KHXH&NV của học viên sĩ quan cấp phân đội” là vấn đề thuộc lĩnh vực Tâm lý học được nghiên cứu mang tính chất đặc thù về hoạt động tự học trong môi trường quân s

Trang 1

Lời cam đoan

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực

và có xuất xứ rõ ràng

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Tạ Quang Đàm

Trang 2

MỤC LỤC MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU KỸ NĂNG TỰ HỌC

CÁC MÔN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN CỦA

1.2 Những thành tố tạo thành và các giai đoạn hình thành kỹ

năng tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn của học

năng tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn của học

Chương 3 THỰC TRẠNG, BIỆN PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC

NGHIỆM NÂNG CAO MỘT SỐ KỸ NĂNG TỰ HỌC CÁC MÔN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN CỦA HỌC

3.1 Thực trạng kỹ năng tự học các môn khoa học xã hội và

3.2 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tự học các

môn khoa học xã hội và nhân văn của học viên sĩ quan cấp

3.3 Biện pháp tâm lý - sư phạm nâng cao kỹ năng tự học các

môn khoa học xã hội và nhân văn của học viên sĩ quan cấp

3.4 Kết quả thực nghiệm nâng cao một số kỹ năng tự học các

môn khoa học xã hội và nhân văn của học viên sĩ quan cấp

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

Trang

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Số thứ tự

3.1 Mức độ thành thạo kỹ năng tự học các môn khoa học xã hội và

3.2 Mức độ thành thạo kỹ năng tự học các môn khoa học xã hội và

3.3 Mức độ thành thạo kỹ năng tự học các môn khoa học xã hội và

3.4 Tương quan giữa các nhóm kỹ năng với KNTH các môn

3.5 Mức độ thành thạo KNTH các môn KHXH&NV (Đánh giá của

3.6 Mức độ thành thạo KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ

3.9 Mức chênh lệch giữa lần 1 và lần 3 kỹ năng lập kế hoạch tự

3.11 Mức chênh lệch giữa lần 1 và lần 3 kỹ năng đọc và ghi chép

3.13 Mức chênh lệch giữa lần 1 và lần 3 kỹ năng làm thu hoạch

Trang 5

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

của HVSQ cấp phân đội

43

của học viên sĩ quan cấp phân đội

KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội

107

thành thạo KNTH các môn KHXH&NV

109

có học lực khác nhau

112

HVSQ cấp phân đội của các nhà trường quân sự

114

KNTH các môn KHXH&NV theo đánh giá của HVSQ

121

tố ảnh hưởng tới KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội

123

HVSQ ở ĐVTN và ĐVĐC sau đo nghiệm lần 3

139

3.11 Mức chênh lệch kỹ năng đọc và ghi chép thông tin

khi đọc tài liệu của HVSQ ở ĐVTN và ĐVĐC sau đo nghiệm lần 3

142

HVSQ ở ĐVTN và ĐVĐC sau đo nghiệm lần 3

145

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Giới thiệu khái quát về luận án

Chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ thông tin mà ở đó khối lượng tri thức của loài người tăng lên với tốc độ nhanh chóng Đứng trước thực tế này, giáo dục nhà trường đã có những thay đổi căn bản: từ quan niệm học tập chỉ trong một thời gian nhất định bằng quan niệm: “học thường xuyên, học liên tục, học suốt đời” Để có thể học tập suốt đời đạt hiệu quả, đương nhiên mỗi người phải lựa chọn cho mình một cách phù hợp nhất, lấy tự học làm nền tảng

“Kỹ năng tự học các môn KHXH&NV của học viên sĩ quan cấp phân đội” là vấn đề thuộc lĩnh vực Tâm lý học được nghiên cứu mang tính chất đặc

thù về hoạt động tự học trong môi trường quân sự Trên cơ sở khái quát về lý luận và thực tiễn các công trình nghiên cứu Tâm lý học, Giáo dục học trên thế giới và trong nước, tác giả đã xây dựng khái niệm KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội; những thành tố tạo thành; các giai đoạn hình thành; các yếu tố ảnh hưởng; chỉ rõ thực trạng và đề xuất các biện pháp tâm lý - sư phạm nâng cao KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội ở trường đại học quân sự hiện nay

2 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Trong quá trình dạy học cách dạy “thầy truyền thụ, trò tiếp thu” ngự trị bao năm trong nền Giáo dục Việt Nam cho đến nay có thể nói vẫn chưa thực

sự thay đổi Chính lối dạy và cách học thụ động như thế đã vô tình trở thành rào cản khiến người học khó có thể tự mình lĩnh hội được kiến thức Do vậy, dạy học làm sao phải phát triển toàn diện phẩm chất năng lực cho người học,

để họ có thể tự mình học tập thường xuyên, học tập suốt đời Nền tảng của việc học tập ấy chính là người học phải biết cách tự học

Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành trung ương khoá XI chỉ rõ:

Trang 7

“Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu chú trọng trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất của người học, thực hiện mục tiêu giáo dục là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài với nguyên lý giáo dục: học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, kinh doanh, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” “Chuyển hệ thống giáo dục cứng nhắc, thiếu tính liên thông hiện nay sang hệ thống giáo dục mới, linh hoạt, bảo đảm liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức đào tạo; tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập suốt đời; xây dựng xã hội học tập” [20, tr 99]

Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của quân đội có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần quyết định thành công của công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới Để đáp ứng yêu cầu đó một trong những đòi hỏi đối với người sĩ quan quân đội phải có phẩm chất, năng lực toàn diện đặc biệt là phẩm chất nhân cách của họ

Các môn KHXH&NV ở nhà trường quân đội là các môn học rất quan trọng

và cần thiết đối với người sĩ quan quân đội Đây là các môn học có vai trò hàng đầu trong xây dựng cho đội ngũ sĩ quan quân đội thế giới quan khoa học, quan điểm chính trị rõ ràng khi xem xét các hiện tượng, các sự kiện của xã hội và hoạt động quân sự; trong hình thành, phát triển các phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của người quân nhân cách mạng, từ đó góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị Tuy nhiên, thực tế phần lớn HVSQ khi mới vào học trong nhà trường quân đội còn rất lúng túng trong phương pháp tự học, tự học đối với họ chủ yếu là xem lại bài, cố nhớ theo kiểu học thuộc lòng những nội dung chính để trả bài, trả bài xong là quên, trình độ vận dụng kiến thức được

Trang 8

trang bị vào thực tiễn rất yếu Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do HVSQ thiếu những KNTH cần thiết Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tự học, các khía cạnh khác khai thác về tự học rất phong phú, nhưng khoảng trống mà các công trình của các tác giả chưa đề cập sâu chính là KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội đây là một đề tài khoa học mới, có tính thời sự, cấp bách và chưa được làm rõ; nó rất cần được giải quyết Bởi vậy nâng cao KNTH các môn KHXH&NV là một trong những nhiệm vụ quan trọng, không thể thiếu được trong quá trình học tập

Về mặt lý luận, đã có không ít các công trình nghiên cứu về kỹ năng, tự học, kỹ năng học, trong đó có đề cập đến những vấn đề thuộc kỹ năng tự học, tuy nhiên vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập trực tiếp KNTH ở góc độ Tâm lý học nhất là các thành tố tạo thành, các giai đoạn hình thành

KNTH các môn KHXH&NV của học viên sĩ quan cấp phân đội

Với những lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài: “Kỹ năng tự học các

môn KHXH&NV của học viên sĩ quan cấp phân đội”để nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn về KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội, luận án đề xuất các biện pháp tâm lý sư phạm nhằm nâng cao KNTH, của học viên, đáp ứng mục tiêu yêu cầu đào tạo trong tình hình hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội

- Khảo sát đánh giá thực trạng KNTH và các yếu tố ảnh hưởng đến KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội

- Đề xuất biện pháp tâm lý - sư phạm nâng cao KNTH các môn KHXH&NV cho HVSQ cấp phân đội ở các trường đại học quân sự hiện nay

Trang 9

- Tổ chức thực nghiệm tác động nâng cao KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội trong quá trình học tập ở các trường đại học quân sự

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và giả thuyết khoa học

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Kỹ năng tự học các môn KHXH&NV Khách thể nghiên cứu:

978 Học viên sĩ quan cấp phân đội và 100 giảng viên, cán bộ quản lý ở các trường: Trường sĩ quan Lục quân 1, Trường sĩ quan Chính trị, Học viện Hậu cần, Học viện Kỹ thuật quân sự

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Giới hạn về nội dung

Nghiên cứu KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội ở góc

độ tâm lý học sư phạm, đề tài đi sâu nghiên cứu thực trạng biểu hiện của mức

độ thành thạo KNTH và khảo sát kỹ thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội

- Giới hạn về địa bàn nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu KNTH của HVSQ đại diện cho các loại hình ngành nghề đào tạo của trường đại học quân sự ở Miền Bắc: Trường sĩ quan Chính trị; Trường sĩ quan Lục quân 1; Học viện Hậu cần; Học viện Kỹ thuật quân sự

4.3 Giả thuyết khoa học

KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội còn thấp, ở ba nhóm KNTH: kỹ năng lập kế hoạch tự học; kỹ năng triển khai thực hiện kế hoạch tự học; kỹ năng tự kiểm tra, điều chỉnh

Nếu làm rõ được 3 nhóm KNTH, những thành tố tạo thành, các giai đoạn hình thành và những yếu tố ảnh hưởng tới KNTH của HVSQ, đồng thời tiến hành những biện pháp tác động vào kỹ năng lập kế hoạch tự học; kỹ năng đọc và

Trang 10

ghi chép thông tin khi đọc tài liệu một cách hợp lý; học viên biết cách làm bài thu hoạch thì sẽ nâng cao được KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận, thực tiễn

Luận án dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hổ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về tự học làm cơ sở lý luận Đồng thời dựa trên quân điểm của tâm lý học hoạt động; hệ thống lý luận về kỹ năng, tự học, KNTH của các nhà khoa học trên thế giới và trong nước để giải quyết các vấn đề đặt ra

Thực tiễn chất lượng tự học các môn KHXH&NV của HVSQ trong nhà trường quân sự hiện nay, học viên chưa biết cách tự học các môn học này nên kết quả học tập còn thấp chưa đáp ứng được mục tiêu yêu cầu đào tạo của nhà trường quân sự Các đề tài khoa học nghiên cứu về lĩnh vực này trên thực tiễn

có nhiều công trình đã nghiên cứu về tự học, KNTH nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ

cấp phân đội

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Luận án được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa Mác - Lênin, các nguyên tắc phương pháp luận của Tâm lý học như: nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng các hiện tượng tâm lý; nguyên tắc thống nhất giữa tâm lý, ý thức và hoạt động; nguyên tắc phát triển tâm lý với phương pháp tiếp cận: hoạt động - giá trị - nhân cách, hệ thống - cấu trúc, lịch sử - lô gic, các luận điểm và sự phát triển tâm lý con người

- Luận án sử dụng ba nhóm phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

Nhóm phương pháp phân tích tài liệu: đọc, phân tích, khái quát hoá các

công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, các văn kiện, sách, tài liệu, luận

Trang 11

án … có liên quan đến đề tài để thu thập thông tin phục vụ xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu của mình

Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: để đánh giá thực trạng và có

cơ sở đề xuất biện pháp tâm lý - sư phạm nâng cao KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp đàm thoại: Trao đổi với cán bộ giảng viên và học viên

sĩ quan có học lực khác nhau để thu thập thêm thông tin, tăng cơ sở cho nhận định của luận án

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng các bảng câu hỏi điều

tra ý kiến đánh giá của học viên, giảng viên, CBQL nhằm phát hiện thực trạng của vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu một số học viên, giảng

viên, CBQL về KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội

- Phương pháp chuyên gia: Trao đổi, tìm hiểu ý kiến của các chuyên

gia nhằm làm sáng tỏ hơn phần cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu, các thành tố tạo thành, các giai đoạn hình thành KNTH của HVSQ

- Phương pháp quan sát: Quan sát việc học tập của HVSQ trên lớp và

tự học ở nhà để làm rõ hơn phần thực trạng

- Phương pháp thực nghiệm: Tổ chức thực nghiệm một số biện pháp

tác động nâng cao KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội

- Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động: Phân tích các bài viết

thu hoạch, qua kết quả các buổi thảo luận và kết quả thi, kiểm tra

Nhóm phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học: số liệu thu

được sau khảo sát thực tế được sử dụng một số công thức toán học thống kê với sự trợ giúp của phần mềm SPSS dùng trong môi trường Window

Trang 12

6 Những đóng góp mới của luận án

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Luận án đã bổ sung, góp phần làm rõ một số khái niệm của Tâm lý học quân sự như: KNTH, KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội

- Luận án làm phong phú thêm hệ thống lý luận về KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội

- Luận án là tài liệu tham khảo cho người học nói chung, HVSQ ở các trường đại học quân sự nói riêng, góp phần nâng cao chất lượng đạo tạo sĩ quan trong nhà trường quân đội

8 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, tổng quan vấn đề nghiên cứu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được trình bày thành ba chương, 11 tiết

Trang 13

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài về tự học và kỹ năng tự học

1.1 Nghiên cứu về tự học

Hoạt động học là phương thức để con người tiếp thu tri thức, hành vi trong cuộc sống Việc học giúp cá nhân lĩnh hội tri thức đã được tích luỹ trong quá trình lao động sản xuất và sinh hoạt cộng đồng Việc lĩnh hội tri thức của mỗi người chỉ đạt được kết quả cao khi họ tự học Do vậy, nghiên cứu về tự học có giá trị nhất định trong việc thúc đẩy con người tích luỹ kinh nghiệm, tri thức khoa học để nâng cao năng lực nhận thức thế giới khách quan Vấn đề tự học đã được nhiều tác giả nghiên cứu

Dựa trên những thành tựu lý luận cơ bản của Tâm lý học hành vi và tâm lý học trí tuệ, xem xét con người với tư cách là “con người cá thể”, mà sự phát triển tâm lý của nó trước hết phải tuân theo các quy luật đặc biệt từng cá thể Dựa trên cơ sở tâm lý đó, các nhà khoa học đã tìm ra phương pháp dạy học nhằm khai thác và phát huy tốt nhất “cái cá nhân” trong người học Có thể khái lược một số kết quả nghiên cứu theo các hướng sau:

Hướng nghiên cứu vai trò của tự học

Vào đầu thế kỷ XX H Hippơ và M Phorvec trong cuốn “Nhập môn

tâm lý học xã hội” [39], đã có các nghiên cứu và khẳng định vai trò của tự

học trong quá trình dạy học Theo họ, trung tâm của nhà trường không phải là người thầy mà là học trò, không phải chỉ có thầy giảng dạy mà trò phải tự học, tự nâng cao tri thức cho bản thân với sự giúp đỡ của thầy giáo

Ở Mỹ ngay từ năm 1920 các nghiên cứu đã đưa ra phương pháp giáo dục dựa trên việc phát huy vai trò tự học của học sinh, nổi bật: C Rose &

J.Malcolm Nicholl “Kỹ năng học tập siêu tốc thế kỷ XXI”[81] Theo quan niệm

này toàn bộ hoạt động học của người học là do họ thực hiện theo những công việc mà giáo viên giao Với cách dạy như vậy người học được chủ động bộc lộ

Trang 14

khả năng hoạt động của bản thân Tuy nhiên quan niệm này cũng bị phê phán

là làm cho người học chỉ quan tâm cố gắng hoàn thành công việc được giao mà hạn chế tính sáng tạo, không tạo được sự phát triển nhân cách người học

Sau chiến tranh thế giới thứ II, khoa học giáo dục có những tiến bộ đáng kể, nghiên cứu về tự học tiếp tục được thực hiện ở mức độ cao hơn Quá trình dạy người học tự học được đề cao, bên cạnh đó vai trò của người thầy và các điều kiện bảo đảm cho người học một môi trường sư phạm tối ưu cũng được khẳng định Tư tưởng này đã kích thích sự nỗ lực, tạo nên một loạt phương pháp dạy học mới, làm phong phú lý luận thực tiễn của khoa học giáo dục nhiều nước trên thế giới Bên cạnh đó có sự tiến bộ rất nhanh của các ngành khoa học cơ bản, một trong những tiến bộ đó là: sự xích lại gần nhau hơn giữa dạy học truyền thống (Giáo viên là nơi phát động thông tin, học sinh

là nơi tiếp nhận thông qua diễn giảng trên lớp) và các quan điểm dạy học hiện đại (học sinh là chủ thể tích cực, giáo viên là người tổ chức hướng dẫn) Theo

P Buhle trong cuốn“Tự học kỹ năng quản lý trong 24 giờ” [7,tr.178] Học

sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục” Tư tưởng

“lấy học sinh làm trung tâm đã được cụ thể hoá thành nhiều phương pháp cụ thể như: “phương pháp hợp tác”, “phương pháp tích cực”, “phương pháp cá thể hoá”, “ phương pháp nêu vấn đề”, … trong đó “phương pháp dạy học tích cực” được nghiên cứu triển khai rộng hơn cả Theo phương pháp này, giáo viên đóng vai trò gợi sự chú ý kích thích, thúc đẩy học sinh tự hoạt động Vì thế, người học đóng vai trò trung tâm của quá trình dạy học, còn người dạy là chuyên gia của việc học Nhìn chung tư tưởng “lấy học sinh là trung tâm trong quá trình dạy học nói riêng và giáo dục nói chung đòi hỏi có sự phối hợp của nhiều phương pháp, trong đó “phương pháp tích cực” là chủ đạo mang tính nguyên tắc Đây chính là cơ sở để đưa ra những biện pháp bồi dưỡng KNTH cho học viên

Trang 15

N.A.Rubakin trong tác phẩm: “Tự học như thế nào” [82, tr.36], ông đã

nhấn mạnh vai trò của thái độ tích cực tự học trong việc chiếm lĩnh tri thức của học sinh Theo ông để tự học đạt kết quả thì: “Việc giáo dục động cơ đúng đắn là điều kiện cơ bản để học sinh tích cực, chủ động trong tự học” Điều này chứng tỏ N.A.Rubakin đã thấy rõ vai trò của yếu tố động cơ trong hoạt động tự học của học sinh Như vậy, muốn học tập có kết quả đòi hỏi phải giáo dục cho người học động cơ đúng trong tự học Song thực tế có động cơ đúng nhưng người học thiếu kỹ năng thực hiện thì hoạt động thì tự học vẫn không đạt kết quả

Hướng nghiên cứu theo các yếu tố của tự học

Theo hướng này, một số tác giả bàn về vấn đề học tập trong thời đại

khoa học kỹ thuật phát triển như: D.Goleman với với tác phẩm “ Trí tuệ cảm

xúc” [25] trong học tập, những biểu hiện và vai trò của trí tuệ cảm xúc, trí

tuệ cảm xúc là một trong những nhân tố quan trọng để học tập đạt hiệu quả;

D.Pam với đề tài“Social Work a Profession For Many Face” [123] Nghiên

cứu hoạt động học tập của sinh viên trong trường học ảo, trường học mạng trong thời đại công nghệ thông tin toàn cầu thì tự học là yếu tố quan trọng

nhất trong việc tiếp thu tri thức; E.Dyson trong tác phẩm“A Desing For

Living in the Digital Age” [115] Nghiên cứu việc thiết kế cho cuộc sống, vấn

đề chủ yếu cho việc học tập trong thời đại kỹ thuật số là sinh viên phải biết cách tự học, trong đó yếu tố tích cực tự giác của người học là nền tảng cho

quá trình tự học; L Porelman với tác phẩm“School’s out” [125], nghiên cứu

về những siêu liên kết ngoài nhà trường, dựa vào một số kỹ thuật công nghệ mới, báo động sự kết thúc của một nền giáo dục cổ điển, người học ngoài tiếp thu tri thức từ thầy còn tự tìm kiếm tri thức thông qua các phương tiện hiện đại khác Do vậy, yếu tố phương tiện kỹ thuật hiện đại là không thể thiếu được trong học tập hiện đại

Trang 16

Lý thuyết sư phạm học tương tác được J.M Denommé và M.Roy trong

cuốn “Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác” [17, tr.124], được giới

thiệu lần đầu tiên ở Việt Nam vào năm 2000 Lý thuyết sư phạm học tương tác

đã có ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũ khi bàn về quan hệ tương tác giữa dạy và học Nhóm tác giả thuộc Viện Đại học đào tạo Giáo viên (IUFM) ở Greonoble (Pháp) như Guy Brousseau, Claude Comiti, M.Artigue đã đặt cơ

sở khoa học cho những tác động sư phạm, thúc đẩy khả năng tự học của học sinh lên cao mà vẫn không làm lu mờ, hạ thấp vai trò của người thầy giáo với

tư cách là người “khởi xướng” và là người “kết thúc” một tình huống dạy học

Lý thuyết sư phạm học tương tác đặc biệt quan tâm nghiên cứu đến ba yếu tố: người dạy, người học, môi trường trong quá trình đào tạo

Với cách khai thác của tác giả N.Đ Levitov trong cuốn“Tâm lý học trẻ

em và tâm lý học sư phạm” [51, tr.140], đã chỉ ra một số thành phần tâm lý cơ

bản của sự lĩnh hội, các thành phần này có mối quan hệ qua lại với nhau trong tâm lý của người học, nếu thiếu sự tự giác, tích cực thì học tập của học sinh sẽ không đạt yêu cầu đào tạo Tức là trong học tập người học phải tự học, tự giác, tích cực chiếm lĩnh tri thức cho bản thân Những thành phần tâm lý của

sự lĩnh hội bao gồm: Thái độ tích cực của học sinh đối với công việc tự học; các quá trình tìm hiểu tài liệu một cách trực tiếp và cảm tính; quá trình tư duy với tư cách là quá trình cải biến tài liệu; quá trình ghi nhớ, bảo tồn thông tin

Vấn đề tự học còn được R Retxke người Đức bàn đến trong cuốn sách

“Học tập hợp lý” [ dẫn theo 4] Tác giả cho rằng: Học tập ở đại học là một

quá trình phát triển của con người, quá trình này phụ thuộc vào nhiều yếu tố Trong các yếu tố đó thì yếu tố bên trong đóng vai trò quyết định đến kết quả

tự học Việc hoàn thành có kết quả những nhiệm vụ tự học đặt ra đòi hỏi

Trang 17

người học phải đấu tranh với bản thân một cách có phê phán và phải sáng tạo trong quá trình tự học

Hướng nghiên cứu về phương pháp tự học

L.P Đôblaev “Những khía cạnh tâm lý của việc đọc sách” [21,

tr.11], đã phân tích những cơ sở khoa học tâm lý, những điều kiện ảnh hưởng tối ưu đến quá trình đọc sách Các tác giả đã phân tích được một số yếu tố tâm lý cơ bản đảm bảo cho quá trình đọc sách đạt kết quả cao Theo tác giả phương pháp đọc sách là một trong những yếu tố quan trọng của tự học ở người học

P.V Êxipôv trong tác phẩm “Công tác tự học của học sinh ngoài giờ

lên lớp” [22], cho rằng: Tự học là việc học của học sinh tiến hành khi không

có sự tham gia hướng dẫn trực tiếp của giáo viên Trong đó người học phải vươn tới mục đích đã đề ra Trong nghiên cứu của mình tác giả cũng đưa ra phương hướng để kích thích hoạt động tự học cho học sinh đó là: Trong quá trình dạy học giáo viên có thể nêu lên hàng loạt vấn đề và yêu cầu học sinh hoàn thành trong một thời gian xác định Nhưng cách thức hướng dẫn người học tự học thì tác giả chưa đề cập tới

Tác giả B.Jean trong tác phẩm “Để tự học được tốt hơn” [43], tác giả đề

cập nhiều đến việc tổ chức hoạt động tự học của người học Để học sinh tự học tốt hơn đòi hỏi giáo viên phải hướng dẫn phương pháp tự học phù hợp với bậc học, đặc thù từng môn học cho họ Do vậy, vấn đề đặt ra là sinh viên cần được trang bị phương pháp tự học ngay từ khi bắt đầu học môn học nhất là phương pháp làm việc với sách, phương pháp khái quát, hệ thống nội dung của tài liệu

đã đọc

Kết quả nghiên cứu của các tác giả trên cho thấy các nhà khoa học nước ngoài đã xem xét tự học một cách toàn diện như: khẳng định vai trò quan trọng của tự học, những thành tố, những phương pháp giúp cho người học tự học đạt

Trang 18

hiệu quả Vấn đề tự học được các tác giả xem xét trong mối quan hệ với hoạt động dạy của quá trình dạy học Việc tự học của học sinh được tổ chức dưới sự điều khiển của giáo viên thông qua hệ thống các bài tập nhận thức nhằm thực hiện các nhiệm vụ học tập Tuy nhiên, nhìn chung các tác giả còn chưa nghiên cứu một cách hệ thống và chỉ ra mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến KNTH, các yếu tố tạo thành, các giai đoạn hình thành và giải pháp nâng cao KNTH cho người học

1.2 Nghiên cứu về kỹ năng tự học

Khai thác KNTH của các nhà Tâm lý học nước ngoài có thể khái quát thành ba hướng nghiên cứu sau:

- Hướng nghiên cứu huấn luyện để hình thành kỹ năng tự học

Trong những nghiên cứu ở hướng này khai thác vấn đề hình thành KNTH cho người học dưới góc độ hoạt động sư phạm, một số nhà TLH quan tâm nghiên cứu sự hình thành KNTH trong dạy học như: D.C Fuller, I Shah, N.Đ Levitov, C Kyriacou, Shuell, Brow, Weinert, Helmke, N.J.Richard

Tác giả D.C Fuller “Teaching for learning at university” [117], trong

công trình nghiên cứu của mình đã đưa ra kết luận là việc học tập, nhận thức của con người là một quá trình chủ động, tạo lập và tích luỹ Ông cho rằng ngay ở giai đoạn đầu của việc học tập, người học đã phải đối mặt với một số lớn các sự kiện và thông tin riêng lẻ quan trọng Do vậy, ngay từ đầu để tự học tốt, người học đã phải chủ động cố gắng làm những gì có thể làm được: Học, giải thích thông tin mới, khảo sát và “có những sai lầm bổ ích” D.C Fuller xác định: ở giai đoạn trung gian, người học có thể sử dụng những thông tin mới tiếp nhận để

tự giải quyết những vấn đề đơn giản Nghĩa là, người học có thể “học qua làm”

Ở giai đoạn cuối, D.C Fuller cho đó là giai đoạn học tập tích luỹ Giai đoạn này kiến thức thu nhận được của người học đã có tính chất hệ thống Do đó, các kỹ năng thu được qua tự động hoá và luyện tập thay đổi đã nâng cao khả năng hoạt động, còn các thành phần siêu nhận thức tới lúc đó không chỉ tồn tại mà còn có thể sử dụng được

Trang 19

Khai thác một khía cạnh khác của KNTH, I Shah trong cuốn

sách“Learning how to learn”[127], cho rằng: để học tập có hiệu quả nó phụ

thuộc vào người học và sự khác biệt cá nhân của họ Theo tác giả, việc học tập rèn luyện của người học bị phụ thuộc vào những điều kiện như: Nguồn tri thức vốn có; tạo tình huống học tập để người học tự học; làm xuất hiện, phát huy yếu tố chủ động, tự giác, tích cực trong học tập, rèn luyện kết hợp với tính nêu vấn đề trong dạy học của giáo viên, những yếu tố này chỉ phát huy tốt khi người học có được kỹ năng tự học tập

Nghiên cứu kỹ năng cụ thể các chuyên ngành tâm lý học khác nhau Các tác giả: N.Đ Levitov nêu khái niệm và sự hình thành KN A.V Petrovxki chỉ rõ cách dạy để hình thành kỹ năng; Tsebưseva kết luận là khi huấn luyện

kỹ năng nếu rút dần vai trò của nhà giáo dục để người học tự làm lấy thì kỹ năng sẽ hình thành nhanh chóng và ổn định hơn

Hướng nghiên cứu về các KNTH cụ thể

Tiêu biểu cho hướng này có một số nhà tâm lý học sau:

K Barry và L King trong cuốn“Beginning teaching second edition”

[112], các tác giả coi kỹ năng là năng lực thực hành của giảng viên, họ sắp xếp hệ thống kỹ năng dạy học thành ba nhóm tương ứng với ba giai đoạn của quá trình tự học Đó là nhóm kỹ năng xây dựng chương trình giảng dạy, nhóm

kỹ năng giảng dạy và nhóm kỹ năng đánh giá Các nhóm kỹ năng này của giảng viên khi tương tác với học sinh sẽ giúp cho học sinh phát triển các nhóm KNTH tương tự

R Gross trong cuốn“Học tập đỉnh cao” [26], nghiên cứu về xây dựng sự

tự tin trong học tập, cải thiện các kỹ năng đọc và nhớ, thiết kế môi trường học tập tối ưu trong không gian ảo, cách thức tạo ra kế hoạch học tập suốt đời nhằm đạt

được thành công trong học tập và sự nghiệp Colin Rose và Malcolm Nicholl “Kỹ

năng học tập siêu tốc trong thế kỷ XXI” [81] bàn khá sâu về các về các kỹ năng

ghi nhớ, các bước để làm chủ kiến thức, cách kích hoạt trí nhớ, tư duy phân tích,

Trang 20

tư duy sáng tạo trong quá trình tự học R Sternberg “Hoàn thiện kỹ năng dạy học

cho trợ giảng ở đại học quân sự hiện nay” [dẫn theo 79, tr.11], nghiên cứu về

hoạt động học qua việc ứng dụng tâm lý học nhận thức để nâng cao các kỹ năng trí tuệ Ông xây dựng các chương trình rèn luyện kỹ năng trí tuệ cho học sinh qua hoạt động dạy của giảng viên và hoạt động học của học sinh R Sternberg và J Robart còn phân tích sâu các kỹ năng tư duy để có được cách thức giảng dạy và cách học phù hợp, có hiệu quả như việc chọn chương trình, thời gian tối thiểu cho việc tự học, cách truyền đạt làm sao cho học sinh phải tích cực nghiên cứu, mục đích cao nhất của việc dạy là để người học biết cách tự tìm kiếm tri thức trên cơ sở

đó sẽ có được các KNTH tốt nhất

Tác giả A.N Lêônchiev với tác phẩm“Hoạt động-ý thức-nhân cách”

[52], trong công trình nghiên cứu của mình ông chỉ ra các KNTH cần thiết

để bảo đảm cho người học đạt kết quả cao Trong các KNTH đó, tác giả nhấn mạnh đặc biệt đến kỹ năng đọc sách Theo ông kỹ năng đọc sách là kỹ năng cơ bản, quyết định đến kết quả hoạt động tự học của người học

Kết quả nghiên cứu của tác giả V Ô.Kôn về “Những cơ sở của việc dạy

học nêu vấn đề” [73], đã đưa ra các kỹ năng cơ bản của tự học để bảo đảm cho

người học đạt kết quả Trong các KNTH đó thì kỹ năng đọc sách được tác giả coi

là kỹ năng quan trọng nhất trong hoạt động tự học Bên cạnh đó tác giả còn cho rằng: để tự học có hiệu quả thì người học phải biết kế hoạch hoá hoạt động tự học, tức là phải có kế hoạch tự học Theo ông có kế hoạch tự học sẽ giúp người học chủ động trong hoạt động và thể hiện tác phong khoa học của bản thân

Hướng nghiên cứu về các giai đoạn hình thành kỹ năng

Trong nghiên cứu của mình tác giả C Kyriacou “Essential Teaching

Skills” [122] đã phân biệt ba giai đoạn hình thành KNTH cho người học là:

Nhận thức, liên tưởng và tự lập Tác giả cho rằng: ở giai đoạn nhận thức, con người phải “hiểu thật rõ nhiệm vụ” xác định được nội dung cần đạt được làm cơ

sở để thu nhận và sử lý thông tin; ở giai đoạn liên tưởng diễn ra sự hình thành

Trang 21

các “thành phần kỹ năng riêng lẻ”; ở giai đoạn tự lập, kỹ năng ngày càng được tự động hoá nhiều hơn Để người học có được KNTH, người dạy cần tuân thủ theo các giai đoạn này

Theo N.J Richard trong cuốn“Basic counseling Skills” [126] tác giả đưa

ra ba giai đoạn để hình thành KNTH Giai đoạn đầu tiên để có được KNTH đó

là giai đoạn nhận thức Ở giai đoạn này người học phải tiếp thu các tri thức cơ

sở chuyên môn và tri thức về cách học chuyên môn đó Giai đoạn thứ hai là giai đoạn kết hợp, giai đoạn này người học kết hợp tri thức đã có với kinh nghiệm học tập của bản thân để học tập Tuy nhiên ở giai đoạn này người học còn vướng nhiều sai sót Giai đoạn thứ ba là giai đoạn kỹ năng kiểm soát được, ở giai đoạn này người học tương đối thuần thục các thao tác trong tự học sai sót ít dần Ở cuối giai đoạn này người học làm chủ được nội dung cũng như cách thức học tập đạt hiệu quả Ba giai đoạn để có được kỹ năng trên mà N.J Richard đề xuất nó tương đối giống với các giai đoạn hình thành

kỹ xảo, tập trung chủ yếu ở góc độ kỹ thuật

Như vậy, quan điểm của các nhà tâm lý học nước ngoài đã đề cập khá toàn diện đến KNTH ở các khía cạnh khác nhau như cách thức để có được KNTH cho người học, những KNTH cần thiết và các điều kiện hình thành KNTH Tuy nhiên, các tác giả chưa đề cập một cách sâu sắc và toàn diện đến các yếu tố ảnh hưởng, các thành tố tạo thành KNTH Các giai đoạn hình thành KNTH mà các tác giả đề cập đến chưa thật triệt để, nó phù hợp với các thao tác

kỹ thuật đơn thuần trong một hệ thống ổn định

2 Các công trình nghiên cứu trong nước về tự học và kỹ năng tự học

Vấn đề tự học, KNTH cũng được nhiều nhà khoa học trong nước quan tâm nghiên cứu:

Từ thời Phong kiến do ảnh hưởng của nền văn hoá Trung Hoa, việc học của người học được hiểu và thực hiện một cách máy móc Trong tự học kỹ

Trang 22

năng chủ yếu nhất là ghi nhớ bài học theo kiểu “Thầy bảo thế” Roger Gal

trong cuốn“Lịch sử giáo dục học” [23, tr.44], đã khái quát nền giáo dục Việt

Nam thời bấy giờ “Người ta tìm thấy sự bắt chước đúng mà không cần độc đáo, người ta học thuộc lòng, làm theo và bắt chước thầy như một cái máy”

Vấn đề tự học thực sự được phát động nghiên cứu nghiêm túc, rộng rãi

từ khi nền giáo dục cách mạng ra đời (1945), mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa

là người khởi xướng vừa nêu tấm gương về tinh thần tự học Người từng nói:

“còn sống thì còn phải học”, và cho rằng: “về cách học phải lấy tự học làm cốt” “ Không phải: có thầy thì mới học, thầy không đến thì đùa Phải biết

tự động học tập”, “Không phải chỉ ở tại nhà trường, có lên lớp mới học tập tu dưỡng, rèn luyện và tự cải tạo được” [63] Có thể nói tự học là một tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh, về phương pháp học tập Những lời chỉ dẫn quý báu và những bài học kinh nghiệm sâu sắc rút ra từ chính tấm gương tự học bền bỉ và thành công của Người cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị

Tác giả Đỗ Thị Châu với đề tài “Kỹ năng đọc hiểu tiếng Anh của học

sinh lớp 6” [12], tác giả cho rằng: Kỹ năng đọc hiểu tiếng nước ngoài là khả

năng vận dụng những tri thức và các kỹ xảo đã có vào hoạt động đọc hiểu tiếng nước ngoài kỹ năng này thể hiện ở khả năng tri giác, tái tạo lại lời nói

và thông hiểu, cụ thể là ở kỹ năng nhận biết từ, kỹ năng liên kết ngữ nghĩa, kỹ năng dự đoán, kỹ năng thông hiểu nội dung, kỹ năng tạo lời nói

Tác giả Trần Thị Minh Hằng trong đề tài luận án tiến sĩ “Một số yếu tố

tâm lý trong tự học của sinh viên cao đẳng sư phạm” [ tr.111], đã đưa ra kết

luận về KNTH Theo tác giả KNTH là những phương thức thể hiện hành động

tự học thích hợp tương ứng với mục đích và những điều kiện hoạt động, hình thành kỹ xảo đúng trong hoạt động tự học đảm bảo cho hoạt động tự học của sinh viên đạt kết quả Bên cạnh đó tác giả còn chỉ ra một số yếu tố tâm lý trong

tự học bao gồm: kiến thức tự học; kỹ xảo tự học; KNTH Đây là ba yếu tố tác giả khai thác kỹ trong quá trình tự học của sinh viên cao đẳng sư phạm Trong

Trang 23

đó yếu tố KNTH được tác giả khai thác tương đối kỹ về các loại kỹ năng cần

có cho người học đạt hiệu quả bao gồm: kỹ năng lập kế hoạch tự học; kỹ năng đọc sách; kỹ năng tự kiểm tra, tự đánh giá; kỹ năng ghi chép thông tin Đồng thời, tác giả đề cập đến hai yếu tố ảnh hưởng đến hình thành kỹ năng tự học của sinh viên đó là những yếu tố chủ quan và những yếu tố khách quan Trong hai yếu tố này tác giả khẳng định yếu tố chủ quan giữ vai trò quan trọng mang tính quyết định đến chất lượng tự học của sinh viên

Tác giả Lê Nam Hải Khi nghiên cứu về “ Kỹ năng học của sinh viên

đại học đào tạo theo hình thức từ xa” [33], đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận tâm

lý học về kỹ năng học đại học đào tạo theo hình thức từ xa Tác giả đã đưa ra được các nhóm kỹ năng tự học cần thiết để học từ xa có hiệu quả như: nhóm

kỹ năng lập kế hoạch tự học, nhóm kỹ năng tổ chức việc học, nhóm kỹ năng đánh giá, phân tích Trên cơ sở những nghiên cứu này tác giả đề xuất được các biện pháp huấn luyện, bồi dưỡng kỹ năng học cho sinh viên bằng cách lấy nội dung dạy học các học phần trong chương trình đào tạo làm bài tập thực hành nhằm củng cố, nâng cao dần mức độ cho kỹ năng đọc hiểu và kỹ năng làm bài thi cho sinh viên đào tạo từ xa

Tác giả Nguyễn Văn Phương trong luận án tiến sĩ “ Kỹ năng học tập

các môn lý luận chính trị của học viên cao cấp lý luận chính trị hệ tập trung tại học viện chính trị khu vực II” [76], đã hệ thống hóa lý luận về kỹ năng học

tập, tác giả chỉ ra ba nhóm kỹ năng cơ bản trong học tập các môn lý luận chính trị bao gồm: nhóm kỹ năng học tập trên lớp, nhóm kỹ năng đọc tài liệu học tập, nhóm kỹ năng xemina

Tác giả: Lê Minh Vụ khi nghiên cứu đề tài “Các giải pháp nâng

cao chất lượng tự học của học viên sĩ quan trong các nhà trường quân đội” [109, tr 10-11], đã khái quát sâu sắc cơ sở lý luận và thực tiễn của

các giải pháp nâng cao chất lượng tự học của học viên trong nhà trường quân đội; đặc điểm hoạt động tự học của HVSQ Đặc biệt, các tác giả đã

Trang 24

chỉ rõ cấu trúc các nhân tố của quá trình tự học bao gồm: mục tiêu tự học, nội dung tự học, kế hoạch tự học, phương pháp tự học, tự điều chỉnh yếu tố bảo đảm Đồng thời các tác giả cũng khẳng định các nhân tố trên có mối quan hệ tác động lẫn nhau, muốn nâng cao chất lượng tự học đòi hỏi phải nâng cao chất lượng từng nhân tố ấy, trong đó phương pháp

tự học đóng vai trò đặc biệt quan trọng

Ở một góc độ khác, trong luận án tiến sĩ của mình tác giả Trịnh Quang

Từ đề cập tới “Những phương hướng tổ chức hoạt động tự học của sinh viên

các trường quân sự” [98], cũng nhấn mạnh tới sự thúc đẩy bởi hệ thống động

cơ tự học, vai trò của cách thức tự học Tác giả cho rằng, quá trình tự học học viên không tiếp nhận tri thức một cách có sẵn mà phải tự nghiên cứu, tự khám phá Bởi vậy, ngoài hệ thống động cơ tự học học viên còn phải có cách học trong đó KNTH là thành phần cơ bản KNTH là điều kiện vật chất bên trong

để học viên biến động cơ tự học thành kết quả cụ thể, làm cho họ tin hơn, tích cực chủ động hơn trong tự học

Nhìn chung các công trình nghiên cứu trong nước đã luận giải phần lớn những vấn đề KNTH của người học ở những khía cạnh như: Các giai đoạn hình thành kỹ năng; các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng tự học; vấn đề phân phối thời gian tự học, các phương pháp tổ chức hoạt động tự học; cách thức

sử dụng thời gian tự học của sinh viên, các hình thức và điều kiện phục vụ ảnh hưởng đến tự học của sinh viên; phương pháp tự học của học viên; các giải pháp nâng cao chất lượng tự học của học viên Đây là những thành tựu lý luận quan trọng để nghiên cứu KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội

3 Đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết

Trang 25

Những nghiên cứu của các công trình khoa học của các tác giả đã công

bố ở trên cho thấy:

Về lý luận: Các công trình khoa học của các tác giả nghiên cứu đã có

những đóng góp quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động nói chung, hoạt động học tập nói riêng, đã hệ thống được các kỹ năng dưới các góc độ khai thác khác nhau, khẳng định được tầm quan trọng của tự học, cho rằng KNTH là yếu tố bên trong quyết định chất lượng học tập của người học Bản chất của tự học là quá trình tự tổ chức, tự điều khiển, tự điều chỉnh để chiếm lĩnh tri thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, trên cơ sở đó nhân cách của người học được hoàn thiện và phát triển Cốt lõi của tự học là cần hình thành

ở người học các KNTH

Về thực tiễn: Các công trình nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng

các kỹ năng; hoạt động tự học của người học, chỉ ra một số KNTH cần hình thành, đưa ra các yếu tố tạo thành kỹ năng; cấu trúc các nhân tố của quá trình

tự học và một số biện pháp nhằm hình thành KNTH; nâng cao hiệu quả hoạt động tự học Tuy nhiên, nghiên cứu về KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống, nên cần

được đặt ra và tiếp tục nghiên cứu sâu sắc, đầy đủ hơn

Những vấn đề luận án tập trung giải quyết

Luận án cần nghiên cứu làm rõ khái niệm, những thành tố tạo thành, các giai đoạn hình thành, các yếu tố ảnh hưởng đến KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội, trên cơ sở đó xác định biện pháp tâm lý

- sư phạm nâng cao KNTH các môn KHXH&NV cho đối tượng này ở các trường đại học quân sự hiện nay

Trang 26

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU KỸ NĂNG TỰ HỌC CÁC MÔN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN CỦA HỌC VIÊN SĨ QUAN CẤP PHÂN ĐỘI 1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Kỹ năng

Bàn về vấn đề kỹ năng có nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến các kỹ năng hoạt động của con người Hiện nay trong tâm lý học tồn tại ba quan niệm khác nhau về kỹ năng:

Quan niệm thứ nhất: coi kỹ năng là mặt kỹ thuật của thao tác hành động

hay hoạt động Đại điện cho quan niệm này là các tác giả A.G.Covalilov, P.A.Rudich, Ph.N.Gonobolin, V.A.Krutetxki, V.X.Cudin Các tác giả cho rằng, muốn thực hiện được một hành động, cá nhân phải có tri thức về hành động đó, tức là phải hiểu được mục đích, phương thức và các điều kiện để thực hiện nó Vì vậy, nếu ta nắm được các tri thức về hành động, thực hiện được nó trong thực tiễn theo các yêu cầu khác nhau, tức là ta đã có KN hành động

Theo tác giả A.G Covaliov, kỹ năng là những phương thức thực hiện hành động thích hợp với mục đích và những điều kiện hành động Theo ông, kết quả hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng hơn cả là năng lực của con người, chứ không chỉ đơn giản là cứ nắm vững cách thức hành động thì hành động đem lại kết quả tương ứng, người có kỹ năng là người thực hiện các hành động phù hợp với mục đích và điều kiện thực hiện hành động Để có kỹ năng phải có quá trình học tập và củng cố bằng luyện tập Tuy vậy tác giả chưa đề cập đến kết quả hành động như thế nào [10, tr.18]

Khi đề cập đến kỹ năng bậc thấp, kỹ năng đầu tiên của hành động tác giả P.A Rudich rất chú ý đến mức độ hoàn thiện của kỹ xảo Theo ông, mục đích của việc tiếp thu hành động là tạo ra kỹ xảo, để khi hành động không

Trang 27

phải nghĩ đến từng thao tác Điều này rất cần đối với những hành động có các thao tác đòi hỏi độ chính xác cao trong điều kiện ổn định [83]

Xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật của hành động tác giả Trần Trọng Thuỷ cho rằng: Kỹ năng là những phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động mà con người đã nắm vững Tức là, muốn hành động, phải có tri thức về hành động gồm mục đích hành động, cách thức và điều kiện hành động Nắm được các tri thức về hành động, thực hiện hành động đúng yêu cầu của nó là đã có kỹ năng Có kỹ năng phải

có quá trình học tập và củng cố bằng luyện tập Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến kết quả hành động như thế nào [101]

Nhìn chung, các tác giả theo quan điểm nghiên cứu này đều nhấn mạnh phương thức của hành động, xem xét kỹ năng trong mối quan hệ với hành động và khía cạnh kỹ thuật của hành động Để có kỹ năng hoạt động nào đó thì con người phải nắm vững tri thức về hoạt động đó và thực hiện đúng theo

các bước thứ tự cấu trúc kỹ năng mà không chú trọng nhiều đến kết quả

Quan niệm thứ hai coi kỹ năng không đơn thuần là mặt kỹ thuật của

hành động mà nó còn là một biểu hiện về năng lực của con người Kỹ năng theo quan niệm này vừa có tính ổn định, lại vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt và tính mục đích Đại diện cho quan niệm này là các tác giả như N.D Levitov, X.I Kixegof, K.K Platonov, A.V Barabasicov

Tác giả N.Đ Levitov cho rằng kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một tác động nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách áp dụng hay lựa chọn những cách thức đúng đắn có tính đến những điều kiện nhất định Ở đây ông chú ý đến kết quả của hoạt động, ông cho rằng một người có kỹ năng hành động là phải nắm được và vận dụng đúng đắn cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả Nhưng ở đây tác giả chưa nêu cụ thể muốn hành động có kết quả có phải nắm mục đích của hành động hay không, mối quan hệ giữa mục đích với phương tiện và điệu kiện thực hiện mục đích Ngoài ra N.Đ

Trang 28

Levitov còn cho rằng, để hình thành kỹ năng, con người không chỉ nắm lý thuyết về hành động mà phải biết vận dụng vào thực tiễn Việc vận dụng lý thuyết vào thực tiễn chia thành hai bước tương ứng với hai bước là hai trình độ

kỹ năng khác nhau: kỹ năng sơ đẳng và kỹ năng phát triển (phức tạp) Kỹ năng

sơ đẳng được biểu hiện ở những thể nghiệm đầu tiên trong việc thực hiện có kết quả các động tác cần thiết Kỹ năng phức tạp là kỹ năng phát triển ở giai đoạn cao hơn, nó được hình thành trong quá trình vận dụng những tri thức hiểu biết vào thực tiễn và được tập luyện dần dần trở thành kỹ xảo và ngày càng hoàn thiện [51]

Theo tác giả K.K Platonov thì người có kỹ năng không chỉ hành động có kết quả trong một hoàn cảnh cụ thể mà còn phải đạt được kết quả tương tự trong những điều kiện khác nhau Do vậy, theo ông kỹ năng là khả năng của con người thực hiện một hành động bất kỳ nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh nghiệm - những cái đã được lĩnh hội từ trước Hay nói cách khác, kỹ năng được hình thành trên cơ sở tri thức và kỹ xảo [77, tr.166]

Quan niệm thứ ba: coi kỹ năng là hành vi ứng xử

Trong những năm gần đây, một cách tiếp cận khá mới mẻ về kỹ năng được nhiều nhà nghiên cứu chú ý Kỹ năng được coi là hành vi ứng xử của cá nhân chẳng hạn, S.A Morales và W Sheator đã nhấn mạnh ảnh hưởng của thái độ, niềm tin của cá nhân trong kỹ năng Kỹ năng không chỉ là kỹ thuật của hành động, là kết quả của hành động mà còn là thái độ, giá trị của cá nhân đối với hoạt động Cách tiếp cận này tương đối toàn diện, xem xét kỹ năng trong sự liên kết giữa tri thức, kinh nghiệm, phương thức hành động với các giá trị thái độ, chuẩn mực, đông cơ hành động của cá nhân Đây là một quan niệm đáng quan tâm và phù hợp với kỹ năng nghề nghiệp Tuy nhiên, coi kỹ năng là hành vi, tác giả chưa quan tâm nhiều đến mặt kỹ thuật của nó Hiểu

kỹ năng theo cách này có thể sẽ gặp khó khăn trong việc đào tạo kỹ năng và thiết kế các công cụ đo lường đánh giá chúng [123]

Trang 29

Các tác giả của “Từ điển Tâm lý học quân sự” do Đỗ Mạnh Tôn chủ biên

xác định “kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” Đồng thời còn phân chia kỹ năng thành hai cấp độ là kỹ năng bậc thấp và

kỹ năng bậc cao, mà sự khác biệt giữa chúng là mức độ vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong những hoàn cảnh, điều kiện biến đổi phức tạp [90,tr.166]

Đa số các nhà tâm lý học cho rằng, điều kiện tiên quyết để một hành động đạt được mục đích đã đề ra là chủ thể tiến hành hành động phải nắm vững và thực hành thành thạo tri thức về phương thức thực hiện hành động, đồng thời làm chủ những điều kiện phù hợp với phương thức hành động đó Nói cách khác, chủ thể tiến hành hành động phải có kỹ năng thực hiện hành động đó Như vậy, về mặt tâm lý học, nói tới kỹ năng là nói tới mối quan hệ giữa mục đích hành động, các điều kiện và phương thức thực hiện một hành động đó

Với cách nhìn nhận như trên, có thể hiểu một cách khái quát về kỹ năng

như sau: Kỹ năng là sự vận dụng kiến thức, kinh nghiệm để giải quyết nhiệm

“Hãy mạnh dạn tự mình đặt ra câu hỏi rồi tự mình tìm lấy câu trả lời, đó là phương pháp tự học” Tự học không chỉ xem sách mà phải biết so sánh cái viết trong sách với thực tế cuộc sống, cái khoa học với cái không khoa học,

Trang 30

biết liên hệ giữa các môn khoa học Hãy học bằng tất cả lý trí, tâm hồn và cảm xúc của chính mình Ông còn đưa ra một nguyên tắc của việc tự học là

“ Hãy làm tất cả những gì có thể làm được và hãy cố gắng làm sao có thể làm được và hãy cố gắng làm sao có thể làm được nhiều nhất” [82, tr 35]

Với quan điểm trên, thì tự học là quá trình người học huy động nhân cách của mình để chiếm lĩnh kho tàng tri thức nhân loại Vì vậy, hoạt động tự học là một công việc khó khăn, mệt nhọc đòi hỏi tiêu tốn một năng lượng thần kinh và cơ bắp tương đối lớn Năng lượng mà người học bỏ ra càng lớn thì kết quả tự học thu được càng cao và ngược lại

Tác giả N.Đ Levitov cho rằng: “ Tự học là hoạt động tích cực của cá nhân với các thành phần tâm lý của sự lĩnh hội, đó là thái độ tích cực của người học trong tự học, các quá trình tư duy, các quá trình ghi nhớ các quá trình tâm lý có liên quan mật thiết với nhau để hoạt động tự học đạt kết quả ” [51, tr.140] Từ cách giải thích như vậy, có thể coi tự học là quá trình cá nhân

tự giác, tự lực, tích cực lĩnh hội những vấn đề được đặt ra trong cuộc sống

bằng hành động của chính mình để đạt được những mục đích nhất định

Trong Đại từ điển Tiếng việt thì tự học là từ biểu thị hoạt động do chủ thể tiến hành hoặc ý nghĩa phản thân: “tự giác, tự lực” Như vậy, nhìn nhận cả hai góc độ hoạt động hay ý nghĩa của hoạt động thì tự học vẫn “Mang đậm sắc thái

cá nhân”, đó là do chủ thể tiến hành, tiến hành một cách tự giác, tự lực [111]

Trong hoạt động tự học, KNTH là yếu tố cần thiết giúp người học hoàn thành được nhiệm vụ học tập Hoạt động tự học khi hướng vào những mục đích nhất định sẽ gồm nhiều hành động liên tục, kế tiếp nhau Những thao tác trí tuệ sẽ diễn ra tuỳ thuộc vào mục đích, nhiệm vụ học tập và tuỳ thuộc vào những kỹ năng đã có, vào điều kiện phương tiện để tiến hành các hành động Hoạt động tự học là hoạt động tự tìm tòi, khám phá để chiếm lĩnh tri thức Do

đó, để có thể tiến hành tự học, người học phải biết xác định mục tiêu, biết

Trang 31

phân tích những điều kiện, phương tiện đã có để có cách thức hành động phù hợp nhằm đạt mục tiêu học tập đã đề ra

Chúng ta có thể hiểu Kỹ năng tự học là sự vận dụng kiến thức, kinh

nghiệm một cách sáng tạo vào tự học, trong đó người học tự thiết kế, tự tổ chức, tự kiểm tra đánh giá để thực hiện mục tiêu yêu cầu học tập đặt ra

1.1.3 Kỹ năng tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn của học viên sĩ quan cấp phân đội

* Học viên sĩ quan cấp phân đội

“Học viên sĩ quan các nhà trường quân sự là những người đang được đào tạo để hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách người sĩ quan, người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy chủ trì của đơn vị theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo” [36, tr 250]

Học viên sĩ quan cấp phân đội là thanh niên, quân nhân trúng tuyển qua kỳ thi tuyển sinh hoặc cử tuyển đang học tập trong các nhà trường quân

sự để trở thành người sĩ quan, người cán bộ lãnh đạo, chủ huy chủ trì của đơn vị theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo đặt ra, khi ra trường đảm nhiệm đến cấp tiểu đoàn và tương đương

* Khoa học xã hội và nhân văn

Khoa học xã hội, là tên gọi chung của các ngành khoa học nghiên cứu những quy luật hình thành, hoạt động và phát triển của xã hội

Khoa học nhân văn là tên gọi chung các khoa học nghiên cứu về con người, những cách xử xự của cá nhân và tập thể Như vậy, có thể hiểu khoa học xã hội và nhân văn là các ngành khoa học nghiên cứu quy luật vận động, phát triển, biến đổi của con người và xã hội [111, tr 503]

Từ nội dung trên chúng tôi cho rằng các môn khoa học xã hội và nhân

văn là hệ thống tri thức về xã hội và con người, là một ngành khoa học nghiên cứu những vấn đề xã hội và con người góp phần cung cấp những luận

cứ khoa học cho việc giáo dục đào tạo con người

Trang 32

Các môn KHXH&NV trong nhà trường quân sự bao gồm: triết học; kinh tế chính trị học; chủ nghĩa xã hội khoa học; dân tộc học; tâm lý học quân sự; giáo dục học quân sự; đạo đức học quân sự; nhà nước và pháp luật; lịch sử đảng; tư tưởng Hồ Chí Minh; lịch sử dân tộc; công tác đảng, công tác chính trị, xã hội học quân sự Những môn học này có đặc điểm chung là trang bị thế giới quan, phương pháp luận khoa học, mang tính lý luận, tính trừu tượng, tính khái quát cao, luôn gắn với quá trình đấu tranh tư tưởng, quan điểm, lập trường giai cấp

Các môn KHXH&NV có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế -

xã hội, phát triển khoa học của mỗi quốc gia, có đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong nhà trường quân đội nó có vai trò

to lớn trong bồi dưỡng mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, định hướng chính trị tư tưởng cho học viên, góp phần to lớn vào cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng

lý luận, bảo vệ phát triển chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống

Đây là các môn khoa học tạo nền tảng cho hình thành, phát triển bản lĩnh chính trị, lập trường giai cấp, hệ tư tưởng cách mạng, xây dựng cho HVSQ một thế giới quan, phương pháp luận khoa học trong xem xét, nhìn nhận, đánh giá vấn đề của xã hội, quân đội đang diễn ra một cách khách quan, chính xác hơn, góp phần hình thành phát triển nhân cách người sĩ quan quân đội Chính vì vậy, HVSQ cấp phân đội để tự học tốt các môn KHXH&NV, đòi hỏi phải có KNTH phù hợp với môn học nhất là các kỹ năng như: kỹ năng tóm tắt tài liệu được học;

kỹ năng tổng hợp, hệ thống hoá tri thức được tiếp nhận và kỹ năng đọc và ghi chép thông tin khi đọc tài liệu; kỹ năng làm bài thu hoạch

* Tự học của học viên sĩ quan cấp phân đội

Trong quá trình tự học, người học thực sự là chủ thể của hoạt động nhận thức với sự nỗ lực, huy động các chức năng tâm lý nhằm đạt được mục

Trang 33

tiêu đã định Khi người học tự giác phát huy hết phẩm chất và năng lực của mình để chiếm lĩnh tri thức có nghĩa là tự học Tự học là “tự động học tập”

Tự học là một trong những hoạt động chủ yếu của học viên Đó là hình thức người học tự tổ chức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững tri thức, hình thành kỹ năng nghề nghiệp cần thiết để phát triển và hoàn thiện nhân cách người học Với cách hiểu về tự học như vậy, chúng tôi cho rằng tự học của HVSQ cấp phân đội như sau:

Tự học của HVSQ cấp phân đội là quá trình người học viên tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định

Như vậy, tự học của HVSQ là hình thức học tập độc lập của học viên nhằm lĩnh hội, củng cố và vận dụng các kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng Tự học của HVSQ có những đặc điểm nổi bật sau đây: Là một hình thức tổ chức dạy học mang tính chất cá nhân; người học viên tự tổ chức quá trình nhận thức của mình, thể hiện tính tự giác, tích cực độc lập, sáng tạo của bản thân; người dạy giữ vai trò chỉ đạo, định hướng, song không trực tiếp can thiệp vào quá trình tự lĩnh hội của người học viên; tự học giúp cho người học viên củng cố,

mở rộng, đào sâu, hệ thống hoá, khái quát hoá kiến thức, rèn luyện kỹ xảo, tư duy độc lập, sáng tạo, vận dụng vào giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn hoạt động quân sự

Để đạt tới sự hoàn thiện thì mỗi học viên phải tự thân tiếp nhận tri thức

từ nhiều nguồn; Tự thân rèn luyện các kỹ năng; Tự thân bồi dưỡng tâm hồn của mình ở mọi nơi mọi lúc Tự học của HVSQ cấp phân đội thuộc dạng tự học trong quá trình đào tạo ở nhà trường quân đội, hoạt động tự học gắn liền với sự hướng dẫn của giảng viên Hoạt động này sẽ diễn ra ở hai phạm vi: tự học trên lớp và tự học ngoài giờ lên lớp Đây là một hình thức học nhằm giúp cho học viên lĩnh hội, củng cố kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, trong quá trình tự học, học viên tự xử lý thông tin đã lĩnh hội, tìm tòi khám phá tri thức mới, vận

Trang 34

dụng tri thức vào giải quyết các nhiệm vụ học tập, từng bước biến tri thức do giảng viên truyền đạt kiến thức trong tài liệu thành kiến thức của bản thân, từ

đó giúp cho học viên phát triển tư duy độc lập, sáng tạo, hình thành niềm tin khoa học, sự hứng thú, say mê học tập Trong các nhà trường quân sự, hoạt động tự học còn tạo điều kiện cho học viên nắm được cách thức tổ chức quản

lý, duy trì hoạt động tự học, trên cương vị là người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý hoạt động tự học của bộ đội ở đơn vị một cách hiệu quả nhất

* Quan niệm về kỹ năng tự học các môn khoa học xã hội nhân văn của học viên sĩ quan cấp phân đội

Từ những vấn đề trên chúng tôi cho rằng: Kỹ năng tự học các môn khoa

học xã hội nhân văn của học viên sĩ quan cấp phân đội là sự vận dụng kiến thức, kinh nghiệm một cách sáng tạo vào việc tự thiết kế, tự tổ chức, tự kiểm tra đánh giá môn học để thực hiện mục tiêu yêu cầu tự học

Kỹ năng tự học các môn KHXH&NV được biểu hiện ở mặt kỹ thuật của hành động tự học và năng lực tự học của mỗi HVSQ KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội được thể hiện ở nhiều mức độ: mức độ thập, mức độ trung bình và mức độ cao Để phát triển và nâng cao KNTH cho HVSQ cấp phân đội cần yêu cầu họ luyện tập thực hành nhiều một cách có hệ thống và có mục đích

Các kiểu (loại) KNTH các môn KHXH&VN của HVSQ cấp phân đội

Theo cách phân loại của tác giả Trần Thị Minh Hằng về kỹ năng tự học

có hai cách phân loại:

Nếu xét theo loại hình công việc thì KNTH bao gồm: kỹ năng lập kế

hoạch, kỹ năng đọc sách, kỹ năng giải quyết nhiệm vụ học tập, kỹ năng tự kiểm tra và tự đánh giá

Nếu xét theo các khâu của một hoạt động thì KNTH bao gồm 3 nhóm:

nhóm kỹ năng định hướng, nhóm kỹ năng thực hiện hoạt động tự học và nhóm kỹ năng tự kiểm tra, tự đánh giá hoạt động tự học [34, tr.54]

Trang 35

Theo nhóm nghiên cứu ở Khoa Tâm lý - Giáo dục Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, kỹ năng tự học có thể được phân thành 4 nhóm, đó là nhóm kỹ năng định hướng, nhóm kỹ năng thiết kế (lập kế hoạch), nhóm kỹ năng thực hiện kế hoạch và nhóm kỹ năng kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm [104] Tác giả Vũ Trọng Rỹ thì cho rằng kỹ năng tự học của học sinh nói chung và sinh viên nói riêng gồm 4 nhóm: kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành, kỹ năng tổ chức, kỹ năng kiểm tra đánh giá [84]

Theo các nhà sư phạm, thì có 3 nhóm KNTH cơ bản: kỹ năng kế hoạch hoá hoạt động tự học; kỹ năng tổ chức thực hiện kế hoạch; kỹ năng tự kiểm tra, tự đánh giá Các tác giả đề ra yêu cầu cần rèn luyện cho học viên 7 KNTH sau: 1/ Kỹ năng đọc sách; 2/ kỹ năng ghi chép; 3/ kỹ năng ôn tập; 4/ kỹ năng

tự kiểm tra, đánh giá; 5/ kỹ năng tìm tài liệu; 6/ kỹ năng làm việc nhóm; 7/ kỹ năng lập kế hoạch [3, tr.176]

Những cách phân loại của các tác giả trên có cách phân loại thành 3 nhóm, cách thành 4 nhóm, nhưng các cách phân loại đó đều khái quát và

hệ thống rõ những nhóm cơ bản của quá trình tự học Theo cách phân loại của các tác giả, có thể ghép lại thành 3 nhóm KNTN: nhóm kỹ năng lập

kế hoạch tự học; nhóm kỹ năng tổ chức thực hiện kế hoạch tự học và nhóm kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá Tiếp thu những quan điểm trên, chúng tôi phân chia KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội bao gồm các nhóm kỹ năng cơ bản sau: nhóm kỹ năng lập kế hoạch tự học, nhóm kỹ năng triển khai thực hiện kế hoạch tự học và nhóm kỹ năng

tự kiểm tra, điều chỉnh

Nhóm kỹ năng lập kế hoạch tự học bao gồm kỹ năng: Biết phát hiện,

lựa chọn vấn đề tự học; Biết lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch tự học; Biết duy trì kế hoạch tự học; Biết tổng hợp hệ thống hóa tri thức đã học

Trang 36

Nhóm kỹ năng triển khai thực hiện kế hoạch tự học bao gồm các kỹ

năng: Biết chọn sách và tài liệu tham khảo để học; Biết tóm tắt tài liệu đã học; Biết sử dụng các phương tiện tự học; Biết làm bài thu hoạch; Biết khắc phục khó khăn trong tự học; Biết vận dụng lý thuyết vào thực tiễn; Biết phối hợp nhiều phương pháp tự học

Nhóm kỹ năng tự kiểm tra, điều chỉnh: Biết đánh giá ý kiến trong các

buổi thảo luận; Biết phê phán tài liệu đã đọc; Biết rút kinh nghiệm tự học; Biết tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả tự học; Biết phát hiện những thiếu hụt

của thông tin tiếp nhận

Tóm lại: KNTH các môn KHXH&NV là một yếu tố quan trọng bảo

đảm cho tự học của HVSQ cấp phân đội đạt kết quả Vì vậy, trong quá trình

tự học việc chú trọng rèn luyện, phát triển và nâng cao KNTH cho HVSQ là một hướng đi có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng đào tạo theo mục tiêu đã xác định Trong tự học các môn KHXH&NV, chỉ khi HVSQ (chủ thể) bắt đầu hoạt động và trước hết là hoạt động nhận thức, sau đó là hoạt động thực tiễn, bằng các thao tác trí tuệ và hành động cụ thể thì đối tượng của hoạt động tự học mới bộc lộ Chính vì vậy, phải rèn luyện để củng cố nâng cao KNTH các môn học này cho HVSQ

1.2 Những thành tố tạo thành và các giai đoạn hình thành kỹ năng

tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn của học viên sĩ quan cấp phân đội

1.2.1 Những thành tố tạo thành kỹ năng tự học các môn khoa học

xã hội và nhân văn của HVSQ cấp phân đội

Với cách tiếp cận KNTH là một dạng kỹ năng phức tạp, chúng tôi dựa trên quan điểm của các nhà kinh điển Mác - xít, quan điểm của các nhà TLH khi xem xét vấn đề kỹ năng hoạt động để xác định những thành tố tạo thành KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội Khi con người thực

Trang 37

hiện một hoạt động, là thực hiện một thao tác nhất định nhằm đạt tới một mục đích cụ thể, thoả mãn một nhu cầu, một động cơ nào đó Để hoạt động có hiệu quả con người nhất thiết phải ý thức rõ được mục đích hoạt động, phải lĩnh hội được các tri thức cần thiết, làm chủ các thao tác Kỹ năng của con người luôn là kỹ năng của một hoạt động cụ thể, được hình thành, hoàn thiện và phát triển và biểu hiện trong hoạt động, thông qua hoạt động Các tố chất sinh

lý mang tính bẩm sinh, di truyền của cá nhân là điều kiện, là tiền đề vật chất của kỹ năng, còn kỹ năng phát triển đến mức độ nào là do điều kiện sống, điều kiện xã hội - lịch sử chi phối và quyết định

Bất kỳ một kỹ năng nào cũng có cấu trúc: tri thức về hành động, mục đích hình thành kỹ năng, các thao tác tương ứng cùng những phương thức thực hiện thao tác Một kỹ năng phức tạp bao giờ cũng hình thành, phát triển qua các giai đoạn từ kỹ xảo giản đơn, kỹ năng giản đơn, kỹ xảo phức tạp đến

kỹ năng phức tạp KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội là một dạng kỹ năng phức tạp có tính sáng tạo, linh hoạt rất cao, cấp độ kiểm soát, chỉ đạo của ý thức luôn thường trực ở mức độ lớn nhất Vì thế quá trình hình thành kỹ năng đòi hỏi HVSQ cần có tri thức toàn diện vững chắc, thành thạo các thao tác tự học, biết vận dụng một cách sáng tạo vào điều kiện cụ thể Với những cơ sở như vậy chúng tôi cho rằng để HVSQ có KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội bao gồm những thành tố sau: Kiến thức về tự học, kỹ xảo tự học và phương thức vận dụng kiến thức và kỹ xảo

trong tự học các môn KHXH&NV

* Kiến thức tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn

Để có được kỹ năng về một hoạt động nào đó con người phải có kiến thức

về hoạt động ấy Bởi vì xuất phát từ cấu trúc của kỹ năng (phải hiểu mục đích, biết cách thức đi đến kết quả và hiểu những điều kiện cần thiết để triển khai các cách thức đó) Nói cách khác, có kỹ năng con người mới sử dụng được tri thức một cách tự giác và có chủ định, mới biết lựa chọn các biện pháp cần thiết, phù hợp với từng hoàn cảnh và vận dụng các biện pháp đó vào hoạt động để đạt mục đích

Trang 38

Với nghĩa chung nhất có thể hiểu : “Kiến thức là sự phản ánh hiện thực khách quan của con người dưới dạng những hình ảnh, khái niệm, biểu tượng

và mối quan hệ giữa chúng được giữ lại và củng cố trong trí nhớ” [88, tr.295]

Quá trình học tập trong nhà trường quân sự, kiến thức tự học các môn KHXH&NV giữ vai trò quan trọng trong việc tạo thành KNTH của HVSQ cấp phân đội Nắm vững và làm chủ hệ thống kiến thức là điều kiện cần thiết giúp HVSQ nắm chắc phương thức khái quát một hành động; là cơ sở quan trọng giúp học viên vận dụng đúng đắn, sáng tạo vào quá trình thu nhận và xử

lý nhanh, chính xác thông tin có liên quan đến tình huống cụ thể trong quá trình tự học các môn KHXH&NV Do đó trong quá trình dạy học phải đảm bảo cho học viên nắm vững và làm chủ hệ thống kiến thức các môn KHXH&NV Đây là một trong những phương tiện chủ yếu giúp HVSQ có thể tiến hành hoạt động tự học đạt kết quả cao Kiến thức tự học của học các môn KHXH&NV của học viên sĩ quan cấp phân đội thể hiện:

Nhận thức được nội dung và cách thức tự học các môn KHXH&NV Nội

dung tự học gồm những đơn vị kiến thức KHXH&NV cần nắm được, những kỹ năng, kỹ xảo cần được hình thành HVSQ phải xác định được học đến đâu nắm chắc đến đó, hiểu thực chất vấn đề Bởi vì muốn mở rộng kiến thức phải dựa trên

cơ sở nắm chắc kiến thức cơ bản để làm cơ sở cho quá trình tự học Thực tiễn đặt ra rất nhiều vấn đề về xã hội đòi hỏi người học phải tự học để lĩnh hội tri thức Trong hoạt động học tập, dưới sự hướng dẫn, tổ chức của giảng viên, HVSQ tự tổ chức hoạt động tự học của bản thân với nội dung phong phú Nhận thức được những nội dung tự học cơ bản sẽ giúp cho HVSQ có định hướng đúng, xây dựng kế hoạch có cách thức tự học phù hợp với từng nội dung môn học KHXH&NV

Tiếp nhận và phát hiện vấn đề tự học Hệ thống tri thức về KHXH&NV

mà HVSQ cần tiếp nhận là vô cùng phong phú, HVSQ phải biết lựa chọn những vấn đề để tự học Đó là những vấn đề cần phải làm rõ, cần mở rộng và

Trang 39

khắc sâu trong từng đơn vị tri thức Muốn phát hiện được vấn đề thì HVSQ cần phải xác lập mối liên hệ với vốn tri thức KHXH&NV đã có với tri thức mới, gắn những tri thức đã nắm được với những tri thức cần tìm hiểu, giữa tri thức trọng tâm cơ bản với kiến thức nâng cao

Nắm được cách thức khái quát vấn đề tự học Trên cơ sở xác định các

hình thức tự học như thế nào để đạt hiệu quả mỗi HVSQ phải nắm được cách thức khái quát một vấn đề tự học các môn KHXH&NV Cách thức khái quát

là điều kiện cho người học có được phương pháp và cách thức tự học tốt nhất HVSQ có cách thức khái quát vấn đề tự học sẽ biết lựa chọn những vấn đề, nội dung cốt lõi nhất, biết tổng hợp những vấn đề mang tính bản chất, bao trùm nhất, để từ đó khái quát sơ đồ hoá một vấn đề tự học nhằm mục đích phát triển kỹ năng tư duy cho HVSQ, nhanh chóng nắm được cách thức khái quát vấn đề tự học như: kiến thức trọng tâm, nắm được bản chất trong nội dung học, tiếp thu kiến thức thuận lợi, giữ lại được lâu, dễ tái hiện

* Kỹ xảo tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn

Con người hoạt động là để khám phá thế giới tự nhiên, cải tạo tự nhiên và hoàn thiện bản thân mình Để thực hiện hoạt động có hiệu quả bằng

sự sáng tạo của mình con người phải sử dụng công cụ cùng với những kỹ xảo tương ứng Tác giả Vũ Dũng trong từ điển Tâm lý học cho rằng: “Kỹ xảo

là tập hợp các động tác thuần thục, có tính tự động hoá cao, vượt ra ngoài sự

kiểm soát thường xuyên của ý thức” Các kỹ xảo có độ chính xác và tính hiệu

quả cao, tiết kiệm năng lượng và khả năng rút gọn tối đa các động tác Về nguồn gốc, người ta phân biệt hai loại kỹ xảo; các kỹ xảo hình thành một cách nhanh chóng, bỏ qua giai đoạn ý thức về thành tố cấu thành và các kỹ xảo hình thành sau khi ý thức rõ ràng về động tác, trải qua quá trình luyện tập thường xuyên mà dần trở nên thuần thục Năng lực, kinh nghiệm, động cơ và mục đích là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ xảo [16,tr 402]

Trang 40

Trong lĩnh vực hoạt động quân sự, các nhà tâm lý học quân sự xác định:

“Kỹ xảo là những thủ pháp, cách thức hành động đã được củng cố và tự động

hoá” Kỹ xảo là những hành động đạt đến trình độ thuần thục cao, mang tính

tự động hoá Các thao tác ở trình độ kỹ xảo được thực hiện một cách nhanh chóng, chính xác đạt chỉ tiêu về số lượng và chất lượng cao [88, tr 296]

Từ những khái niệm trên chúng tôi cho rằng: Kỹ xảo tự học các môn

và hiệu suất cao nhất trong tự học Học viên tiết kiệm cả về thời gian và năng lượng của mình Kỹ xảo tự học các môn KHXH&NV được hình thành trong quá trình học tập rèn luyện tại trường một cách kiên trì, bền bỉ, dẻo dai mà có được Trong học tập thì tự học được coi là phương pháp chủ yếu để hình thành các thao tác của tư duy và hình thành kỹ xảo tự học cho người học

Trên cơ sở hệ thống kiến thức, thông qua hoạt động học tập ở nhà trường mà hình thành kỹ xảo tự học Khi ở HVSQ hình thành được kỹ xảo tự học các môn KHXH&NV đến lượt nó kỹ xảo lại có tác động to lớn trong việc vận dụng chính xác các kiến thức, kinh nghiệm vào giải quyết các nhiệm vụ

Ngày đăng: 06/03/2017, 21:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Những thành tố tạo thành KNTH các môn KHXH&NV của  HVSQ cấp phân đội - Kỹ năng tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn của học viên sĩ quan cấp phân đội
Sơ đồ 1.1 Những thành tố tạo thành KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội (Trang 42)
Hình thành KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội, việc phân  chia ba giai đoạn này chỉ mang tính chất tương đối, trên thực tế các giai đoạn  luôn có sự đan xen, quan hệ chặt chẽ tác động qua lại lẫn nhau làm cơ sở cho  người học nhanh chóng có đư - Kỹ năng tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn của học viên sĩ quan cấp phân đội
Hình th ành KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội, việc phân chia ba giai đoạn này chỉ mang tính chất tương đối, trên thực tế các giai đoạn luôn có sự đan xen, quan hệ chặt chẽ tác động qua lại lẫn nhau làm cơ sở cho người học nhanh chóng có đư (Trang 52)
Bảng 3.2. Mức độ thành thạo KNTH các môn KHXH&NV ở nhóm KN2  (Tự đánh giá của HVSQ: n = 978) - Kỹ năng tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn của học viên sĩ quan cấp phân đội
Bảng 3.2. Mức độ thành thạo KNTH các môn KHXH&NV ở nhóm KN2 (Tự đánh giá của HVSQ: n = 978) (Trang 102)
Bảng 3.3. Mức độ thành thạo KNTH các môn KHXH&NV (Tự đánh giá  của HVSQ: n = 978) - Kỹ năng tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn của học viên sĩ quan cấp phân đội
Bảng 3.3. Mức độ thành thạo KNTH các môn KHXH&NV (Tự đánh giá của HVSQ: n = 978) (Trang 103)
Bảng  3.4.  Tương  quan  giữa  các  nhóm  kỹ  năng  với  KNTH  các  môn  KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội - Kỹ năng tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn của học viên sĩ quan cấp phân đội
ng 3.4. Tương quan giữa các nhóm kỹ năng với KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội (Trang 105)
Bảng  3.6.  Mức  độ  thành  thạo  KNTH  các môn  KHXH&NV  của HVSQ  cấp phân đội của các nhà trường quân sự - Kỹ năng tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn của học viên sĩ quan cấp phân đội
ng 3.6. Mức độ thành thạo KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội của các nhà trường quân sự (Trang 112)
Đồ thị 3.9: Đánh giá của học viên, giảng viên và CBQL về các yếu tố  ảnh hưởng đến KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội - Kỹ năng tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn của học viên sĩ quan cấp phân đội
th ị 3.9: Đánh giá của học viên, giảng viên và CBQL về các yếu tố ảnh hưởng đến KNTH các môn KHXH&NV của HVSQ cấp phân đội (Trang 122)
Bảng 3.7: Mô tả thống kê các kỹ năng thực nghiệm tác động - Kỹ năng tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn của học viên sĩ quan cấp phân đội
Bảng 3.7 Mô tả thống kê các kỹ năng thực nghiệm tác động (Trang 134)
Bảng 3.8:  Kỹ năng lập kế hoạch tự học của HVSQ thống kê theo tần suất - Kỹ năng tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn của học viên sĩ quan cấp phân đội
Bảng 3.8 Kỹ năng lập kế hoạch tự học của HVSQ thống kê theo tần suất (Trang 135)
Bảng 3.9: Mức chênh lệch giữa lần 1 và lần 3 kỹ năng lập kế hoạch - Kỹ năng tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn của học viên sĩ quan cấp phân đội
Bảng 3.9 Mức chênh lệch giữa lần 1 và lần 3 kỹ năng lập kế hoạch (Trang 137)
Bảng 3.10: Kỹ năng đọc và ghi chép thông tin của HVSQ thống kê theo tần suất - Kỹ năng tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn của học viên sĩ quan cấp phân đội
Bảng 3.10 Kỹ năng đọc và ghi chép thông tin của HVSQ thống kê theo tần suất (Trang 139)
Bảng 3.12: Kỹ năng làm bài thu hoạch của HVSQ thống kê theo tần suất - Kỹ năng tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn của học viên sĩ quan cấp phân đội
Bảng 3.12 Kỹ năng làm bài thu hoạch của HVSQ thống kê theo tần suất (Trang 142)
4  Hình thành thói quen trọng tự học cho học viên - Kỹ năng tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn của học viên sĩ quan cấp phân đội
4 Hình thành thói quen trọng tự học cho học viên (Trang 162)
4  Hình thành thói quen trọng tự học cho học viên - Kỹ năng tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn của học viên sĩ quan cấp phân đội
4 Hình thành thói quen trọng tự học cho học viên (Trang 171)
Phụ lục 13: Bảng tương quan các cặp mẫu - Kỹ năng tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn của học viên sĩ quan cấp phân đội
h ụ lục 13: Bảng tương quan các cặp mẫu (Trang 186)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w