Chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong 3 bộ phận hợp thành của chủ nghĩa Mác Lênin, luận giải dưới góc độ chính trị xã hội quá trình chuyển biến cách mạng từ hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa lên hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa. Sự thay thế hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa bằng hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa là quá trình lịch sử tự nhiên. Song quá trình khách quan đó chỉ được thực hiện thông qua hoạt động thực tiễn của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động do Đảng Mác Lênin chân chính lãnh đạo nhằm thực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân. Vì vậy, chủ nghĩa xã hội khoa học với tính cách là “sự biểu hiện lý luận lập trường của giai cấp vô sản”, là sự khái quát “lý luận về những điều kiện giải phóng giai cấp vô sản” nghiên cứu những qui luật, những tính qui luật khách quan của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân. Đồng thời, chủ nghĩa xã hội khoa học còn luận giải một cách khoa học những định hướng chính trị cơ bản để giai cấp công nhân lựa chọn đúng đắn con đường, hình thức, điều kiện, các vấn đề chiến lược, sách lược, các nguyên tắc và phương pháp cơ bản đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân nhằm thực hiện thắng lợi sứ mệnh của mình.
Trang 1Câu 1: Đối tượng nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học ?
Sự thay thế hình thái kinh xã hội tư bản chủ nghĩa bằng hình thái kinh
tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa là quá trình lịch sử tự nhiên Song quá trình khách quan đóchỉ được thực hiện thông qua hoạt động thực tiễn của giai cấp công nhân và các tầnglớp nhân dân lao động do Đảng Mác Lênin chân chính lãnh đạo nhằm thực hiện sứmệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân Vì vậy, chủ nghĩa xã hội khoa học vớitính cách là “sự biểu hiện lý luận lập trường của giai cấp vô sản”, là sự khái quát “lýluận về những điều kiện giải phóng giai cấp vô sản”- nghiên cứu những qui luật,những tính qui luật khách quan của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân.Đồng thời, chủ nghĩa xã hội khoa học còn luận giải một cách khoa học những địnhhướng chính trị cơ bản để giai cấp công nhân lựa chọn đúng đắn con đường, hìnhthức, điều kiện, các vấn đề chiến lược, sách lược, các nguyên tắc và phương pháp cơbản đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân nhằm thực hiện thắng lợi sứ mệnhcủa mình
Như vậy, đối tượng nghiên cứu của CNXHKH là các qui luật, tính qui luật chính trị- xã hội của quá trình phát sinh, hình thành và phát triển HTKT-XHCSCN; những điều kiện, con đường, hình thức, phương pháp cách mạng và những nguyên tắc cơ bản nhằm thực hiện sự chuyển biến từ HTKT-XH cũ lên HTKT-XHCSCN.
Câu 2: Phân biệt sự khác nhau về đối tượng nghiên cứu của chủ nghĩa xã
hội khoa học với một số môn khoa học xã hội- nhân văn khác.
Trả lời: - Với chủ nghĩa duy vật lịch sử:
Chủ nghĩa duy vật lịch sử nghiên cứu những qui luật xã hội chung của quátrình chuyển biến từ hình thái kinh tế- xã hội này lên hình thái kinh tế- xã hội cao hơntrong toàn bộ lịch sử phát triển của xã hội loài người Đó là những qui luật tác độnggiữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội; giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng; giữalực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; giữa đấu tranh giai cấp và quan hệ xã hội ;còn chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu những qui luật xã hội đặc thù là qui luậtchính trị- xã hội, cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản trong một giai đoạn củatiến trình lịch sử xã hội loài người là từ hình thái kinh tế- xã hội tư bản chủ nghĩa lênhình thái kinh tế- xã hội cộng sản chủ nghĩa
- Với kinh tế chính trị:
Kinh tế chính trị học Mác- Lênin luận giải dưới góc độ quan hệ kinh tế, quan
hệ sản xuất, các qui luật kinh tế, hình thức kinh tế của chế độ tư bản chủ nghĩa, vạchtrần bản chất, thủ đoạn bóc lột của CNTB, những mâu thuẫn kinh tế và tính lịch sửcủa CNTB, từ đó khẳng định tính tất yếu kinh tế dẫn đến cuộc cách mạng xã hội chủ
Trang 2nghĩa; khẳng định địa vị kinh tế xã hội quy định bản chất cách mạng của giai cấpcông nhân Kinh tế chính trị Mác- Lênin còn tìm ra bản chất và các qui luật kinh tếkhách quan, các hình thức, quan hệ kinh tế của thời kỳ quá độ lên CNXH, củaCNXH và CSCN Kinh tế chính trị Mác- Lênin cùng với triết học Mác- Lênin là cơ
sở khoa học để CNXH khoa học luận giải những qui luật chính trị- xã hội, hệ quả tấtnhiên nảy sinh từ các quan hệ, các qui luật kinh tế dưới CNTB và trong quá trình xâydựng CNXH, CNCS
- Các môn khoa học xã hội- nhân văn khác như chính trị học, dân tộc học, tôngiáo học, văn hoá học đi vào nghiên cứu những qui luật của các quan hệ xã hội, cáchiện tượng xã hội, các vấn đề xã hội cụ thể và tương đối hẹp trong các chế độ xã hội,các dân tộc và thế giới trong đó có chế độ XHCN CNXH khoa học không đi sâu vàonhững lĩnh vực cụ thể trên, mà từ các hiện tượng xã hội đó để rút ra những hệ quảchính trị xã hội và các nguyên tắc có tính phương pháp luận về điều kiện, con đường,giải pháp giải quyết các vấn đề đó phù hợp với lợi ích, lập trường giai cấp công nhânnhằm thực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân
Phân biệt sự khác nhau về đối tượng nghiên cứu giữa CNXH khoa học với cácmôn khoa học khác có ý nghĩa rất quan trọng để nắm bắt được bản chất, các qui luật,tính qui luật, các phạm trù khoa học, từ đó vận dụng đúng đắn, sáng tạo vào hoạtđộng thực tiễn, không ngừng làm phong phú và phát triển CNXH khoa học, xứngđáng với tầm vóc là “lý luận cách mạng của phong trào vô sản thế giới”
CÂU 3: VỊ TRÍ, CỦA CNXH KHOA HỌC TRONG CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ NIN ?
Trả lời:
Chủ nghĩa Mác- Lênin là học thuyết cách mạng khoa học, thế giới quan,phương pháp luận, ngọn cờ tư tưởng của giai cấp công nhân, cơ sở lý luận khoa học,kim chỉ nam cho hoạt động cách mạng của giai cấp công nhân toàn thế giới vì sựnghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng con người Chủ nghĩaMác - Lê nin là một chỉnh thể gồm 3 bộ phận cơ bản là triết học Mác- Lênin, kinh tếchính trị Mác- Lênin và CNXH khoa học
Là một trong 3 bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác - Lê nin, CNXH khoa họcgóp phần làm cho chủ nghĩa Mác- Lê nin thực sự là học thuyết khoa học, cân đối,hoàn bị, triệt để cách mạng, không chỉ nhận thức thế giới mà còn cải tạo thế giới.CNXH khoa học là lý luận về đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân, là lý luậnchính trị xã hội trực tiếp chỉ đạo hoạt động thực tiễn cuộc đấu tranh của giai cấp côngnhân Nó vừa góp phần hình thành và phát triển thế giới quan, phương pháp luậncách mạng, khoa học, đồng thời là cơ sở lý luận chính trị trực tiếp của đường lối,chính sách của các Đảng cộng sản và công nhân quốc tế Là lý luận chính trị về cácqui luật đấu tranh nhằm lật đổ chế độ TBCN và xây dựng thành công CNXH vàCNCS, nên CNXH khoa học từ trước đến nay luôn bị các thế lực thù địch phủ nhận,xuyên tạc, bôi nhọ và tìm cách loại bỏ Hơn nữa, là lý luận khoa học gắn kết chặt chẽvới thực tiễn cách mạng của phong trào cộng sản-công nhân quốc tế và thực tiễn xãhội các dân tộc và thời đại, CNXH khoa học đòi hỏi không ngừng được bổ sung vàphát triển sáng tạo Kiên định và phát triển sáng tạo các nguyên lý CNXH khoa
Trang 3học là yêu cầu sống còn, bảo đảm cho giai cấp công nhân thực hiện thắng lợi sứmệnh lịch sử của mình; hạ thấp, từ bỏ và phản bội các nguyên lý CNXH khoa họctất yếu gây nên những tổn thất khôn lường đối với phong trào cách mạng của giai cấpcông nhân quốc tế.
CÂU 4: NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA CNXH KHOA HỌC ?
Thứ hai, nghiên cứu những biến đổi của hiện thực xã hội khách quan trongphạm vi mỗi nước và thế giới để kịp thời rút ra những kết luận chính trị khoa học,đúng đắn, định hướng cho nhận thức và hành động cách mạng của giai cấp côngnhân Đặc biệt, từ những biến đổi đó để nhận rõ những tác động của nó đến các vấn
đề chính trị- xã hội, làm cơ sở để Đảng cách mạng của giai cấp công nhân xác địnhcon đường, biện pháp, nguyên tắc đấu tranh phù hợp Đây là nhiệm vụ tự thân củaCNXH khoa học, là phương thức tồn tại, phát triển của CNXH khoa học, bảo đảmsức sống sáng tạo của CNXH khoa học và làm cho CNXH khoa học làm tròn chứcnăng của nó, gắn liền lý luận với thực tiễn, tránh sơ cứng, giáo điều, đúng nhưPh.Ăngghen đã khẳng định: “Muốn cho CNXH khoa học trở thành khoa học, phảiđặt nó trên mảnh đất hiện thực”
Thứ ba, tìm tòi những điều kiện, con đường, biện pháp những nguyên tắc chỉđạo cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân nhằm thủ tiêu chế độ TBCN, xây dựngchế độ XHCN và CSCN
Để thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, đứng vững trên lậptrường giai cấp công nhân, CNXH khoa học, căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể, phảichỉ rõ con đường đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân phù hợp với qui luậtkhách quan, xu thế lịch sử, các hình thức, biện pháp đấu tranh thiết thực sáng tạomuôn hình muôn vẻ Đồng thời CNXH khoa học phải chỉ ra các điều kiện thiết yếu
mà giai cấp công nhân cần phải tạo lập đảm bảo cho cuộc đấu tranh đó đi đến thắnglợi cuối cùng
Thứ tư là, góp phần nâng cao giác ngộ cách mạng cho GCCN và nhân dân laođộng Bởi vì, cách mạng XHCN là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, do Đảngcộng sản lãnh đạo Tinh thần cách mạng, năng lực sáng tạo của quần chúng nhân dânchỉ được phát huy cao độ khi họ có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về sự nghiệp cáchmạng cao cả
CNXH khoa học cùng với các bộ môn khoa học khác của chủ nghĩa Lênin phải góp phần “cách mạng hoá” quần chúng, làm cho giai cấp công nhân vànhân dân lao động có lý trí, tình cảm và niềm tin cách mạng, chủ động tự giác tham
Trang 4Mác-gia vào phong trào cách mạng thực tiễn đấu tranh xoá bỏ áp bức bóc lột, xây dựng xãhội mới
Thứ năm, CNXH khoa học là ngọn cờ lý luận, vũ khí tư tưởng của giai cấpcông nhân trong cuộc đấu tranh giai cấp, phải thực sự sắc bén đánh bại các trào lưu,quan điểm tư tưởng, lý luận của chủ nghĩa chống cộng, chủ nghĩa cơ hội, xét lại.Thực tiễn đã cho thấy, chủ nghĩa chống cộng, chủ nghĩa cơ hội, xét lại từ trước đếnnay luôn tìm mọi thủ đoạn xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận chủ nghĩa Mác- Lê nin nóichung và CNXH khoa học nói riêng Chủ động đấu tranh phê phán đánh bại các quanđiểm phản động, sai trái của chủ nghĩa chống cộng, chủ nghĩa cơ hội, xét lại đủ loại,CNXH khoa học bảo vệ sự trong sáng của học thuyết cách mạng, ngăn chặn ảnhhưởng, tác hại của các trào lưu quan điểm đó trong quần chúng nhân dân và đồngthời còn trực tiếp truyền bá các quan điểm cách mạng khoa học của CNXH khoa họcthấm sâu vào ý thức quần chúng nhân dân
Các nhiệm vụ chủ yếu trên đây của CNXH khoa học liên hệ chặt chẽ với nhau,cần nhận thức đầy đủ và vận dụng thích hợp, sáng tạo, không được xem nhẹ trong bất
cứ hoàn cảnh nào Khái quát một cách cô đọng nhiệm vụ của CNXH khoa học,Ph.Ăngghen đã viết: “Nghiên cứu những điều kiện lịch sử và do đó, nghiên cứuchính ngay bản chất của sự biến đổi ấy, và bằng cách ấy làm cho giai cấp hiện nayđang bị áp bức và có sứ mệnh hoàn thành sự nghiệp ấy hiểu rõ được những điều kiện
và bản chất của sự nghiệp chính họ- đó là nhiệm vụ của CNXHKH, sự thể hiện vềmặt khoa học của phong trào vô sản”1
CÂU 5: TẠI SAO NÓI NHỜ HAI PHÁT KIẾN VĨ ĐẠI CỦA MÁC: CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ VÀ HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ, CNXH
TỪ KHÔNG TƯỞNG TRỞ THÀNH KHOA HỌC?
Trả lời:
CNXH không tưởng mặc dù có giá trị lịch sử to lớn là đã phê phán sâu sắc chế
độ áp bức bóc lột, phác hoạ mô hình xã hội tương lai tốt đẹp, có những dự báo thiêntài, mang tính nhân đạo, nhân văn cao cả; vì vậy, nó góp phần quan trọng thức tỉnhquần chúng lao khổ đấu tranh chống áp bức, cường quyền và nó là một trong nhữngtiền đề tư tưởng trực tiếp cho sự hình thành CNXH khoa học Tuy nhiên, CNXHkhông tưởng còn những hạn chế nhất định Đó là “ CNXH không tưởng không thểvạch ra được lối thoát thực sự Nó không giải thích được bản chất của chế độ nô lệlàm thuê trong chế độ TBCN, cũng không phát hiện ra được những qui luật phát triểncủa chế độ TBCN và cũng không tìm thấy lực lượng xã hội có khả năng trở thànhngười sáng tạo xã hội mới”1
Những hạn chế đó của CNXH không tưởng là do những căn nguyên kháchquan và chủ quan của hoàn cảnh lịch sử đương thời qui định Đúng như Ph.Ăngghen
đã chỉ rõ: “Tương ứng với một trạng thái chưa trưởng thành là những lý luận chưatrưởng thành Việc giải quyết những nhiệm vụ xã hội còn bị ẩn giấu trong những
1 C.Mác-Ph.Ăngghen, To n t àn t ập, tập 20, Nxb CTQG, H.1995, tr 393.
1 V.I.Lênin, to n t àn t ập, tập 23, Nxb TB M 1980, tr 56-57.
Trang 5quan hệ kinh tế chưa phát triển, phải được sản sinh ra từ đầu óc con người”2 Mặtkhác, xét về mặt chủ quan, các đại biểu của CNXH không tưởng, mặc dù có trí tuệlớn lao, cảm thông với quần chúng lao khổ; song nhìn chung, họ chưa từ bỏ được lậptrường giai cấp của mình để gắn bó số phận của mình với lợi ích và đứng vững trênlập trường của giai cấp bị bóc lột.
Trái lại, vào những năm 40 của thế kỷ XIX, các tiền đề khách quan về kinh tế,chính trị, văn hoá, xã hội đã chín muồi để có thể khắc phục những hạn chế đó củaCNXH không tưởng, để biến CNXH từ không tưởng trở thành khoa học Đó là sựphát triển mạnh mẽ của nền đại công nghiệp, của lực lượng sản xuất dưới CNTB và
đi liền với nó là sự xuất hiện giai cấp vô sản hiện đại; mâu thuẫn giữa lực lượng sảnxuất mang tính xã hội hoá với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhânTBCN về tư liệu sản xuất, được biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp
vô sản với giai cấp tư sản ngày càng gay gắt, dẫn đến các cuộc đấu tranh của giai cấp
vô sản chống sự bóc lột của giai cấp tư sản ngày càng dâng cao, giai cấp vô sản ngàycàng ý thức được lợi ích của giai cấp mình và các cuộc đấu tranh của giai cấp vô sảncàng ngày càng có xu hướng là một phong trào độc lập mà tiêu biểu là các cuộc khởinghĩa của công nhân dệt ở Liông (Pháp 1831); ở Xilêdi (Đức 1844) và phong tràoHiến chương ở Anh (1835-1848) Sự phát triển của phong trào công nhân đòi hỏikhách quan phải có một lý luận khoa học cách mạng dẫn dắt Đây là mảnh đất hiệnthực- cơ sở khách quan cho sự ra đời của CNXH khoa học Đồng thời, trong nhữngthập niên đầu của thế kỷ XIX, loài người đã đạt được nhiều thành tựu to lớn tronglĩnh vực khoa học tự nhiên với 3 phát minh quan trọng: định luật bảo toàn và chuyểnhoá năng lượng; học thuyết về tế bào và học thuyết tiến hoá sinh vật của Đác uyn.Trong lĩnh vực khoa học xã hội cũng có những thành quả khoa học có ý nghĩa lịch sửnhư nền triết học cổ điển Đức mà những đại biểu tiêu biểu là chủ nghĩa duy vật củaPhơ bách, phép biện chứng của Hêghen; nền kinh tế chính trị học cổ điển Anh màtiêu biểu là Ađam Xmít, Ricácđô và CNXH không tưởng phê phán của Xanhximông,Phuriê và Ôoen
Trên những tiền đề khách quan đó, thông qua những hoạt động lý luận gắn liềnvới hoạt động thực tiễn, C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa, vận dụng và phát triểnnhững hạt nhân hợp lý của chủ nghĩa duy vật, phép biện chứng từ triết học thời cổ đạiđến nền triết học cổ điển Đức vào việc nghiên cứu đời sống xã hội, đã xây dựng nênchủ nghĩa duy vật lịch sử Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chỉ rõ qui luật phát triển củalịch sử xã hội loài người đó là sự thay thế của các hình thái kinh tế- xã hội thông qua
sự vận động của những mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cơ sở
hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, tồn tại xã hội và ý thức xã hội là một quá trìnhkhách quan tất yếu, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan Sự vận động của cácmâu thuẫn đó trong lòng xã hội tư bản, tất yếu dẫn đến cuộc cách mạng xã hội, làmchuyển biến hình thái kinh tế- xã hội tư bản chủ nghĩa lên hình thái kinh tế- xã hộicộng sản chủ nghĩa và đó là qui luật tiến hoá của lịch sử Với sự ra đời của chủ nghĩaduy vật lịch sử, C Mác đã khắc phục được hạn chế của CNXH không tưởng là không
2 C.Mác-Ph.Ăngghen, To n t àn t ập, tập 10, Nxb CTQG, H.1994, tr 358-359.
Trang 6phát hiện ra qui luật phát triển xã hội Từ đây, CNXH được soi sáng bởi thế giới quankhoa học và những tư tưởng của nó được hình thành trên nền tảng khoa học vữngchắc Đồng thời, vận dụng những quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử và kế thừanhững giá trị của kinh tế chính trị học cổ điển, Mác đã đi sâu nghiên cứu toàn diện vàtriệt để phương thức sản xuất TBCN, bóc trần bản chất kinh tế của CNTB là bóc lộtgiá trị thặng dư, từ đó chỉ ra mâu thuẫn đối kháng và lợi ích không thể điều hoà giữagiai cấp vô sản và giai cấp tư sản, làm sáng tỏ địa vị kinh tế- xã hội và khả năng cáchmạng của giai cấp vô sản, khẳng định giai cấp vô sản là lực lượng xã hội có sứ mệnhlịch sử xoá bỏ chế độ TBCN và xây dựng xã hội mới Đúng như Ph.Ăngghen đã chỉrõ: “Hai phát kiến vĩ đại ấy- quan niệm về duy vật lịch sử và việc dùng giá trị thặng
dư để bóc trần bí mật của sản xuất TBCN- là công lao của Mác Nhờ hai phát kiến vĩđại ấy, CNXH đã trở thành khoa học mà ngày nay, vấn đề trước hết là phải nghiêncứu thêm trong mọi chi tiết và mọi mối liên hệ của nó”1
CÂU 6: PHÂN BIỆT SỰ KHÁC NHAU CĂN BẢN GIỮA CNXH KHOA HỌC VỚI CNXH KHÔNG TƯỞNG ?
Trả lời:
CNXH khoa học khác hẳn về bản chất và phát triển cao hơn về trình độ, bềrộng và chiều sâu so với CNXH không tưởng, Sự khác nhau giữa CNXH khoa học vàCNXH không tưởng cả về cơ sở hình thành, phát triển, nội dung tư tưởng, hình thứcbiểu hiện, phương thức, điều kiện và khả năng vận dụng trong thực tiễn CNXHkhông tưởng nảy sinh trong xã hội phân chia giai cấp Tuy nhiên, sự hình thành, biếnđổi những tư tưởng XHCN không tưởng không dựa trên những tiền đề hiện thực vềkinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội nên chưa thể phản ánh khách quan, khoa học đờisống xã hội CNXH không tưởng chưa nhận rõ qui luật vận động khách quan của lịch
sử xã hội loài người; chưa thấy được bản chất bóc lột của CNTB và chưa tìm thấymột lực lượng xã hội có khả năng trở thành người sáng tạo xã hội mới Vì vậy,CNXH không tưởng không thể vạch ra được lối thoát thực sự cho nhân loại khỏi ách
áp bức, bóc lột, không thể chỉ ra được lực lượng, con đường, điều kiện, biện phápđúng đắn để đi đến mục tiêu giải phóng xã hội, giải phóng con người CNXH khôngtưởng là những quan điểm, quan niệm thiếu cơ sở hiện thực cho sự luận chứng khoahọc; hơn nữa nó không có hệ thống, vì vậy mang tính chung chung, chủ quan vàmộng tưởng Đặc biệt, CNXH không tưởng không gắn tư tưởng với hoạt động thựctiễn của quần chúng nhân dân và với hiện thực đời sống xã hội Do đó, nó còn là mộtlực cản của tư tưởng và hành động cách mạng của giai cấp công nhân khi các điềukiện kinh tế- xã hội đã biến đổi và yêu cầu phát triển của phong trào công nhân ngàycàng cao
Trái lại, CNXH khoa học là hệ thống lý luận khoa học được hình thành và pháttriển dựa trên những cơ sở hiện thực Đó là sự phát triển của nền đại công nghiệp,của lực lượng sản xuất, của khoa học kỹ thuật, công nghệ của CNTB và thời đại, của
sự biến đổi cơ cấu xã hội- giai cấp sâu sắc với sự xuất hiện phát triển của giai cấptiên tiến, cách mạng đó là giai cấp công nhân; ở sự phát triển mạnh mẽ của phongtrào công nhân, đòi hỏi phải có lý luận, cương lĩnh khoa học và cách mạng dẫn
1 C.Mác-Ph.Ăngghen, To n t àn t ập, tập 19, Nxb CTQG, H.1995, tr 305.
Trang 7đường CNXH khoa học là sản phẩm của hoạt động lý luận và thực tiễn sáng tạo củaMác và Ăngghen, của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, nó không ngừngđược bổ sung và hoàn thiện, phát triển và được vận dụng sáng tạo trong thực tiễn đấutranh của giai cấp công nhân, của các Đảng cộng sản, PTCS-CNQT Nhờ nhận thứcđược qui luật phát triển của CNTB, làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấpcông nhân, CNXH khoa học đã luận chứng khoa học các qui luật và tính qui luậtchính trị- xã hội, những con đường, điều kiện, biện pháp, chỉ ra những nguyên tắchoạt động cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới đểthực hiện sự chuyển biến từ CNTB lên CNCS Đó là những nguyên lý khoa học chặtchẽ và triệt để cách mạng, đòi hỏi phải được vận dụng sáng tạo trong những điềukiện lịch sử cụ thể Thực tế lịch sử đã chứng tỏ ở đâu và lúc nào nếu trung thành, bảo
vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo các nguyên lý CNXH khoa học phù hợp với điềukiện lịch sử của dân tộc và thời đại thì sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhângiành được thắng lợi Trái lại, việc xa rời, phủ nhận hoặc vận dụng một cách giáođiều các nguyên lý của CNXH khoa học thì sự nghiệp cách mạng sẽ bị tổn thất khólường Điều đó chứng tỏ, CNXH khoa học đòi hỏi phải luôn luôn kết hợp giữa lýluận và thực tiễn cách mạng, giữa nhân tố chủ quan phù hợp với điều kiện kháchquan, giữa sự kiên định, trung thành với các nguyên lý phổ biến và sự vận dụng sángtạo, phát triển các nguyên lý đó trước những biến đổi mới của cuộc sống
CÂU HỎI 7: GIAI CẤP CÔNG NHÂN KHÁC CÁC GIAI CẤP KHÁC NHƯ THẾ NÀO?
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin đã dùng các thuật ngữ khác nhau
để chỉ giai cấp công nhân trong quá trình phát triển: giai cấp công nhân, giai cấp vôsản, giai cấp lao động làm thuê thậm chí các ông còn dùng những thuật ngữ có nộidung hẹp hơn để chỉ công nhân trong các ngành nghề công nghiệp: công nhân côngnghiệp, công nhân khai khoáng
Các thuật ngữ trên tuy được dùng trong những hoàn cảnh, môi trường khácnhau, và đều toát lên hai tiêu chí cơ bản để phân biệt người công nhân với nhữngngười lao động khác
-Tiêu chí về nghề nghiệp: công nhân là những người lao động trực tiếp haygián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp Về tiêu chí này đãchỉ rõ môi trường lao động của công nhân là các ngành công nghiệp có trình độ kỹthuật khác nhau Khi nói về tiêu chí này, Mác và Ăngghen đặc biệt nhấn mạnh đến
công nhân hiện đại gắn liền với nền đại công nghiệp “Các giai cấp khác đều suy tàn và
Trang 8tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp; còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”[ 1 ].
-Tiêu chí về vị trí trong quan hệ sản xuất Dưới chế độ TBCN, công nhân là những ngườilao động không có TLSX, phải làm thuê, bán sức lao động cho nhà tư bản, bị nhà tư bảnbóc lột giá trị thặng dư Chính tiêu chí này khiến người công nhân trở thành giai cấpđối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chốnglại giai cấp tư sản chính là nhằm làm thay đổi vị trí của họ trong quan hệ sản xuấtTBCN
Dưới chế độ XHCN, công nhân là những người làm chủ trong quan hệ sảnxuất, làm chủ tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, làm chủ trong phân công lao động
và phân phối sản phẩm Đây cũng là tiêu chí căn bản chỉ rõ sự khác nhau giữa côngnhân dưới CNTB và công nhân dưới CNXH
Hai tiêu chí này là cơ sở phương pháp luận để phân biệt rõ giai cấp công nhânvới những người lao động khác, đặc biệt trong bối cảnh cuộc cách mạng KH-CN pháttriển đã tạo ra nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực lao động phức tạp như hiện nay
Căn cứ vào hai tiêu chí trên, chúng ta nêu lên khái niệm về giai cấp công nhânnhư sau: giai cấp công nhân là giai cấp những người lao động hoạt động sản xuất
trong các ngành nghề công nghiệp thuộc các trình độ kỹ thuật khác nhau, mà địa vị
xã hội thì tuỳ thuộc vào chế xã hội đương thời: ở các nước tư bản, họ là những người không có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất phải làm thuê cho giai cấp
tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư; ở các nước XHCN, họ là những người đã cùng nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu vàc cùng
CÂU HỎI 8: NỘI DUNG THỰC CHẤT SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN LÀ GÌ?
Trả lời:
Khi bàn về nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân các nhà kinh điểncủa chủ nghĩa Mác- Lênin đều khẳng định rằng, giai cấp công nhân phải tổ chức vàlãnh đạo toàn thể nhân dân lao động tiến hành cuộc cách mạng để chuyển hình tháikinh tế- xã hội tư bản chủ nghĩa sang hình thái kinh tế- xã hội cộng sản chủ nghĩa,giải phóng nhân loại khỏi ách áp bức, bất công và mọi hình thức bóc lột
Như vậy, thực chất nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân giai cấpcông nhân là: xoá bỏ chế độ TBCN, giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân laođộng cùng toàn thể nhân loại thoát khỏi mọi sự áp bức bóc lột, xây dựng xã hội cộngsản văn minh, không có người bóc lột người Chính vì vậy mà Ăngghen viết: “Thựchiện sự nghiệp giải phóng thế giới, đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân hiệnđại”1
Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đó là một quá trình liên tụcđấu tranh đến khi đạt được mục tiêu cuối cùng, nhưng trong quá trình ấy cũng có tínhgiai đoạn Điều này Mác và Ăngghen đã khẳng định trong “Tuyên ngôn của Đảngcộng sản”: “Giai đoạn thứ nhất trong cuộc cách mạng là giai cấp công nhân phải tự
1 Mác- Ăngghen, to n t àn t ập, tập 4, Nxb CTQG, H.1995, tr.610.
1 Mác- Ăngghen, to n t àn t ập, tập 20, Nxb CTQG, H.1994, tr.393.
Trang 9mình trở thành giai cấp dân tộc”, nghĩa là phải giành lấy chính quyền từ tay giai cấp
tư sản Sau khi có chính quyền, giai cấp công nhân dùng chính quyền ấy vừa cải tạo
xã hội cũ, vừa xây dựng xã hội mới- XHCN, thực hiện sự nghiệp giải phóng toàndiện giai cấp công nhân và nhân dân lao động
CÂU HỎI 9: VÌ SAO GIAI CẤP CÔNG NHÂN CÓ SỨ MỆNH LỊCH SỬ THẾ GIỚI ?
Trả lời:
Sự khác nhau căn bản giữa chủ nghĩa Mác- Lênin với CNXH không tưởng là ởchỗ Mác đã tìm thấy ngay trong lòng xã hội tư bản một lực lượng có thể tiến hànhcách mạng xã hội lật đổ chế độ TBCN xây dựng thành công CNXH và CNCS trênphạm vi thế giới Đó là giai cấp công nhân Sự luận chứng khoa học về sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân, dựa trên những điều kiện kinh tế- xã hội khách quan quyđịnh
Việc khẳng định giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có sứ mệnh lịch sử đãđược Mác- Ăngghen luận chứng sâu sắc, có thể tóm tắt trên 3 vấn đề sau:
-Do địa vị kinh tế- xã hội khách quan của giai cấp công nhân.
Giai cấp công nhân là giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến dướiCNTB; chính vì vậy, lực lượng sản xuất càng tiên tiến, mang tính xã hội hoá caocàng mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất TBCN Mâu thuẫn giữa lực lượng sảnxuất với quan hệ sản xuất dưới CNTB được biểu hiện về xã hội là mâu thuẫn đốikháng giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản tất yếu dẫn đến cuộc cách mạng xãhội lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản và quan hệ sản xuất TBCN Sau khi giànhchính quyền, giai cấp công nhân đại biểu cho phương thức sản xuất mới- phươngthức sản xuất XHCN
-Giai cấp công nhân là con đẻ của nền sản xuất đại công nghiệp được nền
đại công nghiệp rèn luyện, đoàn kết và tổ chức lại thành một lực lượng xã hội hùngmạnh Giai cấp công nhân ra đời và phát triển cùng nền đại công nghiệp, do đó về sốlượng và chất lượng của giai cấp công nhân ngày càng tăng lên Đại công nghiệp đãrèn luyện, đoàn kết và tổ chức giai cấp công nhân thành lực lượng xã hội hùng mạnh
có khả năng lật đổ CNTB, xây dựng thành công xã hội mới - xã hội XHCN
Mặt khác, đại công nghiệp phát triển, giai cấp công nhân ở các nước TBCNcàng bị bóc lột nặng nề hơn trước, do đó hố ngăn cách giữa tư bản với công nhânngày càng sâu thêm Đây là nguyên nhân chủ yếu quyết định sự bùng nổ của mộtcuộc cách mạng xã hội do giai cấp công nhân lãnh đạo Trong cuộc cách mạng ấygiai cấp công nhân chỉ mất xiềng xích và được cả thế giới về mình
-Do địa vị khách quan của giai cấp công nhân lại được nền đại công nghiệp
rèn luyện nên giai cấp công nhân có những phẩm chất ưu việt mà các giai cấp kháctrong xã hội tư bản không thể có được Phẩm chất ấy là yếu tố bảo đảm cho giai cấpcông nhân vừa thực hiện vai trò tổ chức lãnh đạo vừa là người tiên phong thực hiệnnhững mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng nhân loại.Những phẩm chất ấy là:
+Giai cấp công nhân là giai cấp cách mạng triệt để nhất
Trang 10+Là giai cấp tiên tiến nhất.
+Là giai cấp có ý thức tổ chức, kỷ luật cao
+Là giai cấp có tinh thần đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế cao cả
Những phẩm chất trên đây của giai cấp công nhân ngày càng được củng cốphát triển lên chất lượng mới cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp và cuộcđấu tranh của giai cấp công nhân chống chế độ áp bức, bóc lột
Trên đây là những cơ sở khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấpcông nhân Tuy nhiên, để giai cấp công nhân có ý thức về sứ mệnh lịch sử của mình,vươn lên trình độ giác ngộ về giai cấp, giai cấp công nhân phải được lý luận của chủnghĩa Mác- Lênin soi sáng Điều đó có thể thực hiện được khi giai cấp công nhânthành lập nên chính Đảng của mình
Ngày nay, mặc dù cuộc cách mạng KH-CN hiện đại phát triển mạnh mẽ, tácđộng đến mọi giai tầng trong xã hội nhất là trong xã hội tư bản làm cho giai cấp côngnhân có sự biến đổi nhất định về cơ cấu Mặt khác, CNTB đang có sự điều chỉnhthích nghi và tạm thời có bước phát triển Song, tất cả những điều đó không làm thayđổi địa vị kinh tế- xã hội của giai cấp công nhân Do đó, giai cấp công nhân vẫn làgiai cấp duy nhất có sứ mệnh lịch sử thế giới
CÂU HỎI 10: TẠI SAO NÓI ĐẢNG CỘNG SẢN LÀ NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH VIỆC THỰC HIỆN THẮNG LỢI SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN ?
Trả lời:
Chủ nghĩa Mác- Lênin đã chỉ rõ mọi quy luật trong lĩnh vực xã hội muốn biếnthành hiện thực đều phải thông qua hoạt động tự giác của con người Sứ mệnh lịch sửcủa giai cấp công nhân cũng không nằm ngoài quy luật chung đó Đảng cộng sản cóvai trò quyết định thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
-Đảng cộng sản ra đời là một tất yếu khách quan của lịch sử do sự kết hợp chủnghĩa Mác- Lênin với phong trào công nhân Ở một số nước như Việt Nam, sự ra đờicủa Đảng cộng sản không những chỉ là sự kết hợp chủ nghĩa Mác- Lênin với phongtrào công nhân mà còn kết hợp chặt chẽ với phong trào yêu nước
-Vai trò quyết định thắng lợi sứ mệnh lịch sử của Đảng cộng sản được thể hiệntrên mấy vấn đề sau
+Đảng cộng sản là đội tiền phong chính trị của giai cấp công nhân Đảng làmột tổ chức thống nhất, chặt chẽ bao gồm những người ưu tú nhất trong giai cấpcông nhân và các tầng lớp nhân dân lao động Đảng cộng sản là một bộ phận của giaicấp công nhân không đứng trên, đứng ngoài mà nằm trong giai cấp công nhân; Đảngcộng sản lấy chủ nghĩa Mác- Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọihoạt động của Đảng
Đảng cộng sản có khả năng nhận thức được những quy luật vận động của xãhội, của dân tộc từ đó dìu dắt giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc điđến thắng lợi cuối cùng của cuộc cách mạng XHCN là giải phóng giai cấp, giảiphóng dân tộc và giải phóng con người
+Đảng cộng sản còn là lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấpcông nhân Vai trò đó được thể hiện ở chỗ Đảng lãnh đạo và tổ chức giai cấp côngnhân và nhân dân lao động đấu tranh từng bước giành thắng lợi này đến thắng lợi
Trang 11khác Trước khi có Đảng cộng sản ra đời, giai cấp công nhân chỉ đấu tranh tự phát,nhằm đạt được những mục tiêu trước mắt Từ khi Đảng cộng sản ra đời, Đảng lãnhđạo, tổ chức, giác ngộ giai cấp công nhân, đề ra đường lối, chiến lược, sách lượcđúng đắn, đoàn kết toàn dân đấu tranh nhằm lật đổ giai cấp tư sản, xây dựng xã hộimới- xã hội XHCN và CSCN Đó là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ của giai cấpcông nhân nhưng mang tính tự giác cao.
CÂU HỎI 11: TRONG ĐIỀU KIỆN CÁCH MẠNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ HIỆN ĐẠI PHÁT TRIỂN, GIAI CẤP CÔNG NHÂN CÓ CÒN SỨ MỆNH LỊCH SỬ KHÔNG? VÌ SAO?
Trả lời:
Một đặc điểm nổi bật của giai đoạn hiện nay của thời đại là cuộc cách mạngkhoa học- công nghệ hiện đại phát triển mạnh mẽ tác động đến mọi lĩnh vực của đờisống xã hội, trong mỗi quốc gia và toàn thế giới, làm thay đổi cơ cấu giai cấp- xã hội,ngay trong từng giai cấp những người lao động, trong đó giai cấp công nhân cũng có
sự biến đổi to lớn, Song không vì thế mà làm thay đổi địa vị kinh tế- xã hội của giaicấp công nhân, thay đổi sứ mệnh lịch sử của họ
Thứ nhất, cách mạng KH-CN làm cho giai cấp công nhân có sự biến đổi về cơcấu Ở các nước tư bản phát triển bộ phận công nhân trung lưu tăng lên, đời sống của
họ có được cải thiện nhất định nhưng giai cấp công nhân vẫn là giai cấp lao động làmthuê, bị bóc lột giá trị thặng dư Do đó, mâu thuẫn giữa công nhân với TB vẫn tồn tại
có lúc, có nơi rất gay gắt
Thứ hai, cách mạng KH- CN hiện đại phát triển càng làm cho đại công nghiệpphát triển, do đó giai cấp công nhân tăng cả về số lượng và chất lượng Ở các nước tưbản phát triển, giai cấp công nhân chiếm đại đa số lực lượng lao động xã hội; trình độhọc vấn đại học và trên đại học trong giai cấp công nhân ngày càng cao Điều nàyhoàn toàn đúng như dự đoán của Mác- Ăngghen trong “Tuyên ngôn của Đảng cộngsản” Vì vậy, cách mạng KH- CN càng phát triển, giai cấp công nhân ngày càng hùnghậu, là lực lượng xã hội to lớn, có vai trò quyết định thủ tiêu sự thống trị của giai cấp
tư sản và xây dựng xã hội mới
Thứ ba, lợi dụng những thành quả của cuộc cách mạng KH- CN hiện đại,CNTB ra sức điều chỉnh thích nghi và tạm thời có bước phát triển nhất định; songCNTB không khắc phục được những mâu thuẫn vốn có và bản chất của nó, đó làmâu thuẫn giữa lao động và tư bản; CNTB vẫn là một xã hội áp bức, bóc lột, tất yếu
bị loại bỏ Cuộc cách mạng KH-CN hiện đại là một nhân tố to lớn thúc đẩy cuộc cáchmạng xã hội trong tương lai để xoá bỏ CNTB ngày càng có qui mô rộng lớn, hìnhthức phong phú và nội dung sâu sắc hơn, triệt để hơn
Từ những căn cứ trên đi đến kết luận ngày nay cách mạng KH- CN hiện đại pháttriển có làm cho các giai cấp có sự phân hoá, vai trò của họ trong sản xuất có sự biến đổi,đặc biệt là tầng lớp trí thức, song không làm thay đổi địa vị kinh tế- xã hội của họ Do đó,giai cấp công nhân vẫn là giai cấp duy nhất có sứ mệnh lịch sử đánh đổ CNTB, xây dựngthành công xã hội mới- XHCN và CSCN
CÂU 12: SỰ KHÁC NHAU CĂN BẢN GIỮA CÁCH MẠNG XHCN VỚI CÁC CUỘC CÁCH MẠNG TRƯỚC ĐÓ NHƯ THẾ NÀO?
Trang 12Cách mạng XHCN khác căn bản với cuộc cách mạng trước đó ở 3 điểm:
- Do giai cấp vô sản lãnh đạo, lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin làm nền tảng tưtưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động
- Cuộc cách mạng XHCN là cuộc cách mạng toàn diện, sâu sắc, triệt để, giànhlấy chính quyền mới chỉ là màn giáo đầu của cách mạng XHCN
- Mục đích của cách mạng XHCN là xoá bỏ chế độ áp bức, bóc lột, bất công,giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng con người, tạo mọi điều kiệncho con người phát triển toàn diện, hài hoà với sự phát triển xã hội
CÂU 13: VÌ SAO CÁCH MẠNG XHCN VẪN LÀ TẤT YẾU KHÁCH QUAN TRONG THỜI ĐẠI HIỆN NAY ?
Trả lời:
Qui luật phát triển khách quan của lịch sử xã hội loài người, là sự thay thế hìnhthái kinh tế- xã hội này bằng hình thái kinh tế- xã hội khác cao hơn diễn ra như mộtquá trình lịch sử tự nhiên, thông qua cách mạng xã hội Tất cả các cuộc cách mạng xãhội diễn ra trong lịch sử đều có nguồn gốc sâu xa từ mâu thuẫn giữa lực lượng sảnxuất tiên tiến với quan hệ sản xuất đã lỗi thời, lạc hậu Trong CNTB, đó là mâu thuẫngiữa lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hoá với quan hệ sản xuất dựa trên chế độchiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất Vì vậy, hiện nay xu thế toàn cầu hoákinh tế càng làm cho tính chất xã hội hoá của lực lượng sản xuất phát triển, mâuthuẫn gay gắt với quan hệ chiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất Biểu hiện ra
xã hội đó là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp công nhân và nhân dân laođộng; mâu thuẫn giữa CNXH và CNTB; mâu thuẫn giữa các nước TBCN, các trungtâm, các tập đoàn tư bản đa quốc gia, xuyên quốc gia với nhau; mâu thuẫn giữa cácdân tộc, các nước đang phát triển với chủ nghĩa đế quốc và các trung tâm, công tyxuyên quốc gia TBCN ngày càng gay gắt Do đó, mặc dù CNTB luôn tìm cách điềuchỉnh, “thích nghi”, nhưng những mâu thuẫn cơ bản đó không mất đi mà ngày càngsâu sắc hơn Do đó, cách mạng XHCN vẫn là tất yếu khách quan trong thời đại hiệnnay
CÂU 14: TẠI SAO NÓI CÁCH MẠNG XHCN LÀ CUỘC CÁCH MẠNG KHÔNG NGỪNG?:
Trả lời:
Cách mạng XHCN là cuộc cách mạng toàn diện, sâu sắc, triệt để nhất trong tất
cả các cuộc cách mạng xã hội đã từng diễn ra trong lịch sử Để đạt được mục đíchcuối cùng là xây dựng thành công CNCS trên toàn thế giới, giai cấp công nhân vànhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản phải trải qua một quá trìnhđấu tranh cách mạng, đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc gian khổ, lâu dài vớinhiều giai đoạn và thời kỳ Mỗi giai đoạn, thời kỳ cách mạng cụ thể, có mục tiêu, đốitượng, phương pháp cách mạng xác định Vì vậy, đòi hỏi Đảng cộng sản với vai trò
Trang 13lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân, phải luôn nhạy cảm chính trị, bám sát thựctiễn cuộc sống, tôn trọng khách quan để đề ra chủ trương, đường lối, chính sách sátđúng, đưa cách mạng phát triển không ngừng, giành hết mục tiêu này đến mục tiêukhác để đi đến thắng lợi cuối cùng.
Hơn nữa, sự phát triển của lịch sử không phải là một đường thẳng mà quanh
co, phức tạp, thăng trầm Ngay cách mạng dân chủ tư sản chỉ thay thế hình thức bóclột này bằng hình thức bóc lột khác tinh vi, xảo quyệt hơn, song cũng không phải làmmột lần đã xong Do đó, cách mạng XHCN càng phải kiên trì, lâu dài qua nhiều giaiđoạn, nhiều bước trung gian, quá độ, nghĩa là phải tiến hành cách mạng không ngừngmới đạt được mục tiêu cuối cùng
CÂU 15: NHỮNG PHƯƠNG THỨC CÁCH MẠNG CƠ BẢN ĐỂ GIÀNH CHÍNH QUYỀN CỦA CÁCH MẠNG XHCN LÀ GÌ?
Trả lời:
Cách mạng là sáng tạo, cách mạng XHCN càng đòi hỏi sự sáng tạo khôngngừng để tìm ra phương thức giành thắng lợi hiệu quả nhất Song, phương thức cơbản để giành chính quyền của cách mạng XHCN có 2 phương thức cơ bản, là phươngthức bạo lực và phương thức hoà bình Tuỳ điều kiện lịch sử cụ thể và tương quan sosánh lực lượng, tình thế, thời cơ cụ thể mà Đảng cách mạng, xây dựng, sử dụng bạolực cách mạng để tiến hành phương thức nào cho phù hợp Trong đó phương thứccách mạng bạo lực để giành chính quyền trong cách mạng XHCN là phổ biến, bởi vìbản chất, âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù không bao giờ tự nguyện từ bỏ lợi ích và sửdụng bạo lực phản cách mạng để chống lại cuộc cách mạng của giai cấp công nhân;đồng thời, do tính chất ác liệt, khó khăn, lâu dài của cách mạng XHCN làm cho giaicấp công nhân phải luôn luôn chăm lo xây dựng và sẵn sàng sử dụng bạo lực cáchmạng khi cần thiết Thực tiễn lịch sử các cuộc cách mạng vô sản đã chứng minh điềuđó
CÂU 16: VÌ SAO PHẢI BIẾT KẾT HỢP CHẶT CHẼ NHÂN TỐ CHỦ QUAN VỚI ĐIỀU KIỆN KHÁCH QUAN TRONG CÁCH MẠNG XHCN?
Trả lời:
Đây là vấn đề có tính qui luật trong mọi hiện tượng, quá trình xã hội, cáchmạng XHCN cũng không nằm ngoài vấn đề có tính qui luật đó Hơn nữa, cách mạngXHCN lại là cuộc cách mạng xã hội toàn diện, sâu sắc, lâu dài và triệt để, rất quyếtliệt do sự chống đối của các lực lượng thù địch Do đó, các lực lượng cách mạng phảichủ động, tích cực thúc đẩy sự chuyển biến cách mạng, tạo ra các điều kiện, nhân tốthuận lợi, biết chớp thời cơ đưa cách mạng đến thắng lợi Kiên quyết phê phán nhữngbiểu hiện chủ quan, nóng vội, duy ý chí, song mặt khác phải chống mọi biểu hiện thụđộng, ngồi chờ, bảo thủ trì trệ Phải bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, năng lực trí tuệ,nhạy bén, bám sát thực tiễn, tôn trọng khách quan để chủ động phát huy nội lực, định
ra đường lối, chiến lược, sách lược và hành động cách mạng phù hợp với thực tếkhách quan Bởi vì, qui luật xã hội bao giờ cũng thông qua hoạt động nhận thức vàhoạt động thực tiễn của con người Trong những điều kiện khách quan nhất định, vaitrò của nhân tố chủ quan có ý nghĩa quyết định to lớn đến toàn bộ sự thành bại của
Trang 14cách mạng XHCN Do đó, trong cách mạng XHCN phải kết hợp chặt chẽ nhân tốchủ quan với điều kiện khách quan.
CÂU 17 HÌNH THÁI KINH TẾ- XÃ HỘI CSCN LÀ GÌ? CĂN CỨ ĐỂ PHÂN KỲ VÀ CÁC GIAI ĐOẠN CỦA HÌNH THÁI KINH TẾ- XÃ HỘI CSCN?
Trả lời:
Học thuyết Mác Lênin xác định hình thái kinh tế- xã hội là một khái niệm đểchỉ một xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặctrưng cho xã hội đó phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất và một kiểu kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệsản xuất ấy
Vận dụng quan điểm chủ nghĩa Mác- Lê nin về hình thái kinh tế- xã hội nóichung vào việc khái quát HTKTXH CSCN có thể quan niệm:
Hình thái kinh tế- xã hội CSCN là một xã hội có quan hệ sản xuất đặc trưngdựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất phù hợp với tính chất xã hội hoá cao độ
và trình độ phát triển tiên tiến, hiện đại của lực lượng sản xuất, và một kiến trúcthượng tầng trong các thời kỳ, giai đoạn phát triển của hình thái kinh tế- xã hội đótương ứng với cơ sở hiện thực của xã hội
Sự ra đời của hình thái kinh tế- xã hội cộng sản chủ nghĩa cũng là một quátrình lịch sử tự nhiên, tuân theo sự vận động của các qui luật khách quan thông quahoạt động thực tiễn của con người gắn với những điều kiện lịch sử cụ thể Lịch sửnhân loại đã trải qua 4 hình thái kinh tế - xã hội nối tiếp nhau: Cộng sản nguyên thuỷ,chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và đang quá độ từ CNTB lên CNXH-giai đoạn đầu của hình thái kinh tế- xã hội CSCN
Sự ra đời hình thái kinh tế- xã hội CSCN được đánh dấu bằng việc GCCNgiành được chính quyền nhà nước, bắt tay vào cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hộimới- xã hội XHCN Sự ra đời của hình thái kinh tế- xã hội CSCN là quá trình thốngnhất giữa tiến hoá xã hội và cách mạng xã hội Sự phát triển không ngừng của lựclượng sản xuất trong xã hội tư bản làm cho quan hệ sản xuất TBCN từ chỗ phù hợpvới lực lượng sản xuất trở thành vật cản cho sự phát triển của lực lượng sản xuất Lựclượng sản xuất xã hội hoá, phát triển cao mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuấtTBCN Biểu hiện về mặt xã hội đó là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giaicấp tư sản ngày càng sâu sắc Cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và giaicấp tư sản là tất yếu khách quan và trực tiếp dẫn đến cách mạng xã hội; thắng lợi củacách mạng XHCN mở đường cho sự ra đời của hình thái kinh tế- xã hội CSCN
Sự ra đời, phát triển của hình thái kinh tế- xã hội CSCN là một quá trình lịch
sử rất lâu dài, khó khăn trong một nước và trên phạm vi toàn thế giới Quá trình đóđòi hỏi vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua chính Đảng của nó, giaicấp công nhân cùng toàn thể nhân dân lao động bằng những hoạt động thực tiễn sángtạo, làm cho lực lượng sản xuất không ngừng phát triển, từng bước xây dựng quan hệsản xuất phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất và các thiết chế xã hội, các
Trang 15quan hệ xã hội tương ứng ngày càng thể hiện đúng đắn và đầy đủ bản chất của hìnhthái kinh tế- xã hội CSCN.
Sự phát triển của hình thái kinh tế- xã hội CSCN trải qua những giai đoạn từthấp đến cao, với những đặc điểm cụ thể của mỗi giai đoạn đó Xem xét cả về lôgíc
và lịch sử, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lê nin phân kỳ hình thái kinh tế- xãhội CSCN bao gồm:
1 Thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH
2 CNXH- giai đoạn thấp của hình thái kinh tế- xã hội CSCN
3 CNCS- giai đoạn cao của hình thái kinh tế- xã hội CSCN
Trong mỗi thời kỳ, giai đoạn đó lại có thể phân chia thành các thời kỳ, giaiđoạn nhỏ khác nhau thích ứng với sự phát triển của các nhân tố kinh tế, chính trị, vănhoá, xã hội của xã hội
Sự phân kỳ hình thái kinh tế- xã hội CSCN không phải tuỳ tiện theo ý muốnchủ quan mà dựa trên cơ sở khách quan, khoa học về sự phát triển và chín muồi củacác nhân tố kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của đời sống xã hội Đó là trước hết,phải dựa trên trình độ phát triển của kinh tế- xã hội thể hiện ở trình độ phát triển củalực lượng sản xuất, khoa học- công nghệ, năng suất lao động xã hội và tương ứng với
nó là trình độ phát triển của quan hệ sản xuất cả về quan hệ sở hữu, tổ chức quản lý
và phân phối
Đây là tiêu chí cơ bản, cơ sở quan trọng nhất
Thứ hai, đó là trình độ phát triển, hoàn thiện của kiến trúc thượng tầng, nhất lànhà nước, pháp luật, sự phát triển dân chủ và các thiết chế xã hội khác cùng vớinhững mối quan hệ xã hội khác, các hình thái ý thức xã hội khác
Xác định đúng đắn các giai đoạn phát triển của hình thái kinh tế- xã hội CSCN
có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển xã hội Nôn nóng, chủ quan, duy
ý chí, đốt cháy giai đoạn trong xác định các giai đoạn sẽ gây nên tổn thất to lớn đốivới sự phát triển xã hội thực chất lại kìm hãm, kéo lùi sự phát triển Đồng thời, bảothủ, trì trệ, thụ động trước những biến đổi lớn lao khi các nhân tố xã hội đã chín muồicũng làm chậm sự phát triển xã hội đó
CÂU 18 CÁC ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA XÃ HỘI XHCN VIỆT NAM
LÀ GÌ?
Trả lời:
Từ quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác- Lê nin và từ thực tiễn quátrình xây dựng CNXH ở các nước XHCN và ở nước ta, “Cương lĩnh xây dựng đấtnước trong thời kỳ quá độ lên CNXH” (1991) của Đảng cộng sản Việt Nam đã xácđịnh các đặc trưng cơ bản của xã hội XHCN ở Việt Nam Đó là xã hội:
1 Do nhân dân lao động làm chủ
2 Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại vàchế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu
3 Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Trang 164 Con người được giải phóng khỏi áp bức bóc lột, bất công, làm theo nănglực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện pháttriển toàn diện cá nhân.
5 Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiếnbộ
6 Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới
Sau Đại hội VII, Đại hội VIII, IX, X đã có sự phát triển tư duy về chủnghĩa xã hội với nhiều nội dung
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) đã có bước phát triển mới
về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Trong Văn kiện Đại hội có mục III: Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, với nhiều nhận thức mới Đại hội
xác định: Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sựbiến đổi về chất của xã hội xã hội chủ nghĩa trên tất cả các lĩnh vực là sự
nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ"1
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (2006) đã có thêm nhữngnhận thức mới về xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam với 8 đặc trưng các đặctrưng
Những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa và những phương hướng đilên chủ nghĩa xã hội vừa nêu là thể hiện thành quả của nhận thức mới củaĐảng ta Những nhận thức mới đó đã tạo tiền đề cho việc bổ sung, phát triển
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI nhằm tiếp tục bổ sung hoàn thiện nhữngđặc trưng của xã hội chủ nghĩa và phương hướng quá độ lên chủ nghĩa xã hội ởnước ta
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định 8 đặc trưng của xã hội xã hội chủnghĩa ở Việt Nam, 8 phương hướng cơ bản quá độ lên chủ nghĩa xã hội và 8mối quan hệ lớn cần quán triệt và giải quyết trong khi thực hiện
8 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong Cương lĩnh
(bổ sung, phát triển năm 2011)là:
Thứ nhất: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Thứ hai: Do nhân dân làm chủ
Thứ ba: Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp
Thứ tư: Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Thứ năm: Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện
Thứ sáu: Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển
Trang 17Thứ bảy: Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo
Thứ tám: Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới
Câu 19: Tại sao nói đi lên CNXH tất yếu phải trải qua thời kỳ quá độ ?
Trả lời:
Quá độ đi lên CNXH là một tất yếu lịch sử Đó là một thời kỳ cải biến cáchmạng từ xã hội nọ sang xã hội kia Thời kỳ đó bắt đầu từ khi giai cấp công nhângiành được chính quyền nhà nước, tiến hành xây dựng và bảo vệ đất nước theo địnhhướng XHCN và kết thúc khi xây dựng về cơ bản những cơ sở kinh tế, xã hội của xãhội XHCN với kiến trúc thượng tầng về chính trị và tư tưởng- văn hoá tương ứng
Chủ nghĩa Mác - Lê nin đã chỉ rõ: giữa xã hội TBCN và xã hội XHCN có mộtthời kỳ quá độ từ xã hội nọ sang xã hội kia Thời kỳ quá độ lên CNXH là xã hội vừathoát thai từ xã hội TBCN, do đó, là một xã hội mà về mọi phương diện kinh tế, đạođức, tinh thần còn mang dấu vết của xã hội cũ “Thời kỳ quá độ ấy không thể nàolại không phải là một thời kỳ đấu tranh giữa CNTB đã bị lật đổ và CNCS đang phátsinh, hay nói cách khác, giữa CNTB đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt hẳn vàCNCS đã phát sinh nhưng vẫn còn non yếu”1 Tính chất quá độ thể hiện trên mọilĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó cần đặc biệt chú ý sự quá độ chính trị mà nhànước CCVS phải được thiết lập, không ngừng được củng cố và hoàn thiện để tổ chức
và quản lý xã hội theo hướng XHCN
Thời kỳ quá độ, do đó, là thời kỳ cải biến cách mạng lâu dài để loại bỏ dầnnhững cái cũ, xây dựng và củng cố dần những cái mới; là thời kỳ tạo ra những tiền đềvật chất, tinh thần để hình thành một xã hội mới, cao hơn CNTB
Quá độ lên CNXH có hai kiểu là quá độ trực tiếp từ CNTB lên CNXH và quá
độ gián tiếp từ những xã hội tiền TBCN lên CNXH Dù là trực tiếp hay gián tiếp đềuphải trải qua một quá trình gay go, phức tạp và lâu dài
Ở mỗi nước do những điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội khác nhau mà độ dài,ngắn của thời kỳ quá độ có khác nhau
Cần phải có một thời kỳ quá độ lâu dài để đổi mới nền sản xuất, thay đổi cănbản mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và phải trải qua một cuộc đấu tranh quyết liệtmới có thể thắng lợi được sức mạnh của thói quen quản lý xã hội theo kiểu tiểu tưsản và tư sản
Câu 20: Những đặc điểm chính trị- xã hội của thời kỳ quá độ lên CNXH là gì?
Trả lời:
- Hệ thống chính trị XHCN mà bản chất là chuyên chính vô sản đã được thiếtlập và ngày càng được củng cố, xây dựng và ngày càng hoàn thiện để bảo đảm quyềnlực thuộc về nhân dân lao động
Đây là đặc điểm chính trị- xã hội có ý nghĩa quyết định nhất đến quá trình cảibiến cách mạng từ xã hội cũ sang xã hội mới- xã hội XHCN Đó là quá trình thốngnhất biện chứng giữa cải tạo và xây dựng, là quá trình đấu tranh giai cấp gay go,
1 V.I.Lênin, to n t àn t ập, tập 39, Nxb TB M 1979, tr 309-310.
Trang 18quyết liệt và phức tạp trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong những điều kiện,nội dung và hình thức mới Thiết lập và củng cố hệ thống chính trị nhằm từng bướchoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực xã hội thuộc về nhân dân laođộng Trong quá trình đó phải nắm vững vấn đề có tính nguyên tắc là thường xuyêncủng cố và tăng cường vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng cộng sản và vai trò quán
lý của Nhà nước XHCN đối với toàn xã hội
Sự biến đổi của chế độ dân chủ trong thời kỳ quá độ lên CNXH là “Dân chủcho tuyệt đại đa số nhân dân và trấn áp bằng vũ lực bọn bóc lột, bọn áp bức nhândân, nghĩa là tước bỏ dân chủ đối với bọn chúng”1 Sự biến đổi ấy của chế độ dânchủ phải không ngừng củng cố hoàn thiện hệ thống chính trị, sự lãnh đạo của Đảngcộng sản và vai trò quản lý của Nhà nước XHCN
- Thời kỳ quá độ lên CNXH còn tồn tại cơ cấu xã hội- giai cấp đa dạng vàphức tạp, với các giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau, những giai cấp, những bộphận mà lợi ích có điểm tương đồng, đồng thời cũng có sự khác biệt Mặt khác, cácthế lực đế quốc phản động bên ngoài luôn tìm cách móc nối với các thế lực phảncách mạng bên trong chống phá công cuộc cải tạo và xây dựng CNXH
Cùng với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, các giai cấp và tầnglớp xã hội trong thời kỳ quá độ cũng có sự vận động, biến đổi theo hướng xích lạigần nhau, hình thành cơ cấu xã hội- giai cấp XHCN
- Đời sống văn hoá, tư tưởng của xã hội trong thời kỳ quá độ lên CNXH cũngmanh những đặc điểm khá phức tạp, Đó là sự cùng tồn tại, tác động và thâm nhập lẫnnhau của hệ tư tưởng vô sản, tàn dư tư tưởng phong kiến, ảnh hưởng tư tưởng tư sản
và tâm lý, tập quán của người sản xuất nhỏ Xã hội còn tình trạng khác biệt khá rõgiữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, giữa lao động trí óc và laođộng chân tay
Quá trình cải biến cách mạng trên lĩnh vực tư tưởng- văn hoá của xã hội trongthời kỳ quá độ làm cho hệ tư tưởng vô sản thực sự chi phối đời sống tinh thần xã hội.Cải biến dần dần tàn dư tư tưởng phong kiến và ảnh hưởng tư tưởng tư sản, khắcphục tâm lý tập quán của người sản xuất nhỏ, ngăn chặn, loại trừ ảnh hưởng của vănhoá xấu độc, bài trừ hủ tục mê tín dị đoan, xây dựng con người mới và lối sốngXHCN
Thời kỳ quá độ lên CNXH là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diệntrên tất cả các mặt của đời sống xã hội nhằm cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới
Đó là quá trình đấu tranh để giải quyết vấn đề “ai thắng ai” giữa CNTB và CNXH.Mọi biểu hiện chủ quan duy ý chí, nóng vội hoặc trì trệ, bảo thủ, thụ động đều gây ranhững hậu quả tiêu cực, cản trở quá trình đi lên CNXH
Câu 21: Tại sao nói thời kỳ quá độ là thời kỳ đấu tranh giai cấp trong điều kiện mới với những nội dung mới và hình thức mới?
Trả lời:
Cuộc đấu tranh giai cấp do giai cấp công nhân tiến hành là cuốc đấu tranh giaicấp cuối cùng trong lịch sử loài người Nó là phương tiện tất yếu để giải phóng hoàn
1 V.I.Lênin, to n t àn t ập, tập 33, Nxb TB M 1978, tr 109.
Trang 19toàn xã hội khỏi ách áp bức, bóc lột, khỏi sự phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp.
Vì vậy, đây là quá trình đấu tranh rất lâu dài và vô cùng phức tạp
Sau khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền, đấtnước bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH, đấu tranh giai cấp chưa kết thúc Bởi lẽ,xét về cơ cấu xã hội- giai cấp, các giai cấp, tầng lớp xã hội vẫn tồn tại đa dạng, biếnđổi phức tạp Giai cấp tư sản đã bị đánh đổ, bị mất quyền lực thống trị xã hội, songvẫn tìm mọi cách để phục hồi trật tự xã hội cũ; cuộc đấu tranh ai thắng ai giữaCNXH và CNTB vẫn diễn ra gay gắt; các quan hệ sản xuất cũ vẫn chưa bị xoá bỏngay mà vẫn còn tác động tới các lĩnh vực kinh tế- xã hội; các giai cấp, tầng lớptrung gian vẫn còn phân hoá và biến đổi theo những khuynh hướng khác nhau, đòihỏi sự lôi cuốn, giác ngộ kiên trì của giai cấp công nhân Đặc biệt, cơ sở vật chất kỹthuật của CNXH cần phải được xây dựng và phát triển, tạo tiền đề vững chắc choCNXH; nhiều tàn dư của xã hội cũ vẫn còn ảnh hưởng nặng nề trong đời sống xã hộicần được cải tạo Như vậy, tiếp tục đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ vẫn là tấtyếu khách quan Tuy nhiên, cuộc đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ diễn ratrong điều kiện mới Điều kiện mới đó là giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã
có chính quyền, trở thành người làm chủ xã hội Trong thời kỳ quá độ lên CNXHmục tiêu đấu tranh trực tiếp của giai cấp công nhân đã thay đổi: Từ mục tiêu giànhchính quyền sang mục tiêu cơ bản và chủ yếu là củng cố chính quyền của nhân dânlao động xây dựng thành công CNXH, trọng tâm là xây dựng kinh tế
Về nội dung, cuộc đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXHdiễn ra trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế , xã hội, văn hoá, tư tưởng CNXHchỉ giành được thắng lợi triệt để khi giai cấp công nhân lãnh đạo đông đảo quầnchúng nhân dân xây dựng thành công phương thức sản xuất mới, bảo đảm CNXH tạo
ra được năng suất lao động cao hơn CNTB Mục tiêu này chưa thực hiện được thìchưa thể chiến thắng hoàn toàn CNTB Các thế lực tư bản quốc tế luôn ra sức ngăncản giai cấp công nhân đã nắm được chính quyền xây dựng thành công CNXH bằngnhiều phương tiện và thủ đoạn từ bao vây, cấm vận, can thiệp quân sự đến “Diễnbiến hoà bình” Để xây dựng CNXH, giai cấp công nhân và nhân dân lao động phảilàm thất bại các thủ đoạn nói trên
Trong điều kiện đã nắm được chính quyền giai cấp công nhân phải sử dụngtổng hợp linh hoạt các hình thức đấu tranh mới, trong đó có đấu tranh bằng bạo lực
và bằng hoà bình, bằng giáo dục thuyết phục và bằng hành chính, pháp chế, bằngchính trị, quân sự và bằng kinh tế, bằng cải tạo các quan hệ cũ đã lỗi thời và xâydựng các quan hệ mới; bằng liên minh giữa giai cấp công nhân với các giai cấp, tầnglớp lao động khác; bằng “sử dụng” giai cấp tư sản để xây dựng CNXH
Cuộc đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH lâu dài gay
go phức tạp như thế nào là tuỳ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể của từng nước
Ở Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu trước đây, các lực lượng chốngCNXH đã lợi dụng được tình hình khủng hoảng của CNXH, nhất là lợi dụng nhữngsai lầm nghiêm trọng của các Đảng cộng sản cầm quyền để đảo ngược tình thế, lậplại trật tự tư sản, xoá bỏ chế độ XHCN Thực tế đó là sự bác bỏ những quan niềm mơ
Trang 20hồ hoặc phủ nhận đấu tranh giai cấp sau khi giai cấp công nhân đã giành được chínhquyền.
Trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở nước ta, đấu tranh giai cấp là thực tếkhách quan không thể tránh khỏi Văn kiện Đại hội IX Đảng cộng sản Việt Nam chỉrõ: “Nội dung chủ yếu của cuộc đấu tranh trong giai đoạn hiện nay là thực hiện thắnglợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng XHCN, khắc phục tìnhtrạng nước nghèo và kém phát triển; đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tưtưởng và hành động tiêu cực, sai trái; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hànhđộng chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước tathành một nước XHCN phồn vinh, nhân dân hạnh phúc”1 Vì vậy, phải luôn nhậnthức cho đúng điều kiện, nội dung và hình thức mới của cuộc đấu tranh này để xử lýđúng đắn các quan hệ xã hội- giai cấp, để thực hiện thắng lợi mục tiêu cách mạng làdân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Câu 22: Thế nào là quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN ?
Trả lời:
Quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN là con đường đi lên CNXH bỏ quaviệc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN,nhưng phải tiếp thu kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tưbản, đặc biệt là về khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xâydựng nền kinh tế hiện đại Qua đó, từng bước xây dựng và hoàn thiện quan hệ sảnxuất mới phù hợp với sự phát triển theo định hướng XHCN
Đi lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trênmọi lĩnh vực là một sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp và phải trải qua một thời kỳ quá
độ lâu dài, với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tínhchất quá độ mới đi đến thành công
Câu 23: Việt Nam đi lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN có trái với tiến trình lịch sử tự nhiên không ? Vì sao?
Lịch sử phát triển của xã hội loài người nói chung phải trải qua các hình tháikinh tế- xã hội một cách tuần tự từ thấp đến cao theo đúng tiến trình lịch sử tự nhiên.Song, lịch sử nhân loại cũng không loại trừ sự phát triển đặc thù của những quốc gia,dân tộc trong những hoàn cảnh, điều kiện lịch sử nhất định, có thể “bỏ qua” hình tháikinh tế- xã hội này, chuyển lên hình thái kinh tế- xã hội cao hơn
1 ĐCSVN, Văn kiện ĐHĐB to n qu àn t ốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H.2001, tr.86.
Trang 21Việc bỏ qua một số hình thái kinh tế- xã hội trong lịch sử của nhiều dân tộc làmột khả năng thực tế, được tạo nên do chính các quy luật chung nhất của vận độnglịch sử mà lý luận hình thái kinh tế- xã hội của chủ nghĩa Mác- Lê nin đã vạch ra.
Đây là biện chứng giữa cái chung và cái riêng, cái phổ biến và cái đặc thù, cáikhách quan và cái chủ quan của tiến trình lịch sử tự nhiên có tuần tự và có nhảy vọttrong những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể
2 Điều kiện để một nước chậm phát triển về kinh tế “bỏ qua” chế độ TBCNtiến lên CNXH trong thời đại ngày nay
Điều kiện kinh tế:
Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đãquốc tế hoá lực lượng sản xuất Vì thế, ở đây đã chứa đựng “dưới một hình thức ítnhiều phát triển”- theo cách phân tích của Ph.Ăngghen- những phương tiện để xoá bỏCNTB Và do đó, có thể thông qua con đường giao lưu và hợp tác “đa phương hoá”,
“đa dạng hoá”, để các nước chậm phát triển có thể đi vào con đường phát triển “rútngắn” ngay cả khi CNTB chưa bị đánh bại tại “dinh luỹ” của nó
- Do sự phát triển cao của lực lượng sản xuất, tính chất quốc tế hoá của lựclượng sản xuất đã tạo nên một xu thế mới trong quan hệ giữa các quốc gia dân tộc,tạo điều kiện cho các dân tộc có thể phát triển theo con đường phi tư bản chủ nghĩa
- Sự phát triển của lực lượng sản xuất trong các nước tư bản chủ nghĩa do cáchmạng khoa học và công nghệ lại cũng mở ra nhiều yếu tố tăng trưởng kinh tế- làthành tựu chung của nhân loại mà các nước đi lên CNXH có thể sử dụng như nhữngbước “trung gian”, “quá độ” về kinh tế để phát triển
có chính sách đối ngoại đúng đắn để tranh thủ môi trường hoà bình, điều kiện quốc tếthuận lợi, thu hút vốn, khoa học- kỹ thuật và công nghệ của khu vực và thế giới;
Trang 22Đảng và Nhà nước phải tạo ra và sử dụng sức mạnh tổng hợp trong nước và thế giới
để nước ta “bỏ qua” chế độ TBCN tiến lên CNXH
Với các lý do trên đây cho thấy Việt Nam đi lên CNXH bỏ qua chế độ TBCNkhông trái với tiến trình lịch sử tự nhiên và có khả năng hiện thực
Câu 24 Tính tất yếu khách quan của định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay?
Trả lời:
Định hướng XHCN là tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên CNXH ởnước ta Điều đó xuất phát từ đặc điểm đa dạng, phức tạp về kinh tế, chính trị, vănhoá, xã hội của thời kỳ này, đặc biệt là tính chất gay go quyết liệt của cuộc đấu tranhgiai cấp, đấu tranh dân tộc, đấu tranh giữa con đường tiến lên CNXH và con đườngTBCN; Đồng thời, trước những tác động tiêu cực do sự thoái trào của CNXH hiệnthực, sự suy giảm niềm tin về CNXH của một bộ phận nhân dân Tính tất yếu kháchquan của định hướng XHCN còn xuất phát từ chính thực tiễn phức tạp khó khăn củaquá trình xây dựng CNXH, quá trình hoạt động thực tiễn để hiện thực hoá các giá trịcủa CNXH, các nhân tố XHCN trong các lĩnh vực của đời sống xã hội
Câu 25 Thế nào là định hướng XHCN? Nội dung định hướng trên các lĩnh vực xã hội ở nước ta hiện nay.
dân, trong đó vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của nhà nước XHCN vàtính tích cực, sáng tạo của nhân dân có ý nghĩa quyết định Trên cơ sở nắm vững cácnguyên lý chủ nghĩa Mác- Lê nin đứng vững trên lập trường cách mạng của giai cấpcông nhân, lợi ích của nhân dân lao động, đồng thời xuất phát từ điều kiện hoàn cảnh
cụ thể của đất nước, Đảng cộng sản cùng với toàn bộ hệ thống chính trị và nhân dânkiên định mục tiêu XHCN, tìm tòi các phương thức, các điều kiện xây dựng CNXH,đưa các giá trị, các nhân tố XHCN trở thành hiện thực sinh động trong các lĩnh vực
cơ bản của đời sống xã hội Định hướng XHCN là nhận thức và hoạt động của chủthể phù hợp với xu thế khách quan của sự phát triển xã hội Đây là quá trình kết hợpgiữa xây và chống, vừa xác lập, hiện thực hoá các giá trị của CNXH, vừa đấu tranhvới những khuynh hướng phủ nhận, chống lại con đường tiến lên CNXH và điềuchỉnh, uốn nắn những biểu hiện chệch hướng XHCN trong nhận thức và hành vi củaquá trình tiến lên CNXH
Định hướng XHCN ở nước ta hiện nay bao gồm những nội dung cơ bản sauđây
- Định hướng XHCN trên lĩnh vực chính trị: Đó là giữ vững và tăng cường chủnghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối và vai trò lãnh đạo
Trang 23của ĐCSVN đối với xã hội; là việc xây dựng, hoàn thiện và nâng cao chất lượng,hiệu quả hoạt động của HTCT XHCN; ở việc đấu tranh ngăn chặn, loại trừ nhữngảnh hưởng của tư tưởng tư sản, các quan điểm cơ hội, xét lại, tàn dư tư tưởng phongkiến; ở việc tạo ra một phong trào chính trị sâu rộng của toàn dân hướng tới xây dựngchế độ XHCN: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
- Định hướng XHCN trên lĩnh vực kinh tế là xây dựng nền kinh tế XHCN pháttriển toàn diện dựa trên nền tảng CNH, HĐH; phát triển KH-CN hiện đại, xây dựng
cơ cấu kinh tế cân đối, hợp lý, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng vàphát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, từng bước xây dựng và hoàn thiệnQHSX dựa trên chế độ công hữu về TLSX chủ yếu, trong đó kinh tế nhà nước và tậpthể giữ vai trò chủ đạo; phát huy vai trò quản lý sản xuất- kinh doanh của người laođộng, thực hiện phân phối lao động là chủ yếu; mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại,giữ vững tính độc lập- tự chủ của nền kinh tế trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập
- Định hướng XHCN trên lĩnh vực xã hội bao gồm: xây dựng một cơ cấu xãhội phù hợp với cơ cấu kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế, trong đó cơ cấu xã hội-giai cấp giữ vị trí trung tâm mà nòng cốt là liên minh giai cấp giữa giai cấp côngnhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức; giải quyết hài hoà các lợi ích kinh tế;khắc phục phân hoá giàu nghèo quá mức, tạo ra sự xích lại gần nhau giữa các giai
cấp, tầng lớp cơ bản của xã hội; kiểm soát được phạm vi ảnh hưởng của thành phần
tư sản trong kinh tế và đời sống xã hội Nâng cao thu nhập, phát triển giáo dục và
chất lượng cuộc sống về ăn, mặc, ở, đi lại, việc làm, chăm sóc sức khoẻ nhân dân;bảo vệ môi trường sinh thái, thực hiện công bằng xã hội, xây dựng các quan hệ xãhội lành mạnh, văn minh; giữ vững ổn định trật tự an toàn xã hội, đẩy lùi các tiêu cực
và tệ nạn xã hội; nâng cao hiệu quả quản lý xã hội, hoàn thiện các thiết chế, cơ chếquản lý xã hội
Định hướng trên lĩnh vực văn hoá là xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đàbản sắc văn hoá dân tộc, tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hoá nhân loại; phát triển
hệ thống các giá trị văn hoá tốt đẹp; đảm bảo các nhu cầu sáng tạo, hưởng thụ vănhoá của quần chúng nhân dân; tăng cường vai trò quản lý của nhà nước đối với lĩnhvực văn hoá, chủ động ngăn chặn ảnh hưởng tiêu cực của văn hoá tư sản, tàn dư vănhoá phong kiến
Câu 26 Thế nào là hệ thống chính trị và hệ thống chính trị XHCN ?
Trả lời:
Hệ thống chính trị của một chế độ xã hội, một quốc gia là hệ thống các tổ chức(thiết chế) chính trị- xã hội và các mối quan hệ giữa chúng với nhau, vận hành theomột cơ chế nhất định bảo đảm cho việc thực hiện quyền lực chính trị của giai cấpcầm quyền trong quan hệ với các giai cấp, tầng lớp và các nhóm xã hội khác
Xét về cấu trúc, hệ thống chính trị gồm 2 bộ phận cơ bản: thứ nhất, đó là các tổchức chính trị xã hội bao gồm các đảng chính trị; nhà nước, các đoàn thể chính trị xãhội khác; các tổ chức chính trị- xã hội được liên kết trong một chỉnh thể và được hoạtđộng hợp pháp; Thứ hai là cơ chế chính trị bảo đảm cho sự vận hành của hệ thống
Trang 24chính trị, phản ánh và giải quyết mối quan hệ giữa toàn bộ hệ thống chính trị với xãhội, giữa các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị với nhau và mỗi thành tố với xãhội Việc hình thành và hoạt động của các thành tố của hệ thống chính trị được quyđịnh và chi phối bởi hệ tư tưởng của giai cấp cầm quyền, của các chuẩn mực vàtruyền thống chính trị cũng như hiện thực đời sống chính trị gắn với điều kiện lịch sử
cụ thể
Hệ thống chính trị XHCN là một chỉnh thể, bao gồm toàn bộ những tổ chứcchính trị- xã hội là Đảng Mác- Lê nin, Nhà nước XHCN, các tổ chức chính trị- xã hộikhác hoạt động hợp pháp, cùng với những cơ chế chính trị bảo đảm thực hiện quyềnlực thuộc về nhân dân Xét về bản chất, hệ thống chính trị XHCN là hệ thống chínhtrị nhất nguyên do Đảng cộng sản lãnh đạo Tuỳ điều kiện lịch sử cụ thể, hệ thốngchính trị XHCN có thể thực hiện chế độ một đảng cộng sản duy nhất hoặc Đảng cộngsản và một số đảng chính trị khác Song, dù là chế độ một Đảng hay nhiều đảng,Đảng cộng sản vẫn giữ vai trò lãnh đạo xã hội, còn các tổ chức chính trị- xã hội khácđều phục tùng sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, phát huy quyền làm chủ của nhân dân,động viên nhân dân tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN Hệ thốngchính trị XHCN nhất nguyên bảo đảm tăng cường vai trò lãnh đạo của giai cấp côngnhân, của Đảng cộng sản đối với xã hội, giữ vững ổn định chính trị, thực hiện tốt dânchủ XHCN, quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, bảo đảm cho sự phát triển của đấtnước theo con đường XHCN Giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của ĐảngMác- Lênin đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội là nguyên tắc tối cao và điềukiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của chế độ dân chủ XHCN, bảo đảm chodân chủ thực sự, quyền lực thuộc về nhân dân
Câu 27 Những đặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị XHCN ở Việt Nam hiện nay?
Trả lời:
Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay là hệ thống chính trị XHCN bao gồmĐCSVN, Nhà nước CHXHCN Việt Nam, các tổ chức chính trị- xã hội khác dưới sựlãnh đạo của Đảng và các cơ chế chính trị thích ứng, bảo đảm quyền lực thuộc vềnhân dân
Là hệ thống chính trị XHCN, hệ thống chính trị nước ta hiện nay thể hiện bảnchất của hệ thống chính trị XHCN; đồng thời, mặt khác do hoàn cảnh lịch sử- cụ thể
ở nước ta có một số đặc trưng nổi bật sau
Thứ nhất, tính nhất nguyên chính trị XHCN Đặc trưng này thể hiện vai trò
lãnh đạo độc tôn của ĐCSVN đối với hệ thống chính trị XHCN và toàn xã hội, trongsuốt quá trình hình thành, phát triển của hệ thống chính trị nước ta qua các giai đoạn,thời kỳ cách mạng ĐCSVN là đội tiền phong của giai cấp công nhân, đại biểu trungthành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc
Trong hệ thống chính trị XHCN ở nước ta hiện nay không tồn tại các tổ chứcchính trị- xã hội đối lập Các tổ chức chính trị- xã hội, các đoàn thể nhân dân, cácgiai cấp, dân tộc, tôn giáo tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trên nềntảng liên minh công- nông- trí thức do ĐCSVN lãnh đạo, các quyền tự do, dân chủ
Trang 25của công dân và quyền con người được tôn trọng, bảo vệ và ngày càng được thựchiện và phát huy trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Quá trình xây dựng, đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị XHCN về tổ chức,nội dung và phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệthống chính trị nước ta đều trung thành với các quan điểm chính trị Mác- Lênin, lợiích lập trường giai cấp công nhân và lợi ích nhân dân lao động, đấu tranh chốngnhững quan điểm chính trị mơ hồ, sai trái, phản động, những hành vi đi ngược, hoặclàm tổn hại đến lợi ích cách mạng và dân tộc
Nhà nước CHXHCN Việt Nam- trụ cột của hệ thống chính trị nước ta là Nhànước XHCN, mang bản chất giai cấp công nhân, là nhà nước của dân, do dân và vìdân, thể hiện ý chí quyền lợi của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động;
là bộ máy quản lý xã hội, có đầy đủ sức mạnh quyền lực sẵn sàng đập tan mọi âmmưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ công cuộc xây dựng đấtnước, độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia, lợi íchdân tộc
Các đoàn thể chính trị- xã hội tập trung đông đảo đoàn viên, hội viên trong cáctầng lớp nhân dân, các cộng đồng dưới sự lãnh đạo của Đảng, giáo dục, động viênnhân dân tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, chấp hành đường lối của Đảng, chínhsách pháp luật nhà nước, phát huy quyền dân chủ của nhân dân, bảo đảm lợi íchchính đáng của nhân dân, tăng cường củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc Cáchoạt động của các đoàn thể chính trị- xã hội đều trong khuôn khổ hiến pháp và phápluật của Nhà nước XHCN và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Vì vậy, các đoàn thểchính trị- xã hội góp phần thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng- Nhà nước và nhân dân,bảo đảm đúng định hướng chính trị xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân chủ XHCN, gópphần xây dựng Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị- xã hội trong sạch, vữngmạnh
Thứ hai, hệ thống chính trị nước ta mang tính định hướng XHCN trong suốt
quá trình phát triển Hệ thống chính trị XHCN ở nước ta hiện nay ra đời từ thắng lợicủa cuộc cách mạng tháng Tám- 1945 Trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủnhân dân trước đây hay trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt NamXHCN ngày nay, do mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng cụ thể của từng thời kỳđặt ra, thì tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị cónhững biến đổi thích ứng Tuy nhiên, trong quá trình đó, bản chất hệ thống chính trịnước ta không hề thay đổi Mục tiêu của hệ thống chính trị qua các giai đoạn, thời kỳdưới sự lãnh đạo của Đảng ta đều phấn đấu vì độc lập dân tộc gắn liền với CNXH
Thứ ba, hệ thống chính trị XHCN Việt Nam là hệ thống chính trị mang tính
dân chủ, quyền lực thực sự thuộc về nhân dân
Sự tồn tại và phát triển của hệ thống chính trị nước ta và của mỗi thành tố của
nó, không có mục đích tự thân, mà toàn bộ tổ chức, nội dung, phương thức hoạt độngcủa hệ thống chính trị nước ta là nhằm xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN,đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân Tính dân chủ rộng rãi của hệ thống chính trịnước ta thể hiện vai trò chủ thể của nhân dân trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống
Trang 26chính trị, kiểm tra, giám sát các hoạt động của mỗi tổ chức; ở nội dung, phương thứchoạt động của hệ thống chính trị; ở mối quan hệ giữa các thành tố và của mỗi thành
tố với nhân dân và ở việc thường xuyên đổi mới hệ thống chính trị, nâng cao chấtlượng hiệu quả hệ thống chính trị, đảm bảo lợi ích của nhân dân Ngăn chặn, loại trừchủ nghĩa quan liêu, sự suy thoái của hệ thống chính trị và cán bộ công chức hệthống chính trị
Thứ tư, tính dân tộc sâu sắc thể hiện hệ thống chính trị XHCN là thành quả tất
yếu của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc của dân tộc Việt Nam; hệ thốngchính trị XHCN Việt Nam ra đời từ ngọn lửa cách mạng của phong trào giải phóngdân tộc chống đế quốc và phong kiến; toàn bộ hoạt động, mục tiêu lý tưởng của hệthống chính trị nước ta là vì độc lập dân tộc và CNXH, phản ánh xu thế tất yếu của
sự phát triển dân tộc phù hợp xu thế thời đại, đáp ứng lợi ích chân chính và nguyệnvọng độc lập tự do của cộng đồng dân tộc Việt Nam
Tính dân tộc sâu sắc của hệ thống chính trị XHCN nước ta còn thể hiện ở sự
kế thừa và phát huy những truyền thống, những tư tưởng chính trị, những kinhnghiệm quý báu về tổ chức, hoạt động thực tiễn chính trị trong lịch sử dựng nước vàgiữ nước hàng ngàn năm của dân tộc
Câu 28 Cơ sở khoa học để Đảng cộng sản Việt Nam “kiên quyết bác bỏ đa nguyên chính trị” ?
Trả lời:
Đa nguyên chính trị là gì? Đó là hệ thống chính trị- xã hội với cơ cấu các tổ chứcchính trị- xã hội bao gồm cả các đảng phái chính trị đối lập được hoạt động hợp pháptạo thành thiết chế và cơ chế chính trị của xã hội Nói cách khác, đa nguyên chính trịnghĩa là đa đảng đối lập (các đảng đối lập được hoạt động hợp pháp)
Xét về cấu trúc hệ thống chính trị đa nguyên (đa nguyên chính trị) bao gồm:
- Đảng chính trị của giai cấp cầm quyền
- Nhà nước do giai cấp thống trị tạo ra
- Các tổ chức, đoàn thể chính trị- xã hội do giai cấp thống trị tạo nên
- Các lực lượng chính trị trung gian
- Các Đảng đối lập và các tổ chức chính trị- xã hội khác đi liền với các Đảng
Trang 27Đối với nước ta hiện nay, không có cơ sở khách quan và sự cần thiết phải thiếtlập nên hệ thống chính trị đa nguyên Vai trò lãnh đạo độc tôn của ĐCSVN đối với
xã hội đó là sứ mệnh lịch sử mà dân tộc ta đã trao cho Đảng, là sự tin tưởng của toàndân đối với Đảng, là uy tín chính trị của Đảng trước dân tộc, đồng thời là kết quả hysinh phấn đấu không mệt mỏi của biết bao thế hệ đảng viên và quần chúng cáchmạng vì lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH Vai trò lãnh đạo của Đảng không chỉ làhiện thân những thành quả đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc ở nước ta từ khi cóĐCSVN, mà còn là ý chí, nguyện vọng, mong muốn của đại đa số nhân dân lao độngnước ta Thực tế lịch sử dân tộc ta từ khi ĐCSVN bước lên vũ đài chính trị đã chứng
tỏ, ĐCSVN là chính đảng duy nhất đã tổ chức, lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộcđấu tranh cách mạng, giành độc lập tự do cho dân tộc, đưa dân tộc ta bước vào kỷnguyên độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, phù hợp với xu thế thời đại và có đủ trítuệ, năng lực lãnh đạo toàn dân tộc xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, dân chủ, văn minh”
Thực tế cách mạng nước ta từ khi có Đảng đến nay cũng chứng tỏ, đại đa sốnhân dân ta, không phân biệt các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo,các nhân sĩ đã tập hợp trong Mặt trận dân tộc thống nhất của khối đại đoàn kết toàndân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy các truyền thống quý báu của dân tộcđứng lên chống đế quốc phong kiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhữngthành quả cách mạng Trái lại, các thế lực chính trị phản động, đại biểu cho lợi íchcủa giai cấp bóc lột, đã ôm chân đế quốc, thực dân, cam tâm làm tay sai cho chúngchống lại dân tộc, đã bị nhân dân ta phỉ nhổ và đánh đổ, loại bỏ khỏi đời sống xã hội
Vì vậy, không vì lẽ gì mà Đảng ta, nhân dân ta lại chấp nhận cái gọi là đa nguyênchính trị, phục hồi và cho phép chúng trở lại chống phá cách mạng, nhân dân và dântộc, đưa vận mệnh và tương lai dân tộc vào tay các thế lực xấu xa đó Cả lý trí và tìnhcảm, cả lương tâm và trách nhiệm, không cho phép một thế lực nào xâm phạm đếnlợi ích chính đáng của nhân dân, chà đạp lên sự hy sinh chồng chất của các thế hệngười Việt Nam yêu nước thương nòi vì sự trường tồn và phát triển của dân tộc.Chấp nhận đa nguyên chính trị, là ảo tưởng về chính trị, là sa vào mưu kế hiểm độccủa kẻ thù, là sự từ bỏ sự nghiệp, lý tưởng và lợi ích của giai cấp và dân tộc
Đảng ta và nhân dân ta không chấp nhận đa nguyên chính trị còn xuất phát từbản chất của chế độ xã hội XHCN, từ sự sống còn của chế độ XHCN Giữ vững vaitrò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội là nhân tố quyết định đảm bảo cho đất nước đilên CNXH; cho việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, của Đảngcộng sản; bảo đảm cho bản chất chế độ dân chủ XHCN, cho quyền làm chủ thật sựcủa nhân dân, quyền lực thuộc về nhân dân, giữ vững bản chất giai cấp công nhân,tính nhân dân, tính dân tộc của Nhà nước XHCN, xứng đáng là Nhà nước của dân,
do dân và vì dân; bảo đảm cho thắng lợi hoàn toàn và triệt để của cuộc cách mạngXHCN Đó còn là bài học xương máu rút ra từ sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô vàĐông Âu Chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đó là sự mở đầu của mất
ổn định chính trị, làm suy yếu và xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, dẫn đến sự sụp
đổ của chế độ XHCN, đưa đất nước trở lại quĩ đạo TBCN
Trang 28Câu 29 Tại sao nói thực chất của đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị XHCN ở nước ta là xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN?
Trả lời:
Trước hết, xuất phát từ mối quan hệ giữa hệ thống chính trị và nền dân chủXHCN Nền dân chủ XHCN là toàn bộ thể chế, thiết chế, cơ chế chính trị của chế độXHCN, thể hiện và bảo đảm các quyền tự do, bình đẳng, dân chủ của nhân dân trongđời sống xã hội và quan hệ xã hội, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân Như vậy,
hệ thống chính trị XHCN là một bộ phận cơ bản trọng yếu của nền dân chủ XHCNvới tính cách là thiết chế, cơ chế chính trị của nền dân chủ đó Đổi mới và hoàn thiện
hệ thống chính trị là một nội dung quan trọng của quá trình xây dựng nền dân chủXHCN
Thứ hai, hệ thống chính trị XHCN có vai trò quyết định đối với việc thực hiện
và phát huy dân chủ XHCN Hệ thống chính trị giữ vai trò định hướng sự phát triểndân chủ, là bộ máy bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân được tôn trọng và tổ chứcthực hiện các hoạt động dân chủ của xã hội; gắn liền dân chủ với pháp luật, kỷcương, kỷ luật, ngăn chặn những hành vi xâm phạm dân chủ, lợi dụng dân chủ đểgây mất ổn định xã hội Hệ thống chính trị còn là phương tiện thông qua đó nhân dânthực hiện các quyền dân chủ của mình Bởi vậy, hệ thống chính trị trong sạch, vữngmạnh, hoạt động có chất lượng và hiệu quả trực tiếp làm cho nền dân chủ XHCNđược phát huy
Thứ ba, nền dân chủ XHCN ở nước ta được hình thành là kết quả của cuộccách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng XHCN Đất nước ta quá độ lênCNXH không qua giai đoạn phát triển TBCN, chưa qua nền dân chủ tư sản, vì vậy,xây dựng nền dân chủ XHCN ở nước ta là quá trình lâu dài nhằm từng bước xâydựng và hoàn thiện các thể chế, thiết chế, cơ chế dân chủ, hệ thống pháp luật, thựchiện các nội dung dân chủ, các hình thức dân chủ trong đời sống xã hội; nâng caotrình độ văn hoá dân chủ, văn hoá pháp luật, dân trí, hình thành thói quen sống vàlàm việc theo hiến pháp và pháp luật trong nhân dân, hạn chế và loại trừ những ảnhhưởng dân chủ tư sản, tàn dư tư tưởng phong kiến, tâm lý, thói quen của người sảnxuất nhỏ
Thứ tư, thực tế quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN ở các nước XHCN vànước ta cho thấy, đời sống dân chủ xã hội, quyền làm chủ của nhân dân tuỳ thuộc rấtlớn và trực tiếp vào hệ thống chính trị Nếu hệ thống chính trị mắc bệnh quan liêu,tham nhũng, trì trệ, nếu bộ máy hệ thống chính trị cồng kềnh, chồng chéo, pháp luậtkhông hoàn thiện và nghiêm minh, cán bộ, công chức hệ thống chính trị xa dân, suythoái về chính trị, đạo đức, lối sống các quyền dân chủ, quyền lực nhân dân sẽ bị viphạm và không thể thực hiện được Sự suy thoái, biến chất của hệ thống chính trị sẽlàm lung lay nền dân chủ XHCN, thậm chí sẽ làm sụp đổ nền dân chủ XHCN.Những bài học về sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu cho thấy, sự tan rã của nền dânchủ XHCN, chế độ dân chủ XHCN trước hết từ sự biến chất của hệ thống chính trị
Câu 30 Chức năng của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay là gì?
Trả lời:
Trang 29Hệ thống chính trị là thiết chế, cơ chế của chế độ dân chủ XHCN Chức năng
cơ bản của hệ thống chính trị XHCN là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nềndân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân Mỗi thành tố cấu thành hệthống chính trị, tuỳ theo đặc điểm, tính chất của mình, có chức năng xác định Trong
đó, Đảng cộng sản, đảng của giai cấp công nhân- đảng cầm quyền vừa là hạt nhânlãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội, đồng thời vừa là một thành tố hệ thốngchính trị và thành viên của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp lực lượng trongMặt trận dân tộc thống nhất, đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dânlao động và của cả dân tộc, liên hệ mật thiết với nhân dân, hoạt động trong khuônkhổ hiến pháp và pháp luật Nhà nước XHCN- một trụ cột của hệ thống chính trị, là
tổ chức thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, có quyền lực định rahiến pháp pháp luật và tổ chức quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật; cácđoàn thể chính trị- xã hội được sự thừa nhận và bảo hộ của pháp luật, tập hợp rộngrãi các tầng lớp nhân dân, thể hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, lợi íchcủa đoàn viên, hội viên, tham gia quản lý xã hội, quản lý nhà nước; thắt chặt quan hệgiữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, vận động, giáo dục nhân dân thực hiện đường lốicủa Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước và chăm lo bảo vệ lợi ích thiết thực củacác thành viên của mình
Để hệ thống chính trị XHCN làm tròn chức năng của nó, đòi hỏi phải khôngngừng chăm lo xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh; không ngừng đổimới tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, nâng caochất lượng và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cả chiều dọc (từ trên xuốngdưới), cả theo chiều ngang (các thành tố hệ thống chính trị mỗi cấp); tăng cường mốiliên hệ mật thiết giữa hệ thống chính trị, mỗi thành tố với nhân dân, phát huy quyềndân chủ của nhân dân, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân Đây là những vấn đềvừa có ý nghĩa cơ bản, lâu dài, vừa mang tính thường xuyên và cấp thiết
Câu 31 Những vấn đề cơ bản trong đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nước ta hiện nay là gì?
Trả lời:
- Cơ sở ở đây là xã, phường, thị trấn
Hệ thống chính trị cấp cơ sở bao gồm các bộ phận sau:
Hiện nay nước ta có trên 90 triệu dân cư trú ở 10.538 đơn vị cơ sở (8947 xã,
565 thị trấn, 1026 phường) Hệ thống chính trị cấp cơ sở là cấp chấp hành, cầu nối
Trang 30trực tiếp toàn bộ hệ thống chính trị với nhân dân, hàng ngày tiếp xúc và làm việc vớinhân dân, nắm bắt và phản ánh tâm tư nguyện vọng của dân, tổ chức và vận độngnhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật nhà nước, tăngcường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát triển kinh tế- xã hội, tổ chức cuộc sốngcác cộng đồng dân cư Cơ sở là nơi kiểm định tính đúng đắn của đường lối, chủtrương, chính sách, nơi tổ chức phong trào cách mạng của quần chúng.
Những năm qua, hệ thống chính trị cấp cơ sở đã chăm lo ổn định chính trị- xãhội, phát triển sản xuất kinh doanh, xây dựng kết cấu hạ tầng, xoá đói giảm nghèo,chăm lo giáo dục y tế, xây dựng đời sống văn hoá, thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở,cùng toàn dân tạo nên những thành tựu đổi mới, làm thay đổi tiềm lực bộ mặt nôngthôn, thành thị
Tuy nhiên, hệ thống chính trị cơ sở hiện còn nhiều yếu kém, bất cập trong lãnhđạo, quản lý, tổ chức thực hiện và vận động quần chúng Tình trạng quan liêu, thamnhũng, mất đoàn kết, vi phạm quyền dân chủ của nhân dân, vi phạm kỷ cương phépnước diễn ra khá nhiều nơi và nghiêm trọng Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phậnchưa được xác định rành mạch, trách nhiệm rõ ràng; nội dung, phương thức hoạtđộng chậm đổi mới Đội ngũ cán bộ cơ sở ít được đào tạo, bồi dưỡng, chính sách đốivới cán bộ còn chắp vá
Để đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cấp cơ sở, cần tập trungvào các vấn đề cơ bản và bức xúc sau:
- Một là, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức trong hệ thốngchính trị, xây dựng mối quan hệ đoàn kết, phối hợp giữa các tổ chức dưới sự lãnhđạo của Đảng bộ, chi bộ cơ sở, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động hướngvào phục vụ dân, sát với dân, được dân tin cậy
- Hai là, thực hành dân chủ thật sự trong nội bộ các tổ chức của hệ thống chínhtrị cơ sở theo nguyên tắc tập trung dân chủ và phát huy quyền làm chủ trực tiếp, pháthuy quyền dân chủ đại diện, quy định cụ thể việc thực hiện quyền của dân trong việcgiám sát tổ chức và cán bộ ở cơ sở, thay thể người không đủ tín nhiệm Phát huy dânchủ đi đôi với củng cố, nâng cao kỷ luật, kỷ cương, pháp luật
- Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có phẩm chất và năng lực tổ chức vậnđộng nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước,thật sự “cần, kiệm, liêm, chính, chi công vô tư”, thành thạo công việc, không thamnhũng, ức hiếp nhân dân; trẻ hoá đội ngũ, chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp
độ bóc lột, áp bức, giai cấp công nhân phải thiết lập được quyền lực chính trị, quyềnlực nhà nước của mình và thông qua quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước đó, giai
Trang 31cấp công nhân lãnh đạo và tổ chức toàn thể quần chúng lao động, từng bước xoá bỏtàn tích lạc hậu của chế độ xã hội cũ, sáng tạo xã hội mới không có áp bức bóc lột.
Chuyên chính vô sản là chuyên chính của một giai cấp- giai cấp công nhân Sựlãnh đạo của giai cấp công nhân đối với xã hội được thực hiện thông qua Đảng cộngsản- lực lượng tiền phong tiên tiến nhất của giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa Mác-
Lê nin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, đại biểu trung thành vớilợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, Đảng có trí tuệ,năng lực lãnh đạo, tổ chức và đạo đức cách mạng, thật sự đại biểu cho danh dự,lương tâm và trí tuệ của thời đại
Chuyên chính vô sản còn là một hình thức nhà nước Nhà nước chuyên chính
vô sản là nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, nhà nước của dân, do đân và
vì dân Hình thức chính trị của nhà nước chuyên chính vô sản là chế độ dân chủXHCN, trong đó giai cấp công nhân, nhân dân lao động là chủ thể quyền lực; cácquyền tự do dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân được bảo đảm và thực hiện trêncác lĩnh vực của đời sống xã hội và các mối quan hệ xã hội Cơ sở chính trị- xã hộicủa nhà nước chuyên chính vô sản là khối liên minh chặt chẽ giữa giai cấp công nhânvới giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức do Đảng cộng sản lãnh đạo Nhà nướcchuyên chính vô sản quản lý xã hội bằng pháp luật, thực hành dân chủ ngày càng mởrộng với đại đa số nhân dân và thực hành chuyên chính kịp thời, kiên quyết đối vớicác thế lực vi phạm quyền làm chủ củ nhân dân, làm tổn hại đến lợi ích của nhà nước
và nhân dân, chế độ XHCN Thắng lợi của cuộc cách mạng XHCN mở đầu bằng việcthiết lập chính quyền nhà nước của giai cấp công nhân cũng là sự mở đầu của chuyênchính vô sản Chuyên chính vô sản tồn tại trong một thời kỳ lịch sử lâu dài “là sự quá
độ chính trị tiến tới xã hội không còn giai cấp” Trong quá trình đó phải không ngừnggiữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với HTCT và toàn xãhội, tăng cường vai trò quản lý xã hội của nhà nước, phát huy quyền làm chủ củanhân dân, thực hiện dân chủ XHCN, làm cho sự phát triển của xã hội XHCN ngàycàng hoàn thiện và nhà nước chuyên chính vô sản dần dần “tự tiêu vong” trong xãhội CSCN
Nhà nước chuyên chính vô sản có thể có nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn
là nhà nước kiểu Công xã Pa ri; nhà nước Xô viết; nhà nước dân chủ nhân dân, nhànước XHCN Mọi nước tiến lên CNXH đều phải thiết lập chuyên chính vô sản,đồng thời “bước chuyển từ CNTB lên CNCS, cố nhiên không thể không đem lại rấtnhiều hình thức chính trị khác, nhưng thực chất của những hình thức ấy tất nhiên sẽchỉ là một, tức là chuyên chính vô sản”1
Câu 33 Chuyên chính vô sản có những chức năng, nhiệm vụ nào?
Trả lời:
Chức năng của nhà nước chuyên chính vô sản bao gồm: Thứ nhất là tổ chứcxây dựng toàn diện xã hội mới; thứ hai là sử dụng bạo lực cách mạng trấn áp, cưỡngchế sự phản kháng của các thế lực chống đối bên trong và bên ngoài, bảo vệ thànhquả cách mạng và công cuộc xây dựng xã hội mới
1 V.I.Lênin, to n t àn t ập, tập 33, Nxb TB.M, tr, 44.
Trang 32Xét về cả lôgíc và lịch sử, việc thực hiện chức năng bạo lực trấn áp của Nhànước chuyên chính vô sản xuất phát từ phía các thế lực thù địch không bao giờ từ bỏviệc sử dụng bạo lực phản cách mạng và các hành động chống phá để khôi phục lạitrật tự áp bức, bóc lột đã mất Sau khi bị lật đổ, giai cấp tư sản câu kết với các thế lựcphản động trong nước và các thế lực thù địch tư bản quốc tế sẽ tìm mọi cách đểchống lại chính quyền cách mạng Đặc biệt, chủ nghĩa đế quốc với tham vọng duy trìtrật tự thế giới tư bản, ngăn chặn phong trào cách mạng của giai cấp công nhân vàcác lực lượng tiến bộ, sẽ hà hơi tiếp sức cho giai cấp tư sản đã bị lật đổ, thi hànhnhững âm mưu, thủ đoạn hết sức thâm độc bao vây, cấm vận kinh tế, kích động gâybạo loạn chính trị, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước chuyênchính vô sản, truyền bá tư tưởng, lối sống văn hoá xấu độc, can thiệp bằng quân sự
và tiến hành chiến tranh xâm lược khi có điều kiện để xoá bỏ chuyên chính vô sản.Bởi vậy, Nhà nước chuyên chính vô sản phải không ngừng nắm vững bạo lực cáchmạng, tăng cường tiềm lực quốc phòng- an ninh, sẵn sàng đập tan mọi âm mưuchống phá cách mạng của các thế lực thù địch; thi hành sự cưỡng chế cần thiết đểduy trì sự ổn định chính trị, bảo vệ chế độ XHCN; bảo vệ Đảng cộng sản, Nhà nước
và nhân dân; không bao giờ được sao nhãng, buông lỏng bạo lực cách mạng, trái lạiphải chăm lo xây dựng tiềm lực sức mạnh tổng hợp, bảo vệ Tổ quốc; biết sử dụngđúng, kịp thời những công cụ và sức mạnh bạo lực đó
Mọi sự buông lỏng bạo lực cách mạng, chủ quan, mất cảnh giác, mơ hồ, thiếucủng cố và tăng cường tiềm lực sức mạnh bạo lực cách mạng sẽ dẫn đến những tổnthất to lớn, khó lường cho sự nghiệp cách mạng
Trong khi không một phút lơi lỏng chức năng sử dụng bạo lực cách mạng đểtrấn áp mọi hành động chống phá của các thế lực thù địch, thì Nhà nước chuyênchính vô sản luôn đặt lên mối quan tâm hàng đầu việc thực hiện chức năng tổ chức,quản lý, xây dựng, hoàn thiện xã hội mới Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác- Lê nincũng như thực tiễn cách mạng đã khẳng định, việc tổ chức, quản lý, xây dựng thànhcông chế độ xã hội mới là điều cơ bản nhất, chủ yếu nhất, thường xuyên lâu dài và cótính quyết định trong chức năng của Nhà nước chuyên chính vô sản và đối với vậnmệnh và tương lai của CNXH
Tổ chức, quản lý xây dựng xã hội mới là chức năng cơ bản của Nhà nướcchuyên chính vô sản, bởi vì CNXH-CNCS là chế độ khác về chất các chế độ xã hộitrước đó Cách mạng XHCN, việc lật đổ giai cấp tư sản, thiết lập chính quyền củagiai cấp công nhân và nhân dân lao động mới chỉ là bước đầu Vấn đề có ý nghĩaquyết định là giai cấp công nhân, nhân dân lao động phải sáng tạo ra một kiểu xã hộimới, có lực lượng sản xuất tiên tiến, hiện đại, khoa học công nghệ phát triển hết sứccao, gắn liền với một quan hệ sản xuất dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất,không bóc lột, tạo ra nền sản xuất xã hội với sản phẩm dồi dào, thoả mãn nhu cầungày càng cao của các thành viên xã hội; Xây dựng một nền văn hoá mới, lối sốngmới, đạo đức mới, các mối quan hệ xã hội mới tốt đẹp, thể hiện đầy đủ bản chất củaCNXH-CNCS và không còn cơ sở xã hội cho sự phục hồi CNTB Rõ ràng, đây là sựnghiệp vô cùng vĩ đại, rất khó khăn, lâu dài Chức năng tổ chức, quản lý, xây dựng
Trang 33xã hội mới của Nhà nước chuyên chính vô sản do đó có ý nghĩa quyết định tới thắnglợi hoàn toàn và triệt để của CNXH.
Hai chức năng trên có mối quan hệ thống nhất, biện chứng, chặt chẽ, tác độnglẫn nhau Để làm tròn hai chức năng trên, chuyên chính vô sản phải xác định cácnhiệm vụ cơ bản sau:
- Xây dựng Đảng cộng sản vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, nângcao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tầm trí tuệ, được quần chúng tín nhiệm
- Xây dựng bộ máy Nhà nước trong sạch, vững mạnh có đủ năng lực và quản
lý có hiệu quả các lĩnh vực đời sống xã hội
- Tăng cường sức mạnh công cụ bạo lực cách mạng, kịp thời trấn áp và cưỡngchế có hiệu quả những hành động chống phá cách mạng của các thế lực thù địch,bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, độc lập, chủ quyền quốc gia và chế độXHCN
- Xây dựng và phát triển nền kinh tế XHCN có lực lượng sản xuất phát triển,quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ lực lượng sản xuất; có nền khoa học-công nghệ hiện đại; năng suất lao động cao; xây dựng các quan hệ xã hội lành mạnh;xây dựng nền văn hoá tiên tiến
- Bảo đảm và thực hiện dân chủ XHCN, phát huy quyền dân chủ của nhân dântrên mọi lĩnh vực
- Thi hành chính sách đối ngoại hoà bình, đoàn kết ủng hộ các lực lượng cáchmạng và tiến bộ, tăng cường tình hữu nghị, sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc,lên án và đấu tranh chống lại mọi âm mưu gây chiến, phá hoại của chủ nghĩa đế quốc
Dân chủ là một quan hệ xã hội phản ánh khát vọng, nhu cầu và là thành quảđấu tranh của loài người trong lịch sử trải qua các thời đại Dân chủ là một thước đo,một tiêu chí đánh giá trình độ văn minh của xã hội, trình độ giải phóng xã hội, giảiphóng con người, phản ánh năng lực làm chủ xã hội của con người
Dân chủ là một phạm trù lịch sử Trong các thời đại lịch sử khác nhau, các chế
độ xã hội khác nhau, bản chất dân chủ, trình độ phát triển của dân chủ cũng cónhững biến đổi khác nhau Sự biến đổi và phát triển của dân chủ chịu sự chi phối quiđịnh của phương thức sản xuất xã hội, chế độ xã hội, giai cấp cầm quyền, trình độphát triển của kinh tế- xã hội, của dân trí và các nhân tố xã hội khác
Dân chủ mang tính giai cấp Các giai cấp khác nhau có quan niệm khác nhau
về dân chủ cũng như mục tiêu, phương thức thực thi dân chủ Dân chủ còn mang tínhdân tộc sâu sắc, phản ánh đặc điểm dân tộc, truyền thống lịch sử, bản sắc văn hoá
Trang 34dân tộc Đồng thời, dân chủ còn mang tính nhân loại- tính chung của loài người Cácthuộc tính đó của dân chủ có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ, trong đó tính giai cấpcủa dân chủ là thuộc tính cơ bản nhất, thẩm thấu và chi phối sâu sắc tới các thuộctính khác của dân chủ.
Sự hiện diện của dân chủ trong đời sống xã hội của con người trong lịch sửloài người gắn liền với lịch sử phát triển xã hội Cuộc đấu tranh cho dân chủ gắnliền với đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, dân chủ là một mục tiêu đấu tranhgiai cấp, đấu tranh dân tộc Trải qua quá trình lịch sử lâu dài, dân chủ từng bướcđược thực hiện, từ chỗ các giai cấp thống trị chà đạp các quyền dân chủ của nhândân đến chỗ phải thừa nhận các quyền dân chủ về mặt pháp luật Chỉ dưới CNXH,dân chủ mới trở thành quan hệ xã hội hiện thực trong cuộc sống của nhân dân.Dưới chế độ XHCN, dân chủ ngày càng được mở rộng đầy đủ và trở nên hoàn bị vàtriệt để dưới xã hội CSCN
Chế độ dân chủ là toàn bộ những thể chế, thiết chế, cơ chế chính trị của nhà
nước, của chế độ xã hội thể hiện và bảo đảm các quyền dân chủ, quyền làm chủ củanhân dân trong các lĩnh vực đời sống xã hội, quan hệ xã hội, bảo đảm quyền lựcthuộc về nhân dân Chế độ dân chủ là một hình thức nhà nước, một trong những hìnhthái nhà nước Không phải chế độ nhà nước nào cũng là chế độ dân chủ Chế độ dânchủ là chế độ nhà nước thể hiện và bảo đảm các quyền dân chủ của nhân dân, quyềnlực thuộc về nhân dân Trong chế độ dân chủ, nhân dân là chủ thể quyền lực Quyềnlực của nhân dân được thể hiện trong việc xác định chính thể nhà nước, đó là cộnghoà dân chủ, trong tổ chức cơ cấu bộ máy nhà nước, chế độ bầu cử, ứng cử và hệthống pháp luật, quyền của nhân dân trong việc quản lý nhà nước, trong giám sát,kiểm soát các hoạt động của bộ máy và công chức nhà nước
Là một hình thái nhà nước, chế độ dân chủ bảo đảm và thể hiện các quyền tự
do, bình đẳng của nhân dân trong xác định cơ cấu nhà nước và quản lý nhà nước,thực hành dân chủ với nhân dân; đồng thời mặt khác thực hành chuyên chính với lựclượng đối lập với quyền lực đó Do đó, chế độ dân chủ mang tính chính trị, tính giaicấp sâu sắc của giai cấp thiết lập chế độ dân chủ, dân chủ đi đôi với chuyên chính,dân chủ gắn liền với pháp luật, kỷ luật
Chế độ dân chủ gắn liền với chế độ xã hội, hoặc là chế độ dân chủ XHCNhoặc là chế độ dân chủ tư sản, không có chế độ dân chủ chung chung, chế độ dân chủkhông tính từ Là một hình thái nhà nước, nhà nước tiêu vong thì chế độ dân chủcũng tiêu vong, không có chế độ dân chủ tồn tại vĩnh hằng Chế độ dân chủ tư sản bịtiêu vong cùng với sự sụp đổ của nhà nước tư sản; chế độ dân chủ XHCN ngày càng
mở rộng và hoàn thiện trong quá trình xây dựng CNXH Tới xã hội CSCN, dân chủtrở nên hoàn bị triệt để, chế độ dân chủ tự tiêu vong gắn liền với nhà nước tự tiêuvong
Câu 35 Tại sao nói dân chủ XHCN dân chủ gấp triệu lần dân chủ tư sản?
Trả lời:
Trang 35Khi so sánh dân chủ vô sản (dân chủ XHCN) với dân chủ tư sản, V.I Lêninkhẳng định “dân chủ vô sản là nền dân chủ gấp triệu lần hơn dân chủ tư sản” Lờikhẳng định đó của Lênin xuất phát từ sự so sánh toàn diện 2 nền dân chủ đó
Xét về bản chất, dân chủ XHCN là quyền làm chủ trên thực tế trên mọi lĩnhvực của nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, thông qua sự quản
lý của Nhà nước XHCN Cơ sở khách quan quy định bản chất của dân chủ XHCN làchế độ công hữu về tư liệu sản xuất, phù hợp với trình độ phát triển hết sức cao củalực lượng sản xuất Cơ sở kinh tế của dân chủ XHCN cho phép tạo ra cho sự bìnhđẳng thật sự về quyền lực của đại đa số nhân dân Cơ sở chính trị- xã hội của dân chủXHCN là bản chất chính trị- xã hội của giai cấp công nhân và khối liên minh giữagiai cấp công nhân với giai cấp nông dân, tầng lới trí thức và các tầng lớp lao độngkhác Cơ sở chính trị- xã hội của dân chủ XHCN tạo ra một nền dân chủ mà đại đa sốnhân dân là chủ thể quyền lực và ngày càng phát triển hoàn thiện, triệt để
- Dân chủ XHCN hướng tới mục tiêu giải phóng xã hội, giải phóng con người,nâng cao năng lực làm chủ của con người, phù hợp với nhu cầu nguyện vọng lợi íchcủa đại đa số nhân dân, vừa là mục tiêu và động lực của cách mạng XHCN Dưới chế
độ XHCN, mọi quyền của công dân được thể hiện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị,văn hoá xã hội và được bảo đảm bằng pháp luật Do đó, dân chủ XHCN là nền dânchủ thực sự
- Trái lại, dân chủ tư sản là nền dân chủ của thiểu số, phục vụ lợi ích và quyềnlực thống trị của giai cấp tư sản Cơ sở kinh tế của dân chủ tư sản là chế độ chiếmhữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất, cơ sở chính trị- xã hội của dân chủ tư sản làbản chất giai cấp tư sản Vì thế, nền dân chủ tư sản là dân chủ chật hẹp, bị hạn chế; làthiên đường của giai cấp tư sản thống trị, là cắt xén, giả hiệu, giả dối đối với đại đa
số nhân dân Mục tiêu của nền dân chủ tư sản là bảo vệ quyền tư hữu TBCN vàquyền thống trị xã hội của giai cấp tư sản Do đó, dù điều chỉnh, “mở rộng” đến đâu,dân chủ tư sản cũng không thể vượt qua giới hạn lợi ích kinh tế và quyền lực chínhtrị của giai cấp tư sản Dưới xã hội TBCN, không thể có bình đẳng thực sự giữangười giàu với người nghèo, giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị
- Thực tế lịch sử đã chứng minh tính ưu việt của dân chủ XHCN so với dânchủ tư sản Trong nền dân chủ XHCN, các quyền làm chủ, dân chủ của nhân dânngày càng được mở rộng và thực hiện trên thực tế, các thể chế, cơ chế dân chủ khôngngừng được hoàn thiện Trong nền dân chủ tư sản, bằng các thủ đoạn chính trị xảoquyệt, giai cấp tư sản trên danh nghĩa thừa nhận các quyền dân chủ của công dân,song lại tìm mọi cách đưa ra những qui định để hạn chế nhân dân tham gia quản lý xãhội, quản lý nhà nước, gạt nhân dân lao động ra khỏi cơ cấu quyền lực, không đượctham gia vào chế độ dân chủ
- Xét về trình độ, dân chủ XHCN là nền dân chủ cao hơn dân chủ tư sản.CNXH là chế độ xã hội ra đời từ CNTB thông qua cuộc cách mạng XHCN Dân chủXHCN là sự kế thừa những giá trị của nền dân chủ tư sản Do đó, dân chủ XHCNkhông chỉ là dân chủ rộng rãi, hoàn thiện, triệt để hơn dân chủ tư sản mà còn là sựphủ định biện chứng dân chủ tư sản; các thiết chế, cơ chế dân chủ XHCN có trình độ
Trang 36khoa học, công nghệ cao hơn, hoàn thiện hơn dân chủ tư sản Như vậy, xét về lịch sử, dân chủ XHCN là thiết chế chính trị của một hình thaí kinh tế xã hội, phươngthức sản xuất xã hội cao hơn CNTB, dân chủ tư sản.
lôgíc-Thực tế lịch sử cho thấy, dân chủ XHCN được ra đời từ các nước vốn là cácnước tư bản phát triển trung bình, hoặc chưa qua giai đoạn phát triển TBCN nên cácthể chế, cơ chế dân chủ phải xây dựng từ đầu, hoặc chưa đầy đủ, chưa hoàn thiện,trình độ dân chủ, văn hoá dân chủ, văn hoá pháp luật của nhân dân còn hạn chế, cáctàn dư tư tưởng phong kiến, tâm lý sản xuất nhỏ còn khá nặng nề, các quan niệm dânchủ chưa đúng đắn còn ảnh hưởng không nhỏ, cũng như năng lực tổ chức, quản lý xãhội, quản lý nhà nước của chủ thể dân chủ XHCN còn những bất cập, phần nào đãlàm hạn chế, thậm chí làm biến dạng bản chất dân chủ XHCN; các thế lực thù địchlợi dụng, xuyên tạc, phủ nhận dân chủ XHCN Với mục tiêu cách mạng rõ ràng, vớinhững định hướng chính trị đúng đắn của Đảng cộng sản và phát huy tính tích cựcchính trị của nhân dân, bằng những nỗ lực đổi mới xã hội và phát huy dân chủ, cácnước XHCN sẽ xây dựng nền dân chủ XHCN ngày càng thể hiện đầy đủ bản chấtdân chủ XHCN, tính ưu việt dân chủ XHCN so với dân chủ tư sản
Câu 36 Chế độ dân chủ XHCN có những đặc trưng cơ bản nào?
Trả lời:
Chế độ dân chủ XHCN là toàn bộ những thiết chế chính trị- xã hội XHCN thểhiện và bảo đảm quyền dân chủ của công dân, quyền lực xã hội thuộc về giai cấpcông nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
Chế độ dân chủ XHCN có những đặc trưng cơ bản sau đây:
- Chủ thể của chế độ dân chủ XHCN là đại đa số nhân dân lao động Khác vớicác chế độ dân chủ khác, chủ thể quyền lực là thiểu số hoặc chỉ của riêng giai cấpbóc lột, trong chế độ dân chủ XHCN, nhân dân là chủ thể quyền lực Bởi lẽ, dưới chế
độ dân chủ XHCN, thì với những nhu cầu và lợi ích của họ là mục tiêu hoạt độngcủa Đảng cộng sản và nhà nước XHCN; các cơ chế, thiết chế dân chủ đều nhằm thựchiện quyền và phục vụ lợi ích của nhân dân Nhân dân có quyền lực tối cao trong xácđịnh cơ cấu nhà nước, quản lý xã hội , kiểm tra giám sát các hoạt động của bộ máy
và công chức hệ thống chính trị Trong chế độ dân chủ XHCN, “bao nhiêu quyền lựcđều của dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân”
- Dưới chế độ dân chủ XHCN thì quyền lợi và nghĩa vụ, quyền hạn và tráchnhiệm, cống hiến và hưởng thụ gắn bó chặt chẽ với nhau Dân chủ với đại đa số nhândân đi đôi với chuyên chính với những lực lượng xâm phạm quyền dân chủ của nhândân, quyền lực của nhân dân ; dân chủ gắn liền với pháp luật và kỷ luật, kỷ cương xãhội
- Trong chế độ dân chủ XHCN, các quyền dân chủ của nhân dân được thựchiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội
và được bảo đảm bằng pháp luật, được thực hiện thông qua hoạt động tích cực củanhân dân trong sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN
- Chế độ dân chủ XHCN là sự phủ định biện chứng chế độ dân chủ tư sản Dânchủ XHCN hình thành, phát triển, hoàn thiện trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những
Trang 37giá trị của nền văn minh nhân loại, kể cả dân chủ tư sản và phát huy những truyềnthống tốt đẹp của dân tộc.
- Chế độ dân chủ XHCN ngày càng được mở rộng, hoàn thiện và phát huy gắnliền với sự phát triển xã hội XHCN và “tự tiêu vong” trong xã hội CSCN
Các đặc trưng cơ bản trên có mối quan hệ biện chứng, gắn bó chặt chẽ vớinhau, thể hiện sâu sắc bản chất dân chủ XHCN
Câu 37 Sự phát triển của dân chủ phụ thuộc vào những nhân tố cơ bản nào?
Trả lời:
Sự phát triển của dân chủ, đời sống dân chủ xã hội, các thể chế, cơ chế dânchủ, trình độ dân chủ xã hội được qui định, chi phối bởi các nhân tố xã hội, cảkhách quan và chủ quan
Về khách quan: phương thức sản xuất xã hội, chế độ xã hội, bản chất chính trịcủa giai cấp cầm quyền quyết định bản chất của dân chủ, trình độ phát triển của dânchủ Nền dân chủ của hình thái kinh tế- xã hội, phương thức sản xuất xã hội tiên tiếnhơn, giai cấp tiên tiến và cách mạng sẽ có bản chất tốt đẹp hơn và trình độ cao hơnnền dân chủ của hình thái kinh tế- xã hội, phương thức sản xuất lỗi thời, lạc hậu vàcủa giai cấp gắn liền với nó
- Trình độ phát triển của dân chủ xã hội còn phụ thuộc vào chế độ, trạng tháikinh tế- xã hội và trình độ dân trí, sự phát triển văn hoá, thông tin, khoa học côngnghệ của xã hội
Ngoài ra, sự phát triển của dân chủ còn chịu ảnh hưởng của truyền thống lịch
sử, văn hoá, đặc điểm dân tộc, bối cảnh quốc tế, xu thế quan hệ quốc tế và các nhân
tố thời đại
Về chủ quan: Dân chủ chịu sự chi phối bởi trạng thái chính trị của giai cấpcầm quyền trong mối quan hệ với các giai cấp và tầng lớp xã hội khác Đồng thời,dân chủ chịu ảnh hưởng của sự tương tác, tương quan so sánh lực lượng giữa các giaicấp, các lực lượng chính trị trong cơ cấu xã hội- giai cấp gắn với điều kiện lịch sử cụthể
Sự phát triển của dân chủ còn phụ thuộc vào vai trò định hướng, năng lực tổchức và vận hành các thiết chế, cơ chế dân chủ, các giá trị dân chủ của chủ thể nềndân chủ đó
Câu 38 Những hình thức cơ bản của chế độ dân chủ XHCN?
Các cơ quan đại diện và người đại diện trong các cơ quan dân cử, các tổ chứcchính trị- xã hội, các đoàn thể nhân dân đại biểu cho quyền và lợi ích của nhân dân
Trang 38bao gồm cả lập pháp, hành pháp, tư pháp, cả hệ thống chính trị, các tổ chức chínhphủ và phi chính phủ, các tổ chức dân lập Quyền dân chủ của nhân dân được thểhiện thông qua việc thực hiện các chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ và hoạt động củacác cơ quan đại biểu và người đại biểu được nhân dân lựa chọn theo quy định củaHiến pháp, pháp luật, điều lệ hoạt động của các cơ quan đó Vì vậy, chất lượng, hiệuquả thực hiện quyền dân chủ của nhân dân phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng, hiệuquả hoạt động của các cơ quan và người đại biểu Cho nên không ngừng đổi mới,hoàn thiện tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của bộ máy, nâng cao phẩmchất, năng lực, tác phong công tác của người đại biểu có ý nghĩa cơ bản đối với việcthực hiện ý chí, quyền lực nhân dân, các quyền dân chủ của nhân dân.
- Hình thức dân chủ trực tiếp:
Dân chủ trực tiếp là sự tham gia độc lập, chủ động của công dân vào công việcquản lý xã hội, quản lý nhà nước, thực hiện các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm củacông dân theo quy định của hiến pháp và pháp luật
Mức độ và chất lượng của dân chủ trực tiếp phản ánh trình độ dân chủ của xãhội và ý thức, năng lực làm chủ của nhân dân
Thực hiện dân chủ trực tiếp là xu thế phát triển khách quan và ngày càng caocủa xã hội dân chủ và quá trình dân chủ hoá xã hội, đáp ứng nhu cầu dân chủ củanhân dân
Việc thực hiện hình thức dân chủ trực tiếp phụ thuộc rất lớn vào trình độ dântrí, ý thức và năng lực làm chủ của nhân dân; đồng thời đòi hỏi phải tạo ra và khôngngừng đổi mới, hoàn thiện các thiết chế, cơ chế dân chủ, xác lập các điều kiện, môitrường thuận lợi để nhân dân trực tiếp thực hiện quyền dân chủ của mình
- Hình thức tự quản:
Nhân dân thực hiện các quyền dân chủ của mình theo hình thức tự quản nghĩa
là nhân dân tự hình thành các tổ chức, tự ban hành các qui định, tự thực hiện, tự kiểmtra, tự đánh giá và tự điều chỉnh ý thức và hành vi trong các quan hệ xã hội, trongthực hiện các quyền, lợi ích của mình và cộng đồng dân cư, ở môi trường xã hội gầngũi trực tiếp, phù hợp với các quy định của luật pháp và tập quán mà không cần cómột cơ quan cưỡng chế
Để các hoạt động tự quản có hiệu quả cao, đòi hỏi mỗi công dân phải có tinhthần đoàn kết, ý thức trách nhiệm, gương mẫu, tự giác và ứng xử các quan hệ xã hội
có văn hoá cao Đồng thời, việc xây dựng các qui chế dân chủ, hương ước phải phùhợp với pháp luật, tôn trọng quyền công dân và quyền con người Các tổ chức chínhtrị xã hội: tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể phải hướng dẫn và giám sát, uốn nắncác hoạt động tự quản, ngăn chặn những biểu hiện lệch lạc như cục bộ, bản vị, “phépvua thua lệ làng”, vi phạm quyền công dân và quyền con người hoặc để những ngườixấu lợi dụng, thao túng
Ngoài ra, dưới chế độ dân chủ XHCN, nhân dân còn thông qua nhiều biệnpháp, phương tiện khác để thực hiện các quyền, nghĩa vụ công dân như thông quacác phương tiện thông tin đại chúng; các cơ quan tư vấn pháp luật, các văn phòngluật sư, các luật sư được pháp luật cho phép hành nghề Điều đó đặt ra những yêu
Trang 39cầu chặt chẽ về quản lý nhà nước đối với các hoạt động đó, về ý thức và trách nhiệmcông dân, về đạo đức và trình độ nghiệp vụ của những người có liên quan với cáchoạt động đó.
Câu 39 Vì sao nói thực hiện và phát huy dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng XHCN ?
đó, thông qua vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản, quản lý của Nhà nước XHCNđược tổ chức dưới hình thức chế độ dân chủ và phát huy quyền làm chủ xã hội củatoàn thể nhân dân lao động, cuộc cách mạng XHCN tiếp tục được triển khai sâu rộngtrên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, thực hiện trên thực tế các quyền dân chủcủa nhân dân về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, dân chủ trở thành một giá trị xãhội, một nội dung quan trọng trong mục tiêu cơ bản lâu dài của cuộc cách mạngXHCN và ngày càng hoàn thiệt triệt để, khẳng định bản chất tốt đẹp của chế độXHCN
Trong cuộc cách mạng XHCN, dân chủ không chỉ là mục tiêu trực tiếp, cấpthiết và cơ bản lâu dài, đồng thời dân chủ còn là động lực to lớn của cách mạngXHCN Bởi lẽ, dân chủ luôn là nhu cầu, khát vọng sâu xa của giai cấp công nhân,nhân dân lao động, của nhân loại Dưới chế độ áp bức, bóc lột, các quyền tự do dânchủ của nhân dân bị tước đoạt, bị cắt xén Đấu tranh cho dân chủ gắn liền với đấutranh giai cấp và đấu tranh dân tộc; phấn đấu vì các quyền dân sinh, dân chủ đã tạonên sức mạnh to lớn của cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao độngchống áp bức, bóc lột Trong sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN,tính chủ động, sáng tạo của quần chúng nhân dân, sức mạnh đoàn kết của nhân dân làmột nhân tố quyết định tới sự phát triển và thắng lợi bền vững của chế độ XHCN.Thực hiện và phát huy dân chủ, đem lại lợi ích thiết thực của nhân dân, phát huynhiệt tình cách mạng, trí tuệ và năng lực sáng tạo của nhân dân, tập trung được ý chí
và sức mạnh quyền lực nhân dân, sự thống nhất về chính trị- tư tưởng, tăng cườngsức dân Đây là nguồn động lực, nhân tố cơ bản nhất đảm bảo thắng lợi của cuộccách mạng XHCN
Thực hiện và phát huy dân chủ XHCN vừa là mục tiêu, vừa là động lực củacách mạng XHCN, đã, đang và sẽ tiếp tục được thể hiện và khẳng định cả về lý luận
và thực tiễn sinh động
Trang 40Câu 40: Cơ cấu xã hội - giai cấp là gì? Vị trí của nó trong cơ cấu xã hội?
Trả lời:
Cơ cấu xã hội là tổng hoà các giai cấp, các tầng lớp và các nhóm xã hội, nhữngmối liên hệ và quan hệ nhất định giữa chúng với nhau Cơ cấu xã hội rất đa dạng;chẳng hạn, cơ cấu xã hội- giai cấp, cơ cấu xã hội- nghề nghiệp; cơ cấu xã hội- dâncư; cơ cấu xã hội- giới tính; cơ cấu xã hội- lứa tuổi
Cơ cấu xã hội - giai cấp (XH - GC) là hệ thống các giai cấp và các tầng lớp xãhội tồn tại khách quan, trong một chế độ xã hội nhất định, với những mối quan hệxác định và vai trò của các giai cấp và tầng lớp xã hội trong đời sống xã hội
Trong cơ cấu chung của xã hội thì cơ cấu XH - GC có vị trí quan trọng hàngđầu Cơ cấu xã hội- giai cấp là một phân hệ cơ bản, quyết định nhất của cơ cấu xãhội trong xã hội có giai cấp; Cơ cấu xã hội- giai cấp là hạt nhân trực tiếp biểu hiện cơcấu xã hội trong từng giai đoạn của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định Chính cơcấu XH - GC gắn liền trực tiếp với quan hệ sản xuất, quy định bản chất những mốiquan hệ xã hội, chính trị, đạo đức, pháp lý của một chế độ xã hội nhất định
Trong xã hội XHCN, cơ cấu XH - GC dựa trên cơ sở giai cấp công nhân với tưcách là lực lượng tiên phong, lãnh đạo cách mạng và các đồng minh của nó là giaicấp nông dân và tầng lớp trí thức Điều đó làm cho chế độ xã hội XHCN và các mốiquan hệ xã hội mang bản chất giai cấp công nhân Vì vậy, trong quá trình xây dựngchủ nghĩa xã hội phải đặc biệt chú trọng xây dựng cơ cấu XH - GC phù hợp
Câu 41: Tại sao cơ cấu xã hội - giai cấp trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
là đa dạng, phức tạp, luôn biến động?
Trả lời:
Cơ cấu XH-GC trong thời kì quá độ lên CNXH là đa dạng, phức tạp, luôn biếnđộng Đặc điểm đó là do sự biến đổi kinh tế- xã hội và tác động chính trị gây nêntrong quá trình vận động phát triển của xã hội trong thời kỳ quá độ qui định
Cơ cấu kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế bao giờ cũng là nhân tố có vai tròquyết định đối với cơ cấu xã hội- giai cấp Trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội,tính đa dạng, phức tạp và không ngừng biến động của cơ cấu XH – GC trước hết là
do sự phát triển tất yếu của nền kinh tế hàng hoá có cơ cấu nhiều thành phần quyđịnh Điều đó làm đa dạng hoá các giai tầng xã hội Bên cạnh những giai cấp và tầnglớp xã hội cơ bản là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức còn tồntại nhiều tầng lớp và các nhóm xã hội khác nhau Đồng thời, thông qua sự phát triểnnền kinh tế thị trường phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá, hiện đại hoákhông những làm ảnh hưởng mạnh mẽ tới số lượng và chất lượng của các giai cấp,các tầng lớp xã hội mà còn tác động sâu sắc tới các mối quan hệ giai cấp và kết cấu
đa dạng, phức tạp của từng giai tầng xã hội Giai cấp công nhân, tầng lớp trí thứcngày càng gia tăng, giai cấp nông dân sẽ giảm đi cả về con số tuyệt đối cũng nhưtương đối Mặt khác, sự lãng đạo của Đảng cộng sản, quản lí của nhà nước XHCNthông qua đường lối chính trị, cơ chế, chính sách kinh tế – xã hội, chính sách giai cấp