1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Rèn kĩ năng nghe viết chính tả cho học sinh lớp 3 trường tiểu học chiềng pha thuận châu sơn la

84 438 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 787,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cố gắng sử dụng nhiều biện pháp, nhiều hình thức dạy chính tả nhằm giúp học sinh hình thành, phát triển và hoàn thiện kĩ năng viết đúng tiếng Việt văn hóa, tiếng Việt chuẩn mực theo hướn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

RÈN KỸ NĂNG NGHE - VIẾT CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH

LỚP 3 TRƯỜNG TIỂU HỌC CHIỀNG PHA -

THUẬN CHÂU - SƠN LA

Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học giáo dục

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

RÈN KỸ NĂNG NGHE - VIẾT CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH

LỚP 3 TRƯỜNG TIỂU HỌC CHIỀNG PHA -

THUẬN CHÂU - SƠN LA

Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học giáo dục

Sinh viên thực hiện: Quàng Thị Biên Nữ, Dân tộc: Thái

Lường Thị Diễm Nữ, Dân tộc: Thái Lớp: K54 ĐHGD Tiểu học B Khoa: Tiểu học - Mầm non Ngành học: Giáo dục Tiểu học

Năm Thứ: 03 / Số năm đào tạo: 4

Sinh viên chịu trách nhiệm: Quàng Thị Biên

Người hướng dẫn: TS Trần Thị Thanh Hồng

Trang 3

Lời cảm ơn

Để hoàn thành công trình nghiên cứu khoa học đầu tay này, chúng em đã nhận

được sự giúp đỡ tận tình của cô giáo tiến sĩ Trần Thị Thanh Hồng Khoa Tiểu học - Mầm

non Trường Đại học Tây Bắc Chúng em xin gửi lời biết ơn chân thành nhất tới cô, cảm

ơn cô vì đã hướng dẫn, chỉ bảo chúng em trong suốt thời gian hoàn thiện đề tài

Chúng em xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo Khoa Tiểu học - Mầm non, cùng toàn thể các cô chú cán bộ thư viện, phòng Quản lí Khoa học và Quan

hệ Quốc tế đã giúp chúng em trong quá trình nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn các cô giáo và các em học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La; cảm ơn các bạn sinh viên lớp K54 Đại học Giáo dục Tiểu học B đã động viên, khuyến khích, ủng hộ chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Sơn La, ngày 30 tháng 5 năm 2016

Sinh viên QUÀNG THỊ BIÊN LƯỜNG THỊ DIỄM

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BGD&ĐT- GDTH : Bộ Giáo dục và Đào tạo - Giáo dục tiểu học

ĐC : đối chứng

GV : giáo viên HĐTQ : hội đồng tự quản

HS : học sinh HSTH : học sinh tiểu học DTTS : dân tộc thiểu số

NXB : nhà xuất bản SGK : sách giáo khoa

PP : phương pháp

TN : thể nghiệm

VD : ví dụ

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4

5 Phạm vi nghiên cứu 5

6 Giả thiết khoa học 6

7 Phương pháp nghiên cứu 6

8 Cấu trúc của đề tài 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7

1.1 Cơ sở lí luận 7

1.1.1 Một số khái niệm liên quan tới đề tài 7

1.1.2 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 8

1.2 Cơ sở thực tiễn 23

1.2.1 Khảo sát thực trạng rèn kĩ năng nghe, viết chính tả cho học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La 23

1.2.2 Kết quả khảo sát 24

Tiểu kết chương 1 37

CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG NGHE - VIẾT CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 3 38

2.1 Tạo hứng thú cho học sinh 38

2.2 Củng cố quy tắc chính tả cho học sinh 39

2.3 Luyện phát âm đúng 40

2.4 Giúp học sinh hiểu nghĩa của từ 41

2.5 Giúp học sinh ghi nhớ luật chính tả 42

2.6 Tạo cho học sinh có nhiều cơ hội giao tiếp bằng tiếng Việt 44

2.7 Rèn kĩ năng chính tả cho học sinh qua các bài tập chính tả 44

Tiểu kết chương 2 47

CHƯƠNG 3: THỂ NGHIỆM SƯ PHẠM 48

3.1 Những vấn đề chung 48

3.1.1 Mục đích của thể nghiệm 48

Trang 6

3.1.2 Đối tượng, thời gian, địa bàn thể nghiệm 48

3.1.3 Nội dung và tiêu chí đánh giá thể nghiệm 48

3.1.4 Phương pháp thể nghiệm 49

3.2 Thể nghiệm và đánh giá kết quả thể nghiệm 49

3.2.1 Mô tả thiết kế thể nghiệm 49

3.2.2 Kết quả thể nghiệm 50

Tiểu kết chương 3 56

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 58

1 KẾT LUẬN 58

2 KHUYẾN NGHỊ 59

2.1 Đối với giáo viên 60

2.2 Đối với học sinh 60

2.3 Đối với phụ huynh 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

PHỤ LỤC 63

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Tổng hợp kết quả khảo của giáo viên về hình thức dạy học Chính tả chủ yếu

25

Bảng 1.2: Tổng hợp phương pháp dạy học Chính tả chủ yếu của giáo viên 26

Bảng 1.3: Thầy, cô thường rèn kĩ năng chính tả cho học sinh trong những thời gian nào? 26

Bảng 1.4: Thầy, cô thấy trong quá trình học tập, học sinh thường hay mắc những lỗi cơ bản nào? 27

Bảng 1.5: Tổng hợp ý kiến của học sinh về hứng thú học Chính tả 28

Bảng 1.6: Theo em học chính tả khó hay dễ? 28

Bảng 1.7: Theo em để nắm vững kiến thức chính tả nên học như thế nào là phù hợp? 29

Bảng 1.8: Trong giờ học Chính tả em có tích cực phát biểu xây dựng bài không? 29

Bảng 1.9: Trong một tiết học Chính tả em thường gặp khó khăn ở phần nào? 30

Bảng 1.10: Lỗi chính tả của học sinh 31

Bảng 1.11: Đánh giá kết quả bài kiểm tra chính tả 34

Bảng 3.1: Tổng hợp kết quả khảo sát một số lỗi của hai lớp TN và ĐC qua bài kiểm tra chính tả 51

Bảng 3.2: Tổng hợp kết quả xếp loại khảo sát hai lớp TN và ĐC về một số lỗi chính tả của học sinh 51

Bảng 3.3: Bảng số liệu tổng hợp kết quả xếp loại khảo sát hai lớp TN và ĐC qua thể nghiệm bài chính tả nghe - viết 52

Bảng 3.4 Tổng hợp kết quả phiếu bài tập thể nghiệm điền phụ âm đầu vào chỗ chấm 53 Bảng 3.5: Tổng hợp kết quả bài tập thể nghiệm điền bộ phận vào chỗ chấm 55

Bảng 3.6: Tổng hợp kết quả bài tập thể nghiệm điền dấu thanh vào các từ sao cho chúng có nghĩa tiếng Việt 55

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Tiếng Việt là một trong những môn chính và quan trọng trong chương trình Giáo dục tiểu học Đây là môn học cung cấp cho học sinh những kiến thức chung về tiếng Việt, hình thành cho các em vốn tiếng Việt, kỹ năng tiếng Việt để các em học tập

và tư duy Chính vì thế, việc dạy và học tiếng Việt trong trường tiểu học cần phải được chú trọng Chương trình Tiếng Việt tiểu học mới chú trọng hình thành kĩ năng nghe, nói, đọc, viết thông qua các phân môn tiếng Việt như: Học vần, Tập viết, Luyện từ và câu, Tập đọc, Chính tả, Tập làm văn, Kể chuyện Qua đó góp phần hình thành lòng yêu mến tiếng Việt và thói quen giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Do đó, dạy học tiếng Việt nhằm hình thành cho học sinh những kĩ năng, kĩ xảo về ngôn ngữ và các thao tác tư duy Dạy cho các em biết truyền đạt tư tưởng, tình cảm của mình một cách chính xác và biểu cảm

1.2 Trong trường tiểu học, phân môn Chính tả là môn học cụ thể hóa mục tiêu của môn Tiếng Việt Phân môn Chính tả có một vị trí hết sức quan trọng (trước hết nó là một môn học có tính chất công cụ) nhằm hình thành ở học sinh kĩ năng sử dụng tiếng Việt, trong đó đặc biệt chú ý tới kĩ năng nghe - viết (có kết hợp với kĩ năng nghe và kĩ năng viết) Học sinh có viết đúng, viết nhanh thì mới có phương tiện để học các môn học khác được dễ dàng Chính tả cung cấp cho HS một số kiến thức về chữ viết như: cấu tạo chữ, vị trí dấu thanh, quy tắc chính tả Từ đó góp phần rèn luyện cho HS các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, thay thế, bổ sung, so sánh, khái quát hoá Mặt khác phân môn Chính tả còn có nhiệm vụ cung cấp kiến thức cơ bản về các quy tắc chính tả đồng thời rèn luyện cho HS kĩ năng viết đúng, viết rõ, viết nhanh, viết đẹp Qua học Chính tả HS có được những hiểu biết sơ giản về tự nhiên, xã hội, về con người, văn hoá, văn học Việt Nam và nước ngoài, các em được bồi dưỡng lòng yêu cái đẹp, cái thiện, lòng trung thực, lẽ phải và sự công bằng trong xã hội Chính tả còn bồi dưỡng cho

HS một số đức tính và thái độ cần thiết trong công việc như: cẩn thận, chính xác, óc thẩm mĩ, lòng tự trọng và tinh thần trách nhiệm

1.3 Tuy nhiên, việc dạy học sinh nghe và viết đúng chính tả là một việc làm vô cùng khó khăn, nó đòi hỏi sự kết hợp vận dụng linh hoạt và sáng tạo nhiều yếu tố, nhiều biện pháp, phương pháp và hình thức dạy học Để khắc phục tình trạng học sinh viết sai lỗi chính tả ở Trường Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La, nhiều giáo viên đã

Trang 9

cố gắng sử dụng nhiều biện pháp, nhiều hình thức dạy chính tả nhằm giúp học sinh hình thành, phát triển và hoàn thiện kĩ năng viết đúng tiếng Việt văn hóa, tiếng Việt chuẩn mực theo hướng “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”

1.4 Chữ viết hiện nay của người Việt là chữ viết ghi lại theo phát âm Việc viết đúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sở của viết đúng Tuy nhiên với tình hình thực tế tại địa phương, nơi có nhiều người dân ở những vùng miền khác đến làm ăn, sinh sống, đặc biệt là số lượng dân tộc thiểu số chiếm tỉ lệ cao nên hiện tượng không đồng nhất trong phát âm là phổ biến Chính vì vậy mà số HS mắc lỗi chính tả hiện nay rất nhiều Thuận Châu là một huyện miền núi có nhiều dân tộc cùng chung sống như: Thái, Mường, H’Mông, Khơ mú, Kinh, Sinh Mun, Kháng,… do quá trình sinh hoạt hàng ngày và tập quán sinh sống riêng của mỗi dân tộc cũng phần nào ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt và hoạt động học tập của HS

Học sinh Trường Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La, nhất là HS dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn trong nghe và viết tiếng Việt Khi viết các em thường hay nhầm lẫn các phụ âm đầu, phần vần, dấu thanh, nguyên nhân chính là xuất phát từ việc “nghe không hiểu” dẫn đến việc viết sai theo

Xuất phát từ những lý do nói trên, chúng tôi chọn đề tài “Rèn kĩ năng nghe - viết chính tả cho học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La” làm đối tượng nghiên cứu, với mong muốn đưa ra được một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực nghe - viết chính tả cho HS, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học nói chung

2 Lịch sử nghiên cứu

Đã có những công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học Tiếng Việt cho học

sinh tiểu học nói chung và học sinh dân tộc thiểu số nói riêng, trong đó đã đề cập đến phương dạy học phân môn Chính tả Trong đề tài này, chúng tôi quan tâm tới một số

công trình sau:

Chuyên đề Dạy học chính tả ở Tiểu học của Hoàng Văn Thung, Đỗ Xuân Thảo đã

phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học chính tả ở tiểu học, đồng thời đưa ra một

số nguyên tắc, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học chính tả nhằm nâng cao chất lượng dạy học chính tả nói riêng và dạy học môn Tiếng Việt nói chung Ngoài ra tác giả còn đề ra một số quy tắc chính tả tiếng Việt giúp người đọc biết viết đúng, thành thạo âm tiết, từ đó hình thành kỹ năng chính tả tiếng Việt

Trang 10

Giáo trình Phương pháp dạy học tiếng Việt, PGS.TS Nguyễn Quang Ninh đã cung

cấp một số vấn đề chung về phương pháp và nguyên tắc đặc trưng của việc dạy học tiếng Việt, cụ thể với phân môn Chính tả, tác giả đã đưa ra ba phương pháp đặc trưng của phân môn này là trực quan, so sánh - đối chiếu và giải thích, đồng thời cung cấp những kiến thức cơ bản về nội dung phân môn, phân bố chương trình và quá trình lên lớp của một tiết Chính tả

Tài liệu bồi dưỡng giáo viên Phương pháp dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc

cấp tiểu học của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Dự án phát triển giáo viên tiểu học) đã nhấn

mạnh những mục tiêu cơ bản dạy học môn Chính tả cho học sinh dân tộc thiểu số, một số hạn chế khi dạy phân môn Chính tả ở vùng dân tộc và những nguyên nhân cơ bản dẫn đến học sinh dân tộc thiểu số hay mắc lỗi chính tả

Tài liệu bồi dưỡng giáo viên Dạy học lớp 3 theo chương trình tiểu học mới của

Bộ Giáo dục và Đào tạo (Dự án phát giáo viên tiểu học) đã đề cập đến hình thức chính

tả nghe - viết, nhớ lại để viết chính tả, âm, vần, thanh điệu Nội dung luyện tập: viết hoa tên người và địa danh nước ngoài, tập phát hiện, sửa lỗi chính tả phương ngữ Mức độ cần đạt: 60 chữ/15 phút, đúng chính tả, trình bày chính tả đúng quy định, thành thạo

Giáo trình Tiếng Việt thực hành của Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng, Nhà

xuất bản Giáo dục, tháng 4/2003 Nội dung sách gồm hai phần chính được biên soạn đan xen vào nhau theo từng chương Bao gồm: Giản yếu về lí thuyết tiếng Việt, mục tiêu nhiệm vụ của tiếng Việt thực hành, xác định ngôn ngữ, nội dung cần diễn đạt trong mỗi loại văn bản khác nhau Hệ thống bài tập thực hành, để củng cố, phát triển thêm khả năng học tập tiếng Việt, sử dụng chính tả trong các hành văn

Chuyên đề Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học của Bộ Giáo dục và Đào tạo

(Dự án phát triển giáo viên tiểu học) đã giúp bạn đọc nắm được những đổi mới trong nội dung và phương pháp dạy học phân môn Chính tả theo chương trình và SGK mới Nắm được bản chất và phương pháp dạy học chính tả theo hướng tích cực hóa hoạt động của

HS Vận dụng sáng tạo, linh hoạt những hiểu biết đã có vào thiết kế, kế hoạch bài học

để dạy chính tả theo hướng phát huy tính tích cực của từng HS Thực hành kế hoạch để bài học đạt hiệu quả, thể hiện sự nắm vững những kiến thức đã thu nhận được Nhằm chủ động, sáng tạo, có ý thức vận dụng phương pháp dạy học tích cực vào thực tế giảng dạy

Trang 11

Cuốn sách Vui học tiếng Việt của Trần Mạnh Hưởng đã nhấn mạnh những kiến

thức tiếng Việt cơ bản giúp HS luyện tập thành thạo các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, các

em suy nghĩ mạch lạc, diễn đạt trong sáng, có khả năng làm chủ được tiếng nói và chữ viết của dân tộc

Những công trình nghiên cứu trên đề cập tới nhiều phương diện khác nhau nhưng đều tập trung nhấn mạnh tới các hình thức và phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học trong đó có dạy học Chính tả Đây là những tiền đề lí luận vô cùng quan trọng để chúng tôi thực hiện đề tài “Rèn kĩ năng nghe - viết chính tả cho học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực trạng dạy học chính tả nhằm tìm ra biện pháp hữu hiệu khắc phục, giải quyết những khó khăn trong dạy học chính tả theo hướng đổi mới chú trọng phát huy năng lực của người học Từ đó nhằm góp phần nâng cao năng lực nghe - viết chính tả cho học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La nói riêng và hiệu quả dạy học môn Tiếng Việt nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lí luận: trên cơ sở tổng hợp các tư liệu về lí thuyết có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để xây dựng cơ sở lí luận cho việc đề xuất các định hướng của đề tài

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu biện pháp rèn kĩ năng nghe - viết chính tả cho học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La

4.2 Khách thể nghiên cứu

Trang 12

Khách thể nghiên cứu là Trường Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La

Cụ thể:

+ Khảo sát 02 giáo viên dạy Chính tả lớp 3

+ Khảo sát hai lớp 3 tổng số 44 HS, trong đó lớp đối chứng là lớp 3A3: 22 HS; lớp thể nghiệm là lớp 3A1: 22 HS

5 Phạm vi nghiên cứu

* Giới hạn về đối tượng và khách thể nghiên cứu: do thời gian và điều kiện có hạn, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:

- Nghiên cứu một sở cơ sở lí luận của việc dạy học chính tả

- Xây dựng kế hoạch và khảo sát thực trạng dạy học chính tả

- Đề xuất biện pháp rèn kĩ năng nghe - viết chính tả cho học sinh lớp 3

- Thiết kế thể nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất trong đề tài

* Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: Trường Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La

Trang 13

6 Giả thiết khoa học

Trong trường tiểu học, phân môn Chính tả có vị trí vô cùng quan trọng, tuy nhiên việc dạy chính tả cho học sinh hiện nay còn gặp nhiều khó khăn Chúng tôi giả định nếu các biện pháp trong đề tài được thực hiện thành công thì sẽ góp phần vào giải quyết những khó khăn đó, đồng thời cũng góp phần vào việc thực hiện mục tiêu của môn Tiếng Việt ở tiểu học hiện nay

7 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đề ra, chúng tôi xây dựng nhóm phương pháp nghiên cứu như sau:

7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Phương pháp đọc, phân tích, tổng hợp để xử lý tư liệu liên quan đến đề tài

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp trắc nghiệm

- Phương pháp thu thập thông tin

- So sánh, đối chiếu lí luận với thực tiễn, rút ra kết luận và đề xuất

7.3 Phương pháp toán học

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để so sánh, thống kê, xử lí số liệu mà chúng tôi khảo sát được

8 Cấu trúc của đề tài

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Biện pháp rèn kĩ năng nghe - viết chính tả cho học sinh lớp 3

Chương 3: Thể nghiệm sư phạm

Trang 14

Chuẩn chính tả bao gồm chuẩn chữ viết các âm (phụ âm, nguyên âm, bán âm) và các thanh, chuẩn viết tên riêng (viết hoa), chuẩn viết phiên âm từ và thuật ngữ vay mượn Hiện nay, chuẩn viết các âm và các thanh tiếng Việt đã được xác định theo hệ thống ngữ âm của chữ viết Chuẩn viết hoa tuy chưa thật thống nhất, nhưng xu hướng đang được chấp nhận là viết hoa con chữ đầu của mỗi âm tiết thuộc từ tên riêng (Việt Nam, Hồ Xuân Hương, ) Nếu tên riêng là cụm từ thể hiện một hay hơn một danh từ chung và một danh từ riêng thì viết hoa con chữ đầu thuộc âm tiết đầu thuộc âm tiết đầu của các danh từ chung, còn danh từ tiếng viết hoa theo quy định (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường Đại học Tây Bắc, ) Chuẩn viết âm từ vay mượn (tiếng nước ngoài) phức tạp hơn: đang tồn tại hai cách viết phiên âm, đó là phiên âm âm tiết hóa (có gạch nối giữa các âm tiết của từ như: Lê - nin, Pa - ri ) và phiên âm từ hóa (viết liền các âm tiết, tôn trọng âm chữ theo hệ La tinh như Pari, Canada, Victor Hugo ) [4; tr 136]

1.1.1.2 Chính tả nghe - viết

Chính tả nghe - viết là kiểu bài thể hiện đặc trưng của phân môn chính tả Kiểu bài này yêu cầu HS nghe từng từ, cụm từ, câu do GV đọc, vừa nghe vừa tái hiện hình thức chữ viết của các từ, cụm tự, câu ấy Hay nói cách khác, học sinh phải có năng lực chuyển ngôn ngữ âm thanh thành ngôn ngữ viết Yêu cầu đặt ra là học sinh phải viết đủ

số âm tiết đã nghe, viết đúng và nhanh theo tốc độ quy định của từng lớp, nghĩa là học

sinh cùng lúc phải phối hợp nghe để nhớ, viết [7; tr 202]

Trang 15

1.1.1.3 Chính âm

Theo cuốn Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học II (Lê Phương Nga) có đề

cập đến vấn đề chính âm như sau: Chính âm là các chuẩn mực phát âm của một ngôn ngữ có giá trị và hiệu lực về mặt xã hội Chính âm sẽ quy định nội dung luyện phát âm ở tiểu học Chính âm liên quan đến vấn đề chuẩn hóa ngôn ngữ, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Việc hiểu biết về chính âm sẽ giúp chúng ta xác định được nội dung đọc đúng, đọc diễn cảm một cách có nguyên tắc

1.1.1.4 Kĩ năng

Khi nói về khái niệm kĩ năng thì có rất nhiều quan điểm khác nhau, theo cuốn từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên), năm 2005, NXB Đà Nẵng có đề cập về khái niệm kĩ năng như sau: kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế Cũng có quan niệm cho rằng, kĩ năng là năng lực (khả năng) của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi

Trên đây là một số khái niệm mà nhóm đề tài quan tâm để phục vụ cho việc nghiên cứu

1.1.2 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

1.1.2.1 Một số quan điểm về đổi mới Giáo dục tiểu học

Vấn đề đổi mới toàn diện về giáo dục trong đó có đổi mới phương pháp dạy học

đã được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước thông qua Nghị quyết Trung ương

IV (khóa VII), nghị quyết Trung ương II (khóa VII) và Luật Giáo dục Những quan điểm về đường lối chỉ đạo của nhà nước về đổi mới giáo dục nói chung và giáo dục tiểu học nói riêng được thể hiện trong nhiều văn bản, đặc biệt trong các văn bản sau:

Nghị quyết số 44/NQ-CP, ngày 09/06/2014 Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế xác định “đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục theo hướng đánh giá năng lực của người học, kết hợp đánh giá cả quá trình với đánh giá cuối kì học, cuối năm học theo mô hình của các nước có nền giáo dục phát triển” [3; tr Sđd]

Trang 16

Trong chỉ thị số 40 - CT/TN ngày 15 tháng 6 năm 2004, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục Mục tiêu của chỉ thị là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ đảm bảo chất lượng, đồng bộ về cơ cấu đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chính thức ban hành Thông tư số

30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Quy định đánh giá học

sinh tiểu học Theo thông tư này, nhiều điểm mới trong đánh giá kết quả học tập của

thường xuyên của HS không phải bằng điểm số như trước đây mà thay bằng lời nhận xét Mô hình này kế thừa những mặt tích cực của mô hình dạy truyền thống, nhưng nhấn mạnh “đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh; coi trọng việc động viên, khuyến khích tính tích cực và vượt khó trong học tập, rèn luyện của học sinh”, “đánh giá không so sánh với học sinh khác, không tạo áp lực cho học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh”

Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” ở trường phổ thông theo hướng dẫn tại Công văn số 3535/BGDĐT-GD ngày 27/5/2013,

mà mục tiêu của phương pháp này là chú ý cung cấp kiến thức cho học sinh, chú ý nhiều đến việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho HS

Những quan điểm trên đều nhằm mục đích đổi mới toàn diện nền giáo dục theo hướng tích cực, đây là những tiền đề, cơ sở thuận lợi cho việc đổi mới giáo dục phổ thông nói chung và cấp tiểu học nói riêng Một số quan điểm về đổi mới giáo dục này sẽ

là những cơ sở khoa học cơ bản để nhóm tác giả nghiên cứu đúng hướng và có thể góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục

1.1.2.2 Một số đặc điểm tâm sinh lí và ngôn ngữ của học sinh

a) Cơ sở tâm sinh lí

Bậc tiểu học là một giai đoạn học tập mới đối với trẻ Đến trường thực hiện hoạt động học tập là bước ngoặt quan trọng trong đời sống của trẻ ở lứa tuổi này Hoạt động học tập cũng là hoạt động chủ đạo của các em Vì vậy khi tiến hành dạy học cho HS cần

chú đến các đặc điểm tâm lí lứa tuổi tiểu học

Viết chữ nói chung và viết chính tả nói riêng không chỉ là vận động cơ bắp mà còn

là những thao tác trí óc của người viết Kĩ năng chính tả bao gồm các cử động phối hợp thuần thục các ngón tay, bàn tay, cổ tay, cánh tay sử dụng bút làm sao thể hiện đúng các chữ, đảm bảo sự khu biệt và tốc độ viết chữ nhanh Hệ cơ, xương và hệ thần kinh cao

Trang 17

cấp đang phát triển Do đó khi dạy viết chính tả cho HS cần chú ý không cho các em viết quá nhiều, điều chỉnh tư thế ngồi viết cũng như tư thế viết đúng Ngoài ra khả năng chú ý của HS tiểu học còn yếu, thiếu bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ phân tán Các em chỉ hay chú ý và hứng thú với các môn học có đồ dùng trực quan sinh động Vậy nên khi dạy học chính tả nghe viết cho HS tiểu học cần khơi gợi sự hứng thú, lòng yêu quý môn học cho các em

Mục đích dạy chính tả là hình thành cho HS năng lực viết thành thạo, thuần thục

chữ viết theo đúng chuẩn chính tả, giúp HS hình thành kĩ xảo chính tả Kĩ xảo chính tả nghĩa là giúp HS viết đúng chính tả một cách tự động hóa, không cần phải nhớ đến quy tắc chính tả, không cần đến sự tham gia của tư duy Để đạt được điều này có thể tiến hành theo hai cách: có ý thức và không có ý thức Cách có ý thức , phải bắt đầu từ việc nhận thức các quy tắc, các mẹo luật chính tả và luyện tập, từng bước đạt tới các kĩ xảo chính tả Cách này sẽ tiết kiệm thời gian công sức và đó cũng là con đường ngắn nhất và đạt hiệu quả cao Cách không có ý thức, không cần biết đến sự tồn tại của các quy tắc chính tả, không cần hiểu mối quan hệ giữa ngữ âm và chữ viết, những cơ sở từ vựng và ngữ pháp chính tả, mà chỉ đơn thuần là viết đúng từng trường hợp, từng từ cụ thể với chuẩn chính tả Ở đây, không tốn nhiều thời gian, công sức và không thúc đẩy sự phát triển của tư duy, chỉ củng cố trí nhớ máy móc ở một mức độ nhất định Ở tiểu học, cần vận dụng linh hoạt và phù hợp với từng giai đoạn lứa tuổi, đặc điểm tâm lí để có thể đạt được các yêu cầu về tiêu chuẩn chính tả Đối với các lớp đầu cấp (lớp 1, 2, 3) chủ yếu

sử dụng cách không có ý thức, còn các lớp cuối cấp (lớp 4, 5) chủ yếu là cách có ý thức

Kĩ năng viết đúng chính tả phải có sự kết hợp thuần thục của ngón tay, bàn tay,

cổ tay, cánh tay thì mới có thể viết đúng, nhanh và đẹp Vậy nên chính tả đòi hỏi phải có

sự kết hợp khéo léo của cá nhân Chính tả giúp học sinh phát triển thính giác (Chính tả nghe - viết) và giúp thính giác của các em nhạy bén hơn Tăng cường sự tập trung chú ý của học sinh

Mặt khác, “Chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm Viết chính tả tiếng Việt chủ yếu là ghi âm âm tiết, thể hiện các thành phần âm vị trong cấu trúc âm tiết thành chữ -

âm tiết Các chữ cái biểu tượng âm thanh, nói đúng hơn là biểu tượng thính giác âm thanh, được tiếp nhận thính giác qua lời nói Trong khi chính tả đối với các ngôn ngữ có biến đổi hình thái biểu hiện qua chữ viết thường đòi hỏi phải phân biệt các dạng thức ngữ pháp của từ chính tả tiếng Việt thường phục vụ vào mối liên hệ âm vị - chữ cái và

Trang 18

mối liên hệ âm - nghĩa ở những trường hợp có đồng âm” [7; tr 194]

Bên cạnh biểu tượng thính giác âm thanh, viết đúng chính tả còn là sự tái tạo các mẫu chữ, các kĩ năng ghi nhớ các biểu tượng thị giác về chữ - âm tiết và cách viết âm tiết Biểu tượng thị giác có quan hệ với nghĩa Mối liên hệ chữ - nghĩa được phản ánh trong quá trình tiếp nhận, ghi nhớ và thể hiện bằng chữ viết Điều này được biểu diễn qua sơ đồ:

(Biểu tượng thính giác có liên hệ với nghĩa)

(Biểu tượng thị giác có liên hệ với nghĩa)

Như vậy, lí luận tâm lí học hiện đại đề cao vai trò của ý thức, phát huy tính tích cực tự động hóa trong việc hình thành kĩ năng chính tả Các nhà tâm lí học nhấn mạnh

sự thống nhất giữa tự động và ý thức ở một mức độ nhất định của kĩ năng chính tả:

“Việc động viên tính tự giác tích cực của học sinh khi tiếp thu tài liệu chính tả mới đặc biệt quan trọng Tính tính cực đó được biểu hiện ở sự tập trung chú ý, tập trung tư tưởng cao độ của học sinh trong giờ học Sự chú ý không phải một chức năng độc lập của tâm

lí con người như sự tái hiện tư duy, tình cảm Sự chú ý luôn đi kèm với một hoạt động nhất định của con người, đánh dấu mức độ tự giác, tích cực với công việc mà anh ta tiến

hành” (D.N Bôgooiavlenxki, Các nguyên tắc tâm lí của việc dạy chính tả, người dịch

Lê A) Xuất phát từ cơ sở tâm lí học, trong dạy học chính tả cần sử dụng các phương pháp thích hợp có tác dụng khơi gợi và kích thích sự chú ý, tích cực hóa hoạt động tư duy của học sinh, làm cho học sinh nhận thức được đầy đủ ý nghĩa thực tiễn của chính

tả trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ viết Những yêu cầu của kĩ năng chính tả được học sinh tiếp nhận và tự giác rèn luyện để ứng dụng có hiệu quả trong thực tiến.[7;

tr 194]

b) Cơ sở ngôn ngữ học

Thứ nhất, đặc điểm ngữ âm tiếng Việt, Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn

lập, tức là mỗi một tiếng (âm tiết) tách rời nhau và được thể hiện bằng một chữ viết Trong tiếng Việt có một loại đơn vị đặc biệt gọi là tiếng, mỗi tiếng gọi là một âm tiết Tiếng Việt là một thứ ngôn ngữ có nhiều thanh điệu độc lập mang nghĩa Vì thế trong

Chữ

Âm - cách viết - nghĩa

Âm - cách viết

Trang 19

chuỗi lời nói, ranh giới giữa các âm tiết được thể hiện rõ ràng, các âm tiết không bị nối dính với nhau như trong các ngôn ngữ biến hình Về cấu tạo, âm tiết tiếng Việt là một

hệ thống âm thanh có tổ chức nhất định, các yếu tố cấu tạo âm tiết kết hợp với nhau ở mức độ lỏng, chặt khác nhau Phụ âm đầu, vần và thanh kết hợp với nhau khá chặt chẽ Vần có vai trò quan trọng trong tiếng Việt Âm tiết có thể không có phụ âm đầu nhưng không thể thiếu phần vần, có phần vần thì câu từ đó mới có nghĩa Âm tiết có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống các đơn vị ngữ âm tiếng Việt Đồng thời tập trung đầy đủ những đặc điểm của tiếng Việt về mặt ngữ âm Bên cạnh đó, âm tiết còn là đơn vị cơ bản trên bình diện biểu hiện của hệ thống các đơn vị ngữ pháp và hệ thống các đơn vị

ngữ từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt Như vậy, chính tả tiếng Việt về cơ bản là chính tả

âm tiết Viết đúng chính tả tiếng Việt chủ yếu là biết viết đúng các tổ hợp chữ cái ghi

âm tiết Do đó việc lựa chọn chữ - âm tiết làm đơn vị để dạy trong quá trình dạy tiếng

Việt nói chung, dạy chính tả nói riêng, cần được coi là vấn đề hiển nhiên, rõ ràng

Thứ hai, đặc điểm chữ viết tiếng Việt, chữ viết tiếng Việt thường được gọi là chữ

Quốc ngữ, cách gọi này có tác dụng phân biệt với chữ Hán (chữ viết tiếng Trung Quốc)

và chữ Nôm (chữ viết được tạo ra trên cơ sở của chữ Hán) Chữ Hán và chữ Nôm tồn tại trong thời kì phong kiến và có phạm vi sử dụng hạn chế Chữ Quốc ngữ được xây dựng trên cơ sở chữ cái La tinh bao gồm 26 kí hiệu cơ bản Mỗi kí hiệu biểu hiện một âm vị tương ứng trong ngôn ngữ Vì thế, chữ viết tiếng Việt là một chữ viết được ghi âm tương đối hợp lí Ở cấp độ âm tiết, nói chung có sự đối ứng một - một giữa âm và chữ -

“phát âm thế nào thì viết thế ấy” Đối với người Việt Nam, có một số lượng lớn âm tiết

mà ai cũng có thể viết đúng chính tả dễ dàng Như vậy, về cơ bản, chính tả tiếng Việt là

chính tả ngữ âm, giữa cách đọc và cách viết thống nhất với nhau [7; tr 190] Chữ viết

tiếng Việt được tạo trên cơ sở của chữ Hán Các âm trong tiếng Việt được ghi lại bằng

chữ cái hoặc tập hợp các chữ cái Chữ viết tiếng Việt gồm các chữ cái sau: dùng để ghi

11 nguyên âm đơn: a, ă, â, e, ê, i(y), o, ô, ơ, u, ư và 3 nguyên âm đôi iê (yê, ia, ya), ươ, (ưa), uô (ua); dùng 23 phụ âm: b, c (k, q), ch, d, đ, g (gh), gi, h, kh, l, m, n, nh, ng (ngh),

p, ph, r, s, t, th, tr, v, x Ngoài các chữ cái, do tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu, chữ viết tiếng Việt còn sử dụng thêm 5 dấu để ghi 6 thanh điệu đó là: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng, thanh hỏi, thanh sắc Không dùng dấu để ghi thanh ngang Chữ viết tiếng Việt, một chữ viết ghi âm với nguyên tắc chính tả thuần túy âm vị học (hay như vẫn quen gọi là nguyên tắc ngữ âm học), không phản ánh một cách phát âm tự nhiên

Trang 20

một cách thực tế tồn tại của tiếng Việt hiện đại Nguyên tắc âm vị học trong chữ viết yêu cầu giữa âm và chữ phải có quan hệ tương ứng “1-1” Để đảm bảo nguyên tắc này, chữ quốc ngữ ít nhất phải thỏa mãn hai điều kiện: mỗi âm chỉ do một kí hiệu biểu thị và mỗi kí hiệu luôn luôn chỉ có một giá trị, tức biểu thị chỉ một âm duy nhất ở mọi vị trí

Thứ ba, đặc điểm ngữ nghĩa tiếng Việt, chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm

nhưng trong thực tế muốn viết đúng chính tả, việc nắm nghĩa của từ rất quan trọng, hiểu nghĩa của từ là một trong những cơ sở giúp người học viết đúng chính tả Vì vậy, việc đặt một hình thức ngữ âm nào đó trong từ (mỗi từ gắn với một nghĩa xác định) sẽ giúp học sinh dễ dàng viết đúng chính tả Xét ở góc độ này, chính tả tiếng Việt còn là loại chính tả ngữ nghĩa [7; tr 193] Việc nhìn nhận và hiểu nghĩa của từ nào đó thì viết đúng chính tả cũng có phần có cơ sở Chẳng hạn từ có hình thức ngữ âm là “za” khi học sinh chưa thể phân biệt được nên viết với r, d, gi thì việc căn cứ vào nghĩa của từ khi kết hợp với một từ khác, học sinh lại có thể xác định được và viết đúng từ cần viết, ví dụ như: viết là “ra” (trong ra vào, ngoài ra, ) là “da” (trong da tay, da chân, ) hay “gia” (trong gia đình, gia tộc, ) Do đó, khi còn phân vân trong trường hợp không biết nên viết với hình thức chính tả nào cho đúng, chúng ta có thể xét đến bình diện ngữ nghĩa này làm

căn cứ

Trên đây là những cơ sở khoa học của việc dạy học chính tả, giúp nhóm đề tài chúng tôi nắm được một số lí luận khoa học liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.1.2.3 Một số vấn đề chung về dạy học Chính tả ở tiểu học

a) Vị trí, nhiệm vụ, chương trình của dạy học Chính tả

* Vị trí của việc dạy học Chính tả

Trang 21

Khi nói đến vị trí của chính tả cần nói đến hai nội dung chính sau đây:

Thứ nhất, vị trí của chính tả trong đời sống xã hội, chính tả có vai trò quan trọng

trong đời sống của mỗi cá nhân và cả cộng đồng xã hội Việc thực hành tốt các kĩ năng

về chính tả, đặc biệt là nghe - viết không chỉ có ý nghĩa trong giao tiếp hằng ngày mà còn thể hiện tư duy và trình độ văn hóa của mỗi người Giao tiếp trong xã hội cần có một chuẩn mực, chuẩn mực về lời nói và chữ viết thì người được giao tiếp mới có thể hiểu được nội dung giao tiếp Chính tả biểu hiện tư duy được thể hiện ở chỗ nó là một cái đã biết trước, nắm được và nhớ được nhanh, chính xác những quy tắc về chữ viết Chính tả thể hiện trình độ văn hóa ở chỗ, đó là những người có vốn hiểu biết, có trình

độ học thức, hiểu về văn hóa Việt thì mới có thể sử dụng câu từ đúng Một khía cạnh nào đó, chính tả rèn tính cẩn thận, chính xác, bồi dưỡng cho HS tinh thần trách nhiệm với công việc, óc thẩm mĩ Dân ta thường có câu “ Luyện nét chữ - rèn nết người ” là vậy Chính tả giúp cho người đọc, người nghe hiểu được nội dung mà mình cần truyền đạt Hay nói cách khác là nói đúng, viết đúng thì người đọc, người nghe mới tiếp nhận đúng Hiểu và dùng đúng chính tả thì mới tự tin bước ra ngoài xã hội và như thế mới khẳng định được bản thân Để có thể giao tiếp tốt trong xã hội, chính tả có thể coi là một yếu tố rất quan trọng nên mỗi người cần phải học tập và tìm cho mình vốn hiểu biết về chính tả để có thể giao tiếp thành công trong cuộc sống

Thứ hai, vị trí của phân môn Chính tả ở trường tiểu học, Chính tả là một phân

môn có tầm quan trọng đặc biệt của môn Tiếng Việt ở tiểu học, chính tả dạy cho các em tri thức và các kĩ năng về chính tả, phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ ở dạng viết trong giao tiếp Giúp các em học tập, giao tiếp và tham gia các hoạt động xã hội được thuận tiện hơn Sử dụng đúng chính tả góp phần vào việc giữ gìn sự trong sáng và thống nhất của tiếng Việt Đến với trường, lớp HS biết đến chữ viết và cách sử dụng nó trong hoạt động giao tiếp Tiểu học là giai đoạn các em đã biết sử dụng lời nói, chữ viết để thể hiện suy nghĩ của mình nên cần phải rèn kĩ năng chính tả cho các em để sau này các em

có thể dễ dàng học tập và giao tiếp Ngoài ra, chính tả còn giúp cho việc hình thành và phát triển tư duy cho học sinh Bởi chính tả còn đòi hỏi các em phải nhớ đúng và cách

sử dụng từ ngữ, để có thể hình thành thói quen viết đúng chính tả Qua phân môn Chính

tả, HS hiểu và biết cách sử dụng chính tả thì mới có thể tiếp thu các kiến thức khoa học

tự nhiên và khoa học xã hội khác Điều đó có thể thấy rõ trong quá trình học tập của các

em Bất kì môn học nào cũng đòi hỏi phải biết đọc, viết đúng và hiểu được nội dung từ

Trang 22

ngữ Chính tả là môn học có tính chất công cụ, có vị trí quan trọng trong đời sống của học sinh, là môn học đặt nền móng cho sự phát triển ngôn ngữ và tiếp thu các kiến thức khác HS biết sử dụng chính tả thì mới có thể học tập giao tiếp tốt đối với gia đình, bạn

bè và thầy cô Hiểu đúng về chính tả thì các em dễ dàng tiếp thu các kiến thức từ người khác và những kiến thức khoa học nhất định Hình thành kĩ năng, kĩ xảo về chính tả để các em có thể tự tin học tập và tiến bước xa hơn trên con đường tìm đến tri thức, một phần nào đó dạy cho các em hiểu biết hơn về sự trong sáng và giàu đẹp của tiếng Việt

* Nhiệm vụ của dạy học Chính tả

Phân môn Chính tả dạy cho trẻ biết chữ để học tiếng, dùng chữ để học các môn khác và để sử dụng trong giao tiếp hằng ngày Qua các giờ học Chính tả, học sinh nắm được các quy tắc chính tả, hình thành các kĩ năng, kĩ xảo chính tả, hình thành năng lực viết đúng, thể hiện các văn bản trên vở, bảng, từ đó góp phần hình thành nhân cách và

phát triển tư duy cho học sinh Cùng với phân môn Tập viết, phân môn Chính tả giúp

học sinh nắm vững các quy tắc chính tả, hình thành các kĩ năng chính tả, củng cố và hoàn thiện các tri thức cơ bản về hệ thống ngữ âm và chữ viết tiếng Việt, trang bị cho

học sinh công cụ để học tập và giao tiếp trong xã hội Qua phân môn Chính tả, bồi

dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, hình thành thói quen cẩn thận, sạch sẽ, kiên trì,

từ đó góp phần hình thành và phát triển nhân cách cho các em

* Chương trình của việc dạy học Chính tả lớp 3

+ Viết đúng mẫu chữ, đúng chính tả, không mắc quá 5 lỗi/1 bài/60 tiếng (chữ)

HS không vừa đánh vần vừa viết, có ý thức phân biệt các âm, vần dễ lẫn trên chữ viết

+ Đạt tốc độ viết từ 60 - 70 chữ/15 phút

+ Bồi dưỡng cho HS một số đức tính, thái độ cần thiết trong công việc như: cẩn thận, chính xác, có óc thẩm mĩ, lòng tự trọng và tinh thần trách nhiệm

b) Nguyên tắc dạy học Chính tả

Trang 23

Dạy học Chính tả ở tiểu học cần tuân thủ theo những quy tắc nhất định Theo cuốn Phương pháp dạy học Tiếng Việt I (Lê Phương Nga) có đề cập một số nguyên tắc sau:

* Nguyên tắc dạy học chính tả theo khu vực

Nguyên tắc này đòi hỏi nội dung dạy chính tả phải sát với phương ngữ, nghĩa là xuất phát từ thực tế mắc lỗi chính tả của học sinh ở từng khu vực, từng miền để hình thành nội dung giảng dạy Có xác định được những trọng điểm chính tả cần dạy cho từng khu vực, từng địa phương thì mới tối ưu hóa việc dạy chính tả được Bên cạnh đó, khi dạy chính tả cho học sinh tiểu học giáo viên cần có sự mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo trong giảng dạy những nội dung cụ thể sao cho sát hợp với đối tượng học sinh mình dạy Trong chừng mực nhất định, có thể giảm bớt những nội dung không cần thiết trong sách giáo khoa và bổ sung những nội dung thấy cần thiết ngoài sách giáo khoa Khi dạy chính tả cho học sinh giáo viên cần nắm được nguyên tắc này và vận dụng phù hợp để truyền đạt đúng kiến thức và học sinh tiếp thu một cách có hiệu quả

* Nguyên tắc kết hợp giữa chính tả có ý thức và chính tả không có ý thức trong dạy học chính tả

Trong học tập, mọi hoạt động đều là hoạt động có ý thức Khái niệm “có ý thức”

và “không có ý thức”có thể được hiểu là học các “quy tắc, quy luật” chính tả đối lập với học thuộc các trường hợp chính tả “bất quy tắc”

Có thể phân biệt hai loại chính tả đó là loại chính tả có ý thức và không có ý thức như sau:

Thứ nhất, loại chính tả có thức: đó là loại chính tả nhằm phát hiện các quy tắc chính tả trên cơ sở của phép viết đúng chính tả Loại chính tả này về cơ bản đây là con đường được triển khai từ việc nhận thức các quy tắc và các mẹo luật chính tả để làm cơ

sở cho việc thực hành luyện tập tiến tới hình thành kĩ năng, kĩ xảo viết đúng chính tả cho học sinh Chính tả có ý thức đòi hỏi HS vận dụng các thao tác tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp, để rút ra quy tắc chính tả vận dụng vào để viết Học sinh nắm được quy tắc chính tả, nắm được cách viết đúng mà không cần phải ghi nhớ máy móc theo từng trường hợp cụ thể

Thứ hai, loại chính tả không có ý thức: đó là loại chính tả “bất quy tắc”, cần học thuộc và ghi nhớ các trường hợp cụ thể Con đường này được hiểu là việc hình thành kĩ xảo một cách tự nhiên Đặc trưng của nó có thể là lĩnh hội một hành động nào đó thì

Trang 24

việc dạy chính tả không cần chú ý đến sự tồn tại của các quy tắc chính tả, không cần hiểu mối quan hệ giữa ngữ âm và chữ viết, những cơ sở ngữ pháp của chính tả mà đơn thuần chỉ là viết được từng từ cụ thể, từng trường hợp riêng lẻ

Khi dạy chính tả cho HSTH chúng ta không được chỉ để tâm đến con đường có ý thức mà còn phải chú ý đến con đường chính tả không có ý thức Bởi cách ghi nhớ máy móc trong con đường không có ý thức sẽ giúp HS phản ứng nhanh mà không cần phải

- Phương pháp bỏ cái sai: phương pháp này đưa ra các trường hợp viết sai chính

tả, hướng dẫn học sinh phát hiện sửa chữa rồi từ đó hướng đến cái đúng, loại bỏ các lỗi chính tả

Có thể thấy, cả hai phương pháp này đều có những ưu và hạn chế riêng nhưng ưu điểm bên này sẽ khắc phục hạn chế bên kia và ngược lại Vì vậy, khi dạy chính tả ở tiểu học cần sử dụng phối hợp cả hai phương pháp này Như thế việc dạy học sẽ đạt hiệu quả cao hơn

* Nguyên tắc kết hợp chính tả tiếng Việt và quy tắc viết hoa hiện hành

Chính tả tiếng Việt luôn có những nguyên tắc nhất định Cố gắng đảm bảo sự

nhất quán của tiếng Việt trong từng trường hợp cụ thể Theo cuốn Tiếng Việt thực hành,

Bùi Minh Toán (chủ biên), Nhà xuất bản Giáo dục, có đề cập đến các nguyên tắc kết hợp chính tả và quy tắc viết hoa hiện hành:

- Nguyên tắc kết hợp chính tả tiếng Việt

Các chữ cái biểu thị các phần của âm tiết: tất cả các chữ cai ghi nguyên âm đều

có thể làm kí hiệu ghi âm chính của âm tiết; có hai chữ cái để ghi âm đệm là o và u, các

kí hiệu: p, t, m, n, c, ng (nh), i (y), u (o) biểu thị các âm cuối

Sự phân bố các vị trí giữa các kí hiệu cùng biểu thị một âm:

K, C, Q: K viết trước kí hiệu ghi nguyên âm (bộ phận nguyên âm đôi): e, ê, i

(kính, kiên, kia, ); C viết trước các kí hiệu ghi nguyên âm (bộ phận nguyên âm đôi): a,

ă, â, o, ô, ơ, u, ư (ca, căn, cân, ); Q viết trước âm đệm: u (quả, quang, quăng, ) (Riêng trường hợp ka, ki, theo thói quen k vẫn viết trước a)

Trang 25

G, GH - NG, NGH: G, NG viết trước các kí hiệu ghi nguyên âm (bộ phận nguyên

âm đôi): a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư (nga, ngăn, go, gô, ngơ, ); GH, NGH viết trước các kí hiệu ghi nguyên âm (bộ phận nguyên âm đôi): ơ, ê, i (nghe, ghế, nghiền, ); IÊ, YÊ, IA, YA;

IÊ viết sau âm đầu, trước âm cuối: chiến, tiên tiến, diễn viên, ; YÊ viết sau âm đệm,

trước âm cuối: tuyên truyền, quyên, duyên, hoặc khi mở đầu bằng âm tiết: yết, yên; IA

viết sau âm đầu, không có âm cuối: chia, phía, kia, ; YA viết sau âm đệm, không có

âm cuối: khuya

UA, UÔ: UA viết khi không có âm cuối: ủa, của, múa, ; UÔ viết trước âm cuối:

suối, suốt, chuối,

ƯA, ƯƠ: ƯA viết khi không có âm cuối: chưa, thừa, chứa, ; ƯƠ viết trước âm

cuối: nước, thương, chương,

O, U làm âm đệm: sau chữ cái ghi phụ âm Q chỉ viết U: quang, quân, quyên,

quen, ; sau các âm khác hoặc mở đầu âm tiết thì viết O trước các nguyên âm: a, ă, e (

hoa, khoăn, toét, ) và viết U trước các nguyên âm: â, ê, y, ya, yê (huân, khuynh, khuya,

nguyên, huê, )

I, Y làm âm chính: I viết sau âm đầu: bi, phi, kĩ, mĩ, kính, minh, ; Y viết sau âm

đệm: quy, quynh, Khi đứng một mình viết I đối với các từ thuần Việt: ỉ eo, ầm ĩ,… viết Y đối với từ gốc Hán: y tá, ý kiến,

- Quy tắc viết hoa hiện hành: Chữ hoa trong tiếng Việt có các chức năng cơ bản

sau:

+ Đánh dấu sự bắt đầu một câu

+ Ghi tên riêng của người, địa danh, tên cơ quan, tổ chức,

+ Biểu thị sự tôn kính: Bác Hồ, Người,

Quy định về cách viết hoa tên riêng:

Thứ nhất, đối với tên riêng tiếng Việt

Tên người và tên địa lí: Viết hoa tất cả các chữ cái đầu của các âm tiết và không dùng gạch nối: Trần Quốc Toản, Lê Lợi, Quang Trung, Sơn La, Nam Định, Yên Bái,

Tên tổ chức cơ quan: viết hoa chữ cái đầu của âm tiết đầu tiên và các âm tiết đầu của các bộ phận tạo thành tên riêng: Trường Tiểu học Chiềng pha, Trường Đại học Tây Bắc,

Thứ hai, đối với tên riêng không phải tiếng Việt

Trang 26

Những tên riêng có hình thức phiên âm Hán Việt quen dùng trong tiếng Việt thì nói chung không thay đổi: Anh, Pháp, Mĩ, Lỗ Tấn, (viết hoa tất cả các chữ cái đầu âm tiết của tên riêng phiên âm Hán Việt) Đối với những trường hợp khác, phiên âm trực tiếp ra tiếng Việt, viết sát theo cách đọc (đối với mỗi bộ phận tạo thành tên riêng, viết hoa chữ cái đầu và có gạch nối giữa các âm tiết: Phri - đrích Ăng - ghen, Mát - xcơ - va, ) Tên cơ quan tổ chức, đoàn thể nước ngoài nếu được viết theo cách định nghĩa thì viết như viết các tên cơ quan, tổ chức, đoàn thể Việt Nam; nếu viết tắt thì viết nguyên dạng tắt, có thể viết ghi thêm tên dịch nghĩa hoặc tên nguyên dạng: WB (Ngân hàng Thế giới), WB (World Bank),

Những nguyên tắc trên đây sẽ là những yếu tố giúp người đọc hiểu biết hơn về chính tả tiếng Việt Đây cũng chính là những lí luận cơ bản để nhóm đề tài triển khai những nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu

c) Phương pháp dạy học Chính tả

Phương pháp dạy học Chính tả là sự cụ thể hóa các phương pháp chung cho phù hợp với đặc điểm của phân môn Dưới đây là các phương pháp thường được sử dụng trong phân môn Chính tả

* Phương pháp phân tích ngôn ngữ

Phương pháp phân tích ngôn ngữ bao gồm các thao tác phân tích và tổng hợp Thao tác phân tích thể hiện ở việc phân tích cấu tạo của chữ (ghi tiếng), cách đọc các

âm, vần khó hay dễ lẫn, giải thích nghĩa trên tiếng/từ Phân tích còn là so sánh sự tương đồng, khác biệt về âm, nghĩa và chữ của các từ ngữ có trong bài Việc phân tích giúp

cho HS khắc sâu, ghi nhớ và hiểu sâu sắc về hiện tượng chính tả

Ngược lại với phân tích là tổng hợp Các thao tác tổng hợp thể hiện trong việc

khái quát các hiện tượng chính tả thành các quy tắc chính tả hoặc thành các mẹo chính

tả cho HS dễ nhớ, dễ viết Thao tác phân tích tổng hợp được phối hợp với nhau một cách linh hoạt trong suốt giờ học Chính tả Muốn hoạt động phân tích ngôn ngữ có hiệu quả cần phải tạo điều kiện để HS thực hành phân tích, tổng hợp GV không làm hộ mà

giữ vai trò hướng dẫn, gợi ý, giúp HS lưu ý các hiện tượng chính tả cần quan tâm

* Phương pháp giao tiếp

Phương pháp giao tiếp được thể hiện ở việc GV tổ chức tiết học bằng cách giao nhiệm vụ học tập sao cho HS tích cực, chủ động tham gia vào hoạt động giao tiếp một cách có hiệu quả

Trang 27

Hình thức giao tiếp trong dạy học chính tả rất đa dạng, bao gồm cả nghe, nói, đọc, viết Thao tác nghe trong phân môn Chính tả vừa là nghe, đọc bài chính tả, vừa là nghe GV hoặc nghe bạn nói về hiện tượng chính tả, quy tắc chính tả Trong giờ học Chính tả thao tác viết được sử dụng thường xuyên nhất, từ bước kiểm tra bài cũ đến bước viết chính tả đoạn bài, và cả bước làm bài tập chính tả âm, vần

Muốn HS giao tiếp được tốt, GV phải soạn hệ thống câu hỏi và bài tập chính tả phong phú, phù hợp với đặc điểm tâm lí, đặc điểm ngôn ngữ và vốn hiểu biết về tự nhiên và xã hội của HS Cần tạo ra tình huống để HS hứng thú với bài học, khắc sâu kiến thức hơn cho các em

* Phương pháp rèn luyện theo mẫu

Phương pháp rèn luyện theo mẫu trong dạy học chính tả là sự vận dụng các quy tắc hay mẹo chính tả đã biết vào các trường hợp tương tự Khi thực hiện các bài tập chính tả âm - vần, HS sử dụng các thao tác so sánh, điền thế, phân tích, tổng hợp theo mẫu từ trước hoặc do GV hướng dẫn Qua đó HS có thể giải các bài tập một cách thoải mái và chủ động Rèn luyện theo mẫu còn thể hiện ở việc viết theo mẫu cho trước Mẫu

có thể là bài chính tả tập chép trong SGK hoặc do GV viết lên bảng Chính vì điều này, bài chính tả đoạn - bài được chọn cho HS viết phải là mẫu mức không chỉ về các hiện tượng chính tả mà còn là một văn bản mẫu về nội dung cách sử dụng từ ngữ

Dạy học chính tả cho HS GV cần sử dụng một cách có hiệu quả các phương pháp dạy học trên Không được đề cao quá phương pháp nào, sử dụng các phương pháp đúng lúc đúng chỗ, đúng nội dung sao cho tiết dạy đạt hiệu quả nhất Những phương pháp dạy học này sẽ là những tiền đề lí luận để nhóm đề tài biết áp dụng và tìm ra những ưu điểm và khắc phục những hạn chế khi dạy học chính tả cho HS

1.1.2.4 Những quy định cơ bản vê cách viết và kỹ thuật viết

Để viết đúng chính tả tiếng Việt thì người viết cần phải nắm được các quy định

về cách viết và kĩ thuật viết chữ Có như vậy thì mới có thể đảm bảo viết đúng, viết đẹp

và nhanh Theo cuốn Rèn kĩ năng sử dụng Tiếng Việt, Đào Ngọc - Nguyễn Quang Ninh,

Nhà xuất bản Giáo dục đã đề cập đến những quy định về cách viết và kĩ thuật viết như sau:

a) Tư thế ngồi viết và cầm bút

Ngay ở lớp 1 học sinh đã được hướng dẫn về tư thế ngồi viết và cầm bút như sau

- Ngồi ngay ngắn, lưng thẳng, không tì ngực vào bàn

Trang 28

- Đầu hơi cúi, cự li giữa mắt và vở từ 25cm đến 30cm

- Tay trái đặt lên phía trước bên trái cuốn vở (hoặc giấy viết)

- Tay phải cầm bút và điều khiển nét viết bằng 3 ngón tay (ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa) Các ngón tay phối hợp đồng thời với cổ tay, cánh tay và di chuyển trên trang giấy một cách mềm mại theo nét viết, theo dòng chữ (từ trái sang phải) Viết hết một dòng chữ lại nâng bút lên và chuyển xuống dòng kế tiếp

Ngồi viết đúng tư thế, cầm bút đúng kỹ thuật sẽ tạo nên sự thoải mái khi viết, chữ viết đẹp hơn và tránh được vẹo cột sống, cận thị,

b) Nét viết

Hiện nay trong nhà trường chúng ta chỉ dạy cho học sinh viết chữ nét đều và đứng (vuông góc với dòng kẻ), không bắt buộc học sinh phải viết chữ có nét thanh nét đậm Tuy vậy, học sinh cũng có thể viết chữ có nét thanh nét đậm hoặc nét chữ nghiêng

để tạo nên những dáng chữ khác nhau

c) Kích thước chữ

Độ cao của chữ viết Tiếng Việt (bao gồm cã chữ viết thường, chữ viết hoa và chữ số) được chia thành 2 nhóm:

- Nhóm chữ có độ cao 1 đơn vị: a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, m, n, r, s, v, x

- Nhóm chữ có độ cao 2 đơn vị bao gồm:

+ Các chữ viết thường sau: b, d, đ, g, h, k, l, p, q, y

+ Tất cả các chữ viết hoa: A, B, C, D

+ Tất cả các chữ số: 1, 2, 3, 4

Riêng chữ t viết thường có độ cao 1 đơn vị rưỡi

d) Tên gọi các nét cơ bản

- Nét ngang (-) có trong các chữ như: A, đ, E

Trang 29

- Nét cong ( ) có trong các chữ c, o, x

- Nét khuyết ( ) có trong các chữ như h, k, l, g

- Nét xoắn ( ) có trong các chữ như b, v, s, k

e) Vị trí dấu thanh trong chữ viết

Trong mỗi chữ, dấu thanh bao giờ cũng được đặt ở chữ cái ghi âm chính của vần (riêng thanh ngang không ghi dấu)

- Các dấu huyền, sắc, hỏi, ngã đặt ở phía trên chữ cái ghi âm chính

Ví dụ: bàn, ghế, vở,

- Riêng dấu nặng đặt ở dưới chữ cái ghi âm chính

Ví dụ: bệnh viện, đặt, nặng, nhẹ,

- Trong các chữ ghi tiếng có bán âm đầu (âm đệm) thì dấu thanh cũng được ghi ở

âm chính (dù sau âm chính không có âm cuối vần)

Ví dụ: chỉ, hỏa, thủy, hoàng,

- Trong các chữ có tiếng nguyên âm đôi thì dấu thanh ghi như sau:

+ Nếu sau nguyên âm đôi không có âm cuối vần thì dấu thanh ghi vào chữ cái thứ nhất của nguyên âm đôi

Ví dụ: cửa, mưa, múa, kìa,

+ Nếu sau nguyên âm đôi có âm cuối vần thì dấu thanh đặt vào dấu thanh thứ hai của nguyên âm đôi

Ví dụ: hiểu, điểm, cuối,

Những quy định và kĩ thuật viết chữ sẽ là những cơ sở để chúng tôi đề xuất các biện pháp rèn cho học sinh các kĩ năng viết chữ để đảm bảo với yêu cầu, đó còn là những lí luận cơ bản để chúng tôi phát hiện và rèn chính tả cho học sinh

Lí thuyết về chính tả nói riêng và tiếng Việt nói chung rất sâu rộng Những hiểu biết về các nguyên tắc chính tả là cơ sở lí luận quan trọng giúp chúng tôi triển khai nghiên cứu thực tiễn dạy học chính tả ở Trường Tiểu học Chiềng Pha và đưa ra những biện pháp cụ thể để khắc phục những lỗi mà các em hay mắc phải

Trang 30

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Khảo sát thực trạng rèn kĩ năng nghe, viết chính tả cho học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La

1.2.1.1 Mục đích khảo sát

Chúng tôi tiến hành khảo sát nhằm phát hiện những lỗi chính tả mà học sinh lớp

3 Trường Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La thường gặp Từ đó đi vào tìm hiểu nguyên nhân mắc lỗi chính tả của học sinh và đề xuất những biện pháp khắc phục

1.2.1.2 Nội dung khảo sát

Câu 2: Khi dạy Chính tả cho học sinh, thầy (cô) thường dạy theo phương pháp nào?

Câu 3: Thầy (cô) thường cho học sinh rèn kĩ năng chính tả trong những thời gian nào? Câu 4: Trong quá trình dạy học, thầy (cô) thấy học sinh thường mắc những lỗi cơ bản nào?

Câu 5: Theo thầy (cô) làm thế nào để các em viết đúng chính tả một cách thành thạo? Câu 6: Thầy (cô) hãy cho biết những khó khăn trong quá trình dạy học chính tả nghe - viết cho học sinh?

Câu 2: Theo em, học Chính tả khó hay dễ?

Câu 3: Trong giờ học Chính tả, em có tích cực phát biểu ý kiến xây dựng bài không? Câu 4: Trong một tiết học Chính tả, em thường gặp khó khăn ở phần nào?

Câu 5: Theo em để nắm vững kiến thức chính tả nên học như thế nào là phù hợp?

- Bài kiểm tra chính tả:

Chính tả nghe - viết: Chiếc áo len

Trang 31

Nằm cuộn tròn trong chiếc chăn bông ấm áp, Lan ân hận quá Em muốn ngồi

dậy xin lỗi mẹ và anh, nhưng lại xấu hổ vì mình đã vờ ngủ Áp mặt xuống gối, em mong trời mau sáng để nói với mẹ: “Con không thích chiếc áo ấy nữa Mẹ hãy để tiền mua áo

ấm cho cả hai anh em.” (Theo Từ Nguyên Thạch)

1.2.1.3 Thời gian và địa điểm khảo sát

- Thời gian khảo sát: tháng 12 năm học 2015 - 2016

- Địa điểm khảo sát: Trường Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La

1.2.1.4 Đối tượng khảo sát

- Khảo sát giáo viên chủ nhiệm của 2 lớp: 3A1, 3A3

- Khảo sát 44 học sinh của 2 lớp: 3A1(22 HS), 3A3 (22 HS)

1.2.1.5 Cách thức khảo sát

- Xây dựng phiếu khảo sát

- Dự giờ tiết dạy học Chính tả

- Kiểm tra vở viết của một số học sinh

Trang 32

b) Hạn chế

Bên cạnh những ưu điểm như trên, hiện trạng dạy học vẫn còn tồn tại một số hạn chế như sau: vì nhà trường áp dụng chương trình dạy học theo chương trình VNEN, phân môn Chính tả không còn tách riêng biệt thành một tiết học riêng nữa, mà nó được dạy kèm theo các môn học khác Vì vậy, thời gian dành riêng cho phân môn này là ít Thời gian giáo viên luyện tập cho học sinh không nhiều Điều kiện vật chất phục vụ cho việc dạy còn chưa đáp ứng được nhu cầu dạy học Một số giáo viên chưa chọn được cho việc dạy những phương pháp thích hợp dẫn đến việc nắm bắt của học sinh chưa thực sự đạt hiệu quả Vì học sinh ở đây hầu như là con em dân tộc thiểu số, ít tiếp xúc với xã hội bên ngoài, khả năng hiểu biết của học sinh còn hạn chế vì vậy việc dạy học của giáo viên cũng gặp nhiều khó khăn

Qua khảo sát về phía giáo viên, chúng tôi tổng hợp kết quả thành trong các bảng sau:

Bảng 1.1: Tổng hợp kết quả khảo của giáo viên về hình thức dạy học Chính tả chủ yếu

STT Tiêu chí lựa chọn Mức độ

Rất thường xuyên (%)

Thường xuyên (%)

Không thường xuyên (%)

Không sử dụng (%)

1 Thầy cô đọc, trò ghi

chép

2 (100%)

0 (0%)

0 (0%)

0 (0%)

2 Đàm thoại giải quyết

vấn đề

2 (100%)

0 (0%)

0 (0%)

0 (0%)

3 Học sinh tự nghiên cứu

và kết luận

0 (0%)

0 (0%)

2 (100%)

0 (0%) Nhìn vào bảng 1.1, ta thấy hình thức dạy học Chính tả chủ yếu của giáo viên là thầy cô đọc, trò ghi chép và hình thức đàm thoại giải quyết vấn đề Hai hình thức này được sử dụng rất thường xuyên trong tiết học Chính tả 2/2 giáo viên lựa ở mức độ rất đồng ý chiếm 100% Còn hình thức học sinh tự nghiên cứu và kết luận thì các giáo viên

ít sử dụng hơn, 2/2 giáo viên đều đồng ý ở mức độ sử dụng là không thường xuyên chiếm 100%

Trang 33

Bảng 1.2: Tổng hợp phương pháp dạy học Chính tả chủ yếu của giáo viên

STT Tiêu chí lựa chọn

Mức độ Rất thường

xuyên (%)

thường xuyên (%)

Không thường xuyên (%)

Không sử dụng (%)

1 Phương pháp giao

tiếp

2 (100%)

0 (0%)

0 (0%)

0 (0%)

2 Phương pháp phân

tích ngôn ngữ

2 (100%) (0%)

0 (0%)

0 (0%)

3 Phương pháp thực

hành luyện tập

2 (100%)

0 (0%)

0 (0%)

0 (0%)

4 Phương pháp trực

quan

0 (0%)

2 (100%)

0 (0%)

0 (0%) Qua bảng kết quả khảo sát trên cho thấy 2/2 thầy cô sử dụng phương pháp giao tiếp, phương pháp phân tích ngôn ngữ và phương pháp thực hành luyện tập trong giờ học Chính tả ở mức độ rất thường xuyên chiếm 100% Hay có thể thấy rằng, thầy cô sử dụng đan xen các phương pháp này trong tiết học Chính tả Còn phương pháp trực quan được thầy cô sử dụng ở mức độ thường xuyên, 2/2 thầy cô đồng ý chiếm 100%

Bảng 1.3: Thầy, cô thường rèn kĩ năng chính tả cho học sinh trong những thời gian nào?

STT Tiêu chí lựa chọn

Mức độ Đồng ý

(%)

Không đồng ý (%)

Rất đồng ý (%)

Rất không đồng ý (%)

1 Trong giờ học

Chính tả

0 (0%)

0 (0%)

2 (100%)

0 (0%)

2 Luyện tập ở nhà 2

(100%)

0 (0%)

0 (0%)

0 (0%)

3 Trong các giờ học

khác

1 (50%)

0 (0%)

1 (50%)

0 (0%)

Trang 34

Nhìn vào bảng 1.3, cho thấy đa số thầy cô thường rèn kĩ năng chính tả cho học sinh trong giờ học Chính tả, 2/2 thầy cô chiếm 100% ở mức độ rất đồng ý Thời gian luyện tập ở nhà cũng được thầy cô chú trọng, 2/2 thầy cô đồng ý chiếm 100% Luyện tập chính tả trong các giờ học khác cũng được quan tâm, 1/2 thầy cô đồng ý chiếm 50% và cũng cùng tỉ lệ đó 1/2 thầy cô sử dụng ở mức độ rất đồng ý chiếm 50%

Bảng 1.4: Thầy, cô thấy trong quá trình học tập, học sinh thường hay mắc những lỗi cơ bản nào?

STT Lỗi sai cơ bản

Mức độ Rất nhiều

(%)

Nhiều (%)

Rất ít (%)

Không có (%)

1 Phụ âm đầu 0

(0%)

2 (100%)

0 (0%)

0 (0%)

2 Âm chính 0

(0%)

0 (0%)

2 (100%)

0 (0%)

(0%)

0 (0%)

2 (100%)

0 (0%)

4 Viết hoa tự do 0

(0%)

1 (50%)

1 (50%)

0 (0%)

5 Dấu thanh 0

(0%)

0 (0%)

1 (50%)

1 (50%)

Ở bảng 1.4, tổng hợp ý kiến của giáo viên về các lỗi sai cơ bản của học sinh cho thấy: sai về phụ âm đầu là nhiều, 2/2 giáo viên chọn ở mức độ nhiều chiếm 100% Sai

về lỗi viết hoa tự do ít hơn, 1/2 giáo viên thấy ở mức độ nhiều chiếm 50% và 1/2 giáo viên nhận thấy ở mức độ rất ít chiếm 50% Các lỗi còn lại ít gặp hoặc không có

Qua kết quả khảo sát lấy ý kiến của các giáo viên về dạy chính tả cho học sinh cho thấy, các thầy cô đã rất quan tâm đến phân môn này Sử dụng các phương pháp dạy học đa dạng, cách thức hợp lí và cùng với đó là phát hiện chính xác những lỗi sai cơ bản của học sinh Thầy cô đã tận dụng thời gian một cách phù hợp để rèn kĩ năng chính tả cho học sinh

1.2.2.2 Thực trạng học chính tả nghe - viết của học sinh

a) Ưu điểm

Trang 35

sinh có nhiều ưu điểm như: dạy học lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên đóng vai trò

là người hướng dẫn, các hoạt động trên lớp và kiến thức học hầu như tự học sinh học hỏi lẫn nhau Việc tiếp thu tri thức của học sinh luôn đòi hỏi tính chủ động, tích cực, HS

tự tìm tòi, khám phá tìm ra cái mới Học sinh ngoan, chú ý nghe thầy cô giảng và có

nhiều em tích cực trong tiết học Đa số các em tập trung học tập, trong khi nghe - viết bài HS không nói chuyện riêng, ngược lại các em rất chăm chú viết bài

b) Hạn chế

Bên cạnh những ưu điểm nêu trên thì vẫn còn tồn tại một số hạn chế sau: việc

lĩnh hội tri thức của một số học sinh còn hạn chế, còn có những em không chú ý đến bài học, không chịu tư duy, suy nghĩ dẫn đến lực học của học sinh không được đều Học sinh gặp nhiều khó khăn trong việc học và ghi nhớ quy tắc chính tả Kĩ năng nghe - viết

của các em chưa vững chắc và chữ viết của các em chưa được đẹp

Qua khảo sát về học sinh chúng tôi đã tổng hợp lại thành các bảng sau:

Bảng 1.5: Tổng hợp ý kiến của học sinh về hứng thú học Chính tả

Bảng 1.6: Theo em học chính tả khó hay dễ?

STT Tiêu chí đánh giá Đồng ý

(%)

Trang 36

Bảng 1.7: Theo em để nắm vững kiến thức chính tả nên học như thế nào là phù hợp?

STT Tiêu chí đánh giá Mức độ

Rất đồng ý (%)

Đồng ý (%)

Rất không đồng ý (%)

16 36,36%

0 0%

39 63,63%

0 0%

0 0%

0 0% Qua bảng 1.7, cho thấy việc xác định phương hướng học của học sinh khi học phân môn Chính tả chưa đúng đắn ở chỗ còn có nhiều học sinh cho rằng chỉ cần học những kiến thức GV dạy trên lớp,có 16 HS chiếm 36,36% Tiêu chí thứ 2, học trên lớp kết hợp với việc làm thêm bài tập ở nhà, có 44/44 HS chiếm 100% chọn ở mức độ rất đồng ý

Bảng 1.8: Trong giờ học Chính tả em có tích cực phát biểu xây dựng bài không?

STT Tiêu chí lựa chọn

Mức độ Rất đồng ý

%

Đồng ý

%

Rất không đồng ý %

Không đồng

ý %

Trang 37

0% 29,54% 0% 0%

2 Ít phát biểu 0

0%

15 34,09%

0 0%

0 0%

3 Có phát biểu 0

0%

7 15,91%

0 0%

0 0%

4 Phát biểu nhiều 0

0%

9 20,46%

0 0%

0 0% Bảng 1.8 cho thấy, số HS đồng ý với mức độ không phát biểu và ít phát biểu trong tiết học Chính tả còn chiếm tỉ lệ cao, không phát biểu có 13/44 HS chiếm 29,54%, ít phát biểu có 15 HS chiếm 34,09% Tỉ lệ HS có phát biểu và phát biểu nhiều chiếm tỉ lệ thấp, chỉ có 7 HS đồng ý ở mức có phát biểu chiếm 15,91% và số HS phát biểu nhiều chỉ có 9/44 chiếm 20,46%

Bảng 1.9: Trong một tiết học Chính tả em thường gặp khó khăn ở phần nào?

STT Tiêu chí lựa chọn

Mức độ Rất đồng ý

%

Đồng ý

%

Rất không đồng ý

11 25%

0 0%

0 0%

2 Phần đọc, viết

chính tả

0 0%

11 25%

0 0%

0 0%

3 Phần làm bài tập 0

0%

22 50%

0 0%

0 0% Nhìn vào bảng 1.9 thấy được, HS gặp khó khăn trong học chính tả vẫn còn nhiều Trong đó, số HS cho rằng khó khăn trong phần hướng dẫn viết chính tả là 11 HS chiếm 25%, khó khăn trong phần đọc viết chính tả là 11 HS chiếm 25%, khó khăn trong phần làm bài tập là 22 HS chiếm 50% So sánh kết quả ta thấy, số HS gặp khó khăn trong phần vận dụng lí thuyết vào làm bài tập chiếm tỉ lệ cao nhất

Như vậy, qua kết quả tổng hợp lấy ý kiến của học sinh từ câu hỏi khảo sát cho thấy nhiều học sinh không hứng thú với việc học chính tả Điều đáng quan tâm ở đây là

số học sinh thích học môn này còn ít Các em cho rằng học phân môn này khó học

Trang 38

Qua bài kiểm tra chính tả chúng tôi nhận thấy học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Chiềng Pha - Thuận Châu - Sơn La nhiều em còn viết sai chính tả Các lỗi còn tồn tại được nhóm đề tài thống kê trong bảng dưới đây

Bảng 1.10: Lỗi chính tả của học sinh

STT LỚP

Lỗi Phụ âm

đầu Âm chính Âm cuối

âm chính có 9 em, lỗi âm cuối cũng là 12 em Còn lỗi viết hoa tự do và lỗi về dấu thanh

Học sinh tiểu học thường hay nhầm lẫn khi viết phụ âm đầu, các em hay nhầm phụ âm đầu với âm cuối khi viết hoặc là dùng từ sai chính tả

Học sinh còn viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu như sau: Âm đầu tr/ch:

“Trung đoàn” viết thành “Chung đoàn”, từ “trìu mến” viết thành “chìu mến” Âm đầu r/d/gi: “gia đình” viết thành “da đình” hay “ra đình” Âm đầu ngh/ng: “nghỉ ngơi” viết

Trang 39

thành “ngỉ ngơi”, “nghe” viết thành “nge” Âm đầu s/x: “chim sẻ” viết thành “chim xẻ”,

“sẽ” viết thành “xẽ”

+ Về âm chính

Âm chính là âm đứng ở vị trí thứ ba trong âm tiết (nếu âm trong âm tiết có âm đệm) và đứng ở vị trí thứ hai nếu trong âm tiết không có âm đệm, tức ở vị trí thứ hai trong vần Âm chính là hạt nhân của âm tiết, là âm mang “đường nét” cơ bản của thanh điệu Trong cấu tạo từ tiếng Việt, âm đầu có thể khuyết nhưng âm chính không bao giờ khuyết Nếu không có âm chính thì từ không mang nghĩa Khi viết chính tả HSTH hay viết sai âm chính, hay nhầm lẫn khi viết các nguyên âm đôi

Học sinh hay sai nhất khi viết âm chính trong các vần sau đây: vần ay/ây: “mây” viết thành “may”, “thấy” viết thành “tháy”, vần uôn/uân: “mong muốn” viết thành

“mong muấn”,

+ Về âm cuối

Âm cuối là âm đúng ở vị trí cuối vần và cũng là vị trí cuối âm tiết Đó là âm kết thúc âm tiết Âm vị đảm nhiệm vị trí này là bán âm cuối hoặc phụ âm cuối Vị trí âm cuối có thể khuyết âm vị Khi viết học sinh hay thường nhầm âm cuối với âm đầu, bị thiếu âm cuối hoặc sai âm cuối

Học sinh thường viết lẫn lộn các âm cuối như sau: âm cuối ng/nh: “chúng mình” viết thành “chúnh mình”, “nhanh nhẹn” viết thành “nhang nhẹn”; âm cuối t/c: “chiếc áo” viết thành “chiết áo”; âm cuối m/n: “thiếu thốn” viết thành “ thiếu thốm ”

+ Lỗi viết hoa tự do

Lỗi viết hoa tự do là những lỗi mà HS viết hoặc không viết hoa đúng theo yêu quy tắc chính tả tiếng Việt

Học sinh hay viết hoa tự do ở những câu từ không yêu cầu phải viết hoa như viết hoa giữa câu, cuối câu mặc dù những từ ngữ đó không phải tên riêng, tên địa danh hay

cơ quan, tổ chức nào cả Ví dụ: trong bài chính tả có câu “Trung đoàn trưởng bước vào lán, nhìn cả một lượt” có em viết “Trung đoàn Trưởng bước vào lán, nhìn cả một lượt” Như vậy trong câu này HS này đã viết hoa từ “Trưởng”, đó là không đúng vì ta không cần phải hoa vì đây không phải là tên riêng và càng không phải đứng đầu câu trong bài viết

Học sinh hay quên viết hoa đầu câu, tên riêng và tên các cơ quan tổ chức Ngay sau dấu chấm để khởi đầu một câu thì ta phải viết hoa nhưng vẫn còn tồn tại một số em

Trang 40

hay quên điều này Cùng với đó, lại có một số em không viết hoa tên người, tên cơ quan, địa danh, Ví dụ: Võ Nguyên Giáp có em lại viết là Võ nguyên Giáp, Hà Nội có

em viết là hà nội,

+ Về thanh điệu

Trong một âm tiết, âm chính và thanh điệu không bao giờ vắng mặt Trong tiếng Việt có 6 thanh, thể hiện trên chữ viết bằng 5 dấu thanh (có một thanh là thanh không dấu), đó là các thanh: thanh ngang (thanh không), thanh huyền, thanh ngã, thanh hỏi, thanh sắc và thanh nặng Khi viết học sinh hay nhầm lẫn giữa các thanh với nhau, nhất

là với HS dân tộc thiểu số rất hay nhầm thanh ngã với thanh sắc, thanh hỏi với thanh ngã, Bên cạnh đó còn có những trường hợp HS viết thiếu dấu thanh, mờ dấu thanh hoặc vị trí dấu thanh đặt chưa đúng chỗ dẫn đến sai nghĩa của từ

Học sinh hay viết thừa, thiếu hoặc sai dấu thanh khá nhiều Còn viết nhầm lẫn

giữa thanh ngã (~) và thanh sắc (′), thanh huyền (`) và thanh sắc (′) Ví dụ: “cũng” viết thành “cúng”, “suy nghĩ” viết thành “suy nghí”, “Trung đoàn” viết là “Trung đoán”,

Vị trí của các dấu thanh đặt chưa đúng chỗ quy định và sử dụng nhầm dấu thanh

Có dấu thì đặt quá gần, có dấu thì đặt quá sát hoặc mờ và thường nhầm lẫn giữa thanh ngã với thanh sắc Những lỗi này nguyên nhân chủ yếu cũng do các em chưa nắm được quy tắc đặt dấu thanh Còn tồn tại một số học sinh chưa tập trung, nắn nót viết bài nên rất nhiều em có suy nghĩ viết cho xong bài chứ không quan tâm đến hiệu quả của bài nghe - viết

Không nắm vững cấu tạo của âm tiết: thanh, vần, âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối dẫn đến việc sắp xếp thứ tự sai trong các tiếng

Việc viết hoa ở đầu dòng, viết hoa sau dấu chấm và viết hoa các danh từ riêng còn chưa thực hiện đúng và đôi khi giáo viên cần phải nhắc hoặc gợi ý

Như vậy, có thể thấy được tình trạng viết sai chính tả của học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Chiềng Pha vẫn còn tồn tại khá nhiều, đặc biệt là phụ âm đầu Vì vậy, những biện pháp khắc phục những lỗi sai mà các em hay gặp phải là rất cần thiết

Nhóm tác giả tiến hành xếp loại bài kiểm tra chính tả nghe - viết của học sinh với mức đánh giá: giỏi, khá, trung bình, yếu Kết quả được thống kê trong bảng sau:

Ngày đăng: 06/03/2017, 20:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2005
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo dự án phát triển giáo viên tiểu học (2006), Dạy học lớp 3 theo chương trình tiểu học mới, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học lớp 3 theo chương trình tiểu học mới
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo dự án phát triển giáo viên tiểu học
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
3. Trần Thị Thanh Hồng (2015), Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cảm thụ văn học của sinh viên nghành Giáo dục Tiểu học ở trường Đại học Tây Bắc (Đề tài) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cảm thụ văn học của sinh viên nghành Giáo dục Tiểu học ở trường Đại học Tây
Tác giả: Trần Thị Thanh Hồng
Năm: 2015
4. Đặng Thị Lanh (chủ biên) (1996), Tiếng Việt, tập 1, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt
Tác giả: Đặng Thị Lanh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
5. Đào Ngọc (chủ biên) (1998), Rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt
Tác giả: Đào Ngọc (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1998
6. Phan Ngọc (1982), Chữa lỗi chính tả cho học sinh, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữa lỗi chính tả cho học sinh
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1982
7. Lê Phương Nga (chủ biên) (2011), Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học I, NXB Đại học sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học I
Tác giả: Lê Phương Nga (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm
Năm: 2011
8. Lê Phương Nga (2011), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học II, NXB Đại học sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học II
Tác giả: Lê Phương Nga
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm
Năm: 2011
10. Nguyễn Quang Ninh (2008), Phương pháp dạy học Tiếng Việt Tiểu học theo chương trình SGK mới, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt Tiểu học theo chương trình SGK mới
Tác giả: Nguyễn Quang Ninh
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2008
11. Đinh Thị Oanh (chủ biên) (2006), Tiếng Việt và phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học - Tài liệu đào tạo GV, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt và phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học - Tài liệu đào tạo GV
Tác giả: Đinh Thị Oanh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2006
12. Nguyễn Kim Thản (1984), Từ điển chính tả thông dụng, NXB Đại học và THCN Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển chính tả thông dụng
Tác giả: Nguyễn Kim Thản
Nhà XB: NXB Đại học và THCN Hà Nội
Năm: 1984
13. Bùi Minh Toán (chủ biên) (1996), Tiếng Việt thực hành, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt thực hành
Tác giả: Bùi Minh Toán (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
14. Hoàng Văn Thung (2006), Bồi dƣỡng và nâng cao tiếng Việt tiểu học lớp 3, 4 (tập 1 và 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dƣỡng và nâng cao tiếng Việt tiểu học lớp 3, 4
Tác giả: Hoàng Văn Thung
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
15. Hoàng Văn Thung (2003), Dạy học chính tả ở tiểu học, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học chính tả ở tiểu học
Tác giả: Hoàng Văn Thung
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2003
16. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) (2007), SGK Tiếng Việt 3 (tập 1, tập 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Tiếng Việt 3
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
17. Nguyễn Trí (2007), Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới
Tác giả: Nguyễn Trí
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2007
18. Trần Trọng Thủy (chủ biên) (1998), Tâm lí học, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học
Tác giả: Trần Trọng Thủy (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1998
9. Nghị quyết số 29 - NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ƣơng 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Tổng hợp kết quả khảo của giáo viên về hình thức dạy học Chính tả  chủ yếu - Rèn kĩ năng nghe   viết chính tả cho học sinh lớp 3 trường tiểu học chiềng pha   thuận châu   sơn la
Bảng 1.1 Tổng hợp kết quả khảo của giáo viên về hình thức dạy học Chính tả chủ yếu (Trang 32)
Bảng 1.2: Tổng hợp phương pháp dạy học Chính tả chủ yếu của giáo viên - Rèn kĩ năng nghe   viết chính tả cho học sinh lớp 3 trường tiểu học chiềng pha   thuận châu   sơn la
Bảng 1.2 Tổng hợp phương pháp dạy học Chính tả chủ yếu của giáo viên (Trang 33)
Bảng 1.4: Thầy, cô thấy trong quá trình học tập, học sinh thường hay mắc những  lỗi cơ bản nào? - Rèn kĩ năng nghe   viết chính tả cho học sinh lớp 3 trường tiểu học chiềng pha   thuận châu   sơn la
Bảng 1.4 Thầy, cô thấy trong quá trình học tập, học sinh thường hay mắc những lỗi cơ bản nào? (Trang 34)
Bảng 1.5: Tổng hợp ý kiến của học sinh về hứng thú học Chính tả - Rèn kĩ năng nghe   viết chính tả cho học sinh lớp 3 trường tiểu học chiềng pha   thuận châu   sơn la
Bảng 1.5 Tổng hợp ý kiến của học sinh về hứng thú học Chính tả (Trang 35)
Bảng 1.6: Theo em học chính tả khó hay dễ? - Rèn kĩ năng nghe   viết chính tả cho học sinh lớp 3 trường tiểu học chiềng pha   thuận châu   sơn la
Bảng 1.6 Theo em học chính tả khó hay dễ? (Trang 35)
Bảng 1.7: Theo em để nắm vững kiến thức chính tả nên học nhƣ thế nào là phù  hợp? - Rèn kĩ năng nghe   viết chính tả cho học sinh lớp 3 trường tiểu học chiềng pha   thuận châu   sơn la
Bảng 1.7 Theo em để nắm vững kiến thức chính tả nên học nhƣ thế nào là phù hợp? (Trang 36)
Bảng 1.8: Trong giờ học Chính tả em có tích cực phát biểu xây dựng bài không? - Rèn kĩ năng nghe   viết chính tả cho học sinh lớp 3 trường tiểu học chiềng pha   thuận châu   sơn la
Bảng 1.8 Trong giờ học Chính tả em có tích cực phát biểu xây dựng bài không? (Trang 36)
Bảng 1.9: Trong một tiết học Chính tả em thường gặp khó khăn ở phần nào? - Rèn kĩ năng nghe   viết chính tả cho học sinh lớp 3 trường tiểu học chiềng pha   thuận châu   sơn la
Bảng 1.9 Trong một tiết học Chính tả em thường gặp khó khăn ở phần nào? (Trang 37)
Bảng 1.10: Lỗi chính tả của học sinh - Rèn kĩ năng nghe   viết chính tả cho học sinh lớp 3 trường tiểu học chiềng pha   thuận châu   sơn la
Bảng 1.10 Lỗi chính tả của học sinh (Trang 38)
Bảng 1.11: Đánh giá kết quả bài kiểm tra chính tả - Rèn kĩ năng nghe   viết chính tả cho học sinh lớp 3 trường tiểu học chiềng pha   thuận châu   sơn la
Bảng 1.11 Đánh giá kết quả bài kiểm tra chính tả (Trang 41)
Bảng 3.2: Tổng hợp kết quả xếp loại  khảo sát hai lớp TN và ĐC về một số lỗi  chính tả của học sinh - Rèn kĩ năng nghe   viết chính tả cho học sinh lớp 3 trường tiểu học chiềng pha   thuận châu   sơn la
Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả xếp loại khảo sát hai lớp TN và ĐC về một số lỗi chính tả của học sinh (Trang 58)
Bảng 3.1: Tổng hợp kết quả khảo sát một số lỗi của hai lớp TN và ĐC qua bài  kiểm tra chính tả - Rèn kĩ năng nghe   viết chính tả cho học sinh lớp 3 trường tiểu học chiềng pha   thuận châu   sơn la
Bảng 3.1 Tổng hợp kết quả khảo sát một số lỗi của hai lớp TN và ĐC qua bài kiểm tra chính tả (Trang 58)
Bảng 3.4. Tổng hợp kết quả phiếu bài tập thể nghiệm điền phụ âm đầu vào chỗ  chấm - Rèn kĩ năng nghe   viết chính tả cho học sinh lớp 3 trường tiểu học chiềng pha   thuận châu   sơn la
Bảng 3.4. Tổng hợp kết quả phiếu bài tập thể nghiệm điền phụ âm đầu vào chỗ chấm (Trang 60)
Bảng 3.5: Tổng hợp kết quả bài tập thể nghiệm điền bộ phận vào chỗ chấm.  Nội dung - Rèn kĩ năng nghe   viết chính tả cho học sinh lớp 3 trường tiểu học chiềng pha   thuận châu   sơn la
Bảng 3.5 Tổng hợp kết quả bài tập thể nghiệm điền bộ phận vào chỗ chấm. Nội dung (Trang 62)
- Giáo viên: Giáo án, SGK, 3 băng giấy có nội dung nhƣ bài tập 2, bảng phụ kẻ chữ  chuẩn bị cho bài tập 3 - Rèn kĩ năng nghe   viết chính tả cho học sinh lớp 3 trường tiểu học chiềng pha   thuận châu   sơn la
i áo viên: Giáo án, SGK, 3 băng giấy có nội dung nhƣ bài tập 2, bảng phụ kẻ chữ chuẩn bị cho bài tập 3 (Trang 70)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w