1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ (4 5 tuổi) thông qua các trò chơi

70 1,1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 772,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ 4 - 5 TUỔI THÔNG QUA CÁC TRÒ CHƠI Thuộc nhóm

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ 4 - 5 TUỔI THÔNG QUA CÁC TRÒ CHƠI

Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học giáo dục

Sơn La, tháng 05 năm 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ 4 - 5 TUỔI THÔNG QUA CÁC TRÒ CHƠI

Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học giáo dục

Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Mai Giới tính: Nữ Dân tộc: Kinh

Đỗ Thị Hương Ly Giới tính: Nữ Dân tộc: Kinh

Hà Thị Phương Giới tính: Nữ Dân tộc: Kinh

Năm thứ 3/Số năm đào tạo: 4

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

Khoa Tiểu Học- Mầm non

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Thông tin chung:

Tên đề tài: Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ (4- 5 tuổi) thông qua các trò chơi

Sinh viên thực hiện:

1 Phạm thị Mai

2 Đỗ Thị Hương Ly

3 Hà thị Phương

Lớp: K54 ĐHGD Mầm non B Khoa: Tiểu học- Mầm non

Năm thứ: ba Số năm đào tạo: 4 năm

Người hướng dẫn: Thạc Sĩ Khổng Cát Sơn

2 Mục tiêu đề tài:

- Xác định các loại trò chơi đang được thực hiện ở trường mầm non

- Triển khai hình thức tổ chức trò chơi qua việc soạn giáo án nhằm phát triển ngôn ngữ, qua đó hình thành kỹ năng nói của trẻ mẫu giáo nhỡ 4- 5 tuổi

3 Tính mới và sáng tạo:

- Đề xuất được các giải pháp và một số trò chơi giúp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu gião nhỡ 4- 5 tuổi thông qua một số trò chơi

4 Kết quả nghiên cứu:

- Thực trạng tổ chức các trò chơi cho trẻ mẫu giáo nhỡ 4- 5 tuổi ở trường mầm non

- Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ 4- 5 tuổi thông qua một

số trò chơi

5 Đóng góp về mặt kinh tế- xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc

phòng và khả năng áp dụng của đề tài:

- Có đóng góp về mặt giáo dục đào tạo

Trang 4

6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài ( ghi rõ

tên tạp chí nếu có ) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có ):

Ngày 04 tháng 05 năm 2016 Sinh viên chịu trách nhiệm chính (kí và ghi rõ họ tên) Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):

Ngày 04 tháng 05 năm 2016

Xác nhận của khoa Người hướng dẫn

(ký và ghi rõ họ tên)

Trang 5

Sinh ngày 01 tháng 08 năm 1995

Nơi sinh: Hải Sơn- Mai Hịch- Mai Châu- Hòa Bình

Lớp: K54 ĐHGD Mầm non B Khóa 2013- 20117

Khoa: Tiểu học -Mầm non

Địa chỉ liên hệ: Hải Sơn - Mai Hịch - Mai Châu- Hòa Bình

Điện thoại:01638575834 Email: Maimaichau123@gmail

2 QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ nhất đến

năm đang học)

*Năm thứ 1:

Ngành học: Giáo dục mầm non Khoa: Tiểu học-Mầm non

Kết quả xếp loại học tập: Giỏi

Sơ lược thành tích: Tham gia các hoạt động nghiệp vụ sư phạm cấp lớp,cấp khoa Giành học bổng khá trong kì 1 và học bổng giỏi trong kì 2

*Năm thứ 2:

Ngành học: Giáo dục mầm non Khoa: Tiểu học -Mầm non

Kết quả xếp loại học tâp: Xuất sắc

Sơ lược thành tích: Được nhận giấy khen thưởng cấp khoa

Đạt giải 3 hội thi sinh viên yêu thích bộ môn Tiếng Việt

Giành học bổng giỏi trong cả hai kì

Ngày tháng năm 2016

Xác nhận của trường Đại học Sinh viên chịu trách nhiệm

(Kí tên và đóng dấu) thực hiện đề tài

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành đề tài này, chúng em

đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của các đơn vị tổ chức, các phòng ban, các thầy cô trong nhà trường cùng với sự giúp đỡ của bạn bè

Nhân dịp này, chúng em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo thạc sĩ Khổng Cát Sơn người đã hướng dẫn và chỉ đạo tận tình cho chúng em trong suốt quá trình thực hiện đề tài này

Chúng em xin bày tỏ lời cảm ơn tới các thầy cô trong khoa Tiểu Học- Mầm Non, thư viện trường Đại Học Tây Bắc đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho chúng em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài này

Xin chân thành cảm ơn tới bạn bè, những người luôn động viên, giúp đỡ chúng

em thực hiện đề tài này

Trang 7

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……… ………3

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Giả thuyết khoa học 4

7 Cấu trúc đề tài 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Cơ sở lí luận 5

1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ học 5

1.1.2 Cơ sở tâm lí học 10

1.1.3 Vai trò của trò chơi đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ 11

1.2 Cơ sở thực tiễn 18

1.2.1 Khảo sát thực trạng một số trò chơi thường được sử dụng cho trẻ mẫu giáo nhỡ <4-5 tuổi> ở trường mầm non 18

1.2.2 Thực trạng tổ chức các trò chơi cho trẻ mẫu giáo nhỡ 18

Tiểu kết chương 1 23

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO QUA MỘT SỐ TRÒ CHƠI 24

2.1 Sử dụng video trình chiếu mẫu trò chơi 24

2.1.1 Mục tiêu và ý nghĩa 24

2.1.2 Yêu cầu 24

2.1.3 Cách tiến hành 24

2.2 Sử dụng lời nói hướng dẫn trẻ chơi 25

2.2.1 Mục tiêu và ý nghĩa 25

2.2.2 Yêu cầu 25

2.2.3 Cách tiến hành 26

Trang 8

2.2.4 Điều kiện vận dụng 26

2.3 Cho trẻ chơi các trò chơi dân gian 26

2.3.1 Mục tiêu và ý nghĩa 26

2.4 Cho trẻ chơi các trò chơi học tập 31

2.4.1 Mục tiêu và ý nghĩa 31

2.4.2 Yêu cầu 31

2.4.3 Cách tiến hành 31

2.4.4 Điều kiện vận dụng 32

2.5 Biện pháp giúp trẻ vận dụng ngôn ngữ mạch lạc trong trò chơi 34

2.5.1 Mục tiêu và ý nghĩa 34

2.5.2 Yêu cầu 35

2.5.3 Cách tiến hành 35

2.5.4 Điều kiện vận dụng 36

2.6 Vận dụng phương pháp giáo dục mầm non mới để tổ chức các trò chơi 36

2.6.1 Vận dụng quan điểm phát huy tích hợp để tổ chức các trò chơi 36

2.6.2 Vận dụng quan điểm tích hợp 36

2.6.3 Vận dụng các phương pháp tổ chức hoạt động 37

CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ THỂ NGHIỆM MỘT SỐ TRÒ CHƠI CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ (4-5 TUỔI) 41

3.1 Thiết kế trò chơi 41

3.2 Thể nghiệm sư phạm 47

3.2.1 Mục đích thực nghiệm 47

3.2.2 Đối tượng, địa bàn, thời gian thực nghiệm 47

3.2.3 Tiến hành thực nghiệm 47

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 50

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 51

1 KẾT LUẬN 51

2 KHUYẾN NGHỊ 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong đời sống con người Nhờ ngôn ngữ mà con người có thể trao đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho nhau những kinh nghiệm, tâm sự với nhau những nỗi niềm thầm kín

Ngôn ngữ tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp giữa con người với con người trong xã hội Bằng ngôn ngữ con người có thể nắm được tri thức, kĩ năng, thành tựu khoa học, lịch sử con người Nhờ có ngôn ngữ mà con người khác xa so với động vật Ngôn ngữ được mở rộng trong quá trình sống Ngôn ngữ liên quan đến mọi khía cạnh của đời sống nên được biểu hiện ở nhiều góc độ khác nhau Nhờ có ngôn ngữ mà con người gần gũi, hòa nhập hơn

Ngôn ngữ là cơ sở của mọi sự suy nghĩ và là công cụ của tư duy Trẻ em có nhu cầu rất lớn trong việc nhận thức thế giới xung quanh Đặc biệt, sự phát triển ngôn ngữ trong những năm đầu đời của trẻ có vai trò rất quan trọng đối với khả năng tư duy, nhận thức và giao tiếp cũng như toàn bộ quá trình phát triển sau này của trẻ Ngôn ngữ còn là phương tiện để trẻ điều khiển thái độ, hành vi, đạo đức giúp trẻ lĩnh hội giá trị đạo đức mang tính chuẩn mực

Trẻ càng lớn nhu cầu hiểu biết càng nhiều, đặc biệt là ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi) trẻ đang cần được học một cách chính xác Ở độ tuổi này trẻ rất thích được nói và với tần số nói tăng đáng kể, đôi khi trẻ mắc một số lỗi sai về ngôn ngữ Đây là thời điểm khá thuận lợi giúp trẻ rèn luyện phát âm chuẩn và phát triển cho trẻ hoàn thiện hơn

Như chúng ta đã biết, “trẻ em”với hai từ thôi nhưng dường như đã nói lên hết đặc điểm của lứa tuổi này Đây là giai đoạn mà với trò chơi là cuộc sống, chơi là hoạt động chủ yếu, chiếm vai trò quan trọng trong đời sống của trẻ Không chơi thì trẻ chỉ

là đang tồn tại chứ không phải là đang sống Trò chơi và tuổi thơ luôn đi kèm với nhau trên một chặng đường, luôn đồng hành như những người bạn thân Và cũng chính trò chơi giúp cho sự phát triển của trẻ được cân bằng, nhịp nhàng

Trẻ em không những cần được quan tâm, chăm sóc về sức khỏe, học tập mà trẻ

em còn cần thỏa mãn nhu cầu vui chơi Trẻ vui chơi với tất cả niềm đam mê, yêu

Trang 10

thích, hứng thú, chơi một cách vô tư, không toan tính Chơi chính là cuộc sống của trẻ, đặc biệt ở lứa tuổi mẫu giáo

Chính vì vậy chúng tôi thấy việc tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi là một việc rất thiết thực và có ý nghĩa

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong đời sống con người Nó là kho tàng trí tuệ của con người, tồn tại và phát triển cùng sự thay đổi và phát triển của con người Có biết bao công trình nghiên cứu được tỏa sáng nhờ ngôn ngữ.Bởi vậy ngôn ngữ là vấn

đề mà rất nhiều nhà khoa học từ các lĩnh vực khác nhau như:tâm lí học, triết học, xã hội học, ngôn ngữ học, giáo dục học, đi sâu tìm tòi nghiên cứu và đạt được những thành tựu đáng kể Trong đó phải kể đến những công trình nghiên cứu của V.X.MuKhina, ErikErickson, John B Watson, A.B.ZAporojets, M.M.konxova

- V.X MuKhina với tâm lí học mẫu giáo: MuKhina đi nghiên cứu về tâm lí trẻ

em trong độ tuổi mẫu giáo, để thấy sự phát triển tâm lí trẻ em qua các giai đoạn trong

độ tuổi mẫu giáo nhằm giúp nhà nghiên cứu đưa ra biện pháp phát triển toàn diện cho trẻ dựa trên cơ sở tâm lí của trẻ

- Erik Erickson với trẻ em và xã hội nghiên cứu về sự phát triển của trẻ em,

cách đối sử và giáo dục trẻ

- John B Watson với Chăm sóc về sức khỏe cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ từ khi

mới sinh và cách chăm sóc chúng

- A.B.Zaporojets với Cơ sở tâm lí học của giáo dục mẫu giáo những nghiên cứu

chuyên biêt của trẻ nhỏ từ mới sinh đến 6 tuổi

- M.M.Konxova với Dạy nói cho trẻ trước tuổi đi học đưa ra các hình thức biện

pháp để dạy trẻ nói trước khi vào tuổi đi học.Tác phẩm đã giúp các nhà nghiên cứu, các bậc phụ huynh có những định hướng và chọn lựa cho mình biện pháp dạy nói phù hợp với từng trẻ

Ở Việt Nam vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ cũng được đông đảo các nhà giáo dục quan tâm và đi vào nghiên cứu

Tác giả Hoàng Kim Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức với Phương pháp phát triển ngôn ngữ Tác giả đã đưa ra các phương pháp giúp trẻ tăng vốn từ nhằm định

hướng để chúng ta đưa ra các biện pháp giúp trẻ phát triển và hoàn thiện ngôn ngữ

Trang 11

Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, Phạm Hoàng Gia, Đoàn Thị Tâm với “tâm lí trẻ em lứa tuổi mầm non”đã nghiên cứu sự phát triển tâm lí trẻ qua các giai đoạn lứa tuổi để

từ đó đưa ra biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ

Luận án Phó Tiến Sĩ của Lưu Thị Lan: “Những bước phát triển ngôn ngữ của trẻ từ 1-6 tuổi đã đề cập về các bước, giai đoạn hình thành, phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong độ tuổi 1-6 tuổi”

Luận án Tiến sĩ Nguyễn Thị Oanh với đề tài: “Cơ sở của việc tác động sư phạm đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em mầm non ”và nhũng công trình khác nữa Những công trình nghiên cứu này đã dựa vào đặc điểm phát triển tâm sinh lí và ngôn ngữ của trẻ Đó là những đóng góp vĩ đại trên phương diện lí luận và thực tiễn Song nghiên cứu về việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi) chua nhiều và chưa thực sự chuyên sâu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Qua tìm hiểu đặc điểm trò chơi với sự phát triển của trẻ mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi) và đặc điểm tâm lí trẻ mầm non chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp, qui trình tổ chức các trò chơi dân gian nhằm nâng cao hiệu quả việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

-Tìm hiểu một số cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn có liên quan đến vấn đề nghiên cứu và khảo sát thực trạng trẻ mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi) ở trường mầm non

- Xây dựng một số biện pháp phát triển ngôn ngữ thông qua trò chơi cho trẻ mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi)

- Tổ chức thể nghiệm để ứng dụng kiểm tra tính khả thi của các biện pháp phát triển ngôn ngữ thông qua một số trò chơi cho trẻ mẫu giáo nhỡ mà đề tài nghiên cứu

và đề xuất một số biện pháp mới

- Xử lí kết quả nghiên cứu

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

4.1 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tiến hành điều tra khả năng phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ

(4-5 tuổi) ở trường mầm non Chiềng Mung- Mai Sơn- Sơn La

Trang 12

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp phát triển ngôn ngữ thông qua trò chơi cho trẻ mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi)

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Đọc sách báo và thu thập các tài liệu liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Dùng phiếu điều tra Anket điều tra kết hợp trao đổi thông tin có liên quan đến vấn đề nghiên cứu với các giáo viên ở trường mầm non Nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non thông qua một số trò chơi

- Sử dụng phương pháp quan sát,quan sát những hoạt động của trẻ để đưa ra các phương pháp quan sát hợp lí đối với tâm sinh lí của trẻ mẫu giáo

- Sử dụng phương pháp thống kê toán học

5.3 Phương pháp thể nghiệm sư phạm

Sử dụng phương pháp tác động đến 1 nhóm trẻ được chọn để thực nghiệm

6 Giả thuyết khoa học

Qua việc khảo sát trên thực tế cùng với việc nghiên cứu lí luận chúng tôi thấy mức độ phát triển ngôn ngữ thông qua trò chơi cho trẻ mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi) ở trường mầm non hiện nay đang từng bứơc phát triển Tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế như: chưa gây được hứng thú cho trẻ, eo hẹp về thời gian tổ chức chơi nên chưa đạt được hiệu quả cao Bởi vậy các biện pháp trong đề tài mang tính khả thi thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua trò chơi, góp phần vào

sự nghiệp đổi mới giáo dục

7 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luân,phụ lục,tài liệu tham khảo,nội dung đề tài gồm 3 chương

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn về vấn đề nghiên cứu

Chương 2 Một số biện pháp nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo thông qua một số trò chơi

Chương 3 Thiết kế thể nghiệm một số trò chơi cho trẻ mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi)

Trang 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ học

1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của ngôn ngữ

Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt gồm các âm, các từ, các quy tắc kết hợp một cộng đồng dân tộc dùng làm phương tiện giao tiếp cơ bản quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng đồng người, đồng thời ngôn ngữ cũng là phương tiện phát triển tư duy, truyền đạt đời sống văn hóa-lịch sử từ thế hệ này qua thế hệ khác Ngôn ngữ tạo ra những con người có linh hồn Ngôn ngữ có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành nên tư duy, nhân cách của con người, thúc đẩy quá trình tự điều chỉnh hoạt động của chính bản thân mình Đối với trẻ em, ngôn ngữ là cầu nối để đến với thế giới của nhân loại Trong quá trình nhận thức sự vật và hiện tượng trẻ phải dùng lời nói để nói lên những suy nghĩ cũng như cảm tưởng của mình về những vấn đề

đó Trẻ có nhu cầu rất lớn trong việc nhận thức thế giới xung quanh, mong muốn hòa nhập với xã hội của loài người

a) Các bộ phận của ngôn ngữ

Ngôn ngữ gồm ba bộ phân: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp hệ thống các quy tắc,quy định sự ghép các bộ phận thành câu Trong kết cấu ngôn ngữ, từ vựng thuộc vào ngoại biên về nghĩa vì nó trực tiếp gọi tên các sự vật hiện tượng thực tế, còn ngữ

âm phụ thuộc vào ngoại biên về chất liệu vì nó trực tiếp được tích lũy bởi giác quan của con người So với ngữ âm và từ vựng thì ngữ pháp luôn luôn là gián tiếp, không có tính chất cụ thể Nó chỉ liên hệ với thực tế thông qua từ vựng, chỉ lĩnh hội được thông qua ngữ âm Vì vậy ngữ pháp chiếm vị trí trung tâm trong kết cấu ngôn ngữ

b) Các đơn vị của ngôn ngữ

* Âm vị: Âm vị là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất mà người ta có thể phát âm ra được trong chuỗi lời nói Ví dụ như các âm r, t, h, hoàn toàn không thể chia nhỏ chúng hơn Âm vị có chức năng nhận cảm và chức năng phân biệt nghĩa

Ví dụ: “Hổ”là một loài động vật ăn thịt sống trong rừng, còn “Rổ”là một vật dụng dùng để đựng trong gia đình Cái làm ta phân biệt được hai nghĩa đó không phải

là bộ phận ngữ âm trùng nhau (ổ) mà là do đối lập giữa “h”và “r”

Trang 14

* Hình vị: là một hoặc chuỗi kết hợp vài âm vị biểu thị một khái niệm Nó là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa Chức năng của hình vị là chức năng ngữ nghĩa Hình vị thường có cấu tạo một âm tiết, tức là mỗi hình vị trùng với một âm tiết, trên chữ viết mỗi hình vị được viết thành một chữ Hình vị trong Tiếng Việt có thể đóng vai trò như một từ nhưng nó không phải là từ vì từ gồm hình vị và âm tiết

* Từ là chuỗi kết hợp của một hoặc một vài hình vị mang chức năng gọi tên và chức năng ngữ nghĩa

* Câu là chuỗi kết hợp của một hay nhiều từ, chức năng của nó là thông báo c) Chức năng của ngôn ngữ

* Ngôn ngữ là công cụ để phát triển tư duy, nhận thức Quá trình hình thành của trẻ bên cạnh thể chất là trí tuệ Công cụ để phát triển tư duy, trí tuệ là ngôn ngữ Ngôn ngữ chính là hiện thực của tư duy Chức năng giao tiếp của ngôn ngữ gắn liền với chức năng thể hiện tư duy của nó, bởi vì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ chỉ có thể giúp ta trao đổi tư tưởng, tình cảm vơi nhau, do đó hiểu biết lẫn nhau và cùng tổ chức công tác chung trên mọi lĩnh vực hoạt động nếu bản thân ngôn ngữ tàng trữ kinh nghiệm,tư tưởng, tình cảm của con người Chức năng thể hiện tư duy của ngôn ngữ thể hiện ở hai khía cạnh:

+ Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng Không có từ nào, câu nào mà lại không biểu hiện khái niệm hay tư tưởng Ngược lại không có ý nghĩ tư tưởng nào không tồn tại dưới dạng ngôn ngữ

+ Ngôn ngữ trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành tư tưởng Mọi ý nghĩ, tư tưởng chỉ trở nên rõ ràng khi được biểu hiện bằng ngôn ngữ Không có ngôn ngữ thì không có tư duy và ngược lại

Ngôn ngữ là công cụ để trẻ học tập, vui chơi: đây là những hoạt động chủ yếu ở trường mầm non, trẻ học để biết tiếng mẹ đẻ đồng thời sử dụng nó như một công cụ để vui chơi, học tập Như vậy, ngôn ngữ cần cho tất cả các hoạt động và ngược lại, hoạt động tạo cho ngôn ngữ trẻ phát triển

* Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp

Nhờ có ngôn ngữ mà con người hiểu được nhau, cùng nhau hành động vì mục đích chung Không có ngôn ngữ, không thể giao tiếp được, thậm chí không thể tồn tại được, nhất là trẻ em Chính nhờ ngôn ngữ mà con người có thể hiểu nhau trong quá

Trang 15

trình sinh hoạt và lao động, mà người ta có thể diễn đạt làm cho người khác hiểu biết lẫn nhau, con người mới đồng tâm hiệp lực làm cho xã hội ngày càng tiên tiến

* Ngôn ngữ viết

Trẻ luyện viết là hoạt động hứng thú và tự giác Chính vì vậy, khi dạy viết cho trẻ quan trọng nhất là giải thích để trẻ hiểu được mục đích của việc luyện viết Giáo viên mầm non chỉ khuyến khích cho trẻ nhận thức được tầm quan trọng của chữ viết Trẻ sẽ tự giác ngồi vào vẽ chữ Khi trẻ bắt đầu có hứng thú với chữ viết, cô nên chuẩn

bị dụng cụ để giúp trẻ luyện viết tại góc học tập

1.1.1.2 Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ

* Ngôn ngữ là phương tiện hình thành và phát triển nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh

Trong quá trình nhận thức những sự vật và hiện tượng, các em phải sử dụng từ ngữ để phân biệt được vật này với vật khác, biết được tên gọi, màu sắc, hình dáng, công cụ và những thuộc tính cơ bản của vật Trẻ tiếp thu kiến thức từ môi trường xung quanh thông qua khả năng phân tích, so sánh, tổng hợp, trên cơ sở đó trẻ khái quát về vật Trẻ không chỉ nhận biết các sự vật hiện tượng xung quanh gần gũi, mà còn tìm hiểu những sự vật hiện tượng không xuất hiện trực tiếp trước mắt trẻ, những sự vật xảy

ra trong quá khứ, tương lai Như vậy, ngôn ngữ không chỉ giúp cho trẻ củng cố kiến thức mà còn mở rộng hiểu biết về thế giới xung quanh

Hầu như trẻ thơ đều có một tâm hồn nhạy cảm Đối với các em thế giới xung quanh chứa đựng biết bao nhiêu điều mới lạ, hấp dẫn như trong những cái tưởng chừng bình thường và giản dị thì các em cũng phát hiện ra những điều lí thú Ngôn ngữ giúp trẻ tìm hiểu về chính mình, về con người và khám phá những sự vật xung quanh cũng như biến cố xảy ra trong cuốc sống, hay các hiện tượng xung quanh như

Trang 16

nắng, mưa, nóng, lạnh qua đó trẻ có thể nhận thức về môi trường xung quanh Nhờ

có ngôn ngữ trẻ nhận biết được ngày càng nhiều các sự vật, hiện tượng từ đơn giản đến phức tạp mà trẻ được tiếp xúc trong cuộc sống hàng ngày, giúp trẻ hình thành, phát triển phong phú các biểu tượng về thế giới xung quanh

Ngôn ngữ và tư duy có mối quan hệ mật thiết với nhau Cả hai cùng song song tồn tại và phát triển Ngôn ngữ là phương tiện giúp trẻ hình thành và phát triển tư duy Ngôn ngữ được phát triển dần theo lứa tuổi, điều đó sẽ giúp trẻ không chỉ tìm hiểu những hiện tượng, sự vật gần gũi xung quanh mà còn có thể tìm hiểu những hiện tượng, sự vật không xuất hiện trước mắt trẻ, những sự việc xảy ra trong quá khứ và tương lai Trẻ hiểu được những lời giải thích, sự gợi ý của người lớn, biết so sánh, khái quát và dần dần hiểu được bản chất của sự vật, hiện tượng, hình thành những khái niệm sơ đẳng Sự hiểu biết của trẻ về thế giới xung quanh ngày càng rộng lớn

Ngôn ngữ là công cụ để trẻ hoạt động và vui chơi, nhận thức về thế giới xung quanh một cách phong phú hơn Khi tham gia vào trò chơi, trẻ sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp với bạn, trao đổi phân vai trong trò chơi và quá trình này không thể thiếu vai trò của ngôn ngữ Trẻ bộc lộ suy nghĩ của mình với các bạn và nghe ý kiến của bạn để

đi đến thỏa thuận trong khi chơi không chỉ trong khi chơi mà ngay cả khi trẻ chơi tưởng tượng với một đồ vật thì ngôn ngữ vẫn đóng vai trò quan trọng trong quá trình chơi của trẻ Qua đó ngôn ngữ của trẻ được phát triển, trẻ giao lưu tình cảm trong lúc chơi, phát triển khả năng tư duy và trí tưởng tượng của trẻ

*Ngôn ngữ là phương tiện để phát triển tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ

Ngôn ngữ đóng vai trò rất lớn trong việc điều chỉnh những hành vi và việc làm của trẻ Trong giao tiếp hàng ngày, thông qua kể chuyện, ca dao, đồng dao, nhất là trong các trò chơi trẻ cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ, cái đẹp trong hành vi, trong cuộc sống

Khi giao tiếp với người lớn trẻ tiếp nhận được những sắc thái tình cảm khác nhau Qua nét mặt, giọng nói, ngữ điệu, ngữ nghĩa chứa đựng trong các từ, các câu nói, dần dần trẻ cũng biết thể hiện những cảm xúc khác nhau của mình Người lớn là chiếc gương soi vào trong đó Trong giao tiếp, người lớn luôn hướng dẫn, uốn nắn hành vi của trẻ bằng lời nói, nét mặt, nụ cười, giúp trẻ có thể nhận ra hành vi của mình

là đúng hay sai Bằng cách đó, ở trẻ dần dần hình thành những thói quen tốt và học được cách ứng xử đúng đắn Người lớn có thể khen trẻ khi trẻ làm đúng hoặc tốt, cổ

Trang 17

vũ, động viên kịp thời cho những hành vi đúng đắn của trẻ Khi trẻ làm sai, người lớn

tỏ vẻ không bằng lòng bằng ánh mắt, nét mặt, điệu bộ, kèm theo lời nói nghiêm túc thì trẻ sẽ nhận thức được cái sai của mình và sửa sai

Đặc biệt là qua lời ru, mẹ đã dạy cho con nghệ thuật âm nhạc, thơ ca dân tộc để con biết yêu vẻ đẹp của thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước, yêu bà con làng xóm, truyền cho con những ý niệm cơ bản về thiện ác Ngay cả những lúc nựng con thì đây

là cuộc trò chuyện đằm thắm nhất, đầy yêu thương và lòng tin cậy, trong đó người mẹ

đã nói với con bằng cả tấm lòng

Ngôn ngữ có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển trí tưởng tượng của trẻ

Nó tác động có mục đích, có hệ thống nhằm phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ cái đẹp

và hiểu đúng đắn cái đẹp trong tự nhiên, đời sống, xã hội, trong nghệ thuật

Khi trẻ thường xuyên tiếp xúc với văn học như thơ, truyện, ca dao, đồng dao trẻ sẽ được chìm vào thế giới đa dạng màu sắc bao nhiêu loại người khác nhau Tâm hồn của các em sẽ được mở rộng, trí tưởng tượng kích thích mạnh mẽ, thôi thúc các em muốn khám phá những điều kỳ lạ và lí thú trong các câu truyện hết sức hấp dẫn Những câu thơ giàu hình ảnh, nhạc điệu, những bài đồng dao ngộ nghĩnh có đoạn điệp khúc dễ nhớ khiến trẻ muốn đọc theo và sẽ nhớ rất lâu Đây là thời cơ thuận lợi

để trẻ tiếp xúc với ngôn ngữ văn học Điều này giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng, nó giúp trẻ sáng tạo ra những cái mới, hình thành những ước mơ táo bạo, những hoài bão

về cuộc sống tương lai

* Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hòa nhập với cộng đồng và trở thành thành viên của cộng đồng

Ngay từ lúc đầu đứa trẻ không thể cảm nhận những gì diễn ra xung quanh nó Để thỏa mãn sự hiểu biết đó mà nó thường đặt ra hàng vạn câu hỏi cho bố mẹ và mọi người xung quanh Vì thế người lớn trở thành chiếc cầu nối họ với cộng đồng, với thế giới thông qua ngôn ngữ Và điều đó đã giúp trẻ hòa nhập hơn với mọi người xung quanh

* Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục thể lực cho trẻ

Trong cuộc sống hàng ngày, cô giáo và người lớn đã dùng ngôn ngữ của mình

để hướng dẫn chỉ bảo trẻ thực hiện tốt các yêu cầu do mình đề ra góp phần làm cho cơ thể trẻ phát triển Giáo dục thể lực cho trẻ em là quá trình tác động chủ yếu vào cơ thể trẻ, việc vận động, rèn luyện cơ thể, giữ gìn vệ sinh và có chế độ sinh hoạt hợp lí,

Trang 18

nhằm bảo vệ và làm cho cơ thể trẻ phát triển một cách hài hòa, cân đối, sức khỏe tăng cường đạt đến trạng thái hoàn thiện về mặt thể chất

Ngoài ra trẻ còn phải được ăn ngon, ăn đủ chất, đủ lượng thì cơ thể trẻ mới phát triển được

1.1.2 Cơ sở tâm lí học

1.1.2.1 Sự phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo

Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Xuân Khoa trong “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”trẻ từ 12 đến 18 tháng đã bắt chước người lớn lặp lại những từ nghe được: bà, bố, mẹ, măm, Số lượng từ có thể đạt từ 30 đến 40 từ Trẻ 4 tuổi, vốn từ đã đạt tới hơn 1000 từ

Như vậy, xét về măt số lượng, trẻ càng lớn vốn từ càng tăng Vốn từ của trẻ phát triển mạnh ở tuổi lên 3 Xét về mặt cơ cấu từ loại, số lượng từ là danh từ chiếm số lượng nhiếu nhất (50%), động từ (27%), tính từ (11%), còn lại các từ khác (trạng từ, đại từ, số từ, ) Những từ được trẻ sử dụng chủ yếu là các từ mà trẻ thường xuyên tiếp xúc, là những từ chỉ những việc làm của trẻ hoặc mọi người xung quanh (ăn, ngủ, tắm ) hoặc là những từ chỉ hành động của những con vật (gà mổ thóc, chó cắn, cá bơi,

mè cào )

1.1.2.2 Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ

+ Vốn từ: vốn từ của trẻ mẫu giáo nhỡ tăng lên đến hơn 1000 từ, trong đó danh

từ, động từ vẫn chiếm ưu thế Trẻ mẫu giáo nhỡ 4-5 tuổi phát âm có tiến bộ hơn so với trẻ mẫu giáo bé 3-4 tuổi, trẻ phát âm rõ hơn, dứt khoát hơn, ít ngọng hơn song vẫn hay sai âm đầu và âm đệm, thanh ngã Ở trẻ đã hình thành những cảm xúc ngôn ngữ qua giọng nói, ngữ điệu, âm tiết Tuy nhiên dưới tác động của cảm xúc trẻ có thể nghe nhầm, phát âm nhầm các âm vị như “t’’ = “ch”

+ Việc nắm vững ngữ pháp của trẻ 4-5 tuổi có tiến bộ hơn trẻ 3-4 tuổi Câu nói của trẻ dài hơn, ít câu cụt hơn Khi nói câu còn chưa đúng chưa chuẩn về mặt ngữ pháp, trẻ biết sửa nhưng không biết vì sao phải sửa, trẻ đã sử dụng các câu phức hơp nhiều hơn mẫu giáo bé, có thể kể một số chuyện ngắn một cách tuần tự

+ Ngôn ngữ của trẻ mang tính chất hoàn cảnh, tình huống Khi giao tiếp với mọi người xung quanh, trẻ thường gắn liền ngôn ngữ cuả mình với các sự vật, hoàn cảnh, con người đang xảy ra Ở tuổi mẫu giáo nhỡ, trẻ phải nắm được vốn từ cần thiết

đủ để cho chúng giao tiếp với bạn bè, người lớn, tiếp thu các tri thức trong trường

Trang 19

mầm non, xem các chương trình truyền hình, truyền thanh Vì thế, Giáo dục học mầm non coi việc hình thành vốn từ là nội dung quan trọng trọng nhiệm vụ giáo dục trẻ

1.1.3 Vai trò của trò chơi đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ

1.1.3.1 Khái niệm về trò chơi trẻ em

Trò chơi là một hình thức đặc thù độc đáo của trẻ em để thực hiện tác động tương hỗ giữa chủ thể với môi trường xung quanh (trẻ em nhận thức thế giới thông qua trò chơi)

Trò chơi gồm các nội dung:

Trò chơi có tính biểu hiện thường xuyên như tính tự do, tính tích cực, giàu cảm xúc chân thực

Trò chơi trẻ em là những hoạt động có đặc thù về cấu tạo và cách thức hoạt động Động cơ chơi không ở kết quả chơi mà ở ngay quá trình hành động

Hành động chơi giản lược, có tính biểu trưng

Trò chơi trẻ em mang bản chất xã hội

Trò chơi chính là phương tiện để trẻ học làm người

1.1.3.2 Phân loại trò chơi cho trẻ mẫu giáo

Trò chơi của trẻ mẫu giáo rất đa dạng, phong phú Ở nước ta những năm 60 người ta chia trò chơi thành 2 nhóm:

Nhóm 1 Trò chơi phản ánh sinh hoạt

Nhóm 2 Trò chơi vận động gồm:

Trò chơi vận động tự do với dụng cụ thể dục < vòng, gậy> gắn với thao tác chơi Trò chơi vận động có quy luật lấy từ trò chơi dân gian và bắt trước một số trò chơi nước ngoài <cướp cờ, cướp quân>

Trong những năm 70, sự phân loại trò chơi của trẻ mẫu giáo chưa được thống nhất Các nhà giáo dục được học và tiếp cận với quan điểm phân loại của nước nào thì đứng về quan điểm phân loại của nước đó

Từ những năm 80 trở lại đây, trong các trường mầm non ở nước ta vận dụng cách phân loại trò chơi theo quan điểm của Liên Xô (cũ) Theo quan điểm này, trò chơi của trẻ mẫu giáo được phân loại thành 2 nhóm chính:

Nhóm 1: Trò chơi sáng tạo, bao gồm các trò chơi sau:

+ Trò chơi đóng vai theo chủ đề

+ Trò chơi xây dựng, lắp ghép

Trang 20

1.1.3.3 Đặc điểm vui chơi của trẻ em

* Hoạt động vui chơi của trẻ em mang tính vô tư, có nghĩa là trong khi chơi đứa trẻ không chú tâm nhằm tới một lợi ích thiết thực nào cả Trong học tập, người hoạt động chủ tâm nắm vững tri thức, kĩ năng, kĩ xảo cần thiết Trong lao động người hoạt động chủ tâm tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội và bản thân Còn nguyên cớ thúc đẩy đứa trẻ vào trò chơi là sự hấp dẫn của quá trình chơi chứ không phải kêt quả của hoạt động Trẻ chơi chỉ cốt cho vui, có vui thì mới chơi mà đã chơi là phải vui

Vì hoạt động chơi của trẻ em mang tính vô tư nên khi tổ chức, hướng dẫn cho trẻ chơi người lớn cần tránh áp đặt trẻ vào những trò chơi mang lợi ích thiết thực buộc trẻ phải chơi Vì khi gieo vào đầu đứa trẻ một sự vụ lợi nào đó thì cũng tước đi tính hồn nhiên, ngây thơ trong chúng

Hoạt động vui chơi của đứa trẻ là hoạt động mô phỏng lại cuộc sống của con người, mô phỏng mối quan hệ giữa con người với tự nhiên xã hội Do đó hoạt động này mang tính tượng trưng, trong khi chơi trẻ có thể dùng các vật thay thế tượng trưng cho người thật, vật thật

Chính sự mô phỏng đó lại là điều kiện cần thiết giúp trẻ có được những hoạt động tự do thoải mái, có niềm say mê đến tận cùng với bao ước mơ ngộ nghĩnh và thú

vị, làm nảy sinh và phát triển trí tưởng tượng Từ đó mà hình thành chức năng kí hiệu tượng trưng, chức năng tâm lí mới cần cho cuộc sống sau này

* Hoạt động vui chơi của trẻ em là một hoạt động mang tính tự do Khác với học tập và lao động, vui chơi không buộc phải tuân theo một phương thức chặt chẽ nào Nhờ đó đứa trẻ có được những hoạt động tự do Sẽ không thể chơi được nếu hoạt động của đứa trẻ bị phụ thuộc một cách nghiêm ngặt vào thế giới hiện thực

Tuy vậy sự tự do của trẻ phải nằm trong giới hạn của luật chơi Tính tự do ở hoạt động chơi của trẻ còn được thể hiện ở chỗ hành động chơi hoàn toàn xuất phát từ

Trang 21

nguyện vọng và hứng thú cá nhân chứ không do một sự áp đặt nào từ phía bên ngoài

* Hoạt động vui chơi của trẻ em là một hoạt động độc lập và tự điều khiển Hơn bất cứ hoạt động nào, khi tham gia vào trò chơi đứa trẻ bộc lộ hết mình một cách tích cực và chủ động Chơi là hoạt động độc lập và tự chủ đầu tiên của trẻ em Trong khi chơi trẻ tự lực làm mọi việc, từ việc chọn đồ chơi, bạn chơi đến việc tìm kiếm đồ chơi đặc biệt là cố gắng suy nghĩ để khắc phục trở ngại xấu xuất hiện trong quá trình chơi

Một biểu hiện độc đáo của tính độc lập đó là sự tự điều chỉnh hành vi của mình khi chơi Để phù hợp với yêu cầu của trò chơi và bạn chơi đứa trẻ cần luôn biết điều chỉnh hành vi của mình, nếu không sẽ bị loại ra khỏi cuộc chơi

Chính tính độc lập và tự điều chỉnh hành vi đó đã tạo cho trẻ không những niềm vui sướng và lòng tự tin trong khi chơi mà còn giúp chúng phát huy khả năng tự lập của mình trong cuộc sống sau này

Hoạt động vui chơi của trẻ em là một hoạt động mang màu sắc xúc cảm chân thực mạnh mẽ Đứa trẻ lao vào cuộc chơi với tất cả say mê và lòng nhiệt tình vốn có của nó Trò chơi tác động toàn diện và mạnh mẽ đến trẻ em, chính vì nó thâm nhập một cách dễ dàng hơn cả vào thế giới tình cảm của trẻ em, mà tình cảm ấy đối với chúng ta là động cơ hoạt động mạnh mẽ nhất Dẫu biết rằng trong trò chơi đều mang ý nghĩa tượng trưng, đều không có thật, nhưng tình cảm mà trẻ biểu hiện trong đó là tình cảm chân thực, hồn nhiên và thẳng thắn, không hề mang tính giả tạo chút nào, bởi vì đứa trẻ không bao giờ thờ ơ với những gì mình thể hiện Sắc thái cảm xúc chân thực, mạnh mẽ mà trẻ bộc lộ trong trò chơi là một đặc điểm rất dễ nhận ra, khiến nhiều người nghệ sĩ tài ba cũng mong có được, và chính nhờ nó mà họ có thể đạt tới thành công trong nghệ thuật

Do những đặc điểm này mà hoạt động vui chơi được coi là hoạt động tự nguyện của mọi trẻ em, đó là những giây phút sung sướng nhất của các em Bởi lẽ khi chơi chính là lúc trẻ thể hiện: “ước mơ với tất cả thân thể của mình”(Georges Duhamel)

1.1.3.4 Ý nghĩa của hoạt động vui chơi đối với trẻ mầm non

Chơi là hoạt động đặc trưng của trẻ em lứa tuổi mầm non Mỗi lứa tuổi đều có nội dung chơi, tính chất chơi khác nhau Thoạt đầu chơi chỉ mang tính ngẫu nhiên, tình

cờ, dần dần mang tính chủ tâm hơn, đến tuổi mẫu giáo chơi trở thành hoạt động chủ đạo, ảnh hưởng mạnh đến sự phát triển mọi mặt trong đời sống tâm lí nhân cách của

Trang 22

trẻ Chính vì lẽ đó các nhà giáo dục sử dụng trò chơi như là phương tiện giáo dục toàn diện cho trẻ em

* Chơi là phương tiện giáo dục trí tuệ cho trẻ em

Chơi là phương tiện mở rộng, củng cố chính xác hóa các biểu tượng của trẻ về cuộc sống xung quanh Nội dung chủ yếu của chơi là phản ánh thế giới xung quanh trẻ, nên khi tham gia vào hoạt động này trẻ càng hiểu sau hơn về cuộc sông xung quanh Ví dụ: trẻ có biểu tượng chính xác hơn về chức năng sử dụng một số đồ dùng sinh hoạt quen thuộc: cái thìa để xúc cơm, múc canh, cái cốc để uống nước, người bác

sĩ thì phải làm gì, bế em phải như thế nào trong quá trình chơi những tri thức mà trẻ nắm được trước đây bắt đầu tham gia vào một số liên hệ mới và được điều khiển, vận dụng những tri thức ấy trong những hành động chơi, thao tác chơi: trẻ dùng thìa xúc cơm, canh cho búp bê, dùng khăn lau mặt cho búp bê, đặt em ngủ, nựng búp bê như

mẹ đã chăm sóc em

Chơi là phương tiện giúp trẻ lĩnh hội được tri thức mới Trong một số trường hợp khi tham gia vào trò chơi, dưới sự hướng dẫn của người lớn trẻ khám phá ra nhiều điều mới lạ, thú vị ở thế giới xung quanh Trong quá trình thực hiên ở các hành động chơi, thao tác chơi, trẻ nhận ra được một vài thuộc tính, mối quan hệ nào đó của sự vật, hiện tượng Ví dụ, trẻ hình dung ra được thế nào là to hơn, nhỏ hơn; thế nào là cao hơn, thấp hơn; thế nào là xa hơn, gần hơn

Khi tham gia vào trò chơi, các chuẩn cảm giác về hình dạng, kích thước và màu sắc của trẻ được củng cố, chính xác hóa Nhờ đó trẻ dễ dàng thực hiện hành động chơi, nội dung chơi (xếp được ngôi nhà hợp lí, phân loại đồ chơi theo màu sắc ) Đặc biệt là khi tham gia trò chơi, tính có chủ định trong quá trình tri giác, trí nhớ, chú ý của trẻ được hình thành Ví dụ trẻ phải chú ý lắng nghe xem tiếng kêu đó là của con gì (trong trò chơi”tai ai thính”), con gì biến mất (trong trò chơi “con gì biến mất”) để giải quyết nhiệm vụ chơi

Khi tham gia vào trò chơi, trí tưởng tượng của trẻ được phát triển mạnh mẽ Trong quá trình chơi đứa trẻ học thay thế đồ vật này bằng đồ vật khác, nhận đóng vai này vai kia, nảy sinh hoàn cảnh tưởng tượng để thực hiện hành động chơi, nội dung chơi Đó là cơ sở quan trọng để nảy sinh trí tưởng tượng của trẻ Thật vậy trong khi chơi đặc biệt là trò chơi đóng vai có chủ đề, trẻ có thể làm bất cứ việc gì(nào là lái xe, chữa bệnh ) Có bất cứ thứ gì mình muốn (muốn có ngựa thì dùng chiếc gậy hay tàu

Trang 23

lá cau, muốn có ô tô đầu tàu hỏa thì chỉ cần một cái ghế, hai tay bám vào vai ghế là có liền ) Trẻ hình dung sàn nhà lớp học khi thì là con đường từ đồng về làng con ngựa đang “nhông nhông ngựa ông đã về”, khi thì là đường tàu hỏa “tu tu xình xình”.Khi tham gia vào trò chơi trẻ suy nghĩ về hành động chơi, thao tác chơi, sử dụng vật thay thế như thế nào? Trẻ học được cách giải quyết nhiệm vụ, tìm kiếm phương tiện thích hợp nhất để thực hiện dự định đã đề ra Qua đó tư duy của trẻ được phát triển mạnh

Vui chơi còn là phương tiện phát triển ngôn ngữ cho trẻ Trước hết khi tham gia vào trò chơi, trẻ sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp với bạn, trao đổi suy nghĩ của mình với các bạn và nghe ý kiến của các bạn để đi đến thảo luận trong khi chơi Trẻ sử dụng ngôn ngữ để suy nghĩ về thao tác, hành động chơi, thực hiện hành động chơi, giao lưu với trẻ khác trong nhóm và các nhóm chơi khác nhau, đánh giá lẫn nhau Qua đó ngôn ngữ của trẻ được phát triển (vốn từ trở nên phong phú, kĩ năng giao tiếp được phát triển )

Chơi là phương tiện giáo dục đạo đức cho trẻ em

Trò chơi ảnh hưởng mạnh đến nhận thức, thái độ và hành vi đạo đức của trẻ Khi tham gia vào trò chơi, đứa trẻ trải nghiệm được những thái độ, tình cảm đạo đức

và tập được hành vi ứng xử với mọi người xung quanh bằng cách nhập vai của mình Qua đó trẻ học làm người

Trong khi chơi trẻ được thử sức hành động như người lớn, qua đó hình thành hành vi, thái độ cho bản thân, thực hiện hoạt động chơi phù hợp với nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội của vai chơi, Ví dụ, bác sĩ thì phải ân cần, niềm nở với bệnh nhân, phải thông cảm và chia sẻ với bệnh nhân Người bán hàng thì phải vui vẻ, lịch thiệp với khách hàng Làm mẹ thì phải ân cần, dịu dàng dỗ dành em bé Những tri thức về biểu tượng hành vi đạo đức được lĩnh hội trong những hành vi chơi ấy dần dần được trẻ vận dụng vào trong các mối quan hệ thực trong đời sống, biết ân cần giúp đỡ em nhỏ, biết lịch

sự lêp phép với người lớn tuổi, biết chăm sóc những người thân, biết vâng lời cô giáo

Cũng trong hoạt động chơi hình thành ở trẻ sự thật thà, dũng cảm, tính chủ động, tính kiên trì, đặc biệt lòng nhân ái Khi tham gia vào mối quan hệ giữa người với người trong trò chơi những rung động mang tính người được gợi lên ở trẻ Hơn nữa thái độ buồn rầu hay vui vẻ ở trẻ còn được tạo nên bởi trí tưởng tượng trong khi chơi

Do vậy trong khi tham gia chơi trẻ hình thành được tình người như thái độ ân cần, yêu thương đối với trẻ nhỏ, cảm thông chia sẻ với người khác

Trang 24

Chơi là phương tiện giáo dục thẩm mĩ cho trẻ

Chơi là hoạt động phản ánh cuộc sống xã hội Khi tham gia trò chơi, trẻ cảm nhận được cái đẹp ở sự phong phú, đa dạng về màu sắc, hình dạng, kích thước, màu sắc,âm thanh của đồ vật, đồ chơi Khi tổ chức các hoạt động giáo dục nói chung, tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ, cô cần tạo ra môi trường tiện lơi để hấp dẫn, lôi cuốn trẻ tích cực tham gia vào hoạt động Trong đó yếu tố thẩm mĩ cần được đặc biệt quan tâm, từ việc trang trí lớp học đến lựa chọn đồ chơi, cách cư xử trong quan hệ chơi cũng như quan hệ thực (quan hệ giữa cô với trẻ, quan hệ giữa trẻ với trẻ, ) cần làm sao cho đẹp để gợi lên ở trẻ những cảm xúc thẩm mĩ lành mạnh

Trò chơi không chỉ giúp trẻ cảm nhận được cái đẹp của đồ dùng, đồ chơi, của hành động chơi, của các hành vi giao tiếp giữa người với người, giữa người với hiện thực mà còn hình thành ở trẻ nhu cầu sống theo cái đẹp, bảo vệ cái đẹp và làm ra cái đẹp

Chơi là phương tiện giáo dục lao động cho trẻ

Khi tham gia trò chơi trẻ tái tạo lại những hành động lao động và những mối quan hệ giữa những người lớn với nhau, qua đó mà thu nhận được những biểu tương

về lao động, về ý nghĩa xã hội và tính hợp tác của nó Đồng thời qua tái tạo những hành động lao động của người lớn trong trò chơi mà một số kĩ năng lao động giản đơn được hình thành ở trẻ: kĩ năng lao động tự phục vụ, kĩ năng lao đông trực nhật,

Cũng trong quá trình chơi, dưới sự hướng dẫn của cô giáo trẻ được giáo dục một số phẩm chất đạo đức cần thiết cho người lao động tương lai: tính mục đích, tính sáng tạo, lòng yêu lao động và thích lao động,

Như vây có thể nói, chơi là phương tiện giáo dục toàn diện cho trẻ Nhà giáo dục cần khai thác thế mạnh cuả hoạt động vui chơi trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ Tổ chức cho trẻ chơi là mang lại hạnh phúc cho trẻ thơ, tạo điều kiện cho trẻ phát triển một cách tự nhiên nhất

1.1.3.5 Tầm quan trọng của trò chơi đối với sự phát triền ngôn ngữ

Trò chơi có vai trò quan trọng đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ

Trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo nhỡ 4-5 tuổi thì vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ Trò chơi làm nảy sinh, kích thích sự phát triển về vật chất, các mối quan hệ xã hội và các phẩm chất tâm lý

Trò chơi của trẻ em trước hết có ý nghĩa nhận thức to lớn Macxim gooki đã viết: “vui chơi là con đường để trẻ nhận thức thế giới, trong đó trẻ em có nhiệm vụ

Trang 25

sống và cải tạo nó”Vì vậy khi chơi bao giờ trẻ cũng bắt chước thực hiện dưới một hình thức nào đó và những thay đổi trong thực hiện phản ánh nào đó những thay đổi trong hiện thực phản ánh trong chủ đề của trò chơi Khi chơi trẻ không những nhận ra rằng

có nhiều hoạt động với các công cụ khác nhau nhưng lại có cùng mục đích

Thông qua việc tổ chức cho trẻ chơi có nội dung phong phú theo yêu cần và nhiệm vụ giáo dục tác động đến trẻ bằng mọi mặt ý chí, tình cảm, ý thức, hành vi nhằm mục đích phát triển toàn diện nhân cách trò chơi có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ 4- 5 tuổi

Trong khi chơi trẻ em gặp tình huống cụ thể do đó thông qua sự hướng dẫn của người lớn mà trẻ có thể lĩnh hội ngôn ngữ đạt cả tình huống trọn vẹn ấy hay khi chơi trẻ biết được tên gọi của đồ vật ở thế giới xung quanh một cách riêng biệt và thực hiện những hoạt động theo chỉ dẫn của người lớn Trẻ càng mạnh dạn hơn thì giao tiếp với mọi người xung quanh ngày càng được mở rộng Cuối 3 tuổi trẻ trở nên mạnh dạn hơn, có nhiều sáng kiến hơn nên thúc đẩy trẻ lĩnh hội ngôn ngữ, thông hiểu lời nói của những người của những người xung quanh mà khách thể trẻ phát triển ngôn ngữ tích cực Chơi là yếu tố, là điều kiện chính kích thích trẻ phát triển ngôn ngữ một cách nhanh chóng, vui chơi là hoạt động chủ đao của trẻ mẫu giáo nên việc tổ chức các trò chơi cho trẻ có ý nghĩa vô cùng quan trọng

Thật vậy chính hoạt động vui chơi là nơi trẻ thể hiện được tốt nhất ngôn ngữ của mình và là nơi được thỏa mãn nhu cầu tự khẳng định, nhu cầu tìm kiếm khám phá thế giới xung quanh.Từ đó giúp trẻ hình thành động cơ chơi mục đích chơi Đây là nền tảng cuả hoạt động học tập giúp trẻ chuyển sang độ tuổi mới, mẫu giáo lớn 5- 6 tuổi

Tác dụng của việc chơi ở độ tuổi 4- 5 tuổi ngoài các trò chơi ở lứa tuổi mẫu giáo bé, trẻ còn chơi các trò chơi khác như:

1.1.3.6 Định hướng chơi để phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo

Mỗi loại trò chơi dành cho trẻ mẫu giáo đều có những đặc điểm khác nhau nhưng chúng đều có đặc điểm hấp dẫn trẻ.Với những trẻ ở độ tuổi mẫu giáo bé, trẻ

Trang 26

được hướng đẫn cách chơi một cách tỉ mỉ và tham gia vào trò chơi dưới sự giúp đỡ của

cô giáo về cả ngôn ngữ và cách chơi

Còn đối với những trẻ ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ, vì trẻ có vốn từ phong phú hơn

và khả năng chú ý của trẻ đang được phát triển do vậy mà các trò chơ khó hơn, giáo viên sẽ hướng dẫn trẻ thông qua ngôn ngữ hoặc có thể bằng cách diễn đạt lại trò chơi,

và nói luật chơi đối với trẻ trước khi tham gia vào trò chơi

Sang đến độ tuổi mẫu giáo lớn,nhận thức của trẻ cũng phát triển hơn trước.Trẻ

có thể tự mình chơi được thông qua sự hướng dẫn của cô giáo mà không cần sự hướng dẫn sát sao của cô.Có thể trẻ sẽ học được từ cách chơi của bạn bè trong nhóm chơi

Để phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách hiệu quả giáo viên cần nắm được đặc điểm ngôn ngữ của từng giai đoạn, lứa tuổi của trẻ để có thể khơi dậy khả năng phát triển của trẻ thông qua trò chơi

bé khả năng chú ý của trẻ còn kém và chưa có vốn từ phong phú nên các trò chơi dành cho trẻ lứa tuổi náy thường đơn giản, dễ chơi, nội dung trò chơi ngắn gọn và đảm bảo tính hấp dẫn

Tuy nhiên khi bước sang tuổi mẫu giáo nhỡ, trẻ đã có một khối lượng từ khá phong phú nên các trò chơi cho trẻ lứa tuổi này thường khá phong phú và đa dạng để

có những trò chơi phức tạp hơn, đòi hỏi trẻ phải tập trung nhiều hơn, nội dung chơi khó hơn và dài hơn so với những trò chơi cho dành cho trẻ mẫu giáo bé

Đến tuổi mẫu giáo lớn, trẻ đã có một số lượng vốn từ rất lớn để có thể tham gia vào các trò chơi khó hơn, phức tạp và đòi hỏi trẻ phải sử dụng đến trí tuệ và thể xác và khả năng chú ý cao hơn trước

1.2.2 Thực trạng tổ chức các trò chơi cho trẻ mẫu giáo nhỡ

1.2.2.1 Mục đích khảo sát

Quá trình khảo sát nhằm tìm hiểu:

Trang 27

- Thực trạng về trình độ giáo viên dang trực tiếp giảng dạy trẻ mẫu giáo nhỡ

<4-5 tuổi>

- Thực trạng việc giáo viên tổ chức phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ

<4-5 tuổi> thông qua trò chơi

1.2.2.2 Nội dung khảo sát

- Tìm hiểu nhận thức của giáo viên về việc dạy trẻ mẫu giáo<4-5tuổi> thông qua trò chơi nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ

- Dự giờ quan sát giáo viên tổ chức dạy phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ < 4-5 tuổi> chơi các trò chơi, ghi chép các biện pháp sử dụng của giáo viên

- Nghiên cứu giáo án<kế hoạch> hướng dẫn trẻ chơi các trò chơi có liên quan đến phát triển ngôn ngữ

- Đánh giá thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ 4-5 tuổi thông qua trò chơi

1.2.2.3 Đối tượng khảo sát

- 60 trẻ lớp mẫu giáo nhỡ Trường Mầm non Chiềng Mung- Mai Sơn-Sơn La

1.2.2.4 Địa bàn khảo sát

Trường mầm non Chiềng Mung- Mai Sơn-Sơn La

1.2.2.5 Thời gian khảo sát

- Từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2016

1.2.2.6 Phương pháp khảo sát

a) Phương pháp khảo sát bằng phiếu điều tra Anket

+ Đối với giáo viên

- Mục đích: tiến hành khảo sát để thu thập ý kiến của giáo viên mầm non nhằm tìm hiểu về nhận thức, về tác động của trò chơi tới sự phát triển ngôn ngữ của trẻ,

Thông qua trò chơi

- Các bước tiến hành:

Bước 1: Phát phiếu khảo sát cho giáo viên

Bước 2: Tiến hành phân tích, tổng hợp lại kết quả theo nội dung khảo sát

Bước 3: Nhận xét thực trạng, phân tích nguyên nhân dẫn đến thực trạng

+) Đối với trẻ

- Sử dụng các phiếu đáng giá thực trạng ngôn ngữ của trẻ <4-5 tuổi>nhằm tìm hiểu mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ

Trang 28

1.2.2.7 Kết quả khảo sát mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ

Chứng tôi tiến hành khảo sát thực trạng ngôn ngữ của trẻ mầm non 4-5 tuổi thông qua các trò chơi theo phiếu đánh giá sự phát triển ngôn ngữ của trẻ thông qua một số trò chơi trên 60 trẻ tại hai cơ sở của trường mầm non Chiềng Mung- Mai Sơn-Sơn La Chúng tôi đã xây dựng những tiêu chí đánh giá như sau:

Bảng 1.1: Các tiêu chí đánh giá thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ thông qua một

số trò chơi

+Bình thường +Khó khăn +Không diễn đạt được

Tốt Khá Trung bình Yếu

+Bình thường +Chậm

+Không hiểu

Tốt Khá Trung bình Yếu

3 Khả năng phát âm(l,đ,s,x,th,n, ) +Tốt

+Bình thường +Chậm

+Sai

Tốt Khá Trung bình Yếu

Bảng 1.2 Kết quả khảo sát thực trạng ngôn ngữ của 30 trẻ trường mầm non Chiềng

Mung-Mai Sơn-Sơn La (tổ Trung tâm - lớp nhỡ B) Khả năng ngôn

Trang 29

Bảng 1.3 Kết quả khảo sát thực trạng ngôn ngữ của 30 trẻ trường mầm non Chiềng

Mung-Mai Sơn-Sơn La (tổ Hoàng Văn Thụ - lớp nhỡ A) Khả năng ngôn

1.2.2.6 Kết quả khảo sát đối với giáo viên

Thực trạng trình độ đào tạo của giáo viên trực tiếp giảng dạy trẻ 4-5 tuổi ở hai trường mầm non được điều tra

+ Trình độ đào tạo:

- Giáo viên có trình độ Đại học giáo dục mầm non:7 giáo viên

- Giáo viên có trình độ Cao đẳng giáo dục mầm non: 1 giáo viên

- Giáo viên có trình độ Trung cấp giáo dục mầm non:2 giáo viên

- Sơ cấp sư phạm mầm non:

- Chưa qua đào tạo: Không có

+Thâm niên công tác:

- Dưới 5 năm: Không có

- Từ 10-15 năm: 8 giáo viên

- Từ 15 năm trở lên: 2 giáo viên

Qua số liệu điều tra trên ta thấy ở các trường Mầm non mà chúng tôi đã tiến hành khảo sát phần lớn giáo viên có trình độ từ trung cấp trở nên đến Đại học và đa số các giáo viên đều có thâm niên công tác lâu năm tại các lớp nhỡ, đây là điều kiện thuận lợi cho việc chăm sóc giáo dục trẻ ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ này

+ Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc nâng cao chất lượng hoạt động cho trẻ nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua một số trò chơi

Chúng tôi đã điều tra 22 giáo viên của hai trường mầm non Hoa Hồng và trường mầm non Chiềng Mung Sau khi điều tra chúng tôi thấy nhận thức của giáo viên về việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua một số trò chơi như sau:

- Khi hỏi về: Tổ chức trò chơi dân gian, trò chơi học tập cho trẻ có tác động như

Trang 30

gian,trò chơi học tập tác động mạnh đến sự phát triển vốn từ, khả năng phát âm, hiểu nghĩa của từ và khả năng phát âm,hiểu nghĩa của từ và khả năng nói mạnh lạc của trẻ

- Khi được hỏi: chị vận dụng chương trình giáo dục mầm non mới vào việc tổ chức trò chơi cho trẻ như thế nào? Tất cả các giáo viên đều nhận thức rõ về việc vận dụng các phương pháp giáo dục mầm non mới vào việc tổ chức trò chơi cho trẻ bằng cách lồng ghép đan cài các trò chơi phù hợp với nội dung bài dạy vào trong các tiết học nhằm thúc đẩy quá trình phát triển toàn diện của trẻ,đặc biệt là phát triển lĩnh vực ngôn ngữ cho trẻ,tạo được hứng thú cao và giúp trẻ không còn gò bó trong tiết học

Kết quả trên cho thấy phần lớn các giáo viên đã xác định được tác động của trò chơi đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ và cách tích hợp các nội dung phù hợp vào trò chơi

Khi được hỏi: Chị còn biết phương pháp nào biện pháp nào nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua trò chơi không? Thì có 100% sử dụng các phương pháp hỗ trợ hiện đại trong giảng dạy, 80 % dùng phương pháp bằng hình ảnh mô hình trực quan

Trong quá trình giảng dạy cũng như các hoạt động nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ, chị đã gặp những khó khăn gì? Phần lớn họ cho rằng trẻ chủ yếu là con em dân tộc, không được tiếp xúc nhiều với ngôn ngữ phổ thông nên khó cho việc giao tiếp và diễn đạt của trẻ

Trang 31

Tiểu kết chương 1

Trong chương này chúng tôi đã đề cập đến những cơ sở lí luận và thực tiễn về ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ <4-5 tuổi> và khả năng tiếp nhận trò chơi của trẻ Đặc biệt chúng tôi đi nghiên cứu về đặc điểm và vai trò của trò chơi Bởi trò chơi là một hoạt động văn hóa dân gian đặc biệt của dân tộc, nó có tác động mạnh mẽ đến trẻ Thông qua trò chơi mà trẻ thu nhận được biểu tượng một cách chính xác hóa bằng ngôn ngữ

Vì với trẻ em ngay từ những năm đầu đời trẻ đã có nhu cầu dùng ngôn ngữ để giao tiếp, để khám phá môi trường xung quanh Trong đó việc sử dụng trò chơi để giúp trẻ giao tiếp, tìm hiểu khám phá thế giới xung quanh được coi là vấn đề hết sức quan trọng trong phát triển ngôn ngữ

Hơn nữa qua trò chơi trẻ còn tập trung vận dụng các tri thức mà trẻ tiếp thu, lĩnh hội được vào trò chơi, nhờ đó mà trẻ nhớ được ngôn ngữ đồng thời tạo ra các tình huống nhằm giúp trẻ sử dụng vốn từ đã tích lũy một cách triệt để

Trang 32

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO QUA

MỘT SỐ TRÒ CHƠI 2.1 Sử dụng video trình chiếu mẫu trò chơi

2.1.1 Mục tiêu và ý nghĩa

Sử dụng video trình chiếu mẫu trò chơi nhằm truyền đạt nội dung của trò chơi đến với trẻ giúp trẻ hiểu rõ ràng và chơi thành thạo thông qua việc khai thác những điểm mạnh của kĩ thuật hiện đại

Qua video mẫu mà trẻ được xem, trẻ không chỉ tiếp nhận được trò chơi một cách đầy đủ mà còn giúp trẻ tiếp cận được cái mới mà công nghệ thong tin đem lại Hơn nữa vừa tiện lợi lại vừa tiết kiệm được nhiều thời gian hơn

Mục tiêu của việc trình chiếu video trong trò chơi dân gian không chỉ dừng lại ở việc ghi nhớ được tên trò chơi, cách chơi mà trẻ còn biết lựa chọn, sử dụng những từ ngữ để áp dụng vào trò chơi Qua đó trẻ sẽ biết bộc lộ, thể hiện những suy nghĩ, cảm nhận của mình về cái hay của trò chơi

Sử dụng video để truyền đạt tới trẻ, sẽ giúp trẻ bắt chước cách chơi nhanh hơn Hình ảnh kết hợp với âm thanh tạo sự cuốn hút đối với trẻ Tuy nhiên, ngôn ngữ trong các video cho trẻ xem có tác động tới trẻ rất lớn khiến cho trẻ nhập tâm hơn, từ đó hình thành thái độ, tình cảm cho trẻ một cách sâu sắc

Trang 33

cũng là con đường để truyền thụ những tri thức.Hoàn thiện các kỹ năng kỹ xảo, năng lực nhận thức, năng lực chơi của trẻ

Cô giáo có thể trình chiếu các video cho trẻ xem hình ảnh các trẻ khác chơi để gây hứng thú và giúp trẻ hiểu về cách chơi, luật chơi Giáo viên chuẩn bị các video và máy dạy trẻ vào một giờ học cho trẻ quan sát và chơi theo những video đó

2.2 Sử dụng lời nói hướng dẫn trẻ chơi

Qua lời hướng dẫn của cô, giáo viên giúp trẻ nhận ra, nhớ được sắc thái cơ bản trong giọng nói, lời của bài đồng dao

Hơn hết, giáo viên cần phải truyền đạt được các âm điệu vui tươi, sảng khoái và nghịch ngợm để gây được hứng thú cho trẻ và giúp trẻ cảm nhận được nhạc tính trong ngôn ngữ đó Khi hướng dẫn trẻ đọc các bài đồng dao, giáo nên vừa đọc vừa kết hợp với của động của cơ thế, sao cho có sự phù hợp giữa lời với nhịp điệu vận động

Như vậy, lời nói hướng dẫn của cô giáo có vai trò hết sức quan trọng trong việc dạy trẻ chơi các trò chơi, qua đó trẻ hình thành, nhận biết được những nét đẹp trong truyền thống dân gian của người Việt Cho nên, lời hướng dẫn của cô phải chuẩn, chính xác, phải được nghiên cứu kỹ và được cô hướng dẫn với tâm huyết của mình, có như vậy mới có sức hấp dẫn, lôi cuốn trẻ háo hức tham gia vào trò chơi đó

Cô sử dụng toàn bộ lời nói của mình để hướng dẫn, truyền đạt trò chơi đến với trẻ Lúc này cô trở thành cầu nối liên kết trẻ đến với trò chơi dân gian Đây là một việc làm hết sức quan trọng bởi lời hướng dẫn của cô có tác dụng to lớn, kích thích sự ham muốn chơi của trẻ Qua sự hướng dẫn của cô, trẻ có thể thích hay không hứng thú với

Trang 34

trò chơi Chính vì thế mà giáo viên cần phải hết sức chú ý trong việc sử dụng biện pháp này để truyền đạt trò chơi dân gian đến với trẻ

2.2.3 Cách tiến hành

Muốn truyền tải nội dung trò chơi đến với trẻ một cách đầy đủ, chính xác đòi hỏi sự hiểu biết của cô về mọi thành tố nội dung và hình thức của trò chơi Phải nói đúng và có sắc thái phù hợp với những lời nói hay những lời của các bài đồng dao

Phương pháp sử dụng lời nói mẫu để hướng dẫn chơi đòi hỏi mức độ cao hơn về lời nói và cách diễn đạt sắc thái đặc biệt với những trò chơi dân gian có lời đồng dao

Cô có thể hòa trộn ngôn ngữ của mình bằng sự cảm nhận để tô đậm lên những tình tiết chính của trò chơi, hay những dụng cụ, hình ảnh được truyền đạt khác nhau

Sử dụng lời nói chậm, truyền cảm trong trò chơi có đọc đồng dao tạo sự nhẹ nhàng, không căng thẳng cho trẻ theo dõi Hơn nữa, việc phối hợp giọng nói với những hành động, cử chỉ, điệu bộ, nét mặt … những yếu tố phi ngôn ngữ này cũng phần nào giúp trẻ thâm nhập vào trò chơi sâu hơn, hiểu rõ hơn ý nghĩa của trò chơi

Cùng với những kiến thức về trò chơi dân gian, sự cảm thụ riêng của cô ý nghĩa của trò chơi vượt ra khỏi văn bản cứng nhắc những lời hướng dẫn của cô, sẽ làm nên

sự khúc triết, sinh động, tạo khả năng ghi nhớ thông qua năng lực nghe, nhìn, sự cảm nhận gây hứng thú mạnh tới trẻ Trẻ thích chơi nhiều lần một trò chơi

Như vậy, khi chơi trẻ không chỉ cần thông tin mà mỗi lần chơi trẻ sẽ có những sáng tạo, tìm thấy những điều mới, được sống với chính văn hóa của dân tộc

2.2.4 Điều kiện vận dụng

Phương pháp sử dụng lời nói mẫu để hướng dẫn trẻ chơi được sử dụng hầu hết trong các giờ học hay giờ giải lao Phương pháp này giúp trẻ đến được với trò chơi một cách gián tiếp qua lời hướng dẫn của giáo viên đã được nghiên cứu tìm hiểu kỹ

2.3 Cho trẻ chơi các trò chơi dân gian

2.3.1 Mục tiêu và ý nghĩa

Trò chơi dân gian là một hoạt động có tác động mạnh mẽ đến trẻ em, nó là phương tiện giáo dục nhân cách toàn diện cho trẻ em Trước hết, trò chơi dân gian cung cấp cho trẻ những kiến thức xã hội cần thiết cho cuộc sống xã hội của trẻ: trẻ tập

đi mua bán, tập làm nhà cửa, tập cưỡi trâu cưỡi ngựa, trong tưởng tượng, trẻ tập làm quen với các nghề nghiệp trong xã hội

Trang 35

Trong khi trẻ chơi trẻ tiếp thu được những điều hay lẽ phải, biết yêu cái đẹp và nhìn nhận cuộc sống một cách phong phú hơn, hơn nữa trẻ còn rèn luyện được những thói quen cần thiết cho cuộc sống hiện thực không chỉ ở hiện tại mà còn cần thiết cả ở trong tương lai Khi trẻ hòa mình vào thế giới trò chơi, trẻ sẽ được trải nghiệm với các mối quan hệ Đặc biệt trong trò chơi dân gian trẻ được giáo dục có thái độ đúng đắn trong các mối quan hệ giữa con người và con người, giữa con người và thiên nhiên Thật vậy, trò chơi dân gian rất giàu yếu tố tưởng tượng, điều này cũng rất phù hợp với tâm sinh lí của các em

Đối với trẻ em vốn có trí tưởng tượng phong phú nên mọi vật đều như có hồn Chúng có thể trò chuyện với cỏ cây, hoa lá, các loài vật, đồ vật xung quanh và hình dung rất hồn nhiên chân thực rằng đó là những cuộc đối thoại hết sức thú vị như được trò chuyện với những người bạn thân thiết của mình Trong khi chơi trẻ biết sử dụng vật này thay thế cho vật kia, biết đóng các vai khác nhau, khi thì người mẹ, khi thì vai người bác sĩ, học sinh, người bán hàng, trẻ có thể tưởng tượng ra những điều khác nhau mà đối với trẻ cũng trở nên thú vị hơn

Hơn nữa trò chơi dân gian còn là phương tiện để phát triển ngôn ngữ mạch lạc, chính xác và có hiệu quả Bởi khi tham gia vào trò chơi, trẻ được ca hát và nhảy múa, đối đáp hay sáng tạo từ ngữ Qua đó vốn từ của trẻ trở nên phong phú, ngôn ngữ của trẻ mạch lạc hơn Trò chơi vui-khỏe-khéo léo là những trò chơi dân gian tổng hợp vì mỗi trò chơi kết hợp nhiều kỹ năng vận động thể lực Trẻ trở nên nhanh nhẹn, tháo vát, khéo léo trong các hoạt động và phản xạ nhạy bén hơn khi tự mình nhập cuộc vào các trò chơi dân gian

Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong ngững vấn đề quan trọng cần được quan tâm.Vì vậy trẻ cần phải được luyện tập mọi lúc, mọi nơi, và thời gian lâu dài Cho trẻ chơi các trò chơi dân gian kết hợp với việc đọc các bài đồng dao sẽ giúp rất tốt cho việc phát triển ngôn ngữ của trẻ

Ngày đăng: 06/03/2017, 20:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mai Ngọc Chừ (1997), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 1997
2. Vũ Tiến Dũng (1997), Bước đâù khảo sát một số phương tiện diễn đạt hình thái lịch sự trong giao tiếp bằng Tiếng Việt, Luận văn Thạc sĩ khoa học ngữ văn, Trường Đại học Sƣ phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Bước đâù khảo sát một số phương tiện diễn đạt hình thái lịch sự trong giao tiếp bằng Tiếng Việt
Tác giả: Vũ Tiến Dũng
Năm: 1997
3. Hà Nguyễn Kim Giang (2002), Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học - một số vấn đề lí luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học
Tác giả: Hà Nguyễn Kim Giang
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
4. Nguyễn Công Hoàn (1995), Tâm lý học trẻ em, tập I, II, III, Nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em, tập I, II, III
Tác giả: Nguyễn Công Hoàn
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 1995
5. Nguyễn Xuân Khoa (1997), Phương pháp phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo
Tác giả: Nguyễn Xuân Khoa
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
6. Nguyễn Xuân Khoa (2004), phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 1-6 tuổi, Nhà xuất bản Đại học sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 1-6 tuổi
Tác giả: Nguyễn Xuân Khoa
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học sƣ phạm
Năm: 2004
7. Lã Thị Bắc Lý - Lê Thị Ánh Tuyết (2009), Phương pháp cho trẻ mầm non làm quen với tác phẩm văn học, Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp cho trẻ mầm non làm quen với tác phẩm văn học
Tác giả: Lã Thị Bắc Lý - Lê Thị Ánh Tuyết
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2009
8. Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Phạm Thị Việt (2002), Phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Phạm Thị Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
10. Hoàng Thị Oanh (2001), phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi
Tác giả: Hoàng Thị Oanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
11. Đoàn Thiện Thuật (1977), Ngữ âm Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ âm Tiếng Việt
Tác giả: Đoàn Thiện Thuật
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1977
12. E.I. Tikheeva (1997), Phát triển ngôn ngữ trẻ em, Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển ngôn ngữ trẻ em
Tác giả: E.I. Tikheeva
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 1997
13. U.Skinxki (1997), Phát triển ngôn ngữ, Nhà xuất bản Matxcova Nga Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển ngôn ngữ
Tác giả: U.Skinxki
Nhà XB: Nhà xuất bản Matxcova Nga
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Các tiêu chí đánh giá thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ thông qua một - Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ (4  5 tuổi) thông qua các trò chơi
Bảng 1.1 Các tiêu chí đánh giá thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ thông qua một (Trang 28)
Bảng 1.2. Kết quả khảo sát thực trạng ngôn ngữ của 30 trẻ trường mầm non Chiềng - Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ (4  5 tuổi) thông qua các trò chơi
Bảng 1.2. Kết quả khảo sát thực trạng ngôn ngữ của 30 trẻ trường mầm non Chiềng (Trang 28)
Bảng 1.3 Kết quả khảo sát thực trạng ngôn ngữ của 30 trẻ trường mầm non Chiềng - Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ (4  5 tuổi) thông qua các trò chơi
Bảng 1.3 Kết quả khảo sát thực trạng ngôn ngữ của 30 trẻ trường mầm non Chiềng (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w