1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giỏi học tập và làm bài thi môn Lịch sử ở trường Trung học cơ sở

27 1,2K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 411 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử là những gì diễn ra trong quá khứ, khác với tự nhiên, lịch sử xã hội loài người không thể trực tiếp quan sát và cũng không thể khôi phục lại diễn biến của nó trong phòng thí nghiệm. Môn Lịch sử không chỉ cung cấp cho học sinh những hiểu biết về quá khứ mà còn có tác dụng giáo dục về tư tưởng đạo đức, lối sống cho học sinh. Tuy nhiên do sự phát triển của nền kinh tế thị trường và cuộc sống hiện đại, học sinh không còn hứng thú với môn Lịch sử, vì cho rằng đó chỉ là môn phụ, không quan trọng, nội dung kiến thức quá dài, nhiều sự kiện, khó nhớ. Ngay cả phụ huynh học sinh cũng không coi trọng đối với môn học này. Trong các kì thi tốt nghiệp và thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng những năm gần đây, chất lượng các môn Khoa học xã hội nói chung và môn Lịch sử nói riêng rất thấp. Nhiều trường THPT không thể thành lập được lớp học theo ban khoa học xã hội vì số lượng học sinh đăng kí theo học ban này quá ít, không đủ lớp. Nhiều năm qua, môn Lịch sử luôn là một trong những môn thi học sinh giỏi từ cấp THCS. Đặc biệt, từ năm học 2014 2015, Sở Giáo dục và Đào tạo Vĩnh Phúc đã tổ chức kì thi liên môn Khoa học xã hội gồm các môn Văn, Sử, Địa, Giáo dục công dân. Vậy làm sao để học sinh hứng thú và chuyên tâm hơn đối với môn Lịch sử, điều đó đòi hỏi người thầy phải thật sự tâm huyết và có những phương pháp phù hợp để hướng dẫn học sinh học tập cũng như là làm bài thi môn Lịch sử, nhằm khơi dậy hứng thú học tập ở học sinh và nâng cao chất lượng môn Lịch sử.

Trang 1

Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giỏi học tập và làm bài thi môn Lịch sử ở trường Trung học cơ sở

MỤC LỤC

6 Ngày sáng kiến áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử 2

7.1.2 Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giỏi học tập và làm bài thi

7.1.2.2 Kinh nghiệm làm bài thi môn Lịch sử 14

9 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: 22

11 Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoặc áp

Trang 2

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

1 Lời giới thiệu:

Lịch sử là những gì diễn ra trong quá khứ, khác với tự nhiên, lịch sử xã hộiloài người không thể trực tiếp quan sát và cũng không thể khôi phục lại diễnbiến của nó trong phòng thí nghiệm Môn Lịch sử không chỉ cung cấp cho họcsinh những hiểu biết về quá khứ mà còn có tác dụng giáo dục về tư tưởng đạođức, lối sống cho học sinh

Tuy nhiên do sự phát triển của nền kinh tế thị trường và cuộc sống hiện đại,học sinh không còn hứng thú với môn Lịch sử, vì cho rằng đó chỉ là môn phụ,không quan trọng, nội dung kiến thức quá dài, nhiều sự kiện, khó nhớ Ngay cảphụ huynh học sinh cũng không coi trọng đối với môn học này Trong các kì thitốt nghiệp và thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng những năm gần đây, chất lượngcác môn Khoa học xã hội nói chung và môn Lịch sử nói riêng rất thấp Nhiềutrường THPT không thể thành lập được lớp học theo ban khoa học xã hội vì sốlượng học sinh đăng kí theo học ban này quá ít, không đủ lớp

Nhiều năm qua, môn Lịch sử luôn là một trong những môn thi học sinhgiỏi từ cấp THCS Đặc biệt, từ năm học 2014 - 2015, Sở Giáo dục và Đào tạoVĩnh Phúc đã tổ chức kì thi liên môn Khoa học xã hội gồm các môn Văn, Sử,Địa, Giáo dục công dân Vậy làm sao để học sinh hứng thú và chuyên tâm hơnđối với môn Lịch sử, điều đó đòi hỏi người thầy phải thật sự tâm huyết và cónhững phương pháp phù hợp để hướng dẫn học sinh học tập cũng như là làm bàithi môn Lịch sử, nhằm khơi dậy hứng thú học tập ở học sinh và nâng cao chấtlượng môn Lịch sử

Trang 3

sử, hiểu sâu kiến thức, nhớ lâu kiến thức làm cho môn học không trở nên nặng

nề, khô khan, nhàm chán, từ đó nâng cao dần chất lượng bộ môn Vì vậy tôi đã

chọn sáng kiến “Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giỏi học tập và làm bài thi môn Lịch sử ở trường Trung học cơ sở” Hy vọng rằng, những kinh

nghiệm này sẽ phục vụ tốt cho công tác giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏicủa bản thân cũng như các đồng nghiệp

Giáo dục đào tạo

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:

Ngày 20 tháng 9 năm 2015

7 Mô tả bản chất của sáng kiến:

7.1 Về nội dung của sáng kiến:

7.1.1 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:

a) Về phía giáo viên:

* Thuận lợi:

Trang 4

- Cơ sở vật chất nhà trường đáp ứng đầy đủ yêu cầu dạy và học.

- Trong quá trình thực hiện, tôi được sự giúp đỡ và động viên của bangiám hiệu, các đồng nghiệp trong tổ chuyên môn và nhiều cộng sự

- Qua nhiều năm giảng dạy và làm công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, tôicũng đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm, do đó cũng đạt được một số kết quảđáng khích lệ

- Kết quả thi học sinh giỏi của trường THCS Vĩnh Thịnh qua các năm rấtcao nên đã tạo tâm lý tự tin cho học sinh khi chọn bộ môn Lịch sử

* Khó khăn:

- Một số giáo viên do ít đọc sách báo, tài liệu tham khảo nên mức độhiểu biết về sự kiện, nhân vật lịch sử còn hạn chế, thậm chí nhận thức còn chưađúng đắn nên khi dạy chỉ lướt qua hoặc không đề cập tới Điều này cũng làmcho học sinh khó hiểu, khó hình dung về sự kiện và nhân vật lịch sử

- Có những giáo viên vận dụng không linh hoạt các phương pháp dạyhọc, dẫn tới học sinh hiểu bài một cách hời hợt, nông cạn, thậm chí có nhữnghọc sinh suy nghĩ chưa đúng như: học sử chỉ cần học thuộc lòng, không đòi hỏi

trí thông minh, không cần bài tập, thực hành

- Một số giáo viên khi lựa chọn học sinh giỏi thường chỉ theo cảm tính,hoặc khi tiến hành bồi dưỡng thì thực hiện một cách qua loa và đưa cho học sinhmột mớ tài liệu, yêu cầu các em tự học Do đó, các em trở nên chán chường, mấthứng thú Vì vậy, việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử sẽ gặpnhiều khó khăn

b) Về phía học sinh:

- Trong quá trình giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi tôi nhận thấy đại

đa số học sinh đều lúng túng khi đứng trước một bài tập lịch sử, khả năng hiểubài, trình bày và vận dụng vào thực tiễn cuộc sống rất khó khăn

- Nguyên nhân dẫn đến khả năng nắm bắt và vận dụng kiến thức mônLịch sử ở học sinh còn yếu là do:

+ Học sinh chưa yêu thích môn học, coi môn Lịch sử là môn phụ

+ Một số học sinh cho rằng môn Lịch sử chỉ là môn học thuộc, không cầnđến tư duy chỉ cần học thuộc lòng là có thể làm được bài

Trang 5

+ Phương pháp học tập chưa đúng: Lười học, “học tủ”, “học vẹt”.

+ Hệ thống bài tập tự giải, tự tích lũy của các em chưa nhiều

+ Kĩ năng làm bài còn hạn chế (hiểu sai đề, lạc đề)

7.1.2 Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giỏi học tập và làm bài thi môn Lịch sử.

Qua tìm hiểu thực trạng và phân tích nguyên nhân khiến học sinh gặp khókhăn khi học tập và vận dụng làm bài thi môn Lịch sử đạt kết quả cao, đặc biệttrong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, tôi đã tổng hợp được một số kinhnghiệm hướng dẫn học sinh giỏi học tập và làm bài thi môn Lịch sử như sau:

7.1.2.1 Các biện pháp học tốt lịch sử:

a) Kĩ năng khái quát kiến thức theo bài, chương, phần hoặc chuyên đề.

Trong dạy học lịch sử, kiểu bài ôn tập thường được sử dụng khi hoànthành việc học tập một giai đoạn, một thời kỳ, một khoá trình hay các vấn đềlịch sử của chương trình Vậy kiểu bài ôn tập được hiểu như thế nào?

Nhiệm vụ của bài học ôn tập là củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng kháiquát và hệ thống hoá kiến thức đã học Qua đó, giúp học sinh nắm vững và hiểusâu bài học

Ví dụ: Bài 31: Ôn tập lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1918 (Lịch sử 8)

Khi dạy bài này, giáo viên đưa ra các câu hỏi cụ thể như sau:

Câu hỏi 1: Lập bảng thống kê thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và cuộc đấu

tranh của nhân dân ta từ 1858-1884 ?

- Giáo viên hướng dẫn học sinh lập bảng (gồm mấy cột, nội dung từngcột)

- Ghi theo tiến trình lịch sử (sự kiện nào trước, sự kiện nào sau)

- Sau khi giáo viên hướng dẫn, học sinh có thể lập thành bảng dưới đây:

Thời gian Quá trình xâm lược

của thực dân Pháp.

Cuộc đấu tranh của nhân dân ta

1-9-1858 Pháp đánh Đà Nẵng, mở đầu

cuộc xâm lược Việt Nam

Quân dân đánh trả quyết liệt

Trang 6

2-1859 Pháp tấn công Gia Định Quân ta chặn địch ở đây Khởi

nghĩa Nguyễn Trung Trực,Trương Định

24-2-1861 Pháp tấn công Đại đồn Chí Hòa,

sau đó Pháp chiếm Định Tường

- Biên Hòa - Vĩnh Long

Quân ta kháng cự mạnh mẽ

6-1867 Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây

Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên

Nhân dân 6 tỉnh khởi nghĩa

20-11- 1873 Pháp đánh thành Hà Nội lần 1 Chiến thắng Cầu Giấy lần 125-4-1882 Pháp đánh thành Hà Nội lần 1 Chiến thắng Cầu Giấy lần 2

18-8-1883 Pháp đánh Thuận SAn Triều đình Huế kí Hiệp ước

Hác-măng

1884 Pháp buộc triều đình kí Hiệp

ước Pa- tơ -nốt

Việt Nam là thuộc địa nửa phongkiến của Pháp

Câu hỏi 2: Lập bảng niên biểu phong trào Cần Vương (1885-1896):

5-7-1885 Cuộc phản công quân Pháp của phái chủ chiến ở Huế

13-7-1885 Vua Hàm Nghi ra Chiếu Cần vương

1885-1888 Giai đoạn 1: bùng nổ khắp cả nước nhất là Trung Kì, Bắc Kì

1888- 1896 Giai đoạn 2: qui tụ thành những khởi nghĩa lớn

1885-1895 Khởi nghĩa Hương Khê

Câu hỏi 3 : Điểm giống nhau và khác nhau của phong trào yêu nước trước chiến

tranh thế giới thứ nhất

Trang 7

Điểm giống nhau: đều là phong trào yêu nước theo khuynh hướng dânchủ tư sản, do các sĩ phu nho học lãnh đạo.

Điểm khác nhau: Hình thức đấu tranh

+ Đông du: Bạo động vũ trang

+ Đông Kinh nghĩa thục: Mở trường học, nâng cao dân trí, bồi dưỡngnhân tài

+ Duy tân: Vận động cải cách (theo cái mới) và khai thông dân trí.

Câu hỏi 4: Hướng đi của Nguyễn Tất Thành có gì khác với các nhà yêu nước

- Sự kiện gắn với niên đại, địa điểm và nhân vật

Ví dụ: Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập ngày 3-2-1930 tại Cửu Long (Hương

Cảng - Trung Quốc) và người sáng lập Đảng là đồng chí Nguyễn Ái Quốc

Thời gian có đặc điểm đáng nhớ: Vào mùa xuân, vào dịp tết Nguyên Đán

- Cần tóm tắt được một số nét chủ yếu về một sự kiện

Ví dụ: Tại sao nói nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngay sau khi thành lập ở

vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”?

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngay sau khi thành lập ở vào tình thế

“ngàn cân treo sợi tóc” vì ngay sau khi ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoàcùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù (giặc đói, giặc dốt và giặc ngoạixâm)

+ Giặc ngoại xâm:

Từ vĩ tuyến 16 (Đà Nẵng) trở ra Bắc với danh nghĩa quân đội Đồng minh

là 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch kéo vào Hà Nội và hầu khắp các tỉnh Chúng

Trang 8

kéo theo bọn tay chân nằm trong các tổ chức phản cách mạng Việt Nam QuốcDân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) với

âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ vừa mới ra đời, thành lập chínhquyền tay sai

Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, Anh mở đường cho thực dân Pháp quay trởlại xâm lược nước ta Lợi dụng tình hình trên, các lực lượng phản cách mạng ởmiền Nam như Đại Việt, Tờ-rốt-kít, bọn phản động trong các giáo phái ngóc đầudậy làm tay sai cho Pháp, ra sức chống phá cách mạng

Ngoài ra còn hơn 6 vạn quân Nhật đang chờ giải giáp, nhưng một bộphận của chúng đã theo lệnh đế quốc Anh đánh lại lực lượng vũ trang của ta, tạođiều kiện cho thực dân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng

+ Giặc đói: Sản xuất công nghiệp đình đốn, giá cả tăng vọt, ngân sách nhànước trống rỗng Cuối năm 1944 đầu năm 1945 hơn 2 triệu đồng bào miền Bắc

bị chết đói chưa được khắc phục, tiếp đến nạn lụt lớn tháng 8 - 1945 đê 9 tỉnhBắc Bộ bị vỡ

+ Giặc dốt: Hơn 90% dân số không biết chữ, các tệ nạn xã hội như cờ bạc,rượu chè tràn lan

Kết luận: Nước Việt Nam đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”.

- Thủ thuật để ghi nhớ là có thể lấy ngày sinh hay những ngày kỉ niệmquan trọng của mình để làm mốc ghi nhớ sự kiện Cũng có thể lấy sự kiện lịch

sử thế giới đã nhớ làm mốc để nhớ lịch sử dân tộc và ngược lại Ghi nhớ bằngviệc thống kê lại những sự kiện trong cùng một thời kì hay một giai đoạn cóngày tháng khác nhau, hay số cuối của năm khác nhau Từ đó suy nghĩ, sáng tạo

ra những cách nhớ mới cho riêng mình Trong quá trình học, học sinh cũng cầnnhớ tên bài, tên tiểu mục Điểm tiếp theo là nắm chốt, là sự kiện quan trọng nhớ

cả ngày, tháng, năm

c) Hệ thống kiến thức bằng sơ đồ tư duy (hay còn gọi là sơ đồ cây)

Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc kĩ sách giáo khoa và gạch chân những

ý chính Đặc biệt, những bài giảng trên lớp của giáo viên, học sinh cần chú ýđến những kiến thức trọng tâm, chủ yếu khi chép ra giấy, học sinh hãy sơ đồ hóa

nó (thay vì diễn đạt lại dài dòng bằng những câu văn lê thê) thật ngắn gọn, súctích từ ý chính dẫn đến ý phụ, từ ý nhỏ dẫn đến ý lớn Trình bày thật sáng sủa,

Trang 9

khoa học và đặc biệt là dễ đọc Có thể sử dụng kí hiệu, viết tắt cho đỡ tốn thờigian, miễn là học sinh hiểu.

Ví dụ: Bài 5: CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á (Lịch sử 9)

Giáo viên tổ chức khai thác kiến thức bài học từ những kênh chữ trongsách giáo khoa và yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ tư duy về quá trình hình thành vàphát triển của tổ chức ASEAN, sau đó giáo viên kết luận bằng sơ đồ của mìnhnhư sau:

Qua sơ đồ tư duy này giúp học sinh nắm một cách khái quát về tình hìnhĐông Nam Á trước và sau năm 1945

Trang 10

Sự ra đời của tổ chức ASEAN, mục tiêu, nguyên tắc.

Sự mở rộng thành viên của tổ chức ASEAN

Thời cơ và thách thức khi Việt Nam gia nhập ASEAN

Ví dụ : Khi dạy bài 18: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI (Lịch sử 9)

Giáo viên khai thác kiến thức bài học qua sơ đồ tư duy sẽ giúp học sinhnắm đươc quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

- Hội nghị thành lập Đảng (3- 2- 1930)

- Những nội dung chính của Luận cương chính trị năm 1930

- Ý nghĩa việc thành lập Đảng

Trang 11

Như vậy, việc sử dụng sơ đồ tư duy sẽ tác động đến học sinh bằng nhiềuhướng: học sinh vừa nghe, vừa nhìn, vừa suy nghĩ, vừa hoạt động tư duy, vừahoạt động bằng ngôn ngữ Đồng thời qua bài học, học sinh tích cực, chủ động,

tự giác lĩnh hội tri thức, tạo hứng thú cho các em học tập đạt kết quả cao Qua

đó, giáo dục cho các em về truyền thống, tinh thần yêu nước, lòng tự hào dântộc, sức mạnh đoàn kết toàn dân

d) So sánh điểm giống và khác để học một nhưng nhớ nhiều:

Có thể nói đây là một kinh nghiệm đơn giản, dễ làm mà tính hiệu quả lạicao Chỉ cần đưa ra những tiêu chí so sánh chung cho hai hoặc nhiều hơn những

sự kiện, sự việc, câu chuyện xảy ra ở cùng một không gian hay thời gian, nhữngcon số gần giống nhau của các nội dung khác nhau thì lượng kiến thức khổng lồ

sẽ được gói gọn lại rất nhiều

Ví dụ: Đường lối lãnh đạo của Đảng và hình thức đấu tranh của cách mạng Việt

Nam trong giai đoạn 1936-1939 có gì khác với giai đoạn 1930-1931? (Lịch sử

9)

Nội dung Giai đoạn 1930 - 1931 Giai đoạn 1936 - 1939

Kẻ thù Đế quốc và phong kiến Bọn phản động Pháp cùng bè lũ

tay sai

Nhiệm vụ Đánh Pháp giành độc lập dân

tộc, đánh phong kiến đem lạiruộng đất cho nông dân

Chống Phát xít, chống chiến tranh

đế quốc, chống bọn phản độngthuộc địa và tay sai, đòi tự do cơm

Trang 12

Ví dụ: Hãy nêu những điểm giống và điểm khác nhau giữa cuộc Cách mạng

tháng Hai với Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917? (Lịch sử 8)

* Giống nhau:

- Lãnh đạo: Đảng Bôn-sê-vích

- Hình thức đấu tranh: Vũ trang

- Lực lượng tham gia: Công nhân, nông dân, binh lính

* Khác nhau:

Nội dung Cách mạng tháng Hai Cách mạng tháng Mười

Mục đích Lật đổ chế độ Nga hoàng,

thực hiện các quyền tự dodân chủ cho nhân dân

Lật đổ Chính phủ lâm thời tưsản, chấm dứt tình trạng haichính quyền song song tồn tại.Lãnh đạo Đảng Bôn-sê-vích Lê - nin và Đảng Bôn-sê-víchHình thức Chính trị và vũ trang Vũ trang

Tính chất Cách mạng dân chủ tư sản

kiểu mới

Cách mạng vô sản

Việc so sánh này nên trình bày theo kiểu kẻ bảng thật rõ ràng, khoa học sẽ

dễ học hơn Sau khi so sánh, học sinh ghi nhớ những điểm giống của chúng vàchỉ cần nhớ một lần, những điểm khác nhau còn lại sẽ còn rất ít và sẽ nhớ sâusắc hơn bởi đó là bản chất của sự việc

e) Sử dụng tài liệu Lịch sử (Sách giáo khoa, sách tham khảo):

- Trong lúc học bài cố nhớ một đoạn nhỏ tài liệu gốc, lời nói của C.Mác,V.I.Lê-nin, Hồ Chí Minh, tài liệu văn học

- Trường hợp bài kiểm tra là một đoạn trích đòi hỏi học sinh minh hoạ,dẫn chứng, bình luận, cần phải thực hiện theo những nội dung sau:

+ Nêu xuất xứ của đoạn trích (tác giả, tác phẩm, ra đời trong điều kiện,hoàn cảnh nào?)

+ Nêu những nội dung chủ yếu và đưa ra các sự kiện để chứng minh chonhững nội dung được trình bày trong văn kiện

Trang 13

Ví dụ: Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến trong hoàn

cảnh nào? Nêu nội dung Lời kêu gọi đó? hoặc “Chúng ta muốn hoà bình, chúng

ta đã nhân nhượng, nhưng chúng ta càng nhân nhượng thì thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa.

Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” (Lịch sử 9)

Em hãy cho biết xuất xứ, tác giả, hoàn cảnh ra đời của đoạn trích trên?

- Để làm sáng tỏ câu hỏi trên, học sinh phải biết câu nói trên trích trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” tối ngày 19-12-1946 của Chủ tịch Hồ ChíMinh

- Hoàn cảnh: Pháp bội ước

Mặc dù đã kí Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) và Tạm ước (14-9-1946) nhưngthực dân Pháp vẫn tìm cách phá hoại:

+ Từ cuối tháng 11 năm 1946, thực dân Pháp tiến công các cơ sở cáchmạng, vùng tự do, căn cứ địa ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ

+ Ở Bắc Bộ: Ngày 20-11-1946, Pháp đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn.Đầu tháng 12-1946 gây xung đột vũ trang ở phố Tràng Tiền, tàn sát đồng bào ta

ở phố Hàng Bún

Nghiêm trọng hơn ngày 18-12-1946, Pháp gửi hai tối hậu thư buộc Chínhphủ ta giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu, giao quyền kiểm soát Thủ đô chochúng Pháp tuyên bố: nếu ta không chấp nhận thì ngày 20-12-1946, chúng sẽhành động

Trước tình hình đó, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp hai ngày 18 và19-12-946 tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) đã quyết định phát động toàn quốckháng chiến

Tối ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”.

Chứng minh câu nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phản ánh đúng sựthật lịch sử và thể hiện quyết tâm của nhân dân ta bảo vệ độc lập, hoàn toàn cóđiều kiện, có nguyên tắc

f) Xem các phim tư liệu:

Ngày đăng: 06/03/2017, 19:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình   thức - Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giỏi học tập và làm bài thi môn Lịch sử ở trường Trung học cơ sở
nh thức (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w