1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO ĐOÀN kết dân tộc TRONG QUẢN LÝ, BẢO vệ CHỦ QUYỀN AN NINH BIÊN GIỚI QUỐC GIA ở VIỆT NAM HIỆN NAY

24 337 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 133 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam là quốc gia có đường biên giới trên bộ và trên biển với nhiều quốc gia láng giềng và trong khu vực như Trung Quốc, Lào, Campuchia và một số nước Đông Nam Á. Biên giới trên đất liền nước ta có chiều dài gần 5.000 km, tuyến biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc dài 1.400 km, biên giới Việt Nam với Lào dài 2.340 km, biên giới Việt Nam với Campuchia dài 1.137 km. Địa bàn biên giới nước ta có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, nhưng địa hình biên giới chủ yếu là rừng núi, giao thông đi lại khó khăn. Đây là nơi cư trú, sinh sống, làm ăn lâu đời của đồng bào các dân tộc nước ta, chủ yếu là các dân tộc thiểu số. Đồng bào các dân tộc gắn bó với biên giới quốc gia, có sự hiểu biết về môi trường địa lý, điều kiện tự nhiên

Trang 1

ĐOÀN KẾT DÂN TỘC TRONG QUẢN LÝ, BẢO VỆ

CHỦ QUYỀN AN NINH Ở KHU VỰC BIÊN GIỚI

NƯỚC TA HIỆN NAY

Việt Nam là quốc gia có đường biên giới trên bộ và trên biển với nhiềuquốc gia láng giềng và trong khu vực như Trung Quốc, Lào, Campuchia và một

số nước Đông Nam Á Biên giới trên đất liền nước ta có chiều dài gần 5.000 km,tuyến biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc dài 1.400 km, biên giới ViệtNam với Lào dài 2.340 km, biên giới Việt Nam với Campuchia dài 1.137 km.Địa bàn biên giới nước ta có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, nhưng địa hìnhbiên giới chủ yếu là rừng núi, giao thông đi lại khó khăn Đây là nơi cư trú, sinhsống, làm ăn lâu đời của đồng bào các dân tộc nước ta, chủ yếu là các dân tộcthiểu số Đồng bào các dân tộc gắn bó với biên giới quốc gia, có sự hiểu biết vềmôi trường địa lý, điều kiện tự nhiên; có mối quan hệ gần gũi với các dân tộcanh em cùng chung sống trên địa bàn không chỉ trong lãnh thổ biên giới quốc gia

mà còn có mối quan hệ với các dân tộc bên kia biên giới trên nhiều phương diện.Trong thời bình, cũng như thời chiến, với mối quan hệ hữu nghị hợp tác haytrong những biến cố bất thường xảy ra, đồng bào các dân tộc luôn có vai trò đặcbiệt quan trọng cùng với các lực lượng đứng chân trên địa bàn giải quyết các vấn

đề ổn định chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia Giải quyết vấn đề dân tộc trongquản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia là vấn đề có ý nghĩa chiếnlược, đặc biệt quan trọng trong điều kiện của một quốc gia đa dân tộc, là vấn đề cótính lịch sử và thời sự hiện nay ở nước ta hiện nay

Trang 2

I ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH DÂN TỘC VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

TA VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC

1 Đặc điểm tình hình dân tộc ở nước ta

Theo số liệu công bố năm 1979, nước ta gồm 54 thành phần dân tộc anh em,trong đó có một dân tộc đông dân nhất gọi là dân tộc đa số (dân tộc Kinh) chiếm(85,72%, năm 2009) và 53 dân tộc thiểu số (chiếm 14,28%, năm 2009) Ngoài

người Kinh, trong đó có 5 dân tộc có số dân trên 1 triệu là Tày, Thái, Mường, Khơ me và H’mông; 14 dân tộc có số dân hàng chục vạn (từ trên 10 vạn đến trên

96 vạn) là Mnông, Raglay, Hrê, Sán Dìu, Xơ Đăng, Cơ Ho, Chăm, Sán Chay, Ba

na, Ê đê,Gia Rai, Dao, Hoa, Nùng; 18 dân tộc có dân số hàng vạn (từ trên 1 vạn

đến hơn 8,5 vạn) là Phù La, Kháng, La Chí, Lào, Chu Ru, Hà Nhì, Xinh Mun,Chơ Ro, Co, Giẻ Triêng, Mạ,Tà Ôi, Giáy, Cơ Tu, Bru-Vân Kiều, Khơ mú, Thổ,

Xtiêng; 11 dân tộc có số dân hàng ngàn (từ trên 1 ngàn đến trên 9,5 ngàn) là Cống, Bố Y, Cơ Lao, Mảng, Lô Lô, Chứt, Ngái, Lự, Pà Thẻn, La Ha, La Hủ; 5

dân tộc có dân số hàng trăm (từ trên 3 trăm đến trên 7 trăm người) là Ơ Đu,

Brâu, Rơ Măm, Pu Péo và Si La Đặc điểm

54 thành phần dân tộc anh em ở nước ta có quá trình gắn bó lâu đời trong

sự nghiệp dựng nước và giữ nước Xuất phát từ hoàn cảnh xã hội, điều kiện kinh

tế và nhu cầu chống ngoại xâm hình thành sớm trong lịch sử dân tộc, các dân tộc

ở nước ta sớm đoàn kết, chung lưng đấu cật tạo dựng non sông gấm vóc, đấutranh giữ gìn nền độc lập dân tộc… Đồng bào vùng biên cương luôn là “phêndậu” của đất nước Từ khi có Đảng, truyền thống yêu nước đó được tập hợp pháthuy tạo thành sức mạnh trong thời đại mới tiếp tục làm vẻ vang truyền thốngđoàn kết, yêu nước lâu đời của các dân tộc nước ta

Trang 3

Các dân tộc Việt Nam sống xen kẽ nhau Hình thái cư trú xen kẽ là một đặc

điểm nổi trội trong lịch sử cũng như hiện tại trong đời sống của cộng đồng cácdân tộc Việt Nam Trong bối cảnh phát triển mới của đất nước, hình thái cư trúxen kẽ ngày càng phát triển giữa các dân tộc thiểu số với thiểu số, thiểu số với đa

số Đó là xu thế khách quan tạo nên môi trường cho sự giao lưu văn hoá, hoà hợp

và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau,phát triển kinh tế và đoàn kết dân tộc Tuy nhiên nếu không chú ý đúng mức đến

sự bình đẳng, tương trợ, đến lợi ích dân tộc…thì chính sự cư trú xen kẽ trên cũng

là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn dân tộc

Các dân tộc ở nước ta có trình độ phát triển không đồng đều Đó là một

thực trạng khách quan do lịch sử để lại Sự không đồng đều trước hết là về dân

số Dân số còn là cộng đồng dân cư về văn hoá, nó không chỉ là số lượng dân cư

mà còn là môi trường để cho các yếu tố văn hoá tồn tại mạnh mẽ hay bị nguy cơđồng hoá tự nhiên Có tộc người hàng chục triệu, hàng triệu; có tộc người hàngchục vạn, hàng vạn; nhưng cũng có tộc người hàng ngàn, hàng trăm người Trình

độ phát triển kinh tế-xã hội của các tộc người cũng rất khác nhau Các tộc người

có dân số đông, môi trường cư trú, điều kiện tự nhiên thuận lợi (như đồng bằngven biển, thung lũng…) thì đời sống kinh tế và các yếu tố xã hội phát triển hơncác tộc người dân số ít, cư trú ở vùng sâu, vùng xã vùng biên giới Đây là vấn đề

cơ bản và là câu hỏi lớn đặt ra cho công tác dân tộc ở nước ta

Mỗi dân tộc ở nước ta có bản sắc văn hoá riêng tạo nên tính đa dạng trong

tính thống nhất của văn hoá quốc gia Việt Nam Sự đa dạng về bản sắc văn hoá

cũng là sản phẩm của lịch sử phát triển của các cộng đồng người ở nước ta Bảnsắc văn hoá của các dân tộc ở nước ta biểu hiện qua hệ thống các giá trị văn hoávật thể và phi vật thể (như kiến trúc, trang phục, đồ dùng sinh hoạt, công cụ sản

Trang 4

xuất, tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội, tâm lý, tình cảm, phong tục tập quán, văn họcnghệ thuật…) Trong quá trình phát triển của quốc gia, các yếu tố văn hoá đadạng đó của các tộc người cũng đã tạo nên tính thống nhất của văn hoá quốc gia(như về ngôn ngữ, chữ viết, lối sống mới, ý thức quốc gia, luật pháp, quản lýhành chính…).

2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc Các dân tộc trong nước bình đẳng,đoàn kết cùng nhau xây dựng và bảo vệ đất nước Tuy nhiên, trong lịch sử cũngnhư hiện tại, vấn đề dân tộc là vấn đề lớn và việc nhận thức và giải quyết đúngđắn vấn đề này có ảnh hưởng lớn tới sự ổn định và phát triển của quốc gia vàtính bền vững của khối đại đoàn kết toàn dân tộc - động lực cơ bản của sự pháttriển đất nước

C.Mác và Ph.Ăngghen đã đặt nền móng cho việc giải quyết vấn đề dân tộctrong cách mạng xã hội chủ nghĩa Vấn đề dân tộc được C.Mác và Ph.Ăngghenxem là một bộ phận của hệ vấn đề dân tộc và giai cấp, tức là các ông xem xétvấn đề dân tộc dưới góc độ cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống giai cấp

tư sản Các ông nhấn mạnh rằng: xoá bỏ tình trạng người bóc lột người thì tìnhtrạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ Đến V.I.Lênin, vấn đềdân tộc được đặt ra một cách trực tiếp khi Người và Đảng Bônsêvích lãnh đạoCách mạng Tháng Mười vĩ đại và sau đó, lãnh đạo công cuộc bảo vệ thành quảcách mạng, tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội V.I.Lênin đã đề ra các nguyêntắc cho việc giải quyết vấn đề dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc, trong đóNgười đặc biệt nhấn mạnh về quyền bình đẳng và quyền tự quyết của tất cả cácdân tộc, chống mọi đặc quyền của bất kỳ dân tộc nào đối với dân tộc khác,không thừa nhận quan hệ có tính chất áp đặt giữa các dân tộc

Trang 5

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, dựa trên những quan điểmcủa chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng ta

đã coi trọng và làm tốt chính sách dân tộc và đại đoàn kết dân tộc, góp phần làmnên những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Công cuộc đổi mới toàn diện đấtnước, những thời cơ và thách thức mới cùng với những tác động từ bên ngoài và

cả những vấn đề nảy sinh trong nước đòi hỏi vấn đề dân tộc phải được nhận thứcngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn

Ngay từ trước đổi mới, tại Đại hội IV - Đại hội đầu tiên khi đất nước thốngnhất sau 30 năm tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc với sự huy động sứcmạnh của toàn dân tộc trong đó đồng bào các dân tộc thiểu số đã có những đóng

góp hết sức to lớn cho cách mạng và kháng chiến, Đảng ta đã khẳng định “việc

giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam” Chính sách dân tộc của Đảng là thực hiện

triệt để quyền bình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc, tạo những điều kiện cầnthiết để xóa bỏ tận gốc sự chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa dân tộc ítngười và dân tộc đông người, làm cho tất cả các dân tộc đều có cuộc sống ấm no,hạnh phúc, đều phát triển về mọi mặt, đoàn kết giúp nhau cùng tiến bộ, cùng làmchủ tập thể Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Và để thực hiện chính sách dântộc của Đảng, vấn đề mấu chốt là đẩy mạnh ba cuộc cách mạng, ra sức phát triểnkinh tế và văn hóa ở các vùng dân tộc, phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, xâydựng các vùng kinh tế mới, các khu công nghiệp, mở mang giao thông vận tải vàthương nghiệp xã hội chủ nghĩa, phát triển văn hóa, giáo dục, nghệ thuật, khoahọc, y tế, thể dục thể thao, bảo vệ bà mẹ và trẻ em … nhanh chóng nâng cao đờisống vật chất và văn hóa của đồng bào các dân tộc ít người, đặc biệt chú trọngvùng cao và vùng biên giới Tiếp đó, Đại hội lần thứ V của Đảng nhấn mạnh

Trang 6

việc “phải tăng cường hơn nữa khối đoàn kết các dân tộc trên nguyên tắc bình

đẳng, tương trợ và cùng làm chủ tập thể”

Đại hội VI của Đảng là Đại hội mở đầu cho công cuộc đổi mới toàn điện đấtnước Với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sựthật”, Đại hội đã đánh giá những thành tựu đạt được trong 5 năm thực hiện Nghịquyết Đại hội V của Đảng, thẳng thắn chỉ ra những khó khăn, thách thức, nêu rõnhững sai lầm, khuyết điểm và rút ra những bài học kinh nghiệm chủ yếu Về

vấn đề dân tộc, Đại hội khẳng định, “chính sách dân tộc luôn luôn là một bộ

phận trọng yếu trong chính sách xã hội” Đồng thời, Đại hội nhấn mạnh rằng, sự

phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố, phát triển của cộngđồng các dân tộc trên đất nước ta Sự tăng cường tính cộng đồng, tính thống nhất

là một quá trình hợp quy luật, nhưng tính cộng đồng, tính thống nhất không mâuthuẫn, không bài trừ tính đa dạng, tính độc đáo trong bản sắc của mỗi dân tộc.Tình cảm dân tộc, tâm lý dân tộc sẽ còn tồn tại lâu dài và là một lĩnh vực nhạycảm Trong khi xử lý các mối quan hệ dân tộc, phải có thái độ thận trọng đối vớinhững gì liên quan đến lợi ích của mỗi dân tộc, tình cảm dân tộc của mỗi người.Chống những thái độ, hành động biểu thị tư tưởng “dân tộc lớn” và những biểuhiện của tư tưởng dân tộc hẹp hòi

Sau Đại hội VI, trước những yêu cầu đòi hỏi của thực tế vùng dân tộc vàmiền núi, ngày 27/11/1989, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 22-NQ/TW về một sốchủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi đã góp phần thúcđẩy phát triển một bước quan trọng kinh tế - xã hội miền núi và các vùng đồngbào dân tộc thiểu số

Tình hình thế giới những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ

XX có những biến động to lớn Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa sụp đổ gây

Trang 7

bất lợi cho phong trào cách mạng thế giới trong đó có Việt Nam Trong bối cảnh

đó, Đảng ta tiến hành Đại hội lần thứ VII Đại hội VII của Đảng đã tổng kết việcthực hiện Nghị quyết Đại hội VI, hoàn chỉnh, bổ sung và phát triển các chủtrương đổi mới của Đại hội VI, đề ra các phương hướng, nhiệm vụ lớn cho 5năm 1991 - 1995 và đặc biệt thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Điểm mới trong văn kiện Đại hội VII là ở chỗ, lần đầu tiên, chính sách bìnhđẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc đã được Đảng ta đưa vào trong Cươnglĩnh của Đảng với tên gọi Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên

chủ nghĩa xã hội Cương lĩnh ghi rõ: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết,

tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam” Đại hội cũng khẳng định chính sách đoàn kết, bình

đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, cùng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnhphúc, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc là chínhsách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, khẳng định việc phải có chính sáchphát triển kinh tế hàng hóa ở các vùng dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện vàđặc điểm từng vùng, từng dân tộc, bảo đảm cho đồng bào các dân tộc khai thácđược thế mạnh của địa phương để làm giàu cho mình và đóng góp vào sự nghiệpxây dựng và bảo vệ đất nước Trên cơ sở các quan điểm cơ bản của Đảng về vấn

đề dân tộc, Hiến pháp 1992, một lần nữa, khẳng định về quyền bình đẳng giữacác dân tộc ở nước ta

Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện và 5 năm thực hiện Nghịquyết Đại hội VII, đất nước ta đã vượt qua một giai đoạn thử thách gay go, đã cónhững thay đổi to lớn và sâu sắc so với thời kỳ bắt đầu đổi mới Đại hội VIII của

Trang 8

Đảng diễn ra vào thời điểm có ý nghĩa lịch sử đó Đại hội khẳng định: “Công

cuộc đổi mới trong 10 năm qua đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng Nhiệm vụ do Đại hội VII đề ra cho 5 năm 1991 - 1995 đã được hoàn thành về cơ bản” Về vấn đề dân tộc, Đại hội nhấn mạnh: “Vấn đề dân tộc

có vị trí chiến lược lớn” Thực hiện “bình đẳng, đoàn kết, tương trợ” giữa các

dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuynhiên, bên cạnh đó, Đại hội cũng thẳng thắn chỉ ra những khó khăn của đồng bàocác dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng cao, đó là: “điều kiện sống vàdịch vụ, hạ tầng cực kỳ khó khăn, đất nông nghiệp thiếu, chưa đủ điều kiện tiếnlên sản xuất hàng hóa; GDP bình quân đầu người năm 1994 chỉ bằng 31% mứctrung bình cả nước Mật độ đường giao thông chỉ có 0,09km/km2, còn 464 xãchưa có đường ô tô đến” Trước thực tế đó, Đại hội đã đề ra chương trình pháttriển kinh tế - xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc với mục tiêu khai thácmọi nguồn lực ở địa phương và huy động sức của cả nước để tạo bước tiếnnhanh hơn về kinh tế - xã hội, ổn định đời sống, cải thiện môi trường, môi sinh.Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với tốc độ bằng hoặc cao hơn mức bình quân chungcủa cả nước; năm 2000 GDP bình quân đầu người đạt gấp đôi năm 1994 Cáckhu vực miền núi và vùng đồng bào dân tộc đều phải có bước phát triển, khu vực

có điều kiện thuận lợi phải phát triển với tốc độ cao hơn để thúc đẩy, hỗ trợ cáckhu vực khác cùng phát triển Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với pháttriển xã hội - văn hóa, bảo đảm an ninh - quốc phòng, phấn đấu giảm bớt khoảngcách giữa các vùng về mặt tiến bộ xã hội Đồng thời, Đại hội đã đề ra các nhiệm

vụ cụ thể về phát triển công nghiệp chế biến, phát triển công nghiệp nhỏ, thủcông nghiệp, nông - lâm nghiệp, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, dịch vụ và đưa

ra các giải pháp chủ yếu để đạt mục tiêu nói trên trong đó nhấn mạnh việc nhà

Trang 9

nước phải có biện pháp tập trung vốn ngân sách đầu tư theo chương trình tổnghợp và có sự chỉ đạo chặt chẽ giúp cho khu vực miền núi, vùng cao, vùng sâuphát triển nhanh.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng diễn ra trong bối cảnh thế

kỷ XX vừa kết thúc, thế kỷ XXI vừa bắt đầu Toàn Đảng và toàn dân ta đã trảiqua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng, 10 năm thựchiện Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội 1991 - 2000 và 15 năm đổimới Đại hội IX đã kiểm điểm và đánh giá những thành tựu và khuyết điểm thờigian qua, đề ra những quyết sách cho thời kỳ tới, phấn đấu nâng cao hơn nữanăng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, động viên và phát huy sức mạnhtoàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, vững bước đi vào thế kỷ mới

Những năm đầu thế kỷ XXI, các thế lực thù địch ra sức lợi dụng những khókhăn và hạn chế của đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là ở Tây Nguyên để dụ

dỗ, lôi kéo đồng bào phá hoại khối đoàn kết dân tộc ở nước ta Đại hội IX củaĐảng đặc biệt chú trọng vấn đề dân tộc và cụ thể hóa nhiều nội dung mới ở chỗ,

nếu như Đại hội VIII coi vấn đề dân tộc là “vấn đề có vị trí chiến lược lớn” thì Đại hội IX khẳng định thêm: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn

có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng” Đảng ta phải thực hiện tốt

chính sách các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển;xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, phát triển sản xuất hàng hóa, chăm lođời sống vật chất và tinh thần, xóa đói, giảm nghèo, mở mang dân trí, giữ gìn,làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc;thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi, đặcbiệt quan tâm vùng gặp nhiều khó khăn, vùng trước đây là căn cứ cách mạng và

Trang 10

kháng chiến; Chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc; chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộchẹp hòi, dân tộc cực đoan; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc.

Cụ thể hóa tư tưởng chiến lược được nêu trong Nghị quyết Đại hội IX và nângcao hơn nữa nhận thức của các cấp, các ngành về công tác dân tộc, Hội nghị lầnthứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (phần hai) đã ban hành Nghịquyết về công tác dân tộc Điều này, một mặt, thể hiện sự quan tâm của Đảng vàNhà nước đối với đồng bào các dân tộc thiểu số và mặt khác cho thấy việc giảiquyết vấn đề dân tộc đang là sự đòi hỏi cấp thiết và cần phải có những chỉ đạokịp thời Nghị quyết về công tác dân tộc đã đánh giá tình hình các dân tộc thiểu

số và công tác dân tộc trong thời gian qua, những thành tựu cơ bản cùng vớinhững hạn chế, yếu kém và nhất là đề ra những giải pháp chủ yếu để khắc phụcnhững hạn chế, yếu kém đó Nghị quyết khẳng định năm quan điểm cơ bản trongviệc thực hiện công tác dân tộc ở nước ta: 1) Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc

là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện naycủa cách mạng Việt Nam; 2) Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng,đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiệnthắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia

rẽ dân tộc; 3) Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế vớigiải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm pháttriển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểusố; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộcthiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thốngnhất; 4) Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi,

Trang 11

-trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xóa đói, giảmnghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo

vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cườngcủa đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trungương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước; 5) Công tác dân tộc vàthực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân,của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị

Hiện thực hóa những quan điểm, giải pháp được nêu trong Nghị quyết Hộinghị lần thứ bảy là việc các chương trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùngđồng bào dân tộc thiểu số được triển khai đã tạo đà quan trọng cho sự phát triển

và làm thay đổi rõ rệt bộ mặt của miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.Qua đó cho thấy những đổi thay trong thực tế vùng đồng bào dân tộc thiểu sốđược bắt nguồn từ chủ trương, đường lối và chính sách dân tộc đúng đắn củaĐảng và Nhà nước ta

Tiếp tục tư tưởng của Nghị quyết về công tác dân tộc được thông qua tại

Hội nghị lần thứ bảy, khóa IX, Đại hội X khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn

kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta”.

Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp

đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.Đại hội nhấn mạnh việc Đảng và Nhà nước phải tiếp tục chăm lo đời sống vậtchất và tinh thần, xoá đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và pháthuy bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộcđồng thời thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng

Trang 12

sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng; Chống các biểu hiện kỳthị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc.

Sau 25 năm đổi mới, 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội 2001- 2010 cũng là lúc Đảng ta tiến hành Đại hội lần thứ XI Đây làĐại hội có ý nghĩa trọng đại, định hướng cho toàn Đảng, toàn dân ta tiếp tụcnâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàndân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; đến giữa thế kỷXXI nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng

xã hội chủ nghĩa

Vấn đề dân tộc tiếp tục được Đại hội XI của Đảng quan tâm Báo cáo chínhtrị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc

lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: “Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự

nghiệp cách mạng của nước ta” Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình

đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ, thực hiện thắnglợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì dângiàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Cương lĩnh xây dựng đất nướctrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) nhấn

mạnh: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau

giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc cùng phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Chống tư tưởng kỳ thị và chia rẽ dân tộc Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số” Hiện nay,

Ngày đăng: 06/03/2017, 15:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w