Là một hiện tượng xuất hiện rất sớm trong lịch sử, tôn giáo đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Đến nay, có nhiều định nghĩa tôn giáo khác nhau. Từ góc độ nhân loại học, Tylor xem Tôn giáo là lòng tin vào những vật linh(1), Maxmuller từ góc độ ngôn ngữ học xem tôn giáo là niềm tin vào các vị thần(2); trên bình diện văn hoá học, AJ.Troibi Tôn giáo là một yếu tố của văn hoá, là một hiện tượng văn hoá(3). Do cách tiếp cận phiến diện, các định nghĩa trên chưa phản ánh được một cách toàn diện hiện tượng tôn giáo.
Trang 1Chuyên đề
vấn đề tín ngỡng, tôn giáo ở Việt Nam
I Nguồn gốc bản chất của tôn giáo và đặc điểm tín ngỡng, tôn giáo ở
bỡnh diện văn hoỏ học, AJ.Troibi "Tụn giỏo là một yếu tố của văn hoỏ, là một hiện
một cỏch toàn diện hiện tượng tụn giỏo
Dựa trờn tư tưởng của cỏc nhà kinh điển của chủ nghĩa Mỏc-Lờnin, cú thể quan niệm:
tụn giỏo là một hiện tượng xó hội mang tớnh lịch sử, bao gồm ý thức tụn giỏo, hoạt động tụn giỏo và tổ chức tụn giỏo, mà sự tồn tại phỏt triển của nú là do sự phản ỏnh hư ảo hiện thực khỏch quan vào trong đầu úc con người.
Như vậy, tụn giỏo là sản phẩm của xó hội, của những mối quan hệ giữa conngười với tự nhiờn và mối quan hệ giữa người với người Chớnh con người sinh ratụn giỏo chứ khụng phải tụn giỏo sinh ra con người; hơn nữa, tụn giỏo khụng phải làhiện tượng tự nhiờn tồn tại trước con người, ngoài xó hội loài người
Tụn giỏo khụng chỉ là hiện tượng xó hội mà cũn là hiện tượng xó hội, mang tớnhlịch sử Sự ra đời, tồn tại, phỏt triển của tụn giỏo gắn với những điều kiện nhận thức,tõm lý, xó hội nhất định và nú sẽ mất đi khi những điều kiện đú khụng cũn
Một tụn giỏo cụ thể thường bao gồm ba yếu tố: ý thức tụn giỏo, hoạt động tụngiỏo và tổ chức tụn giỏo
í thức tụn giỏo là sự thống nhất giữa tõm lý tụn giỏo và hệ tư tưởng tụn giỏo.Tõm lý tụn giỏo là toàn bộ cảm giỏc, tri giỏc, tỡnh cảm, biểu tượng tụn giỏo, phản ỏnhtrực tiếp sự bất lực của con người trong cỏc hoạt động thực tiễn, trong đú cỏc biểutượng tụn giỏo và niềm tin tụn giỏo giữ vai trũ đặc biệt quan trọng Khỏc với niềm tinkhoa học được xõy dựng trờn cơ sở nhận thức đỳng đắn hiện thực khỏch quan, niềm tintụn giỏo là niềm tin mự quỏng Cỏc tớn đồ tụn giỏo khụng chỉ tin tưởng vào sự tồn tạicủa đấng siờu nhiờn, cú nhu cầu giao lưu, tỏc động đến đấng siờu nhiờn, mà cũn coiđấng siờu nhiờn là người quyết định số phận của mỡnh Sự vận động, phỏt triển của tụngiỏo tỷ lệ thuận với sự hỡnh thành, phỏt triển niềm tin tụn giỏo Khụng cú niềm tin vào
(1)(2)(3) Những khía cạnh triết học trong tín ngỡng thờ cúng tổ tiên của ngời Việt ở Đồng Bằng Bắc bộ hiện nay, Trần
Đăng Sinh Nxb CTQG, H, 2002, tr 16,17
Trang 2đấng siêu nhiên, bất cứ tôn giáo nào cũng không thể tồn tại được Cho nên, đây chính làmột đặc trưng cơ bản của tôn giáo
Hệ tư tưởng tôn giáo là hệ thống quan niệm, tín điều nhằm luận chứng cho sự tồntại, tính toàn thiện, toàn mỹ, sức mạnh vô biên của đấng siêu nhiên và những conđường, biện pháp để xây dựng niềm tin tôn giáo
Như mọi hình thái ý thức xã hội khác, hệ tư tưởng tôn giáo mặc dù chiếm tỷtrọng ít, song giữ vai trò quyết định đối với ý thức tôn giáo Hệ tư tưởng tôn giáo khôngchỉ định hướng sự phát triển của tâm lý tôn giáo, mà còn tạo nên sự thống nhất trongcác hoạt động, lễ nghi tôn giáo Đồng thời, không giống với các hình thái ý thức xã hộikhác, tâm lý tôn giáo giữ vai trò rất quan trọng trong ý thức tôn giáo, nó không chỉ làmôi trường nuôi dưỡng hệ tư tưởng tôn giáo, mà còn là tiền đề, điều kiện trực tiếp làmnảy sinh và duy trì sự phát triển của các hoạt động tôn giáo nói riêng và toàn bộ tôngiáo nói chung
Tổ chức tôn giáo là phương thức tồn tại của tôn giáo, mà nội dung cơ bản là toàn
bộ các mối quan hệ và trình tự sắp xếp, thứ bậc các tín đồ, chức sắc cùng qui trình giảiquyết các mối quan hệ đó Tổ chức tôn giáo rất đa dạng phức tạp, trong đó giáo hội là
cơ bản nhất Tổ chức tôn giáo có nhiều chức năng, song chức năng quan trọng nhất làsoạn thảo, truyền bá giáo lý và đấu tranh cho sự tồn tại của tôn giáo
Hoạt động tôn giáo là hoạt động của các tín đồ nhằm hướng tới đấng siêu nhiên,phục vụ đấng siêu nhiên Hoạt động tôn giáo gồm nhiều loại hình phong phú, quan trọngnhất là các hoạt động lễ nghi, thờ phụng, biên soạn, tuyên truyền giáo lý, giáo luật
Trong quá trình vận động, phát triển của tôn giáo, ý thức tôn giáo, tổ chức tôn giáo
và các hoạt động tôn giáo luôn luôn tác động biện chứng lẫn nhau Nhưng vai trò, vị trícủa chúng không ngang bằng nhau Song ở đâu, trong bất cứ tôn giáo nào ý thức tôn giáoluôn luôn là yếu tố giữ vai trò cơ bản, quyết định nhất Ý thức tôn giáo vừa là yếu tốkhông thể thiếu của mọi tôn giáo, vừa quy định phương hướng, nội dung, hình thức, sựvận động, phát triển của các tổ chức tôn giáo và hoạt động tôn giáo Các hoạt động tôngiáo và tổ chức tôn giáo có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của tôngiáo Chúng vừa góp phần củng cố, duy trì ý thức tôn giáo, vừa làm cho ý thức tôn giáophát triển sống động trong đời sống tinh thần mỗi giáo dân và cộng đồng tôn giáo
b) Nguồn gốc của tôn giáo
Ngày nay, bằng những công cụ, phương tiện hiện đại các nhà khoa học đã khẳngđịnh, con người đã xuất hiện cách đây ít nhất từ 2 đến 3 triệu năm, thậm chí 5 triệu năm.Nhưng, hình thức tín ngưỡng đầu tiên cũng mới xuất hiện nhiều nhất chỉ cách đây 2,5đến 4 vạn năm, và những tôn giáo đầu tiên chỉ xuất hiện cách đây khoảng 2,5 đến 3 nghìnnăm Khi đó, lực lượng sản xuất đã có bước phát triển đáng kể, xã hội đã xuất hiện chế
độ tư hữu, phân công lao động lần thứ hai giữa lao động trí óc và lao động chân tay đã
Trang 3diễn ra, trong xã hội đã xuất hiện những người chuyên làm nghề tôn giáo.Rõ ràng, loàingười đã tồn tại rất lâu không cần đến tôn giáo, không cần đến ý niệm "ma", "quỷ",
"thần", "thánh" mà vẫn phát triển bình thường trong hạnh phúc yên vui Và nhất địnhđến một lúc nào đó "đám mây mù tôn giáo" cũng sẽ mất đi khi những điều kiện nuôidưỡng nó không còn
Tuy nhiên, lịch sử nguồn gốc của tôn giáo đã được các nhà tư tưởng luận giải rấtkhác nhau
Các nhà duy tâm khách quan đều xuất phát từ "tinh thần thế giới", "ý niệm tuyệtđối" để giải thích sự vận động của xã hội Vì thế, họ đều cho rằng, ý thức tôn giáo cótrước xã hội loài người, tồn tại vĩnh hằng quyết định sự ra đời và phát triển của giới tựnhiên, xã hội và con người
Một số nhà duy tâm chủ quan cho tôn giáo là thuộc tính vốn có của ý thức conngười không phụ thuộc vào hiện thực khách quan
Các nhà duy vật trước C.Mác mà đỉnh cao là Lútvích Phoiơbắc đã phân tích sâusắc nguồn gốc nhận thức, nguồn gốc tâm lý của tôn giáo Lútvích Phoiơbắc viết: "Cảm
vào thượng đế: con người áp dụng quan niệm về sự sáng tạo có tính mục đích của mìnhvào giới tự nhiên Giới tự nhiên có tính mục đích - ergo, nó đã được sáng tạo bởi thực
Nhưng do lập trường duy tâm và phương pháp nhận thức siêu hình các vấn đề xã hội,Lútvích Phoiơbắc đã không thấy được ý thức của con người nói chung, tình cảm tôn giáonói riêng cũng là sản phẩm xã hội lịch sử Vì thế, ông đã không thấy được nguồn gốc xãhội của tôn giáo
Như vậy, trước C.Mác đã có rất nhiều nhà tư tưởng nghiên cứu nguồn gốc của tôngiáo, song do hạn chế về lập trường quan điểm và phương pháp xem xét, nên họ đãkhông chỉ ra được một cách khoa học nguồn gốc của tôn giáo
Trên cơ sở thành tựu của các ngành khoa học, xuất phát từ lập trường của chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các nhà kinh điển của chủ nghĩaMác-Lênin đã giải quyết khoa học, cách mạng vấn đề nguồn gốc tôn giáo
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, sự ra đời cuả tôn giáo gắn liền với banguồn gốc: nguồn gốc nhận thức, nguồn gốc tâm lý và nguồn gốc xã hội
Nguồn gốc nhận thức
Sự ra đời của tôn giáo bắt nguồn từ sự bất lực của con người trong quá trìnhnhận thức thế giới khách quan và từ chính tính phức tạp trong quá trình nhận thứccủa con người
Sự bất lực trong nhận thức của con người được biểu hiện trước hết ở sự thiếu hiểubiết về tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình Ph.Ăng ghen viết: " Bất cứ tôn giáonào đều có gốc rễ trong các quan niệm thiển cận và ngu dốt của thời kỳ mông muội" "từ
(1) (2) Lênin Toàn tập, Tập 29 Nxb Tiến bộ, M, 1979, tr.51 60
(
Trang 4những khái niệm hết sức sai lầm, nguyên thuỷ của con người về bản chất của chính họ
phải là nguồn gốc sinh ra tôn giáo, mà chỉ khi nào, trên cơ sở sự thiếu hiểu biết "sự ngudốt" ấy con người không nhận thức đúng, không tìm ra được phương hướng, biện phápkhắc phục đúng sự thiếu hiểu biết đó, dẫn đến đồng nhất "cái chưa biết" thành cái
"không thể biết," thì những ảo ảnh và biểu tượng tôn giáo mới có điều kiện xuất hiện.Nói khác đi, chỉ khi nào con người không thể giải quyết được mâu thuẫn giữa nhu cầunhận thức thế giới, với khả năng hiện có của mình, dẫn tới bất lực, tuyệt vọng thì tôngiáo mới nảy sinh
Mặt khác, nhận thức của con người là sự thống nhất không thể tách rời giữa nhậnthức cảm tính và nhận thức lý tính, giữa phương pháp nhận thức gián tiếp và phươngpháp nhận thức trực tiếp
Quá trình nhận thức gắn liền với sự hình thành các biểu tượng, phát triển trítưởng tượng của con người Đây vừa là sự hơn hẳn, sự khác nhau về chất giữa tâm lý
ý thức của con người so với tâm lý động vật, thể hiện rõ nhất sức mạnh của tư duy trítuệ con người, vừa chứa đựng nhiều nhất những khả năng phản ánh sai lầm, ảo tưởng.V.I Lênin chỉ rõ: " ngay trong sự khái quát đơn giản nhất, trong ý niệm chung sơ đẳng
tưởng, sai lầm, chỉ tồn tại trong tư duy thành một cái gì tồn tại ngoài tư duy củamình, thì lúc đó sẽ xuất hiện các biểu tượng tôn giáo
Hơn nữa, quá trình nhận thức của con người là tổng thể một chuỗi dài các thao tác tưduy Ở đây, theo Lênin : " Bất cứ đoạn nào, khúc nào, mảnh nào của đường cong ấycũng có thể chuyển hoá thành một đường thẳng độc lập,đầy đủ dẫn đến vũng bùn, đến
Nguồn gốc xã hội
Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định, nguồn gốc nhận thức chỉ là tiền đề làm nảy sinhhiện tượng tôn giáo, chính nguồn gốc xã hội, sự bất lực của con người trong các hoạtđộng thực tiễn cải tạo xã hội mới là nguồn gốc cơ bản, chủ yếu nhất tạo nên tôn giáo
Bởi vì, về mặt lý luận: chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ rõ, thực tiễn là nguồn gốc củanhận thức Sự bất lực của con người trong thực tiễn cải tạo các hiện tượng tự nhiên, cảitạo các hiện tượng xã hội, là nguồn gốc dẫn con người đến bế tắc trong nhận thức, sợhãi tuyệt vọng trong cuộc sống
Hơn nữa, về mặt thực tiễn, sự bất lực, việc không tìm ra con đường, giải pháp đểgiải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu cải tạo giới tự nhiên và cải tạo xã hội với khả nănghiện có của con người luôn luôn gắn liền với nhau trong một thể thống nhất Nhưng vaitrò của những bất lực này trong việc hình thành tín ngưỡng, tôn giáo, là không ngangbằng nhau ở mỗi thời kỳ lịch sử
1
2 12C M¸c vµ Ph ¡ng ghen Toµn tËp, tËp 21 Nxb CTQG H 1995 tr 445
3 V.I Lênin Toàn tập, tập 29 Nxb TB M 1981 tr 385
Trang 5Trong thời kỳ nguyên thuỷ, khi lực lượng sản xuất kém phát triển, xã hội chưaphân chia thành giai cấp, chưa có hiện tượng người bóc lột người, thì sự bất lực của conngười trong quá trình cải tạo các hiện tượng tự nhiên là nguồn gốc chủ yếu tạo nên tínngưỡng, tôn giáo.
Khi xã hội xuất hiện chế độ người bóc lột người thì sự bất lực của con người trongquá trình cải tạo các mối quan hệ xã hội trở thành nguồn gốc cơ bản, chủ yếu tạo nêntôn giáo Điều này được giải thích bởi những lý do sau
Thứ nhất, khi xã hội có giai cấp, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển tạo
điều kiện để con người giảm đi những bất lực trong quá trình cải tạo các hiện tượng
tự nhiên Đồng thời, do chế độ tư hữu làm cho con người khai thác cạn kiệt tàinguyên, làm môi trường sinh thái ngày càng ô nhiễm Vì thế, thiên nhiên ngày càng
"trả thù" con người với quy mô lớn hơn, cường độ mạnh hơn Do vậy, con ngườingày càng bất lực nhiều hơn trong việc cải tạo thiên nhiên
Thứ hai, chế độ bóc lột là thủ phạm gây ra những tai hoạ ngày càng to lớn, khủng
khiếp hơn đối với nhân dân lao động
Chế độ bóc lột về thực chất là chế độ cướp bóc của kẻ mạnh đối với người yếu.Với pháp luật, nhà tù, toà án, quân đội cùng biết bao thủ đoạn xảo quyệt khác, nhà nướccủa giai cấp bóc lột không chỉ thống trị nhân dân lao động về kinh tế, mà còn áp bức vềtinh thần tư tưởng, không chỉ bóc lột cá nhân từng người lao động mà còn áp bức bóclột cả một giai cấp, một dân tộc Người lao động không chỉ bị một tên tư bản bóc lột màcòn bị cả giai cấp tư sản cướp bóc Chế độ bóc lột không chỉ đe doạ miếng cơm, manh
áo hàng ngày, mà còn đe doạ cả sự sống còn của mỗi con người, cả cộng đồng người vàtoàn thể nhân loại Đúng như Lênin nhận xét, giai cấp bóc lột "đang hàng ngày, hàng giờgây ra cho những người lao động bình thường những nỗi thống khổ cực kỳ ghê gớm,
những sự đau thương thật là khủng khiếp, nhiều gấp nghìn lần so với những biến cố
Thứ ba, Sự tồn tại và phát triển của chế độ bóc lột làm con người ngày càng bị tha
hoá, bần cùng hoá về mọi mặt
Dưới chế độ nô lệ, người nô lệ trở thành công cụ biết nói, trở thành một thứ hànghoá có giá trong tay giai cấp chủ nô Nhưng dưới chế độ tư bản người công nhân khôngnhững bị coi như một công cụ vật chất khác, mà còn bị “biến thành nô lệ của những công
làm cho toàn thể nhân dân lao động cảm thấy "mình bị xúc phạm, bị bỏ rơi, bị đánh lừa,
xã hội tư bản, mặc dù sống trong điều kiện dự thừa các phương tiện cơ sở vật chất hiện
4 Lênin toàn tâp tập, tập 17 Nxb TB M 19 tr
(1),2,3,4,5 ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay, Nxb CTQG, H,1997, tr.126,137,124.
Lênin Toàn tập, Tập 17 Nxb TB, M, 19 tr.
Trang 6đại, nhưng vẫn thường xuyên khủng hoảng về tinh thần, mất hết niềm tin và sức mạnhtrong quá trình đấu tranh cải tạo tự nhiên, xã hội.
Như vậy, chế độ áp bức bóc lột một mặt ngày càng gây ra những tai hoạ khủngkhiếp, đòi hỏi con người phải có sự nhảy vọt về chất cả về sức mạnh vật chất và tinhthần để cải tạo nó; mặt khác chế độ đó lại làm suy giảm không ngừng niềm tin, sứcmạnh của họ Vì thế, chế độ bóc lột ngày càng chứng tỏ là thủ phạm tạo nên tình trạngbất lực ngày càng gia tăng của con người trong quá trình cải tạo tự nhiên và xã hội.Chính trên ý nghĩa đó, Lênin khẳng định nguồn gốc xã hội luôn là nguồn gốc "chủ
Nguồn gốc tâm lý
Ngày nay, các nhà khoa học đã chứng minh tâm trạng cô đơn, sợ hãi, tuyệt vọng
đã từng có ở các động vật bậc cao Với con người; do có khả năng sinh sống, hoạtđộng trong nhiều môi trường, phức tạp và do trí tưởng tượng phong phú, nên trướcnhững tai hoạ khủng khiếp như dịch bệnh, bão tố, động đất, núi lửa, chiến tranh; trướccảnh bao la, hùng vĩ của trời, biển, cảnh u tịch, lạnh lẽo của hang sâu, rừng thẳm họcàng dễ rơi vào trạng thái sợ hãi, cô đơn, tuyệt vọng "Đặc biệt là cái chết làm nảy
Bên cạnh những lực lượng xã hội, và những hiện tượng thiên nhiên gieo tai hoạ,luôn tồn tại những hiện tượng tự nhiên tạo ra điều kiện thuận lợi, đáp ứng nhu cầunguyện vọng con người và những lực lượng xã hội, những cá nhân anh hùng, dũng cảm
xả thân cứu giúp đồng loại Những sự kiện đó là lý do nảy sinh lòng biết ơn, kính trọng.Tâm trạng cô đơn, sợ hãi, tuyệt vọng và lòng biết ơn, kính trọng là những trạngthái tâm lý khác nhau, nhưng liên hệ mật thiết với nhau Tất cả đều trở thành nguồn gốctrực tiếp để hình thành ý thức tín ngưỡng, tôn giáo
Trong thực tế, ba nguồn gốc dẫn đến sự ra đời, tồn tại của tôn giáo luôn quan hệchặt chẽ, thành một thể thống nhất không tách rời nhau Song vai trò của chúng khôngngang bằng nhau Vai trò phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể Tuy nhiên, ở bất cứđâu, trong bất cứ thời điểm nào, nguồn gốc xã hội, vẫn là cơ bản, chủ yếu nhất Nóquyết định xu hướng, nội dung, hình thức, tồn tại phát triển của nguồn gốc nhận thức vànguồn gốc tâm lý; quyết định sự ra đời của tôn giáo Ngược lại, nguồn gốc nhận thức,nguồn gốc tâm lý cũng tác động trở lại rất to lớn đến sự hình thành, phát triển của tôngiáo và góp phần làm sâu sắc, phong phú hơn nguồn gốc xã hội
Do đó, khi xem xét, đánh giá nguồn gốc tôn giáo phải toàn diện, trên cơ sở nguồngốc xã hội, phải chú ý đến các nguồn gốc khác, tránh tuyệt đối hoá, tách rời các nguồngốc với nhau Đồng thời, kiên quyết phê phán quan điểm phủ nhận nguồn gốc xã hộicủa tôn giáo trong các trào lưu tư tưởng phản diện hiện nay
Nghiên cứu nguồn gốc tôn giáo cho thấy, tôn giáo sẽ còn tồn tại, khi những nguồngốc sinh ra nó vẫn còn Muốn xoá bỏ tôn giáo phải xoá bỏ cả ba nguồn gốc, mà trước
5 6 Lê nin toàn tập tập 12 Nxb TB M 19 tr
(1) Lênin Toàn tập, Tập 29, Nxb Tiến bộ, M, 1979, tr.51.
Trang 7hết phải xoá bỏ những quan hệ bóc lột, xoá bỏ ách thống trị giữa người và người, xoá
bỏ chế độ tư bản, xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản "thiên đường thật sự trên tráiđất, làm cơ sở để xoá bỏ thiên đường ảo tưởng trên "thế giới bên kia", xoá bỏ mọi "ảoảnh", "bóng ma tôn giáo"trong đầu óc nhân loại
Để đạt được mục đích, đòi hỏi các Đảng Cộng sản và giai cấp công nhân thế giớiphải vừa có đường lối chiến lược đúng đắn, gắn cuộc đấu tranh chống tôn giáo với cuộcđấu tranh giai cấp , phục tùng lợi ích cuộc đấu tranh giai cấp, vừa phải có sách lượcmềm dẻo, phù hợp với phương châm "bình tĩnh, kiên trì và nhẫn nại", không nóng vội,chủ quan; đồng thời, không né tránh, hoặc thoả hiệp, nương nhẹ
c) Bản chất của tôn giáo
Trước C.Mác, các nhà tư tưởng đã nghiên cứu bản chất tôn giáo dưới nhiều góc độkhác nhau.Các nhà duy tâm và các nhà thần học, đều thần bí hoá tôn giáo coi tôn giáonhư một hiện tượng kỳ bí, vĩnh hằng, có trước con người Các nhà duy vật mà đỉnh cao
là Lútvích Phoiơbắc đã có những nhận định đúng khi cho rằng: "Bí mật của tôn giáo,xét đến cùng, chỉ là bí mật của sự kết hợp trong cùng một thực thể, ý thức và cái vô
Song, do cách nhìn duy tâm, siêu hình về xã hội Lútvích Phoiơbắc đã không giải quyếtđược vấn đề bản chất tôn giáo một cách triệt để
Kế thừa quan điểm của các nhà duy vật, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Lênin, trong các tác phẩm của mình đã đưa ra những tư tưởng cơ bản, đặt nền tảng choviệc nghiên cứu đúng đắn bản chất tôn giáo.Trong lời nói đầu, “Gãp phÇn phê phán triếthọc pháp quyền của Hêghen”, C.Mác viết: "Con người sinh ra tôn giáo, chứ không phảitôn giáo sinh ra con người Tôn giáo là tự ý thức, tự tri giác của những người chưa tìm
Ph.Ăngghen trong tác phẩm "Chống Đuy Rinh" viết: " mọi tôn giáo chẳng qua là sựphản ánh hư ảo - vào trong đầu óc con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối
Từ tư tưởng của các nhà kinh điển có thể khẳng định: bản chất tôn giáo là sự
phản ánh hư ảo thế giới khách quan vào trong đầu óc những con người chưa tìm thấy mình, hoặc tự đánh mất mình một lần nữa.
(1) (2) Lênin Toàn tập, Tập 29, Nxb Tiến bộ, M, 1979, tr.70
(
(2) Mác Ăng ghen, Toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, H, 1995, tr.569
(3) Mác Ăng ghen, Toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, H, 1995, tr 437
Trang 8Trước hết, cần khẳng định “tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh thế giới khách
Tôn giáo không có nguồn gốc lịch sử riêng tách rời thế giới khách quan Muốn tìmnguồn gốc, nội dung, hình thức và động lực của sự vận động, phát triển của tôn giáophải tìm ngay trong hiện thức khách quan, trong tồn tại xã hội và ngay trong lịch sử
giới thực tại” 6Đây là nội dung quan trọng thể hiện quan điểm duy vật biện chứng về lịch
sử trong việc nghiên cứu, xem xét bản chất tôn giáo Xa rời nội dung sẽ đẫn tới quanđiểm duy tâm, không thể nhận thức đúng đắn bản chất tôn giáo
Nghiên cứu giáo lý, giáo luật của các tôn giáo lớn, ra đời rất sớm như ĐạoPhật (VI TCN) Đạo Kitô (I TCN) đều có nội dung khuyên con người không đượctrộm cắp Đạo Phật còn coi "chính mệnh", sống bằng nghề nghiệp chân chính làmột trong bát chính đạo để giải thoát nỗi khổ Nội dung đó vừa phản ánh sự tồntại cuả chế độ tư hữu vừa khẳng định trong xã hội đã xuất hiện nhiều nghềnghiệp chuyên môn phong phú Đặc biệt, cõi "Niết bàn" của đạo Phật, vườn "Địađàng" của đạo Do thái, hay "Thiên đàng" của đạo Ki tô chẳng qua chỉ là một bứctranh sinh động, miêu tả cuộc sống no, đủ của những cư dân sản xuất nôngnghiệp trong những năm tháng mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, tươi tốt.Thượng đế, Thiên chúa, Ngọc hoàng chỉ là hình ảnh hoàn thiện, hoàn mỹ, tậptrung tất cả mọi sự tinh tuý, tốt đẹp nhất cả về thể chất và tinh thần của những conngười hiện thực Và thực chất, đó là sự thần thánh hoá một ông vua chuyên chế vớiquyền lực vô hạn, cai quản, điều khiển đất nước và thần dân của mình
Tuy nhiên, sự phản ánh của tôn giáo đối với hiện thực khách quan không phải là
sự phản ánh bình thường, phản ánh đúng đắn, trung thực, mà là sự phản ánh "hư ảo",bịa đặt Đây là nội dung cơ bản nhất cấu thành nên bản chất của tôn giáo, quyết định sự
ra đời, tồn tại và những chức năng đặc thù của tôn giáo Thiếu nội dung cơ bản này mọitín ngưỡng, tôn giáo, mọi yếu tố cấu thành tôn giáo sẽ không tồn tại
Tôn giáo không chỉ đảo lộn, xem : "Bản chất khách quan coi như là chủ quan, bảnchất của giới tự nhiên là khác với giới tự nhiên, coi như bản chất của con người, bản
còn phủ nhận mọi quy luật khách quan, mọi suy nghĩ và hành động sáng tạo của conngười Mặt khác, tôn giáo còn quy mọi sự tồn tại, vận động, biến đổi của thế giới, từhoạt động nhận thức của con người tới sự vận động của các thiên hà bao la đều phụthuộc vào ý chí của đấng siêu nhiên, phục vụ đấng siêu nhiên Cho nên, tôn giáo khôngchỉ phản ánh xuyên tạc tình hình, khả năng khách quan mà còn phủ nhận quy luật khách
6
C Mác tư bản Q1 T1 tr 114-115
(1) Lênin Toàn tập, Tập 29, Nxb Tiến bộ M, 1979, tr 71.
Trang 9quan, không chỉ xuyên tạc quy luật của tự nhiên, xã hội, mà còn xuyên tạc quy luật vậnđộng của tư duy; tôn giáo không chỉ sai lầm trong cách đặt vấn đề, giải quyết vấn đề màcòn sai lầm trong kết thúc vấn đề Đó là chuỗi dài của những phản ánh sai lầm liên tiếp
cả về nội dung và phương pháp Vì thế, những nội dung phản ánh của tôn giáo về cơ bảnkhông có giá trị về lý luận và thực tiễn, thậm chí nó còn là nguồn gốc gây nên những taihoạ to lớn cho sự phát triển của tự nhiên, xã hội và con người
Hơn nữa, ý thức tôn giáo, về cơ bản là kết quả của một trình độ phản ánh cảm
Như vậy, nội dung phản ánh của tôn giáo luôn luôn là sự thống nhất giữa cái hư vàcái thực, trong đó cái hư ảo, cái bịa đặt chiếm tỉ trọng tuyệt đối, giữ vai trò chủ đạo, lấn
át, che lấp hầu như toàn bộ cái thực Cái thực, được hiện ra như một nhu cầu được bùđắp tình cảm, lý trí và sức mạnh để vươn tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc; một khátvọng thoát ra và phản kháng lại cái xã hội buộc con người sinh ra tôn giáo, cần đến tôngiáo Tuy bị suy biến, bị phủ định và chiếm một tỉ lệ vô cùng nhỏ, song không bao giờcái thực mất đi hoàn toàn, nó vẫn là điều kiện, tiền đề cho sự tồn tại của cái ảo, của tôngiáo Đúng như Phoiơbắc đã viết: "Trong tôn giáo, ngoài ảo tưởng ra, mặt thực tế tìm
quá trình ra đời, tồn tại, vận động, phát triển của tôn giáo cũng như các hoạt động tôn giáovừa là sự biểu hiện, vừa là quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa cái hư và cái thực Vì thế,xem xét bản chất tôn giáo phải toàn diện, phải thấy không chỉ nội dung phản ánh mà cảtrình độ phản ánh; phải nhận thức sâu sắc không chỉ tính chất duy tâm thần bí của cái
hư, cái ảo mà còn phải thấy cái thực, trong nọi dung phản ánh của tôn giáo
d) Tín ngưỡng, mê tín dị đoan
- Tín ngưỡng:
7 Chống Đuy rinh
(1) Một số tôn giáo ở Việt Nam, Phòng thông tin tư liệu, Ban tôn giáo Chính phủ, Hà Nội 1993, tr.68
(2) Lênin Toàn tập, Tập 29, Nxb Tiến bộ, M, 1979, tr.64
(3) Mác-Ăng ghen, Toàn tập, Tập 1, Nxb CTQG, H, 1995, tr.570.
(4) Lênin Toàn tập, Tập 29, Nxb Tiến bộ, M, 1979, tr.63.
Trang 10"Tín ngưỡng là lòng tin và sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng vào một lực lượng siêu
một cộng đồng người thể chế, quy phạm hoá cao độ thì trở thành tôn giáo
Khái niệm tôn giáo và khái niệm tín ngưỡng có quan hệ với nhau nhưng ở haicấp độ khác nhau, trong đó tín ngưỡng cấp độ thấp hơn so với tôn giáo
- Mê tín dị đoan
"Mê tín là tin nhảm, tin xằng bậy, không thấy, không hiểu mà nhắm mắt
mắt nhắm tin mù (mê tín và tín ngưỡng là khó phân biệt) "Dị đoan là suyluân, suy đoán một cách nhảm nhí, bậy bạ khác thường, rồi hành động bừa bãikhông lường trước được những hậu quả xấu về sức khoẻ, tài sản cho mình
Mê tín dị đoan: (nghĩa hẹp hơn mê tín) Niềm tin mê muội, gắn với những hànhđộng gây hậu quả xấu cho con người và xã hội Niềm tin mơ hồ gắn với hành vi phảnvăn hoá, gây tác hại cho cá nhân, gia đình và xã hội
Mê tín dị đoan là hiện tượng xã hội mang tính toàn cầu, tồn tại dưới các hình thứckhác nhau, “ sống ký sinh” vào các hoạt động tôn giáo , các sinh hoạt văn hóa … ranhgiới có khi khó xác định và rất dễ chuyển hoá …
2 Đặc điểm cơ bản của tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
a) Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo
Việt Nam tuy đất không rộng, người không đông, nhưng tồn tại nhiều loại hình tôngiáo khác nhau Tính đa dạng của tôn giáo ở Việt Nam khiến cho việc nghiên cứu cũnghết sức khó khăn, phức tạp
Các tôn giáo lớn đang tồn tại ở Việt Nam không có tôn giáo nào thuần thuý củaViệt Nam mà hầu hết được du nhập từ nước ngoài vào Đạo Phật từ Ấn Độ, TrungQuốc sang, đạo Thiên Chúa từ phương Tây đến, Lão giáo, Khổng giáo cũng từ TrungQuốc vào, đạo Hồi dù Chăm Bà ni hay Chăm IxLam cũng không phải gốc Chăm, màđến Việt Nam theo tuyến Bắc Phi qua Trung Cận Đông, Trung Á đến Ấn Độ và sangĐông Nam Á Những đạo nội sinh như Cao Đài, Hoà Hảo được coi là tôn giáo “chuẩn”nhưng thực chất cũng chỉ là một sự tích hợp, vay mượn các yếu tố của tôn giáo khác.Phạm vi ảnh hưởng và qui mô phát triển của các tôn giáo không giống nhau Có nhữngtôn giáo vào Việt Nam từ đầu công nguyên (Phật- Lão), có tôn giáo vào sau hàng ngànnăm, cũng có tôn giáo mới hình thành ở Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ XX Cónhững tôn giáo với hàng triệu tín đồ, lại có tôn giáo tồn tại hàng thế kỷ mà số lượng tín
đồ không đáng kể Vai trò xã hội cũng như tác động đến chính trị của các tôn giáokhông giống nhau Dù có sự tồn tại đa dạng của các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo, song
8 Từ điển tôn giáo Nxb Từ điển bách khoa H 2002 tr 634
9 Từ điển tôn giáo, Nxb Từ điển bách khoa H 2002 tr 410
10
Trang 11tính chung số lượng tín đồ chỉ chiếm 25% dân số cả nước Nếu tính những người cónhu cầu tâm linh thì số lượng lớn hơn nhiều Ở Việt Nam vùng nào cũng có đền thờcác vị anh hùng dân tộc, những người có công với dân với nước Trong phạm vi dân tộcthì có đền Hùng, trong từng làng, xã có thờ thành hoàng làng, trong dòng họ có nhà thờ
tổ, trong gia đình có bàn thờ tổ tiên và những người đã khuất Sự phát triển các khônggian linh thiêng trong đời sống cộng đồng làm cho bức tranh tín ngưỡng, tôn giáo ViệtNam ngày càng đa sắc Khi nghiên cứu tình hình tôn giáo Việt Nam, linh mụcL.Cadiêve viết: Các dân tộc Viễn Đông, đặc biệt người Việt Nam, là người mang đậmtâm thức tôn giáo Thuật ngữ tôn giáo bao hàm nhiều mức độ, nhiều sắc thái Nếu ta coitôn giáo là niềm tin vào một đấng tuyệt đối, đầy lớn lao và hoàn hảo; là sự hợp nhấtbằng cả tấm lòng của bản thân với “đấng tối cao” hiện diện ở khắp mọi nơi; là sự tíchhợp bằng cả trái tim với “đức chúa” đầy lòng bác ái, ngự trị và nắm tất cả
Bàn về tính đa dạng của tôn giáo ở Việt Nam theo Giáo sư Đặng Nghiêm Vạnngười nghiên cứu có thể tìm thấy ở đây hầu như có tất cả các hình thức tôn giáo từ Tôtem giáo, Ma thuật giáo, Bái vật giáo, Vật linh giáo, Sa man giáo đến các tôn giáo có tổchức Việt Nam gần như là một bảo tàng tôn giáo
b) Tôn giáo ở Việt Nam mang tính đan xen, hoà đồng
Khác với phương Tây, ở Việt Nam không có tôn giáo nào thống trị suốt chiềudài lịch sử và vị trí, vai trò của từng tôn giáo không như nhau qua các thời đại, vớinhững biến động của lịch sử Điều đó bắt nguồn từ tính bao dung, tư tưởng phóngkhoáng của người Việt, được hình thành trong quá trình kề vai, sát cánh vượt mọi khókhăn gian khổ trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Ở Việt Nam, không
có sự kỳ thị tôn giáo, càng không có xung đột vì lý do dị biệt tôn giáo Dù là tư tưởng
gì, tôn giáo nào, cộng đồng người Việt cũng sẵn sàng chấp nhận miễn là nó không viphạm đến lợi ích quốc gia và đi ngược lại nền văn hoá dân tộc Tính chất đan xen,hoà đồng của tôn giáo ở Việt Nam biểu hiện trên mấy điểm sau: Sự tồn tại hoà bìnhcủa hệ thống tôn giáo, với tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên”, “Ngũ chi hợp nhất”
Đó là những biểu trưng của truyền thống hoà đồng tôn giáo Các đạo từ bên ngoài vàonhư Phật gi¸o, C«ng gi¸o mặc dù có hệ thống giáo lý và thiết chế tổ chức khá chặtchẽ tồn tại độc lập với các loại hình tôn giáo khác, nhưng để tồn tại, phát triển và thuphục được nhiều tín đồ, rốt cuộc nó phải chung sống hoà mình vào các loại hình tínngưỡng bản địa Việt Nam và chung sống hoà đồng với nhau
Trong lịch sử, có những cuộc tranh luận trên báo chí hoặc dưới hình thức này hayhình thức khác xung quanh giáo lý của đạo Phật với đạo C«ng gi¸o vào những năm 30của thế kỷ XX, nhưng không vì thế mà sự dị biệt tôn giáo trở thành lý do để kỳ thị haykhinh miệt nhau Lễ Phật đản, lễ Chúa giáng sinh là ngày vui chung của Lương vàGiáo Chính sự tồn tại hoà bình của nhiều hình thức tôn giáo là cơ sở của sự đoàn kếttôn giáo trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Tính dung hợp, hoà đồng, đan xencủa tôn giáo ở Việt Nam thể hiện khá độc đáo ở sự hội nhập trong không gian thờ tự
và trên từng bàn thờ Trong quần thể kiến trúc đình chùa ở Việt Nam thường có sự
Trang 12đan xen Đình, Chùa, Am, Miếu Phủ Ở đó thấy sự hiện diện hoà đồng của các thánhthần, tiên Phật của cả ba tôn giáo chính (Phật giáo, Lão giáo, Khổng giáo) Sự xuấthiện đạo Cao Đài với hệ thống luật lệ, lễ nghi và đối tượng thờ cúng là nét đặc sắc,một điển hình của sự dung hợp, hoà đồng Tính dung hợp hoà đồng, đan xen của tôngiáo Việt Nam còn thể hiện rõ nét trong mỗi chức sắc tôn giáo và trong từng tín đồ.Nhà sư không chỉ tụng kinh, gõ mõ mà còn trở thành người có bí quyết trừ tà, nhà sưkiêm cả pháp sư, kiêm nhà ma thuật là chuyện thường tình Trong cuốn “Thờ phụng
và tôn giáo của xứ Đông Dương An Nam” G.Coulét viết: Ở chùa Việt Nam, họ rất vuisướng mà mời Ngọc Hoàng, Thượng đế vào ngồi cùng với Phật Thích Ca, thầy chùabán bùa chú, yểm tà ma cũng như thầy Pháp Trạng nguyên khoá đầu tiên nhà nho LêVăn Thịnh, làm đến chức thái sư mà vẫn dùng đạo giáo “hoá hổ”toan giết Lý ThầnTông Thời Trần, nho học đã phát triển khá mạnh, vậy mà nhà vua còn sai nhiều pháp
sư đi xem xét sông núi trong cả nước nơi nào có yếm khí thì yểm đi để tránh hậu họa
Tóm lại: Ở Việt Nam không có tôn giáo nào có giáo lý cứng nhắc và cũng không
có tôn giáo nào giữ vị trí thống trị suốt chiều dài lịch sử Trên thực tế, thế giới quan vànhân sinh quan của các tôn giáo không những không thống nhất mà còn mâu thuẫnnhau, nhưng chung sống hoà bình bên nhau, đan xen, hoà đồng, bổ sung, nương tựa,xâm nhập vào nhau, tạo lên diện mạo khá độc đáo của bức tranh tôn giáo Việt Namsuốt chiều dài lịch sử
c) Tôn giáo ở Việt Nam mang tính ưu trội yếu tố nữ
Ở nước ta hình tượng người phụ nữ xâm nhập và nổi bật trong tất cả các hình thứctôn giáo Điều đó phản ánh tình cảm và sự đánh giá công bằng của nhân dân về vai trò củangười phụ nữ trong xã hội Dọc chiều dài đất nước đền thờ mẫu hầu như nơi nào cũng có.Tín ngưỡng thờ mẫu đa dạng phong phú như nhu cầu nhiều mặt của con người ở thế gian
Có mẫu là thần thiên nhiên như (Tam đảo sơn trụ quốc mẫu thái phu nhân chi thần, Linhsơn thánh mẫu, thánh mẫu thoải phủ, mẫu thượng ngàn, địa mẫu) Có mẫu là nhân thần, cómẫu vốn là những nhân vật có thật, có mẫu là những nhân vật huyền thoại Tục thờ mẫucủa người Việt khá phức tạp và đa dạng Nét đặc sắc trong tín ngưỡng thờ mẫu của ngườiViệt là quan niệm về Tam phủ và Tứ phủ Tín ngưỡng thờ mẫu ở Việt Nam có nội dung vàmang ý nghĩa giáo dục sâu sắc, đến nay còn nguyên giá trị
Tính trội của yếu tố nữ còn được biểu hiện khá rõ nét trong quan niệm về phươngthức thờ cúng của các tôn giáo Các tôn giáo khi du nhập vào Việt Nam, muốn tồn tại đềuphải điều chỉnh cho thích hợp trong đó có yếu tố nữ Trong chùa của đạo Phật có nhiềutượng như: Bồ Tát, La Hán, và các vị khác, trong lớp tượng đó nổi lên có Quan Âm BồTát Ở các nước khác, Bồ Tát có thể là Nam hoặc Nữ, còn riêng ở Việt Nam đó là Phật
Bà Sự tồn tại và phát triển đạo Phật ở Việt Nam gắn liền với sự xuất hiện kỳ diệu của tứpháp dưới dạng“Bà” (pháp Vân, pháp Vũ, pháp Lôi, pháp Điện) Đạo C«ng gi¸o vốn chỉthờ “Chúa trên hết mọi sự” nhưng khi vào Việt Nam , vai trò “Cầu bầu”của mẹ Maria trởnên cực kỳ quan trọng Trong nhà thờ Thiên Chúa, hình tượng bà Maria chiếm ưu thế Bà
Trang 13xuất hiện dưới các dạng khác nhau Con chiên đến với Chúa chủ yếu thông qua Mẹ Mọi
sự trông cậy đều thuộc về Mẹ
Đó là những đặc điểm cơ bản của tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam Ngoài ra còn
có những đặc điểm như tín đồ tôn giáo ở Việt Nam chủ yếu là quần chúng nhân dân laođộng; tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam thường bị kẻ thù lợi dụng Tuy nhiên, đâykhông phải là đặc điểm riêng có ở Việt Nam Vấn đề này, C.Mác và Ph Ăngghen đãbàn khá kỹ khi vạch ra bản chất xã hội của tôn giáo Đi sâu phân tích, chúng ta có thểthấy sự khác nhau giữa tôn giáo ở phương Tây với tôn giáo ở phương Đông, đặc biệt là
ở Việt Nam Ở đây, không có tình trạng Nhà nước là nhà thờ, nhà thờ là Nhà nước như
ở phương Tây Kitô giáo đã từng gây thanh thế rất lớn ở phương Tây, vào Việt Namcũng đã có nhiều cố gắng, bằng nhiều thủ đoạn can thiệp vào chính trị, gây thanh thế để
“giáo dân bản xứ coi họ như kẻ cứu tinh”, tìm mọi cách để dần dần thoát khỏi sự quản
lý của Nhà nước Nhưng rốt cuộc, mặc dù C«ng giáo ở Việt Nam đã từng đứng vữngsuốt bốn thế kỷ, thu hút một số đông giáo dân, song không bao giờ vượt quá ngưỡng10% dân số và không thể trở thành quốc giáo Mọi mưu đồ về chính trị đều thất bại
II Một số tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
A) một số tín ngưỡng bản địa Việt Nam
1).Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
Thực chất đây là tín ngưỡng tôn thờ các lực lượng tự nhiên như trời, đất, mây,mưa, sấm, chớp, nước, lửa, núi, rừng, sông, thực vật, động vât Bởi lẽ, ở buổi đầu củalịch sử, với hoạt động săn bắt hái lượm, người Việt cổ cảm thấy mình vô cùng nhỏ bé,
bị choáng ngợp trước thiên nhiên hùng vĩ Thiên nhiên là cái nôi nuôi dưỡng con ngườibằng nguồn của cải vô tận Nhưng cũng là lực lượng đe dọa sinh mạng và cuộc sốngcon người Với tư duy thô sơ, người Việt cổ luôn quan niệm rằng: Vạn vật xung quanhđều biết suy nghĩ và có cuộc sống như người trần tục Cái thế giới “thiêng” đó có thểmang tới, ban phát niềm hạnh phúc, nhưng cũng có thể gieo rắc nỗi bất hạnh cho conngười Vì vậy, con người vừa tôn kính, biết ơn vừa sợ hãi các lực lượng siêu nhiên Đây
là cội nguồn của tín ngưỡng sùng bái tự nhiên Hơn nữa, phương thức sinh sống củangười Việt cổ chủ yếu là canh tác nông nghiệp, phương thức này là một loại hình laođộng cực kỳ vất vả, công sức con người bỏ ra thì lớn nhưng thu hoạch lại phụ thuộc vàothiên nhiên Sự khắc nghiệt của hoàn cảnh ấy đẩy con người vào thế bị động, trông chờvào sự may rủi, sự phù hộ của các thần Đây là lý do cho sự ra đời, tồn tại và phát triểncủa tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên được biểu hiện rất đa dạng và phong phú Hầu hếtcác đối tượng tự nhiên đều được thần thánh hoá và được thờ cúng ở khắp mọi nơinhư thần trời, thần đất, thần núi, thần sông, thần mây, thần mưa, thần gió Conngười sống bằng trồng trọt, chăn nuôi phải nhờ tới các vị thần đó Trong tín ngưỡngsùng bái tự nhiên, người ta tin rằng, hòn đá, gốc cây đều có thần trú ngụ, nhất lànhững hòn đá kỳ quái ở các hang động hay trước cửa đền chùa Những hòn đá giữa
Trang 14gềnh có nguy hại cho tàu thuyền; những cây đa, cây đề, cây si, cây đại là nhữngcây hay có thần mộc tinh trú ngụ Nhiều thần tự nhiên được người Việt cổ đưa lênhàng mẫu Ví dụ: Thần núi Tam Đảo “Tam Đảo sơn trụ quốc Mẫu thái phu nhân chithần”, thần núi Bà Đen “Linh sơn thánh Mẫu”, thần nước “Thánh Mẫu thoải phủ”,thần đất “Địa Mẫu”, thần rừng “Thượng ngàn Thánh Mẫu” Thần được người dânvùng châu thổ Sông Hồng thờ phổ biến hơn cả chính là những vị làm ra mưa, vànhững vị cai quản những nơi có nước như: sông, biển, ao, hồ, đầm Đó là các chị
em bà pháp Vũ, pháp Vân, pháp Lôi, pháp Điện mà nhân dân gọi là “Tứ pháp”, vàcác vị thuỷ thần, núp dưới các danh xưng mĩ miều như Giao Long, Hà Bá, Quan lớntuần tranh, Trương Hồng, Trương Hát, Hồng Hà đoan khiết phu nhân, Nam Hải đạivương Trong tâm thức cư dân Việt Nam, cấy lúa, trồng màu, chăn nuôi thì trời đất,trăng sao, mây mưa, sấm chớp, sự giao hoà âm dương đều trở thành những vị thần
hộ mệnh Sự tôn kính những vị thần vô hình ấy được biểu hiện qua những nghi thứcdẫn lễ, những trò vui trong lễ hội
2 Tín ngưỡng sùng bái con người
Xuất phát từ quan niệm con người có hai phần: phần xác và phần hồn Khi chết là
“thác về thể phách còn hồn là tinh anh”hay “sự tử như sự sinh sự vong như sự tồn”phầnhồn là phần bất tử đi sống ở thế giới khác Phần hồn cũng có nhu cầu cuộc sống nhưngười trần tục nên“trần sao âm vậy” Từ xa xưa, người Việt Nam đã hình thành bacộng đồng gắn bó chặt chẽ với nhau nhà- làng- nước Vì vậy, trong tín ngưỡng sùng báicon người của người Việt, hệ thống thờ cúng cũng bao hàm một cái trục xuyên suốt làthờ tổ tiên, thờ những người có công với làng xã, thờ các anh hùng dân tộc Dân ta cócâu “sống về mồ về mả, ai sống về cả bát cơm” Trong cuộc sống của mỗi con người cómột mảng linh thiêng đó là mồ mả, bát hương thờ cúng ông bà tổ tiên, những người đãkhuất Mồ mả, bát hương là những biểu tượng thiêng liêng có sức mạnh vô hình trongmỗi gia đình, gia tộc xưa và nay Mỗi gia đình người Việt Nam đều có bàn thờ tổ tiên.Bàn thờ được đặt ở nơi trang trọng nhất Có thể nói bàn thờ tổ tiên là biểu tượng thiêngliêng nhất, lôi cuốn con cháu quây quần đoàn tụ nhớ về cội nguồn, duy trì những giá trịthiêng liêng chuyển giao cho con cháu Việc sắp đặt linh vị của bàn thờ theo triết lý 5đời thờ cúng; tự mình xưng con, cha xưng hiền khảo, mẹ xưng hiền tỷ, ông xưng tổkhảo, bà xưng tổ tỷ, cụ ông xưng tằng tổ khảo, cụ bà xưng tằng tổ tỷ, kỵ ông xưng cao
tổ khảo, kỵ bà xưng cao tổ tỷ Nhà thờ tổ gọi là Từ đường, linh vị có “Bách thế chi tổ”.Trên bàn thờ thường treo bức hành phi “Kính như tại” hoặc “Phúc mãn đường”
Trong cuộc sống đời thường, mỗi người Việt Nam , ngoài mối liên kết trần tục vớinhững người khác trong quan hệ dòng họ, mối liên hệ bình thường với ông bà tổ tiêntrong gia đình gia tộc, họ còn có mối liên kết thiêng liêng, nhưng mang tính vô hình vớinhững người khác dòng họ trực tiếp, qua hình tượng Âu cơ - Lạc Long Quân Trải quahàng ngàn năm nay, hình tượng Mẹ dân tộc đã là mối liên kết tâm linh bền chặt giữanhững người cùng chung sống trong một cộng đồng lãnh thổ và những người cùngtrong cộng đồng huyết thống Trong tâm thức dân gian Việt Nam, từ lâu vẫn ghi nhớ
Trang 15câu “ Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ” để di dưỡng tinh thần nhớ về cội nguồn, tổtiên dân tộc Âu Cơ - Lạc Long Quân được tôn là thuỷ tổ của người Việt, là Cha-Mẹcủa vua Hùng-Người có công xây dựng nước Văn Lang, là Ông tổ của người Việt Vìvậy, “Dù ai đi ngược về xuôi, nhớ ngày giỗ tổ mùng Mười tháng Ba” Như vậy, khônggian thờ tổ của người Việt mở rộng ra tới tầm quốc gia “Tổ của nước” ngày giỗ Tổ làngày thiêng liêng của cả dân tộc Việt Nam Đền Hùng trở thành trung tâm văn hoá tínngưỡng thể hiện ý niệm thiêng liêng của người Việt Nam với tổ tiên trên phương diệnquốc gia dân tộc Mọi làng, xã có thể thờ nhiều vị thần nhưng cũng có thể thờ một vịthần là thành Hoàng làng Thành Hoàng làng là thần bản mệnh của làng, thần giữ gìn,bảo vệ sinh mệnh cho cả làng Thành Hoàng làng hầu hết là Nam nhưng cũng có nơi là
Nữ, có thành Hoàng làng là con người thật nhưng cũng có thành Hoàng làng là conngười huyền thoại, có thiên thần, nhân thần, có chính thần nhưng cũng có khi là dị thần,yêu thần, tà thần như thần ăn xin, thần ăn trộm, thần tà dâm Dù lai lịch thế nào nhưngmột khi được nhân dân thừa nhận và tôn vinh thì cộng đồng ấy nhất mực kính trọng.Xét chung trong hệ thống thần thành Hoàng làng ở nước ta thường là người có côngtrong đánh giặc giữ làng, giữ nước, có công mở mang bờ cõi hoặc mang lại nghề nghiệpcho làng Nơi thiêng liêng nhất để thần trú ngụ là điện thờ, điện thờ được đặt nơi trangtrọng nhất trong Đình
Từ ý thức về hồn thiêng sông núi, người Việt còn huyền thoại hoá các thần và sắcphong cho thần Sự huyền thoại hoá các thần được thể hiện khá sinh động: ThánhGióng ra đời là sự kết hợp giữa bà mẹ Việt nghèo với dấu chân ông Đổng khổng lồ.Thần Tản Viên được sinh ra từ một cây cổ thụ thành một chú bé, được dê rừng cho bú,chim chóc ấp ủ Thần Mộc Trung (giúp vua Đinh Tiên Hoàng dẹp nạn mười hai sứquân) được sinh ra từ bà mẹ ngủ mơ thấy Sao sa vào miệng Vua Lê Đại Hành cũng do
bà mẹ nghèo đi cấy ăn ngó sen thụ thai Thần linh Long, thần lâm Hổ đều có gốchuyền thoại sau khi dẹp xong giặc lại quay trở về cõi thần tiên Việc huyền thoại hoácác thần đã đẩy tính “thiêng” lên một tầm cao mới, khiến tín ngưỡng thờ thần có hầuhết trong các gia đình, làng bản từ Bắc chí Nam, từ miền xuôi, lên miền núi, xuốngvùng biển và ùa vào tâm thức của mỗi người dân đất Việt
Trong vũ trụ bao la và huyền bí, người Việt có xu hướng đề cao, tôn vinh con
người Sự sùng bái con người (con người thực và con người huyền thoại) đã làm nênmột tín ngưỡng có nhiều điểm đặc sắc của người Việt Nam Đó là tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên, giống nòi dân tộc Thờ cúng tổ tiên là thực hiện nếp sống văn hoá, đạo đức vàtâm linh Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong gia đình, gia tộc, những người có công vớilàng xã, với Tổ quốc, các anh hùng dân tộc, tạo điều kiện duy trì những không gian linhthiêng, những môi trường văn hoá truyền thống, dấy lên lòng hiếu thảo, nhân nghĩa củacon người, nuôi dưỡng ý thức nhớ về cội nguồn “chim có tổ, người có tông” “ăn quảnhớ kẻ trồng cây” Nó là gạch nối quá khứ – hiện tại – tương lai trong cuộc sống củamỗi cá nhân và cộng đồng Trên tất cả ý nghĩa đó, có thể khẳng định thờ cúng tổ tiên là
Trang 16tín ngưỡng, đạo lý, là điểm tựa tinh thần đáp ứng nhu cầu tâm linh của người Việt Nam
3 Tín ngưỡng Phồn thực
Tín ngưỡng Phồn thực là tín ngưỡng sùng bái sự sinh sôi nảy nở Tín ngưỡngnày được hình thành từ thuở xa xưa của loài người, thông qua “cơ chế”, liên tưởnggiữa chính sự sinh sản của con người và sự sinh trưởng của cây cối và động vật.Tín ngưỡng phồn thực tồn tại dưới hai dạng: Thờ sinh thực khí và thờ hành vi giaophối, với mục đích cầu mong cho mùa màng bội thu, vạn vật sinh sôi, nhà nhà conđàn cháu đống đây là ước vọng ngàn đời của cư dân nông nghiệp Việt Nam Vìvậy, tín ngưỡng phồn thực đã hoá thân trong cuộc sống của người nông dân ở khắpcác vùng quê, trở thành sinh hoạt tinh thần không thể thiếu của họ Tín ngưỡngphồn thực được biểu hiện rất đa dạng Thờ sinh thực khí (Linga và Yoni) Ở miềnTrung, Linga và Yoni được thờ khá phổ biến trong hệ thống đền tháp người Chăm(Nha Trang, Ninh Thuận, Bình Thuận) Vùng đồng bằng Bắc bộ, việc thờ sinh thựckhí phổ biến nhất ở vùng Phú Thọ,Vĩnh Phúc Sinh thực khí được thờ dưới cácdạng khác nhau (dân dã và tế nhị) như: Nõ-Nường, Chày-Cối, chày Kình-mo Đài.Ngoài ra còn có những tên gọi khác như con Vông, con Nường, trái Còn, trái Phết,cây Bông, cây Lao Tuy được thể hiện dưới rất nhiều dạng thức khác nhau nhưng
có một điểm chung là những vật tượng trưng cho sinh thực khí Nam luôn có khốihình trụ, tròn, dài và mang tính động Những vật tượng trưng cho sinh thực khí Nữthì có dạng bẹt, hình vuông, tròn, elíp có lỗ, rãnh, khe, hốc, và mang tính tĩnh.Hành vi giao phối được mô phỏng qua các trò chơi trong lễ hội và được biểu hiệnkhá đa dạng và ở các mức độ khác nhau Từ những biểu hiện đơn lẻ như cướp dòcầu đinh (xã Gia Thanh,Vĩnh Phúc) đến đủ đôi cặp chày Kình- mo Đài (Xã ĐứcBắc, Vĩnh Phúc) Tục rước ông Đùng, bà Đoàng trong hội làng (Đông An, HảiDương) cung cấp một hình ảnh khác về quan hệ giao phối Nó vừa phản ánh tínhbao dung độ lượng vừa phản ánh sự nghiêm khắc của phong tục truyền thống dântộc Thờ sinh thực khí và tôn thờ hành vi giao phối còn được biểu hiện khá phổbiến trong các hiện vật văn hoá như trên nắp thạp đồng (Đào Thịnh, Yên Bái) tạiviện bảo tàng lịch sử Hà Nội Thờ sinh thực khí còn được thể hiện ở lễ hội làng(La, Hà Nội), hội Chen (Nga Hoàng-Bắc Ninh), hội Gióng (Phù Đổng, Hà Nội)
Tóm lại: Tín ngưỡng ở Việt Nam vô cùng phong phú về hình thức và cách thể
hiện Điều đó thể hiện ước vọng cháy bỏng ngàn đời của người Việt, mong muốn thánhthần phù hộ cho sự sinh sôi nảy nở, đủ đầy muôn người, muôn vật Hệ thống tín ngưỡng
đó đã hoá thân vào các lễ thức sinh hoạt truyền thống và trở thành giá trị văn hoá đặcsắc của người Việt Nam trong lịch sử Trong tiến trình lịch sử của mình, người ViệtNam đã sáng tạo và thực hành rất nhiều loại hình tín ngưỡng, thể hiện đạo lý và khátvọng cháy bỏng của mình trong giải quyết các quan hệ với thiên nhiên, xã hội, và tổtiên giống nòi Tín ngưỡng b¶n địa Việt Nam góp phần ngăn chặn cái ác, khơi lại đạo lýuống nước nhớ nguồn, tình nghĩa con người Nhiều lễ hội đã trở thành sinh hoạt vănhoá, món ăn tinh thần không thể thiếu của người Việt
Trang 17Hiện nay, một số giỏ trị khởi thuỷ của tớn ngưỡng bị che lấp, thay vào đú nhữngyếu tố mới mang tớnh chất mờ tớn dị đoan, phản văn hoỏ Nhiều sinh hoạt tớn ngưỡng
bị thương mại hoỏ, nhiều cơ sở thờ tự biến thành tụ điểm hoạt động của những kẻbuụn thần, bỏn thỏnh làm giàu bất chớnh Ở một số địa phương, phục hồi tràn lan cỏc
lễ hội với cỏc mục đớch khỏc nhau, chi phớ cho cỏc hoạt động tớn ngưỡng gia tăngghờ gớm Nhiều đền thờ, nhiều sinh hoạt tớn ngưỡng bị lợi dụng với mục đớch xấu,gõy bất ổn cho đời sống chớnh trị, xó hội, phỏ vỡ khụng gian linh thiờng và mụitrường văn hoỏ truyền thống vốn cú.Vỡ vậy, việc nhận dạng cỏc loại hỡnh tớn ngưỡng,tỡm ra hạt nhõn hợp lý, chỉ ra cỏc yếu tố mờ tớn dị đoan cần loại bỏ, là thỏi độ ứng xửđỳng mực nhất
B) Một số tụn giỏo ở Việt Nam
1 Cụng giỏo (Thiờn chỳa giỏo)
Cụng giỏo vào Việt Nam cỏch đõy khoảng 470 năm Theo dó sử, thỏng Ba nămNguyờn Hoà thứ Nhất (1533) người Chõu Âu đầu tiờn là Inikhu vào giảng đạo ở NinhCường thuộc huyện Giao Thuỷ và làng Trà Lũ thuộc Nam Chấn (Nam Định) ngày nay.Buổi đầu, dường như Cụng giỏo ớt gặp trở ngại do lũng khoan dung, hoà nhập, khụng
kỳ thị tụn giỏo của người Việt Do sự dớnh lớu của cỏc giỏo sĩ thừa sai nhiệt thành Phỏp(MEP), khiến cho việc truyền giỏo gắn liền với quỏ trỡnh xõm lược nước ta Đú lànguyờn nhõn dẫn đến cỏc cuộc xung đột, cỏc cuộc bắt đạo của triều đỡnh phong kiến.Trong quỏ trỡnh xõm lược Việt Nam từ 1858 đến cuối thế kỷ XIX, Thực dõn Phỏp vẫnthường xuyờn nhận được sự cộng tỏc nhiệt thành của cỏc giỏo sĩ thừa sai Phỏp Bướcsang thế kỷ XX, trong sự nghiệp đấu tranh giải phúng dõn tộc, một số linh mục và giỏodõn yờu nước đó tham gia tớch cực vào sự nghiệp cỏch mạng của dõn tộc Song, nhỡnchung cho đến trước 1975, Cụng giỏo Việt Nam vẫn chưa thực sự cởi bỏ được mốiquan hệ với chủ nghĩa thực dõn và cỏc thế lực phản động tay sai Trong chức sắc và tớn
đồ tụn giỏo cú sự phõn ró khỏ rừ Đại bộ phận muốn dung hoà quyền lợi dõn tộc với tụngiỏo, một bộ phận khỏc cả tin vào lời tuyờn truyền về cuộc xung đột khụng đội trờichung, về ý thức hệ giữa Cộng sản với tụn giỏo Điều đú làm cho những người Cụnggiỏo chõn chớnh phải băn khoăn giữa lũng yờu nước và niềm tin tụn giỏo
Hiện nay Công giáo Việt Nam có “5 324 492 tín đồ (Năm 2005 là 5,7 triệu); 25giáo phận; 2027 giáo xứ; 73 dòng tu; 3 giáo tỉnh v 6.003 nh thờ, nhà nguyện , 6à 6.003 nhà thờ, nhà nguyện , 6 à 6.003 nhà thờ, nhà nguyện , 6
cụng giỏo đó cú những thớch nghi mới, phự hợp với quỏ trỡnh hội nhập và phỏt triển củađất nớc, xu thế hớng về dân tộc ngày càng thể hiện rõ, giáo hội đang cố gắng làm chocác hoạt động tôn giáo hấp dẫn, tổ chức, chặt chẽ hơn ; linh mục tích cực làm từthiện.Nhng một số chức sắc không thể hiên rõ ý thức công dân, muốn hoạt động tôn
11 Tài liệu học tập các Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy BCHTW khoá IX" dùng cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên Nxb CTQG H 2003 tr -
12 Phạm Huy Thông “Sự phát triển quan điểm và chính sách của Đảng ta về vấn đề tôn giáo trong giai đoạn mới của cách mạng”-Tạp chí Quốc phòng toàn dân số 11/2005
Trang 18giáo ngoài pháp luật ; thậm chí kích động tín đồ làm những điều trái pháp luật gây mất
ổn đ.ịnh
2 Đạo Tin Lành
Đạo Tin Lành là một trong ba dòng chính của Kitô giáo (đạo cơ đốc), “một biến
do giai cấp t sản lãnh đạo mà đại diện là Lu The và Can Vanh Nên, mặc dù vẫn tônthờ Giê su, vẫn thừa nhận những nội dung cơ bản của giáo lý, giáo luật đạo Cơ đốc, nh -
ng Tin Lành đã có những thay đổi rất lơn trong giáo lý, giáo luật, tổ chức và các hoạt
động tôn giáo, theo hớng t sản hoá Đạo Tin Lành đề cao lý trí, coi trọng khuyến khich
tự do cá nhân, nỗ lực cá nhân của các tín đồ trong các hoạt động tôn giáo nhất là hoạt
động tìm hiểu nghiên cứu kinh thánh Đạo Tin Lành coi mọi tín đồ đều có quyền bình
đẳng trong việc tiếp xúc với kinh thánh để lĩnh hội ý chúa, mà không cần đến nhà thờ,không cần đến Linh mục Sự đơn giản trong trang trí nhà thờ, lễ nghi thờ cúng; tândụng, khai thác triệt để nguồn tài chính dồi dào cùng các phơng tiện hiện đại, đồng thờilợc bỏ những hình thức trang trí ảnh tợng cầu kỳ, những nội dung giáo lý, giáo luật rờm
rà, những tổ chức giáo hội cồng kềnh của Công giáo, vừa tạo ra u thế và khả năng thuhút tín đồ cuả Tin Lành so với Công giáo và các tôn giáo khác vừa thể hiện tính châtthực dụng của giai cấp t sản đói với vấn đề tôn giáo Tính chất thực dụng, xảo quyệt củagiai cấp t sản đối với đạo Tin Lành còn thể hiện ở chõ: Họ không chỉ biến đạo Tin Lànhthành chỗ dựa tinh thần , chiếc vỏ “thần thánh” hợp thức hoá các quan hệ kinh tế, chínhtrị, đạo đức t sản, thành công cụ phơng tiện lợi hại truyền bá, bảo vệ chế độ t bản màcòn biến đạo Tin Lành thành th hàng hoá đặc biệt để tìm kiếm lợi nhuận Do vậy, mặc dù
về hình thức một số giáo phái Tin Lành vẫn giữ khoảng cách giữa thế quyền và thầnquyền, nhng chính lợi ích “trần tục ” đã làm cho mối quan hệ giữa đạo Tin Lành và giaicấp t sản trở nên rất bền chặt khăng khít, chúng trở thành tiền đề điều kiện cho nhau tồntại phát triển
Đạo Tin Lành cú mặt ở Việt Nam khoảng giữa thế kỷ XIX, cựng với binh lớnh vànhõn viờn của quõn đội viễn chinh Phỏp Năm 1884, Hội truyền giỏo Tin lành thuộc địacủa Phỏp chớnh thức gửi cỏc mục sư đến Hải Phũng và cho lập hội thỏnh ở 3 trung tõmlớn: Hà Nội, Hải Phũng, và Sài Gũn Cỏc mục sư người Phỏp cũng cố gắng giảng đạoTin Lành cho người Việt nhưng hầu như khụng cú kết quả Cuối cựng hội Tin lànhPhỏp phải nhường chỗ cho tổ chức hội liờn hiệp Cơ đốc và truyền giỏo “CMA” Sau
1954, đất nước bị chia cắt thành hai miền, đạo Tin lành ở hai miền cú sự khỏc nhau vềqui mụ và phạm vi hoạt động Ở miền Bắc, được sự giỳp đỡ của Nhà nước, năm 1955hội thỏnh Tin lành miền Bắc được thành lập với vài ngàn tớn đồ và khoảng 20 mục sư Theo thống kê cha đầy đủ của Viện nghiên cứu tôn giáo, đến năm 2005, cả nớc ta
có khoảng 800.000 tín đồ Tin Lành, trong đó ở miền Nam khoảng 500.000; ngờiHmông khoảng 100.000, Đắc Lăc khoảng 100.000; Lâm Đồng 64.000; Gia Lai khoảng68.000, Kon Tum 9.000 “Hiện nay 80% tín đồ Tin Lành tập trung vào hai tổ chức là
“Hội thánh Tin Lành Việt Nam” (mièn Băc) và “Hội thánh Tin Lành Việt Nam” (mièn
nay các tổ chức giáo hội Tin Lành Việt Nam đã “cam két tuân theo Hiến pháp pháp luật
nghĩa vụ công dân ”, song Tin Lành Việt Nam ảnh hởng nặng nề của thần học bảo thủcủa Can Vanh, luôn giữ khoảng cách giữa thần quyền và thế quyền, muốn đứng ngoài
13 C Mác- Ph Ăng ghen Toàn tập, tập 23 Nxb CTQG H 1995 tr 125
14
Nguyễn Xuân Hùng “Về lịch sử mối quan hệ giữa nhà nớc và giáo hội ”