1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO BÀI GIẢNG CHÍNH TRỊ, CHẾ độ dân CHỦ XÃ hội CHỦ NGHĨA VÀ hệ THỐNG CHÍNH TRỊ XÃ hội CHỦ NGHĨA ở nước TA

29 497 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 95,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các học giả tư sản quan niệm rằng, đã là dân chủ thì phải tư nhân hoá về kinh tế; tự do hoá về tư tưởng; đa nguyên hoá về chính trị; công khai hoá về xã hội...Bốn cái hoá đó thực chất cũng để bảo vệ, duy chì bảo vệ CNTB và chống phá CNXH, xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận dân chủ XHCN.

Trang 1

BÀI GIẢNG CHÍNH TRỊ

XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA

I CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ XHCN

1 Bản chất, đặc điểm, nội dung của chế độ dân chủ XHCN

Các học giả tư sản quan niệm rằng, đã là dân chủ thì phải tư nhân hoá vềkinh tế; tự do hoá về tư tưởng; đa nguyên hoá về chính trị; công khai hoá về xãhội Bốn cái "hoá" đó thực chất cũng để bảo vệ, duy chì bảo vệ CNTB và chốngphá CNXH, xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận dân chủ XHCN

- Khái niệm:

+"Dân chủ" Nghiên cứu theo góc độ chính trị - xã hội, thì dân chủ là

"quyền lực thuộc về nhân dân", là quyền tự do và bình đẳng về quyền lực củanhân dân trong đời sống xã hội và quan hệ xã hội Khi đó nói về dân chủ, Chủtịch Hồ Chí Minh đã nói một cách dễ hiểu: "Nước ta là nước dân chủ, địa vị caonhất là dân, vì dân là chủ" 1

Dân chủ phản ánh mối quan hệ giai cấp, quan hệ công dân theo nguyên tắcbình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ trước pháp luật, mang giá trị xã hội sâu sắc.Dân chủ là sản phẩm của đấu tranh giai cấp, là thành quả đấu tranh của nhândân Là một quan hệ xã hội nên dân chủ cũng như các quan hệ xã hội khác, chịu

sự quy định của phương thức sản xuất xã hội, bản chất kinh tế, chính trị của mộtchế độ xã hội và giai cấp nhất định

Dân chủ là một phạm trù lịch sử Dân chủ luôn mang tính giai cấp, không

có dân chủ chung chung phi giai cấp, dân chủ gắn với chuyên chính, gắn vớiquyền lực giai cấp, gắn với sự lãnh đạo của một chính đảng, sự quản lý của mộtnhà nước nhất định

Các thời đại khác nhau, các chế độ xã hội khác nhau, có sự khác nhau vềbản chất, trình độ dân chủ Dân chủ chịu sự qui định của tính chất, trình độ pháttriển kinh tế, văn hoá, xã hội, dân trí, thông tin, đặc điểm dân tộc

"Chế độ dân chủ" : là toàn bộ những thể chế, thiết chế cơ chế chính trị thể

hiện và bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân, các quyền tự do bình đẳng củanhân dân trong các lĩnh vực đời sống xã hội Trong tác phẩm "Nhà nước và cáchmạng", V.I.Lênin viết: "Chế độ dân chủ là một hình thức nhà nước, một trong

1 Hồ Chí Minh với các LLVTND, Nxb QĐND, 1975, Tr 177.

Trang 2

những hình thái của nhà nước, cho nên cũng như mọi nhà nước, chế độ dân chủ

là việc thi hành có tổ chức, có hệ thống sự cưỡng chế đối với người ta; một mặt

là như thế Nhưng mặt khác, chế độ dân chủ có nghĩa là chính thức thừa nhậnquyền bình đẳng giữa những công dân, thừa nhận cho mọi người có quyềnngang nhau trong việc xác định cơ cấu nhà nước và quản lý nhà nước" 1

+ "Chế độ dân chủ XHCN" là toàn bộ những thể chế, thiết chế chính trị

-xã hội XHCN, thể hiện và bảo đảm quyền lực -xã hội thuộc về giai cấp côngnhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng, thông qua hệ thốngchính trị XHCN và làm chủ trực tiếp của nhân dân theo những qui định của phápluật XHCN

- Bản chất của chế độ dân chủ XHCN.

Từ những khái niệm về dân chủ XHCN và chế độ dân chủ XHCN, có thểrút ra bản chất của chế độ dân chủ XHCN là "Quyền làm chủ thực tế trên mọilĩnh vực xã hội của nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản vàthông qua sự quản lý của nhà nước XHCN" Chế độ dân chủ XHCN là chế độ

do nhân dân lao động làm chủ Cơ sở khách quan qui định bản chất chế độ dânchủ XHCN là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và bản chất chính trị - xã hộicủa giai cấp công nhân

Dân chủ phải gắn liền với chế độ nhà nước, nhà nước XHCN là nhà nướccủa dân, do dân và vì dân, là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ củanhân dân

Chế độ dân chủ XHCN là nền dân chủ thực sự chứ không phải là dân chủhình thức, nó hoàn toàn đối lập với dân chủ cực đoan, vô chính phủ, với chuyênquyền độc đoán

Giữa chế độ dân chủ XHCN và chuyên chính vô sản có mối quan hệ bảnchất - quan hệ giữa dân chủ và chuyên chính, phản ánh bản chất chính trị củaCNXH: "nhân dân lao động làm chủ dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân(thông qua đội tiền phong là Đảng cộng sản), bằng sự quản lý của nhà nước XHCN"

- Đặc điểm của chế độ dân chủ XHCN.

Nghiên cứu những đặc điểm của chế độ dân chủ XHCN là cơ sở để phânbiệt sự khác nhau căn bản giữa chế độ dân chủ XHCN với các chế độ dân chủkhác và thấy hết được tính ưu việt của chế độ dân chủ XHCN Những đặc điểmcủa chế độ dân chủ XHCN được thể hiện:

11 V.I Lênin, To n t àn t ập, Tập 33, Nxb Tiến bộ, M 1976, Tr 123.

Trang 3

+ Chủ thể của chế độ dân chủ XHCN là đại đa số nhân dân lao động nókhác với chế độ dân chủ tư sản là chế độ dân chủ của thiểu số giai cấp tư sản bóclột Dưới chế độ dân chủ XHCN, thì giải phóng con người và đáp ứng nhu cầu,lợi ích của nhân dân là mục tiêu phấn đấu của Đảng cộng sản và nhà nướcXHCN Toàn bộ hoạt động của Đảng cộng sản và nhà nước XHCN đều vì nhândân lao động người trực tiếp tham gia vào công tác quản lý xã hội quản lý Nhànước Đưa nhân dân lao động trở thành người làm chủ xã hội là yêu cầu cao nhấtcủa dân chủ XHCN.

+ Dưới chế độ dân chủ XHCN thì quyền lợi và nghĩa vụ, quyền hạn vàtrách nhiệm, cống hiến và hưởng thụ gắn bó chặt chẽ với nhau

+ Dưới chế độ dân chủ XHCN thì mọi quyền của công dân được bảo đảmbằng kinh tế, chính trị, tổ chức và pháp luật Còn các chế độ dân chủ khác thìngược lại, giai cấp bóc lột đã dùng sức mạnh của kinh tế, chính trị, tổ chức, phápluật để tước quyền của những người lao động

+ Dân chủ XHCN là một chế độ dân chủ của hành động tích cực cải tạo xãhội cũ, xây dựng xã hội mới của nhân dân lao động và có tính chất cách mạng

+ Chế độ dân chủ XHCN là sự phủ định biện chứng chế độ dân chủ tưsản Dân chủ XHCN hình thành, phát triển, hoàn thiện trên cơ sở kế thừa nhữnggiá trị của nền văn minh nhân loại và phát huy những truyền thống tốt đẹp củadân tộc

+ Chế độ dân chủ XHCN ngày càng được hoàn thiện và phát huy gắn liềnvới sự phát triển xã hội XHCN

Chính từ bản chất, đặc điểm của chế độ dân chủ XHCN như trên, khi sosánh với chế độ dân chủ tư sản, Lênin đã ví "dân chủ vô sản gấp triệu lần hơndân chủ tư sản" Ở Việt Nam còn thể hiện một số đặc điểm nổi bật như: Sự hìnhthành và phát triển dân chủ chưa qua dân chủ tư sản; dân chủ ở nước ta là bảnchất của chế độ mới, trong đó nhân dân lao động là người làm chủ đất nước, tất

cả quyền lực thuộc về nhân dân; dân chủ gắn với công bằng xã hội, gắn với xoá

bỏ áp bức bất công; dân chủ được thực hiện bằng nhiều hình thức trên mọi lĩnhvực của đời sống xã hội và được pháp luật bảo đảm; dân chủ gắn với kỷ cương,

kỷ luật, pháp chế, phù hợp với trình độ phát triển của đất nước và lịch sử truyềnthống của dân tộc

- Những nội dung cơ bản của chế độ dân chủ XHCN.

Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,trong các văn kiện nghị quyết của Đảng ta, nội dung của dân chủ XHCN đượcthể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Trang 4

+ Trong lĩnh vực kinh tế, đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định nhất Mụcđích của CNXH là chăm lo, bảo đảm lợi ích của người lao động Do đó, nhândân lao động là người làm chủ trong phát triển lực lượng sản xuất, trong pháttriển và hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN Vấn đề cơ bản trong dân chủ trênlĩnh vực kinh tế là đảm bảo lợi ích kinh tế chính đáng của mỗi công dân, tổ chứckinh tế xã hội, các chủ thể kinh tế và Nhà nước trong các quan hệ kinh tế Theoquy định của pháp luật, mọi công dân có quyền sản xuất, kinh doanh, tham giacác tổ chức kinh tế, bảo hộ về tài sản, hưởng thụ các thành quả lao động củamình, đồng thời làm tròn mọi nghĩa vụ kinh tế và chấp hành pháp luật kinh tếcủa Nhà nước, đấu tranh phòng chống các tội phạm kinh tế, góp phần phát triểnnền kinh tế xã hội của đất nước và nâng cao chất lượng cuộc sống của mình.+ Trong lĩnh vực chính trị Tập trung thực hiện các quyền và nghĩa vụ côngdân trong hoạt động chính trị như : quyền và nghĩa vụ công dân trong bầu cử vàứng cử các cơ quan dân chủ; quyền bình đẳng trước pháp luật, được pháp luậtbảo vệ, quyền tham gia các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp; quyền kiểm tra,giám sát các hoạt động của cơ quan Đảng, nhà nước; quyền tham gia thảo luận,đóng góp ý kiến vào các chủ trương, chính sách, tham gia xây dựng pháp luật và

có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ bảnsắc văn hoá dân tộc

+ Trong lĩnh vực văn hoá, tinh thần thể hiện như : quyền có việc làm,nghĩa vụ lao động; quyền hưởng các phúc lợi công cộng; quyền được khám chữabệnh; q uyền được nghỉ ngơi, cư trú, bảo vệ sức khoẻ; quyền bình đẳng dântộc, tôn giáo, nam nữ; nghĩa vụ tôn trọng các quy tắc chuẩn mực xã hội, bảo vệtài nguyên môi trường, đấu tranh chống các tệ nạn tiêu cực xã hội

Ở nước ta, cùng với quá trình xây dựng CNXH, Đảng, Nhà nước và nhândân ta đã từng bước tạo được cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội của chế độ dân chủXHCN; quyền lực xã hội của nhân dân được xác định trong Hiến pháp và phápluật; nhu cầu dân chủ của nhân dân ngày càng phát triển; ý thức và năng lựcthực hành dân chủ của nhân dân ngày càng được nâng cao

Bên cạnh những mặt mạnh trên trong đời sống dân chủ xã hội còn tồn tạimột số hạn chế như: còn biểu hiện dân chủ hình thức trên một số lĩnh vực, hiệntượng vi phạm dân chủ, vi phạm công bằng xã hội quan liêu, chuyên quyền, độcđoán; dân chủ cực đoan, vô chính phủ chậm được khắc phục Những hiệntượng trên là do ảnh hưởng của điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước còn thấp,của cơ chế quản lý cũ; vai trò, chức năng của các thành tố trong hệ thống chínhtrị chưa thực sự phát huy; tệ nạn quan liệu, tham nhũng chưa được ngăn chặn;trình độ văn hoá dân chủ của nhân dân còn thấp

Trang 5

Trên đây là những nội dung cơ bản, phản ánh bản chất ưu việt của chế độdân chủ XHCN mà chúng ta đang xây dựng Những nội dung đó không thể hiệnmột cách đầy đủ trong một thời gian ngắn, mà là một quá trình lâu dài, phức tạp,không phải chỉ trên lĩnh vực đấu tranh ý thức tư tưởng mà là cuộc đấu tranh giaicấp thực sự trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội Xây dựng chế độ dân chủ XHCNphải là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của các ngành các cấp chứ không chỉphó thác cho các tổ chức cơ quan nghiệp vụ chuyên môn nào; Đồng thời, nóphải được thực hiện bằng một hệ thống các giải pháp mang tính toàn diện vàđồng bộ.

2 Phương hướng và biện pháp xây dựng chế độ dân chủ XHCN trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta

Xuất phát từ bản chất của chế độ dân chủ XHCN, đặc biệt là từ đặc điểm đilên CNXH ở nước ta, cần tập trung vào một số phương hướng và biện pháp chủyếu sau đây

Một là, đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị XHCN.

Đây là vấn đề cơ bản, có ý nghĩa quyết định trước tiên để xây dựng chế độdân chủ XHCN trong thời kỳ quá độc lên CNXH ở nước ta Điều này, trongCương lĩnh 1991 của Đảng đã xác định: "Thực chất của việc đổi mới và kiệntoàn hệ thống chính trị nước ta là xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủXHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân" 1

Hai là, nâng cao trình độ văn hoá dân chủ trong nhân dân.

Đây là vấn đề quan trọng, bởi nước ta đi lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN,tức là chưa qua chế độ dân chủ tư sản, do đó trình độ dân chủ của nhân dân rấtthấp Cho nên việc bồi dưỡng ý thức, kiến thức về dân chủ, năng lực thực hànhdân chủ, nhân cách dân chủ cho nhân dân là vấn đề không thể thiếu đối với quátrình xây dựng chế độ dân chủ XHCN trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nướcta

Ba là, tạo mọi điều kiện để "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", thực hiện tốt qui chế dân chủ ở mọi cấp, mọi ngành, nhất là ở cơ sở.

Quyền lực xã hội và trình độ dân chủ của nhân dân phụ thuộc vào thựchiện phương châm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra đối với mọi chủtrương, chính sách lớn của Đảng và nhà nước Để thực hiện phương châm đó,cần tạo những điều kiện vừa cơ bản, vừa thiết thực như: điều kiện về pháp luật,điều kiện văn hoá, giáo dục; điều kiện thông tin; điều kiện về tổ chức, trong đóquan tâm đến việc tổ chức lắng nghe, lấy ý kiến của nhân dân; thành lập, kiện

11 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb ST, H, 1991, Tr 19.

Trang 6

toàn, củng cố hệ thống kiểm tra và thanh tra; kiện toàn hệ thống toà án, việnkiểm sát Đặc biệt, phải hoàn thiện và thực hiện tốt các qui chế dân chủ, bồidưỡng giáo dục cán bộ, công chức ý thức tôn trọng quyền dân chủ của nhân dân,thực hiện đúng quan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật, kỷ luật.

Bèn lµ, xây dựng và hoàn thệin hệ thống pháp luật, pháp chế XHCN.

Đây là vấn đề rất cơ bản để bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân và thựchiện quản lý xã hội bằng pháp luật Tư tưởng nhất quán của Đảng ta là : Quyềnlàm chủ của nhân dân phải được cụ thể hoá bằng pháp luật, thực hiện mọi côngdân sống, làm việc theo hiến pháp và pháp luật, tôn trọng kỷ luật, kỷ cương xãhội

Chính hệ thống pháp luật là cơ sở cho sự phát huy dân chủ, là sự thể chếhoá, cụ thể hoá nội dung dân chủ, thông qua luật mà dân chủ đi vào cuộc sốngđồng thời pháp luật là cộng cụ sắc bén bảo vệ dân chủ Ngược lại, trình độ dânchủ càng cao thì pháp luật càng được thực hiện nghiêm chỉnh trên thực tế Do

đó, trước mắt cần tập trung: xây dựng các luật, văn bản dưới luật một cách toàndiện và cụ thể; đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ ngành luật; chấn chỉnh hệthống tổ chức và cơ quan thi hành luật; kiểm tra và xử lý nghiêm minh các hành

vi vi phạm pháp luật

Năm là, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội.

Dân chủ XHCN được phát huy trên cơ sở thành tựu của CNXH, trong đóthành tựu về phát triển sản xuất, về trình độ kinh tế là yếu tố cơ bản Phát triểnsản xuất, nâng cao trình độ kinh tế là cơ sở, tiền đề vật chất để phát huy dân chủ

Sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội đáp ứng ngày càng cao nhu cầu vật chất,tinh thần của nhân dân, đảm bảo quyền dân chủ trên thực tế của nhân dân

Sáu là, kiên quyết đấu tranh chống những quan điểm sai trái, chủ nghĩa quan liêu, đặc quyền đặc lợi, tham nhũng.

+ Chống những quan điểm sai trái như dân chủ phi giai cấp, đòi dân chủ

vô hạn độ, dân chủ cực đoan, dân chủ vô nguyên tắc, dân chủ không gắn vớiphát triển kinh tế, không gắn với chuyên chính; dân chủ tách rời giữa quyền lợi

và nghĩa vụ, nặng đòi hỏi quyền lợi, coi nhẹ kỷ cương pháp luật; lợi dụng dânchủ để chống phá CNXH

+ Kiên quyết chống chủ nghĩa quan liêu, đặc quyền đặc lợi, tham nhũng.Chủ nghĩa quan liêu, đặc quyền, đặc lợi, tham ô, tham nhũng đang là nguy cơlớn đe doạ đến sự tồn vong của đất nước; trái với bản chất của CNXH; đang làlực cản hữu hình đối với cách mạng, đối với thực hiện dân chủ ở nước ta hiệnnay Điều này, trong Văn kiện Đại hội IX đã chỉ rõ: "Tình trạng tham nhũng và

Trang 7

suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏcán bộ, đảng viên đang cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sáchcủa Đảng, gây bất bình và làm giảm lòng tin trong nhân dân" 1 Có thể nói "tham

ô, tham nhũng" không chỉ là lực cản mà còn là kẻ thù của quá trình phát huy, mởrộng dân chủ XHCN ở nước ta hiện nay

Để chống chủ nghĩa quan liêu, đặc quyền đặc lợi, tham ô, tham nhũng,trước mắt cần tập trung trên một số phương diện như: chống ngay trong cả ýthức lẫn tác phong, lề thói làm việc; kiên quyết xoá bỏ điều kiện kinh tế - xã hộilàm nảy sinh ra chúng, đây là điều kiện cơ bản nhất; phải hướng về các đốitượng có liên quan trực tiếp, cụ thể là : đổi mới cơ chế quản lý, kiện toàn bộ máynhà nước, cải cách nền hành chính; đặc biệt là đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ

có đủ năng lực và phẩm chất Thực hiện nghiêm túc Nghị quyết ĐH IX: "Tăngcường tổ chức và cơ chế tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũngtrong bộ máy nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị ở các cấp, các ngành, từTrung ương đến cơ sở " 2 và "Đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, quanliêu, làm trong sạch đội ngũ đảng viên" 3

II HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ XHCN 1.1 Khái niệm hệ thống chính trị

Hệ thống chính trị (HTCT) là một thuật ngữ mới xuất hiện trong nhữngnăm 70 của thế kỷ XX ở Liên Xô (trước đây); hiện nay được dùng nhiều ở nước

ta và trên thế giới

Các nhà kinh điển Mác- Lênin trong các trước tác của mình chưa dùngthuật ngữ này Khi phân tích thiết chế quyền lực của CNTB, C.Mác và Ph.Ăngghen thường sử dụng khái niệm "Hệ thống hành chính quan liêu"; "Hệ thốnghành chính cai trị"; còn quan niệm của các ông gần với quan niệm HTCT màchúng ta dùng hiệu nay là khái niệm "Hình thức chính trị" "hình thức dân chủ",

"hình thức chuyên chính", "cơ cấu nhà nước" "cơ cấu chính quyền" "kết cấuchính trị của xã hội"

Như vậy, HTCT là một khái niệm hiện đại "Bách khoa từ điển Xô viết"định nghĩa HTCT: "là một hệ thống các nhân tố bao gồm Nhà nước, các đảngphái, công đoàn, các tổ chức tôn giáo, các tổ chức và phong trào theo đuổinhững mục đích chính trị, các chuẩn mực và truyền thống"(1)

Cuốn "Tìm hiểu một số khái niệm trong dự thảo cương lĩnh" khái quát:

"HTCT là hệ thống các tổ chức, các thiết chế chính trị - xã hội và các mối quan

11 ,2 , 3 ĐCSVN, Văn kiện ĐHĐB to n qu àn t ốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H 2001, Tr 15, 135, 140 (1)(1) Bách khoa từ điển Xô viết, Matxcova, 1993, Tr 1026.

Trang 8

hệ giữa chúng với nhau, hợp thành cơ chế chính trị của một chế độ xã hội, cơchế đó đảm bảo việc thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp thống trị trongquan hệ với các giai cấp, tầng lớp và nhóm xã hội khác" (2).

Sách giáo khoa chủ nghĩa xã hội khoa học, chương trình cao cấp, Học việnchính trị Quốc gia Hồ Chí Minh nêu: "Hệ thống chính trị là một phạm trù dùng

để chỉ một chỉnh thể các đảng phái, các đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hộitồn tại trong khuôn khổ pháp luật, với một nhà nước thuộc giai cấp cầm quyền

để tác động vào các quá trình xã hội nhằm duy trì và phát triển xã hội đó" (3)

Qua đó có thể thấy, HTCT gồm hai yếu tố

Một là, hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội như các đảng phái chính trị,

Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội khác theo đuổi mục đích chính trị vàđược pháp luật thừa nhận

Hai là, các thiết chế, cơ chế quy định các mối quan hệ giữa các tổ chức hợp

thành HTCT phù hợp với vị trí, chức năng của nó và của cả HTCT với tính cách

là hệ thống quyền lực xã hội

Xem xét dưới góc độ vật chất và tinh thần thì HTCT bao gồm hai mặt:mặt tổ chức chính trị và mặt tư tưởng chính trị

- Về tổ chức chính trị: Trước hết đó là Nhà nước, đây là công cụ quyền

lực tập trung của giai cấp cầm quyền Quyền lực chính trị của giai cấp và quyền lực xã hội được biểu hiện dưới hình thức quyền lực Nhà nước.

Thứ hai, là các tổ chức chính trị - xã hội; các đảng chính trị, các đoàn thể

chính trị - xã hội hoạt động hợp pháp Trong đó đảng cầm quyền là lực lượngchính trị có vai trò chủ đạo, quyết định và chi phối tới các chính sách đối nội,đối ngoại của Nhà nước đó

Tuy nhiên HTCT không phải là sự cộng lại giản đơn các tổ chức chính trị

-xã hội, mà nó là một chỉnh thể thống nhất, một hệ thống có mối quan hệ chặt chẽ,thể hiện quyền lực của một chế độ xã hội, một quốc gia Cho nên, bên cạnh mỗi tổchức chính trị - xã hội có chức năng, phương thức tổ chức và hoạt động riêng, thìtoàn bộ hệ thống phải xác lập được những thiết chế, cơ chế giải quyết mối quan hệgiữa các thành tố cấu thành HTCT và của cả HTCT với toàn xã hội, bảo đảm choHTCT vận hành thông suốt, nhịp nhàng và có hiệu quả

(2) (2) Tìm hiểu một số khái niệm trong dự thảo cương lĩnh, Nxb Tư tưởng - văn hoá, HN,

1991, Tr.85.

(3)(3) CNXHKH Chương trình cao cấp, Nxb CTQG, H, 1994, Tr.221.

Trang 9

- Về tư tưởng chính trị: Đó là các quan điểm tư tưởng, chính trị, chuẩn

mực chính trị, truyền thống chính trị, các động lực tinh thần thúc đẩy ý thức vàhoạt động chính trị của các tầng lớp xã hội Trong đó, đường lối, quan điểmchính trị của đảng cầm quyền giữ vai trò định hướng chính trị và chi phối đờisống chính trị của xã hội

Mỗi chế độ xã hội có một có một kiểu HTCT của mình (ví dụ HTCT tưsản, HTCT xã hội chủ nghĩa ) Điều đó bắt nguồn từ cơ sở kinh tế và cơ sở giaicấp - xã hội của nó Đồng thời, HTCT của xã hội đó phản ánh lợi ích giai cấp

mà nó đại diện, là công cụ thể hiện ý chí, nhu cầu và bảo vệ cho cơ sở kinh tế,

và chính trị - giai cấp của HTCT ấy

- Mỗi HTCT được hình thành, tồn tại và biến đổi gắn liền với một quốc giadân tộc nhất định trong điều kiện lịch sử - cụ thể Do đó khi nghiên cứu HTCTcủa một nước cần phải chú ý đến các đặc điểm, tình hình kinh tế, chính trị, vănhoá, xã hội của quốc gia đó trong một giai đoạn lịch sử nhất định

Trong HTCT của một chế độ xã hội, một quốc gia, thì hệ thống chuyênchính của giai cấp cầm quyền tạo ra là bộ phận cốt lõi và bao trùm Dưới CNTB

đó là nền chuyên chính tư sản Trong CNXH đó là nền chuyên chính cách mạngcủa giai cấp công nhân Nền chuyên chính giai cấp này được tạo nên từ đảngchính trị của giai cấp cầm quyền, từ các cơ quan bộ máy Nhà nước, các đoàn thểchính trị - xã hội do giai cấp đó tạo ra, bảo đảm cho sự thống trị của giai cấp đóđược vững chắc, và định hướng sự vận động xã hội phù hợp với nhu cầu và lợiích cơ bản của giai cấp đó Tuy nhiên, điều đó còn tuỳ thuộc ở chỗ ý chí và lợiích của giai cấp cầm quyền có phù hợp với qui luật xã hội khách quan và với lợiích của các giai cấp, tầng lớp xã hội khác đến đâu Bởi vậy có thể nói, sự ổnđịnh chính trị - xã hội, sự vững chắc của HTCT liên quan mật thiết đến việc giaicấp cầm quyền có làm cho nền chuyên chính của nó được sự đồng tình củaquảng đại quần chúng hay không?

Để thực hiện quyền thống trị xã hội, giai cấp cầm quyền phải làm cho ýchí và lợi ích của mình trở thành ý chí và lợi ích phổ biến của xã hội, thông quacác bộ máy, các phương thức tuyên truyền và cưỡng chế Quá trình này đượcthực hiện bởi những hoạt động của các đảng phái chính trị, bộ máy Nhà nước vàcác đoàn thể CT-XH do giai cấp thống trị lập ra Đó cũng là chức năng củaHTCT

1.2 Hệ thống chính trị của tư sản hiện đại.

HTCT tư sản do tính lịch sử của nó ở các thời kỳ, các quốc gia, nên khôngthuần nhất về tổ chức cơ cấu

Trang 10

Nhìn chung, HTCT tư sản hiện đại là HTCT đa nguyên (đa nguyênchính trị).

Về kết cấu: Nó gồm ba phân hệ cơ bản Phân hệ thứ nhất là hệ thống

chuyên chính tư sản gồm các đảng phái tư sản; Nhà nước tư sản hiện đại và các

tổ chức chính trị - xã hội do giai cấp tư sản tạo ra Các đảng phải tư sản có thể

có nhiều tên gọi khác nhau, đại diện cho một tập đoàn, một khuynh hướng chínhtrị, một phe phái chính trị nào đó trong giai cấp tư sản Tuy nhiên, xét về bảnchất, các đảng phái chính trị này đều mang tính nhất nguyên tư sản, đại biểu vàbảo vệ lợi ích giai cấp tư sản nói chung, thực hiện chính sách chống cộng và tiến

bộ xã hội Hiện nay, các tư tưởng gia tư sản cố làm cho người ta lầm tưởng rằngcác đảng tư sản cầm quyền không can thiệp và chi phối tới hoạt động của Nhànước, chính phủ tư sản Song thực tế cho thấy, các đảng tư sản cầm quyền có vaitrò quyết định về mọi mặt của Nhà nước và chính phủ tư sản, buộc Nhà nước,chính phủ đó phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản và các tập đoàn tư bản

Trong HTCT tư sản, bên cạnh các đảng chính trị cầm quyền thì giai cấp tưsản còn có nhiều đảng phái tư sản khác, liên minh với đảng cầm quyền, hoặc làđảng đối lập trong Nghị viện tư sản Nhưng điều đó không có nghĩa là chúngkhác nhau về bản chất tư sản Nếu có khác chăng là sự khác nhau về lợi ích cục

bộ của các tập đoàn tư bản, về các thủ đoạn chính trị, về chính sách cụ thể nhỏnhặt không cơ bản, phản ánh mâu thuẫn trong lòng giai cấp tư sản và chủ nghĩa

tư bản mà thôi

Hiện nay bọn chống cộng, cơ hội - xét lại và một số kẻ đồng loã vớichúng tìm mọi cách chứng minh rằng Nhà nước tư sản là "Nhà nước phúc lợichung", "là người trọng tài vô tư của xã hội", là "Nhà nước dân chủ và nhân đạovới tất cả mọi người" "đứng trên các giai cấp, không mang tính giai cấp" v.v

và v.v Thật ra, từ bản chất, đến các quan điểm, chính sách đối nội, đối ngoại,nhà nước tư sản đều thể hiện đó là bộ máy đắc lực bảo vệ trung thành lợi ích củagiai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản, biểu hiện quyền lực tập trung, chủ yếu củagiai cấp tư sản, thực hiện sự thống trị xã hội, dù nó có tổ chức dưới bất kỳ hìnhthức nào: quân chủ lập hiến hay cộng hoà đại nghị, độc tài hay tam quyền phânlập

Trong nền chuyên chính tư sản còn có các tổ chức chính trị - xã hội do giaicấp tư sản lập ra, được sự bảo trợ của Nhà nước tư sản như các hiệp hội, uỷ ban,các phong trào nhằm củng cố cơ sở xã hội của nó và chia rẽ, lôi kéo quần chúngphá hoại các tổ chức chính trị - xã hội tiến bộ và cách mạng

Phân hệ thứ hai, là các nhân tố chịu ảnh hưởng tư tưởng tư sản do các tầng

lớp xã hội khác lập ra như các đảng cải lương, các công đoàn vàng, các tổ chức

Trang 11

tôn giáo Nhìn chung, các tổ chức này đứng trên lập trường tư sản, chống cộngsản, thái độ dao động, ngả nghiêng lúc "tả" lúc hữu.

Phân hệ thứ ba là các tổ chức chính trị - xã hội đối kháng với nền chuyên

chính tư sản Về danh nghĩa, các tổ chức này được pháp luật tư sản thừa nhận hoạtđộng hợp pháp, công khai, tham gia vào đời sống chính trị tư sản Đó là các ĐảngMác - Lênin, các tổ chức có xu hướng xã hội chủ nghĩa, các đoàn thể do ĐảngCộng sản tổ chức, lãnh đạo, đây là lực lượng đi đầu trong cuộc đấu tranh vì dânsinh, dân chủ và tiến bộ xã hội trong các nước tư bản chủ nghĩa Ở đây cũng cầnphải thấy rằng, sự hoạt động hợp pháp công khai của các lực lượng chính trị nàydưới chủ nghĩa tư bản không phải là sự thay đổi bản chất của chủ nghĩa tư bản, làtính "nhân đạo" "dân chủ", "tôn trọng nhân quyền" của chủ nghĩa tư bản như cácluận điệu tuyên truyền tư sản lừa bịp Trái lại, đó là kết quả của quá trình đấu tranhlâu dài, bền bỉ, trải qua bao hy sinh thử thách mà các lực lượng cách mạng, tiến bộmới giành được; là thắng lợi của xu thế tiến bộ của thời đại; ảnh hưởng của CNXHhiện thực; tương quan so sánh lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng trong

xã hội tư bản

Những thực tế đó, buộc CNTB phải thi hành thủ đoạn "điều chỉnh thíchnghi", nhằm xoa dịu cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân laođộng, "điều hoà" mâu thuẫn xã hội, tháo ngòi nổ xung đột xã hội hòng giữ cho

sự ổn định chính trị của CNTB

1.3 Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa

Hệ thống chính trị XHCN là một hệ thống các tổ chức chính trị - xã hộicùng với những thể chế bảo đảm thực hiện quyền lực của nhân dân lao động dochính đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo

Về cấu trúc: Hệ thống chính trị XHCN bao gồm Đảng Mác-Lênin Nhànước XHCN, các tổ chức chính trị - xã hội nhân dân dưới sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản

Hệ thống chính trị XHCN được hình thành và hoàn thiện trong quá trìnhxây dựng CNXH Cơ sở kinh tế của nó là chế độ kinh tế XHCN Chế độ kinh tếnày trong thời kỳ quá độ là nền kinh tế nhiều thành phần đa dạng về hình thức

sở hữu, trong đó thành phần kinh tế XHCN giữ vai trò chủ đạo, dần dần tiến tớixác lập chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu Cơ sở xã hội - giai cấpcủa hệ thống chính trị XHCN là khối liên minh bền vững giữa giai cấp côngnhân với giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức và các tầng lớp nhân dân lao độngkhác dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân

Trang 12

Về bản chất, hệ thống chính trị XHCN là HTCT nhất nguyên thể hiện ở vaitrò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với HTCT và toàn xã hội; Nhà nước XHCNthực sự là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, dân chủ với đại đa số nhân dân,chuyên chính với các hành động vi phạm lợi ích của nhân dân và dân tộc Cácđoàn thể chính trị xã hội đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, hoạt độngtrong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, đại biểu cho ý chí, lợi ích của các tầnglớp nhân dan, phấn đấu vì sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc.

Hệ thống chính trị XHCN là một chỉnh thể thống nhất về mục đích, tưtưởng chính trị và tổ chức theo nguyên tắc XHCN Bởi vậy, hệ thống chính trịXHCN khác hẳn về bản chất so với HTCT tư sản và ở tính không đối kháng củanó

Dĩ nhiên, trong quá trình hoạt động, các thành tố cấu thành hệ thống có vịtrí, chức năng, phương thức tổ chức và hoạt động riêng; hoặc trong mối quan hệgiữa các thành tố có thể nảy sinh mâu thuẫn (không đối kháng) nào đó; hoặc vậnhành thiếu đồng bộ, nhịp nhàng, cần sớm phát hiện điều chỉnh

Thực chất hệ thống chính trị XHCN là hệ thống chuyên chính vô sản; là thiếtchế, cơ chế chính trị thể hiện và bảo đảm vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân,quyền lực chính trị thuộc về nhân dân, lãnh đạo và tổ chức cải tạo xã hội cũ, xâydựng xã hội mới Do đó, có thể nói, xét về bản chất, HTCT trong giai đoạn cáchmạng dân tộc dân chủ nhân dân, trong thời kỳ quá độ lên CNXH và trong xã hộiXHCN đã được thiết lập về căn bản, đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản,mang bản chất giai cấp công nhân, phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng XHCN Tuynhiên, trong mỗi giai đoạn cách mạng có mục tiêu nhiệm vụ cụ thể nên HTCT cũng

có nhiệm vụ, chức năng phù hợp tương ứng với điều kiện, đặc điểm lịch sử từngthời kỳ; thể hiện biện chứng giữa tính liên tục và tính giai đoạn trong quá trình pháttriển của hệ thống chính trị XHCN

Khi nghiên cứu hệ thống chính trị XHCN nói chung, cũng cần lưu ý một sốtrường hợp ở một số nước XHCN nào đó, trong HTCT cũng bao gồm một sốchính đảng không phải là Đảng Cộng sản, đại biểu cho một tầng lớp nào đó,chấp nhận cương lĩnh xây dựng CNXH, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản khôngtranh giành quyền lãnh đạo với Đảng Cộng sản Tình hình đó là do xuất phát từđiều kiện lịch sử cụ thể, trong cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, ĐảngCộng sản nắm ngọn cờ lãnh đạo, sau khi cách mạng thành công thực hiện sựchuyển biến lên cách mạng XHCN Ở đây, chế độ đa đảng, song không phải đađảng đối lập, không phải là đa nguyên chính trị

2 Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay.

Trang 13

2.1 Cấu trúc - chức năng hệ thống chính trị nước ta hiện nay

- Ở nước ta hiện nay, HTCT bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam; Nhà nướccộng hoà XHCN Việt Nam; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chínhtrị - xã hội và một số hội mang tính chính trị

- Chức năng chung của HTCT nước ta "là xây dựng và từng bước hoànthiện nền Dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân" (1)

Trên cơ sở chức năng chung và căn cứ vào vị trí, vai trò của nó mà mỗithành tố cấu thành HTCT lại có chức năng, nhiệm vụ riêng

+ Đảng Cộng sản Việt Nam "là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đạibiểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dântộc" (2)

Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo xã hội, lãnh đạo HTCT vàcác tổ chức chính trị - xã hội Đồng thời Đảng Cộng sản Việt Nam là thành viêncủa HTCT, vừa là người lãnh đạo, vừa là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

"Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạtđộng trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật"(1)

+ Nhà nước cộng hoà XHCN Việt Nam là trụ cột của HTCT, "tổ chức thểhiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, có đủ quyền lực và khả năng định

ra luật pháp và tổ chức quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật" (2)

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là "liên minh chính trị của các đoàn thể nhândân và cá nhân tiêu biểu là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân" "Mặttrận hoạt động theo phương thức hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhấthành động giữa các thành viên theo chương trình chung" (3)

- Các đoàn thể nhân dân "vận động đoàn viên, hội viên giúp nhau chăm lo,bảo vệ các lợi ích thiết thực; vừa giáo dục nâng cao trình độ mọi mặt cho đoànviên, hội viên; vừa tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội"(4)

2.2 Một số đặc trưng của hệ thống chính trị nước ta hiện nay.

(1)(1) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb ST, H, 1991, tr.19 (2)(2) SĐD, tr 21.

(1)(1) SĐD, Tr 21.

(2)(2) SĐD, Tr 19.

(3)(3) SĐD, Tr 20.

(4)(4) SĐD, Tr 20.

Trang 14

* Đặc trưng thứ nhất: Tính nhất nguyên chính trị.

HTCT nước ta không có sự tồn tại của các Đảng chính trị đối lập ĐảngCộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo HTCT Đây là vấn đề có tính nguyêntắc, bảo đảm cho sự tồn tại và vững mạnh của HTCT, bảo chất giai cấp côngnhân của Nhà nước, thực hiện và phát huy dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lựcthuộc về nhân dân

Cơ sở lý luận của nó trước hết xuất phát từ sứ mệnh lịch sử của giai cấp

công nhân là lực lượng xã hội xoá bỏ chế độ xã hội cũ, sáng tạo xã hội mới Giaicấp công nhân muốn hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình tất yếu phải có sựlãnh đạo của Đảng Mác- Lênin Nói cách khác, Đảng Mác-Lênin là nhân tốquyết định sự thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Do đó giữ vững

và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với HTCT và toàn

xã hội là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng XHCN

Thứ hai, xuất phát từ bản chất chính trị của Nhà nước, Nhà nước bao giờ

cũng mang bản chất của giai cấp tạo nên nó; đối với Nhà nước ta, đó là nhànước mang bản chất của giai cấp công nhân, là công cụ bạo lực sắc bén và tổchức duy trì, quản lý xã hội về mọi mặt Vấn đề chính quyền là vấn đề cơ bảncủa mọi cuộc cách mạng, do đó Nhà nước XHCN phải được giữ vững và tăngcường, trong sạch và vững mạnh Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với HTCT

và Nhà nước là bảo đảm cho Nhà nước ta thực sự mang bản chất giai cấp côngnhân, là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, thực hiện dân chủ với nhân dân,chuyên chính với những hành động xâm phạm lợi ích của nhân dân và lợi íchdân tộc Đồng thời sự lãnh đạo đó định hướng cho các hoạt động của Nhà nướcđúng đắn, khắc phục những khuyết tật nảy sinh của bộ máy và công chức Nhànước

Thứ Ba, từ bản chất của chế độ dân chủ XHCN là quyền làm chủ của nhân

dân lao động trên tất cả các lĩnh vực xã hội; HTCT là thiết chế, cơ chế bảo đảmthông qua đó nhân dân thực hiện quyền làm dân chủ của mình Tuy nhiên quyềndân chủ của nhân dân chỉ được thực hiện và phát huy cao độ, có hiệu quả tíchcực khi có định hướng chính trị đúng đắn, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản,khắc phục những nhận thức và hành vi sai trái về dân chủ như: dân chủ tư sản,dân chủ tự phát, cực đoan, vô chính phủ, coi thường kỷ cương, sự thờ ơ chínhtrị

Thứ tư, sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với HTCT và xã hội không phải

là áp đặt, mà là sứ mệnh lịch sử giao phó cho Đảng cộng sản Việt Nam; đồngthời, Đảng ta xứng đáng với sứ mệnh cao cả đó và sự tin cậy của nhân dân ta đối

Ngày đăng: 06/03/2017, 14:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w