1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thư mục nghiên cứu văn hóa việt nam của GS bửu cầm

50 319 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 523,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mong muốn thu thập, khảo sát toàn bộ những thảnh tựu lao động của một nhà giáo, nhà nghiên cứu có tâm, có tài từ lâu đã khẳng định được vai trò và uy tín trong nhiều lĩnh vực chúng t

Trang 1

TÁC GIẢ: Lê Thị Thanh Thảo

MỞ ĐẦU

1 Lý do và mục đích chọn đề tài

Giáo sư Bửu cầm là một chuyên gia nghiên cứu hàng đầu về Hán học ở Việt Nam,

đã từng là giảng viên giảng dạy môn Hán Nôm và các môn về lịch sử ở đại học Văn khoa Sài Gòn Với sự nghiệp nghiên cứu lâu năm, ông đã có nhiều cống hiến lớn trên nhiều lĩnh vục, văn hóa, lịch sử địa lý và đặc biệt là những thành quả trong lĩnh vục Hán- Nôm Nhiều

bài nghiên cứu của tiên sinh đã được công bố trên các tuần báo như: Văn hóa nguyệt san,

Đồng Nai văn tập, Tập san sử địa, Tập san khảo cổ và xuất bản trên hai mươi đầu sách về các lĩnh vực

Với những đóng góp to lớn ấy, Bửu cầm tiên sinh đã để lại những tư liệu nghiên cứu quý giá có ích rất nhiều cho những công trình nghiên cứu nối gót tiên sinh và cũng là nguồn tài liệu tham khảo phong phú Với mong muốn thu thập, khảo sát toàn bộ những thảnh tựu lao động của một nhà giáo, nhà nghiên cứu có tâm, có tài từ lâu đã khẳng định được vai trò và uy tín trong nhiều lĩnh vực chúng tôi thực hiện đề tài “Thư mục nghiên cứu văn hóa Việt Nam của giáo sư Bửu Cầm” nhằm hệ thống lại toàn bộ thành quả nghiên cứu của giáo sư để làm tài liệu tham khảo cho ngành Hán Nôm và các lĩnh vục khác

Thông qua việc hệ thống lại toàn bộ những bài viết, tác phẩm của tiên sinh Bửu Cầm chúng tôi sẽ thu được một pho tư liệu phong phú đồng thời có cở sở nhìn nhận, đánh giá vai trò và giá trị của những thành tựu của ông trong nhiều năm nghiên cứu

2 Đốì tượng và phạm vỉ nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích của đề tài, trong bài nghiên cứu khoa học này, chọn đối tượng

và phạm vi nghiên cứu là toàn bộ tác phẩm của tác giả Bửu Cầm được viết trên nhiều lĩnh

vực, được đăng trên nhiều tạp chí, và được in thành nhiều tập

sách

Trang 2

Chúng tôi mở rộng phạm vi tác phẩm so với tên đề tài là vì muốn khảo sát một cách toàn diện những đóng góp về các phương diện nghiên cứu của giáo sư Bửu Cầm Do đó, thư mục chúng tôi thực hiện ngoài những tác phẩm viết về văn hóa Việt Nam còn bao gồm các bài viết trên nhiều lĩnh vực khác cùa tác giả

3 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

Đồ tài được nghiên cứu trên cơ sở lí luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đảng Cộng sản Việt Nam

Bài viết của chúng tôi sẽ phối hợp sử dụng các phương pháp sau:

Sưu tầm các bài viết và sách đã xuất bản của giáo sư Bửu cầm

Thống kê, phân loại và trình bày thành thư mục nghiên cứu

- Ngoài ra chúng tôi còn kết hợp sử dụng các phương pháp như: phân tích, tổng hợp, so sánh, liệt kê

4 Tinh hình nghiên cứu đề tàỉ

Đe tài về thư mục giáo sư Bửu cầm là một đề tài hoàn toàn mới, trước nay chưa có người thực hiện đề tài này

5 Ý nghĩa của công trình nghiên cứu

Ý nghĩa lí luận: Khẳng định quá trình nghiên cứu khoa học tận tâm và những thành tựu nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực của giáo sư Bửu cầm

Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp một thư mục về những tài liệu nghiên cứu của giáo sư Bửu Cầm, đồng thời cung cấp thư mục các tài liệu nghiên cứu về Hán Nôm và các lĩnh vực khác

Trang 3

Đề tài ngoài phần mở đầu và phần kết luận được kết cấu thành hai chương và 12 tiết

Trang 4

Chương 1 Tồng quan về thư mục nghiên cửu của giáo sư Bửu Cầm

1.1 Vài nét về tiễu sử Giáo sư Bửu cằm

Giáo sư Bửu cầm sinh năm 1920 tại Vỹ Dạ- Huế Là con đầu lòng của thi sĩ Ưng- Oanh và nữ sĩ Trịnh Thị Tố Dòng dõi của Tuy Lý Vương Miên Trinh

Thuở nhỏ vì sức khỏe kém, từ năm 10 tuổi đến năm 20 tuổi đau yếu liên miên, cho nên học với gia đình và tự học nhiều hơn học tại trường Năm 12 tuổi đã viết văn và làm

thơ Năm ngoài 20 chủ biên Tinh hoa văn tập và tập san Gió lên xuất bản tại Huế

Vì những hoạt động văn hóa nên được mời giảng dạy môn Việt văn tại trường Quốc Học Huế (1950)

Năm 1956 đổi vào Sài Gòn phụ trách phòng sưu tầm và khảo cứu Viện Khảo Cổ Năm 1958 được mời giảng dạy môn Hán- Nôm và các môn lịch sử Việt Nam, ngữ học Việt Nam, Triết học Đông Phương tại trường đại học Văn Khoa Sài Gòn

Năm 1969 được phong giáo sư diễn giảng Năm 1972 được thăng giáo sư thực thụ Viện đại học Sài Gòn Đã bảo trợ cho nhiều nghiên cứu sinh soạn luận án tiến sĩ và cao học Trong thời gian này, được bộ giáo dục cử đi hội nghị quốc tế về Trung Quốc (Hán học) ở

nước ngoài Đồng thời được cử tham gia ủy ban hỗ tương thẩm định giá trị văn hóa Đông

Tây của UNESCO và phái đoàn giao dịch với Trung tâm nghiên cứu văn hỏa Đông Nam Ả

tại Nhật Bản

(Tài liệu do gia đình giáo sư Bửu cầm cung cấp)

1.2 Mọt vài đặc điếm về thư mục nghiên cửu của giáo sư Bửu Cầm

1.2.1 Đăc điềm về nôi dung

Trang 5

Các bài viết của giáo sư Bửu cầm về nội dung rất phong phú, viết trên nhiều lĩnh vực Như trong phần thư mục chúng tôi sẽ trình bày cụ thể, bao gồm các phương diện sau: Nghiên cứu văn học, nghiên cứu văn hóa, các bài viết giới thiệu và chú thích, một phần nữa

là các bài viết tản mạn và một số bài thơ đã được in thành sách của tác giả

Nội dung các bài viết phong phú trên nhiều lĩnh vực, trong khuôn khổ mỗi bài viết lại có sự tham khảo nhiều tài liệu như các loại sách vở, thư tịch cổ, từ điển V V thể hiện một tác phong nghiên cứu khoa học cẩn trọng cùng bề sâu kiến thức phong phú, đa dạng

Chẳng hạn trong bài viết “Lam bản cuốn “Đoạn trường tân thanh ” của Nguyễn

Du" tác giả đã trích dẫn kết hợp sử dụng tư liệu từ nhiều sách, chúng tôi thống kê được gồm

Đoạn trường tân thanh, Giá sơn Kiều Oánh Mậu (chú thích), 1902

Việt Nam vẫn học sử yếu, Dương Quảng Hàm, Nhà in Vũ Hùng, Hà Nội,

1951

Tân từ điển, Trọng Văn Thao, Hương Cảng, Thế giới xã xuất bản, 1957

Cổ văn quan chỉ, Thượng Hải, Bách Tân thư điểm xuất bản

Trung Quốc văn học sử giảng thoại, Hồ Hành Chi, Thượng Hải, Quang hoa thư cục,

1932

Trung Quốc văn học sử giảng biên, Lục Khản Thư và Phùng Nguyên Quân, Khai

minh thư điếm in, Thượng Hải, 1949

Tiểu thuyết khảo chứng, Tưởng Thụy Thảo, Thượng Hải, Thượng vụ ấn thư quán,

1935

Đường thỉ hợp giải tiên chủ, Hương Cảng, Ngũ quế đường thư cụ ấn hành,

1951

Trang 6

Trung Quốc ngũ thiên niên đại sử ký, Lư Hy Văn, Hương Cảng, Kiến hoa thư cục,

1956

Đại Nam chỉnh biên liệt truyện sơ tập, Quyển XX

Đoạn trường tân thanh, Kim Vân Kiều tân tập, Việt Nam văn học sử yếu, Tăn từ điển (của Trọng văn Thao)

Cùng các loại từ điển như Từ nguyên, Từ hải, Trung Quốc danh nhân đại từ điển cùng một số sách sử như: Minh Sử, Chiết Giang thông chí ”

Với một số lượng sách tham khảo phong phú như thế cho thấy tác giả đã có một quá trình tích lũy tài liệu lâu dài, cùng với phần lý luận đã làm sáng tỏ được một vấn đề văn học, giúp người đọc biết rõ về thân thế cùng những vấn đề liên quan đến Thanh Tâm Tài

Nhân- tác giả lam bản cuốn Truyện Kiều của Nguyễn Du, là một tuyệt tác của nền rân hóa

Việt Nam

Trong bài viết của giáo sư Bửu cầm ngoài phần tư liệu rất phong phú, tác giả còn tham khảo, đối chiếu hàng loạt sách, tiếp thu những thảnh tựu của những nhả nghiên cứu đi trước, thể hiện một thái độ nghiên cứu nghiêm túc cho nên đã cung cấp cho người đọc những kiến thức phong phú, rất đáng tin cậy

Trong các bài nghiên cứu nhiều khi tác giả còn sử dụng tài liệu của các ngành khác

để bổ trợ thêm cho vấn đề nghiên cứu Chẳng hạn như nghiên cứu về nguồn gốc chữ Nôm trong phần nêu luận đề ông nêu lên có ý kiến cho rằng vào thời thượng cổ dân tộc Việt Nam

đã có một thứ văn tự riêng mà người Mường Thanh Hóa đến nay còn dùng, tác giả cho rằng thuyết này có liên quan đến thuyết nhân chủng học:

“Người Việt Nam và người Mường nguyên là cùng chủng tộc, nhưng sau khỉ có cuộc tiếp xúc với người phương Bắc, những người Việt đồng bằng ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, còn những người Việt bất hợp tác với di tộc, rút vào rừng núi, tức là người Mường bấy giờ, thoát khỏi ảnh hưởng Trung Hoa và giữ được phong tục cùng ngôn ngữ cũ” 1

1 Bửu Cầm, Nguồn gốc chữ Nôm, Văn hóa nguyệt san, 1960, số 50, Tr.347

Trang 7

Như vậy, bên cạnh sử dụng kiến thức chuyên ngành tiên sinh còn vận dụng kiến thức của ngành có liên quan là dân tộc học để người đọc có thể tiếp thu vấn đề từ nhiều phương diện, hiểu thêm về đối tượng nghiên cứu trong bài viết

Ngoài những kiến thức phong phú, đa dạng các bài viết của tiên sinh Bửu Cầm còn được trình bày trên cơ sở kế thừa và sáng tạo Sự kế thừa ở đây biểu hiện qua việc tác giả trong bài viết của mình tham khảo rất nhiều sách vở cùng những quan điểm của những người nghiên cứu đi trước Có nhiều vấn đề trước khi đưa ra ý kiến đánh giá của mình tác giả trình bày quan điểm của nhiều nhà, sau đó dùng lí luận và dẫn chứng để bác bỏ hay tán đồng

Chẳng hạn trong bài viết “Lam bản cuốn Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du” tiên sinh đã đưa ra ba quan điểm nhận dạng tác giả Kim Vân kiều truyện:

íí l) Truyện Kiều có lẽ lẩy ở truyện Vương Thúy Kiều EESỆÊấ trong thuyết bộ Ngu

sơ tăn chí M$JĨJĨnỀ, tác giả tên Dư Hoài

2) Truyện Kiều đã theo một truyện trong Phong tình cổ lục AtẾĩỉĩíỆlà bộ sách chép những truyện phong tình đời xưa

3) Nguồn gốc Truyện Kiều của Nguyễn Du là quyển tiểu thuyết Trung Hoa

nhan đề Kim Vân Kiều truyện ^ểkMềỉliS do một tác giả hiệu là Thanh Tâm Tài Nhân

soạn ra về cuối thế kỷ thứXVI hoặc đầu thế kỷ XVIT’ 1

Với ba thuyết này tác giả tiếp tục đưa ra những lập luận cùng dẫn chứng cụ thể để bác bỏ hai thuyết đầu và tán thành thuyết thứ ba Trên cơ sở sự kế thừa này người viết tiếp tục trình bày những ý kiến cùng tài liệu nghiên cứu của mình để làm sáng tỏ về con người được mệnh danh Thanh Tâm Tài Nhân Qua bài viết chúng tôi thấy rằng tiên sinh đã đưa ra nhiều tư liệu thuyết phục và đã trình bày được những vấn đề về thân thế, con người của tác giả Thanh Tâm Tài Nhân Bài viết ngoài ra còn rất thú vị vì tác giả đã đưa ra một thêm vài nhận xét tinh tế giúp

1 Bửu Cầm, Lam bản cuốn Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, Tập san Khảo cổ,

1966, số 4, Tr.6

Trang 8

ta hiểu thêm không chỉ về Thanh Tâm Tài Nhân mà còn về mối quan hệ giữa những cái tên sách viết về Vương Thúy Kiều- một người con gái tài hoa bạc mệnh cùng quá trình Nguyễn

Du tìm ra và chuyển thể “Đoạn trường tân thanh ” theo phong cách thơ dân tộc

Cùng một cách trình bày nội dung có tính chất kế thừa ấy, trong bài viết nghiên cứu

về chữ Nôm, tác giả cũng đưa ra hàng loạt ý kiến của những người đi trước, như: Văn đa

cư sĩ, Sở cuồng Lê Dư, Phạm Huy Hổ sau đó bằng lý luận tán thành hoặc bác bỏ những ý kiến đó, đồng thời đưa ra nhận xét riêng và giả thiết riêng của mình

Việc sử dụng các tài liệu trong sách tham khảo cũng là một sự kế thừa tích cực, được tiên sinh vận dụng triệt để Chúng ta có thể khẳng định một điều rằng trong các bài viết của mình tiên sinh bao giờ cũng tham khảo các tài liệu của nhiều loại sách, bất kể bài nghiên cứu dài hay ngắn đều không bỏ qua thao tác này

Từ những cái nhìn của người nghiên cứu đi trước tiên sinh đã biết chọn lọc và đưa vào bài viết của mình những ý kiến, quan điểm để có thể tổng hợp đánh giá vấn đề từ góc

độ khoa học và khách quan Phương thức này rất thường thấy trong nghiên cứu khoa học,

là cách vận dụng những công trình đã có sẵn, tuy nhiên tiên sinh không chỉ tham khảo mà còn đưa ra nhiều kiến giải, mở ra nhiều hướng thể hiện sự sáng tạo trong nghiên cứu

Chẳng hạn khi phân chia thơ đời Đường người ta thường phân chia theo các giai đoạn Sơ Đường, Trung Đường, Thịnh Đường Giáo sư Bửu cầm không tán đồng cách phân chia này, ông cho rằng:

“Xét ra cách phân chia thời kì trên đây không hợp lý, vì không cắm được những cải mốc quan trọng cho lịch sử đời Đường Một triều đại dài gần 300 năm (618- 906), nhà Đường trong khoảng thời gian đó đã có những cuộc chiến tranh với các nước ngoài và những cuộc nội loạn; nhưng ta phải kể cuộc biến loạn của An Lộc Sơn và Sử Tư Minh năm

755 là quan trọng hơn hết, đã làm cho vua Đường (Huyền Tông) phải chạy vào đất Thục,

và khiến cho trăm họ thống khổ, lầm than

Trang 9

Cuộc biến loạn ẩy đã đem lại cho nhà Đường một sự thay đổi lớn về phương diện chỉnh trị,

xã hội, cũng như về phương diện văn học

Bởi vậy, trong bài này, luận về các thi phái đời Đường, chủng tôi chỉ chia làm hai thời kì: Trước loạn An, Sử và sau loạn An, Sử” 1

Với cách phân chia mới tác giả đã khái quát ngắn gọn mà súc tích toàn bộ giá trị thơ ca đời Đường qua tiêu chí thi phái, những lí lẽ trình bày của tác giả có hệ thống và tương đối hoàn chỉnh, là một tài liệu tham khảo thể hiện được một cái nhìn mới về thơ Đường Một bài viết khác nghiên cứu về văn học Trung Quốc, tác giả đã đưa ra ý kiến đánh giá

khác với sử gia Tư Mã Thiên về nguồn gốc Kinh Thi, ông nói rằng:

“Căn cứ vào những lời biện luận trên đây, chúng ta cỏ thể tin rằng: Những bài thi

ca xưa đến đời Khổng Tử đã bị tàn khuyết rất nhiều, chỉ còn lại chừng hơn ba trăm thiên Neu Khống Tử có chỉnh lí Kinh Thi, cũng chỉ bỏ bớt những câu, những chữ toi nghĩa hoặc rườm rà, chứ không phải chọn lấy một phần mười như Tư Mã Thiên đã nói” 2

Trong bài nghiên cứu về nguồn gốc văn thể lục bát tiên sinh đã khẳng định thể văn lục bát không có nguồn gốc từ thư tịch Trung Hoa như một số người vẫn lầm tưởng, đồng thời thể văn này cũng không phải là tài sản riêng của dân tộc Việt Nam, người Thái và người Chàm đều có Như thế nguồn gốc văn thể lục bát là một vấn đề cần được xác định thêm, không thể đưa ra những nhận xét tùy tiện Bài viết của tiên sinh giúp chúng ta hiểu thêm về văn thể lục bát cùng nguồn gốc của nó, xưa nay người Việt Nam vốn tự hào về thể thơ lục bát thế nhưng không phải ai cũng hiểu rõ về nó Cuối bài tác giả đã tổng kết như sau:

“Ba dân tộc Việt, Thái, Chàm đều cỏ lục bát Duy người Trung Hoa không có văn thể ẩy, mặc dầu lời Hào ở quẻ Khôn trong Kinh Dịch có một câu được xem như lục bát, nhưng đó chỉ là một sự ngẫu nhiên, bởi vì nếu người Trung Hoa đã biết làm lục bát thì họ phải có những câu hát, bài vè hoặc tác phẩm trường thiên

1 Bửu Cầm, Các thỉ phái đời Đường, Văn hóa nguyệt san, 1961, số 64, Tr.1153/131

2 Bửu Cầm, Tìm hiểu Kỉnh Thi, Văn hóa nguyệt san, 1959, số 45, Tr.1304

Trang 10

để chứng minh việc đó, thể mà quyển Kinh Thi là một tuyển tập dân ca của họ cũng vẫn không thấy cỏ bài nào làm theo thể ỉục bát cả” 1

Ngoài ra ông còn khảo cứu và chứng minh một vài vấn đề về nguồn gốc văn bản,

với dẫn chứng cụ thể ông nêu lên tác giả bài thơ Bán than không phải của Trần Khánh Du, một vuơng thất nhà Trần Hay ông đã giới thiệu sách Kiến văn lục của Vũ Nguyên Hanh, khẳng định sự khác nhau của cuốn sách này với Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, truớc nay “ít người biết vì thế có sự ngộ nhận” giữa hai tác phẩm này Với bài viết của mình tác

giả đã đã cung cấp cho nguời đọc những tu liệu chính xác, dựa trên cơ sở khoa học về nguồn gốc của những tác phẩm ấy

Tính dân tộc là một trong những biểu hiện rõ nét trong các bài viết của giáo su Bửu Cầm, nhất là các bài giới thiệu và chú thích một số tác phẩm chữ Nôm của dân tộc Các tác phẩm này đã đuợc tiên sinh dày công suu tầm, chú thích kĩ càng sau đó mới giới thiệu cho nên không những cung cấp những tu liệu quý giá mà còn có ý nghĩa to lớn Chữ Nôm vốn

là niềm tụ hào của dân tộc Việt Nam, tác giả đã dày công trong suu tầm, nghiên cứu và giới thiệu các tác phẩm chữ Nôm chính là đã đóng góp công sức rất lớn trong bảo luu và phát huy tinh hoa văn hoá của dân tộc Một điều đáng quý hơn là tâm huyết của tác giả gởi gắm trong các bài viết bên cạnh việc suu tầm, giới thiệu tác giả còn đua ra những đánh giá tinh

tế trên cơ sở là nguời huớng dẫn phát hiện những vẻ đẹp cùng giá trị ẩn sau những văn bản

đó

Trong bài giới thiệu tác phẩm Nam cầm Khúc tiên sinh đã giới thiệu phần nguyên

văn và dịch thơ lục bát một tác phẩm của Tuy Lý Vuơng, đồng thời đua ra nhận xét:

“Tang thương hằng bày ra trước mắt, thể cuộc đầy rẫy những vật đổi sao dời, những lời tao nhân bất hủ vẫn còn phảng phất với non sông

1 Bửu Cầm, Thử tìm nguồn gốc văn thể lục bát, Văn hóa nguyệt san, 1962, số 69, Tr 195/7

Trang 11

Bảng “Nam cầm khúc phiên dịch quốc âm ca’’ của Di Hiên tiên sinh là một hương hỏa quý báu của văn học Việt Nam, mà kẻ viết bài này tự nhận thấy cỏ bổn phận phải đưa

ra giới thiệu với tất cả những ai thường lưu tâm đến vấn đề quốc học” 1

Lời khen của tiên sinh không chỉ xác nhận giá trị của Nam cầm khúc mà hơn thế

nữa còn bộc lộ niềm yêu thích và tự hào về những áng văn chương đặc sắc của dân tộc

Một bài viết khác của tiên sinh giới thiệu về Thanh Hóa quan phong - Một tác phẩm được đánh giá như một tập Kinh Thi của Việt Nam, sau khi sơ lược về nguồn gốc và kết cấu tác phẩm cùng một vài trích dẫn, tác giả đã tổng kết như sau: “Tóm lại, “Thanh

Hóa quan phong” là một tài liệu quý giá khả dĩ giúp chủng ta nghiên cứu dân ca Việt Nam, vì Thanh Hỏa, nơi đã phát quật được nhiều trổng đồng, chinh là dao lam của văn hóa Lạc Việt” 2

Chúng tôi thấy rằng sau khi tham khảo những tác phẩm tiên sinh giới thiệu so với nhận xét của ông rất là hợp lý Thật bất ngờ khi biết rằng trong nền văn học Việt Nam có

một tác phẩm giống như Kinh Thi của người Trung Quốc, lưu giữ những câu ca dao dân ca

chủ yếu ở địa phương Thanh Hoá, một khu vực có nền văn hoá lâu đời của dân tộc Những bài dân ca trong sáng vừa lạ vừa quen, bởi đây là những câu đặc trưng của người Thanh Hoá nhưng cũng là tài sản chung nằm trong kho tàng ca dao dân ca của dân tộc Một số bài rất hay và đặc sắc, chúng tôi xin trích dẫn vài câu minh chứng:

“Ruột tằm chỉn khúc vò tơ,

Biết lòng chàng có đợi chờ ta chăng?

Ngọn đèn thấp thoảng bóng trăng,

Ai đem người ngọc thung thăng chốn này?

1 Bửu Cầm, Nam cầm khúc, một áng văn chương miền Trung, Văn hóa nguyệt san, 1957,

số 20, Tr.26

2 Bửu Cầm, Thanh Hóa quan phong- Một quyển Kỉnh Thi của Việt Nam, Tạp chí đã dẫn, Tr.8

Trang 12

Đôi ta làm bạn thong dong,

Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng

Bởi chưng thầy mẹ nói ngang,

Đe cho đũa ngọc mâm vàng cách xa ” J

Có thể nói rằng tính dân tộc trong các bài viết của giáo sư Bửu cầm chính là hướng đến những đề tài nghiên cứu về văn hóa dân tộc trên các bình diện về văn hóa, văn học như nghiên cứu về Văn hoá Lý- Trần, quốc hiệu nước ta, nguồn gốc chữ Nôm, về học chế ở Việt Nam qua các triều đại, quốc hiệu Đại Nam và Việt Nam nhưng đặc biệt trong các bài viết giới thiệu tác phẩm chữ Nôm và một số tác phẩm khác tính dân tộc biểu hiện rõ ràng nhất

1.2.2 Đăc điếm về hình thức

Cách trình bày vấn đề bao giờ cũng là một yếu tố quan trọng để phần nội dung được thể hiện một cách có hiệu quả nhất Qua các bài viết của giáo sư Bửu Cầm chúng tôi nhận thấy tiên sinh đã có cách trình bày khoa học, vừa đầy đủ nội dung, cô đọng lại ngắn gọn, dễ hiểu và có tính thuyết phục toát lên từ những luận cứ, luận chứng, lập luận lôgic, xác đáng Trong cách trình bày các vấn đề tiên sinh chuyển tải nội dung bằng nhiều phương pháp khoa học, đặc biệt là phần phụ lục chú thích rõ ràng, hệ thống, có tính tham khảo cao Văn phong của tiên sinh giản dị, dễ hiểu, ngôn ngữ trong sáng, hành văn lưu loát, lối viết của ông cũng rất đa dạng, trong từng trường hợp có khi thuần túy về nghiên cứu, có lúc lại kèm theo cảm xúc, trữ tình đặc sắc

Trước hết, về phương diện biểu hiện qua các bài viết của tiên sinh chúng tôi nhận thấy ông đã sử dụng nhuần nhuyễn và thành công các phương pháp trong nghiên cứu khoa học như: Phân tích, tổng hợp tài liệu, so sánh, liệt kê

1 Bửu Cầm, Thanh Hóa quan phong- một quyển Kinh Thi của Việt Nam, Tạp chí đã dẫn,

Tr 7

Trang 13

Phần lớn các bài viết của tiên sinh có sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để qua

đó làm sáng tỏ vấn đề, có cơ sở để tạo lập luận vững chắc Đây cũng là một khâu quan trọng trong nghiên cứu, dựa trên các tài liệu có sẵn để phân tích và đưa ra những nhận định hết

sức thận trọng, không mang tính chủ quan Chẳng hạn trong bài viết về “'Khúc Thừa Dụ và

phong trào đòi quyền tự chủ của người Giao Chỉ cuối đời Đường” tác giả đưa hàng loạt các

tài liệu trong các sách sử:

“Đại Việt sử ký toàn t h ư ỹ n g o ạ i kỷ, quyển 5, tờ 17a, chép: “Năm canh tỷ (Hiệu Quảng Minh thứ nhất của Đường Hy Tông) quân của phủ ta làm loạn, Tiết

độ sứ Tăng cổn bỏ thành chạy”

Đại Việt sử ký tiền biên^Ẩ'/ÍẾJé!/fdMíềÊ, ngoại kỷ, quyển 6, tờ 22a: “Chúa Nam chiếu ĨỆỊịĩỉỉlà Tù Pháp tỆỈỀvào cướp phả [ ], quan đô hộ là Tăng cổn chạy sang Ung Châu ẵầỷli Thú binh tan vỡ ”

An Nam chi lược^^TỀữấ\ hiệu bản của viện đại học Huế, 1961, phần chữ Hán, trang 105: “Lúc bẩy giờ vua Nam Chiếu là Tù Long Miẫ mất, con là Pháp nổi ngôi, tự xưng hiệu Đại Phong N h â n c ử binh sang An Nam, Tăng cổn chạy sang Ung Châu, đạo quân Đồn thú tan rã ”

Hoàng Việt giáp tỷ niên biểuỂbỉỂì-PĩP^T-TỊc, quyển thượng, trang 302: “Quân Nam Chiếu công hãm phủ đô hộ, Tiết độ sứ cu ả nhà Đường là Tăng cổn chạy sang Ung Châu, người thổ hào là Khúc Thừa Dụ vào chiếm phủ thành và tự xưng Tiết độ sử.”1

Từ các cứ liệu lịch sử trên tác giả đã phân tích và đưa ra lập luận rằng:

“Xét những sử liệu dẫn trên, chúng ta dám nói rằng họ Khúc đã thổi vào tâm hồn người Giao Chỉ thời bẩy giờ một luồng dũng khỉ khả dĩ gây được cái tin h thần tự cường bất khuất Nhờ thế cho nên mặc dầu Thừa Mỹ chiến bại và bị địch bắt, nhưng tiếp theo đỏ

đã cỏ Dương Diên Nghệ một nha tướng của họ

1 Bửu Cầm, Khúc Thừa Dụ và phong trào đòi quyền tự chủ của người Giao Chỉ cuối đời

Đường, Văn hóa nguyệt san, 1963, số 78, Tr.157

Trang 14

Khúc, đứng lên quyết chỉ báo thù và đã đuổi được Lý Khắc Chỉnh, Lý Tiến, lại giết được Trần Bảo, một tướng Nam Hán đem quân tiếp viện đến cứu Lý Tiến Đen lúc Dương Diên Nghệ bị nha tướng là Kiểu Công T i ệ n p h ả n bội giết chết, thì lại cỏ Ngô QuyềnMậịẵ, con rể của Diên Nghệ khởi bỉnh giết được Công Tiện và phá tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng Tuy Ngô Quyền đã mở kỷ nguyên độc lập cho nước ta, nhưng cứ bình tình mà xét, chúng ta phải thừa nhận Khúc Thừa Dụ là người đã khởi xướng phong trào đòi quyền tự chủ của dân tộc ta về cuối thế kỷ thứ IX và đầu thế kỷ thứx ,,ỉ

Ở đây tác giả đã có sự kết hợp giữa tổng hợp và phân tích các tài liệu đáng tin cậy

từ các quyển sách sử của dân tộc đã đưa ra những lập luận rõ ràng, vững chắc nêu lên một vấn đề lịch sử về những cuộc đấu tranh đòi quyền tự chủ của nhân dân thời kỳ trước khi Ngô Quyền đánh quân Nam Hán Thông qua bài viết cùng những kết luận của tác giả chúng

ta có thể hiểu thêm về lịch sử đáng tự hào của dân tộc, thì ra trước khi có được chiến thắng trên sông Bạch Đằng oanh liệt, những phong trào đấu tranh giành độc lập đã nổi lên và Khúc Thừa Dụ chính là nhân vật khởi xướng phong trào trước Ngô Quyền vào thế kỉ X

Phương pháp phân tích tài liệu cùng tổng hợp được tiên sinh sử dụng rất có hiệu quả Bên cạnh đó phương pháp liệt kê cũng rất hay được giáo sư sử dụng Trong nghiên cứu phương pháp này tỏ ra đắc dụng với các vấn đề không cần phân tích mà đòi hỏi sự chính

xác và cô đọng Bài viết “Non sông gấm vóc và mùa xuân của dân tộc” phương pháp liệt

kê được tác giả vận dụng triệt để Chúng tôi xin trích dẫn đoạn sau đây tác giả khái quát về lãnh thổ Việt Nam dưới thời Gia Long đã trình bày:

“Dưới thời Gia Long toàn quốc chia làm 24 trấn và hai thành 1

1 Bửu Cầm, Khúc Thừa Dụ và phong trào đòi quyền tự chủ của người Giao Chỉ cuối đời

Đường, Tạp chí đã dẫn, Tr.162

Trang 15

Tại miền Bắc ngoài thành Thăng Long ra, có 11 trấn: Lạng Sơn, Kinh Bắc, Thái Nguyên, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Sơn Tây, An Quảng, Hải Dương, Sơn Nam thượng và Sơn Nam hạ

Tại miền Trung có 8 trấn, 3 doanh: 8 trấn là Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phủ Yên, Bình Hòa (Thái Khang cũ), Bình Thuận; Ba doanh (dinh)

là Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức ( Thừa Thiên)

Tại miền Nam, ngoài thành Gia Định (nay là Sài Gòn và Gia Định), có 5 trấn và 1 đạo: trấn Biên Hòa (doanh Trấn Biên cũ), trấn Gia Định, trấn Định Tường, trấn Vĩnh Thanh (châu Định Viễn và doanh Long Hồ cũ, sau là Vĩnh Long), Trấn Hà Tiên và đạo Chầu Đốc5,1

Rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu chính là ưu điểm của đoạn viết

Cũng có khi tiên sinh sử dụng phương pháp so sánh nhất là so sánh quan điểm nghiên cứu của những người đi trước So sánh để phân biệt và chỉ ra quan điểm nào phù hợp, đáng tin và quan điểm nào chưa phù hợp khi cùng nhìn vấn đề trên cùng một phương diện Trong bài nghiên cứu về nguồn gốc chữ Nôm, tác giả đưa ra nhiều quan điểm trong tài liệu, và so sánh các quan điểm đó Sau cùng trên cơ sở phê phán một vài quan điểm chưa

có căn cứ chính xác tác giả đã đưa ra nhận định chữ Nôm ra đời từ sau thời Sỹ Nhiếp và trước thời của Nguyễn Thuyên Nhận định của tác giả có căn cứ và lý luận cụ thể về sau được nhiều nhà nghiên cứu ghi nhận và phát triển thêm

Một bài khác tác giả cũng dùng phương pháp so sánh để nêu bật đối tượng được so

sánh và những điểm khác giữa hai đối tượng Tiên sinh giới thiệu Nam cầm khúc trong tương quan so sánh với Tỳ Bà hành- một điển hình nổi bật của văn học Trung Quốc, qua những phân tích đánh giá của người viết cùng bản dịch Nam cầm khúc người đọc có thể cảm nhận được vẻ đẹp của một Tỳ bà hành Việt Nam, rất riêng và cũng rất độc đáo 1

1 Bửu Cầm, Non sông gấm vóc và mùa xuân dân tộc, Vần hóa nguyệt san, 1964, Tập

xm- quyển 1, Tr.l

Trang 16

Những phương pháp nghiên cứu này giúp cho việc trình bày được trôi chảy, dễ hiểu, hiệu quả và khoa học Tuy nhiên chính cách viết với luận cứ chính xác, lập luận lôgic, mới

là phần quan trọng trong bài viết của tác giả

Chẳng hạn khi tìm hiểu về nguồn gốc danh xưng An Nam và thời gian ra đời danh xưng này tiên sinh đã đính chính lại ý kiến của Nguyễn Văn Tố sau khi đã dựa vào những

tài liệu trong Khâm định Việt sử thông giảm cương mục, Đại Việt sử kỷ tiền biên và Đại Việt

sử ký toàn thư đã cho rằng hai chữ An Nam đã có từ năm 264, vì năm đó nhà Ngụy cho Lã

Hưng làm An Nam tướng quân, Giao Chỉ Thái thú Theo Bửu cầm tiên sinh vấn đề này thật

ra nên nhìn dưới nhiều góc độ, và tiên sinh lý giải rằng:

“Theo sự khảo cứu của chúng tôi, thì năm 248, (hiệu Xích ô ỉé'Mthứ 1 ỉ của Ngô Tôn Quyền thứ sử Giao Châu là Lục Duệ (tức Lục Dận ) đã

được phong chức “An Nam tướng quân ”

Năm ẩy bà Triệu nổi lên kháng cự quân Ngô ở Cửu Chân nhưng bị thứ sử Lục Dận dẹp yên Do đổ Dận được phong An Nam tướng quân Việc này sử Tàu chép rất rõ nhưng

sử ta không chép đến Sử ta chép Lã Hưng làm An Nam tướng quân, nhưng sử Tàu không chép như vậy

về sự kiện này chủng ta nên tin theo sử ta hay sử Tàu?

Tôi xừrtrả lời dứt khoát rằng chủng ta nên tin theo sử Tàu [ ]

Nay theo những tài liệu mới tìm được, nhất là tiếu truyện Lục Dận trong Ngô chỉ, chủng ta nên đinh chính lại thuyết của Nguyễn Văn Tổ mà cho hai chữ An Nam đã cỏ từ 248” 1

Bằng dẫn chứng phong phú, tiêu biểu, lý luận sắc sảo, tác giả đã suy nguyên được nguồn gốc của danh xưng An Nam Chúng tôi, nhận thấy rằng cách viết của tác giả tuy ngắn gọn nhưng đã xoáy sâu vào vấn đề nghiên cứu, chỉ rõ sai sót trong nhận định của người đi trước với cái nhìn tinh tế, khách quan và khoa 1

1 Bửu Cầm, Quốc hiệu nước ta từ An Nam đến Đại Nam, Tủ sách sử học, 1969, Tr.5

Trang 17

học Từ gốc độ này, đây có thể là những gợi ý cho các nhà nghiên cứu trên nhiều lĩnh vục, nhất là lĩnh vục lịch sử có thể phát triển thêm để có những nghiên cứu hoàn chỉnh

Một bài viết khác về nguồn gốc chữ Nôm tác giả sau khi đua ra luận cứ cho rằng chữ Nôm phải có sau Sĩ Nhiếp, truớc Nguyễn Thuyên đã có những lập luận sâu sắc, thuyết phục và rõ ràng:

“ I o ) Mặc dầu Sĩ Nhiếp ít SẫỂ không phải người đầu tiên đem chữ nho sang dạy dân

ta, vì trước đời Sĩ Nhiếp nước ta đã chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa rồi, nhưng đến lúc

Sĩ Nhiếp làm Thái thú quận Giao Chỉ từ năm 187 đến năm 226, Hán học mới được truyền

bả sâu rộng trong dân gian Như chủng ta đã biết, chữ Nôm thoát thai ở chữ Hán, cho nên dân ta cần phải trải qua một thời gian học chữ Hán đến một trình độ khả cao, nhiên hậu mới có thể dùng thứ chữ ẩy để chế tác ra chữ Nôm, mà công việc đó là của nhiều người và nhiều thế hệ

2°) Nguyễn Thuyên là người đầu tiên làm thơ bằng quốc âm (chữ Nôm), nhưng ông không phải là người đặt ra chữ Nôm về thế kỷ VIH (791) Phùng Hưng đã cỏ danh hiệu “Bổ Cái đại v ư ơ n g v ề thể kỷ X(968), nước ta đã có quốc hiệu “Đại cồ ViệtTẤiặỉĩề” Danh hiệu và quốc hiệu ấy ấy gồm có những chữ Hán (đại vương, Đại Việt) và chữ Nôm (bổ cái, cồ) lẫn /ọn”1

Nếu những bài viết của Bửu cầm tiên sinh hấp dẫn nguời đọc ở cách lập luận chặt chẽ thể hiện tu duy phân tích chuyên sâu thì ngoài ra còn thuyết phục hơn ở khâu trình bày Phần trích dẫn các tài liệu nghiên cứu, chú thích, phụ lục mang giá trị tham khảo và tính hệ thống cao

Mỗi khi trích dẫn một tu liệu nghiên cứu nào tác giả đều tuân theo trình tụ sau: phần

chữ Hán, phiên âm và dịch nghĩa Cách chú thích này khiến cho các vấn đề mà tác giả trích

dẫn đều rất rõ ràng, cụ thể, vừa mang tính sử liệu cao lại vừa có sức thuyết phục Chẳng hạn

nhu trong bài viết “Tìm hiểu Kỉnh ThV’ Đoạn trích dẫn

1 Bửu Cầm, Nguồn gốc chữ Nôm, Tạp chí đã dẫn, Tr.354

Trang 18

sau thể hiện tác phong cẩn trọng, khoa học của tác giả khi trích dẫn tài liệu trong nghiên cứu:

“Trong Thi tập truyện ỀỆẩỉỉíỆ Chu Hy AM' cũng luận về Quốc phong BMnhu thể

này “=¡0X'MÍXlĩíMZM> ĨỈŨMA'> Xfàỉ0íêẵĩZMiẾ ầfỆZMZ',

&.ĩffl±z{b&.Wm, iĩuMWXM£UềA, ýamBMzmỉĩẨwm mxsx

&mmiiỀo MỊMMềiMxmMAX, Axxzmxmmw,

ftiiZềẾM> M£flXỉ$ỈỈFtZ : MAM Quốc giả, chư hầu sở phong chỉ vực, nhi phong giả, dân tục

ca dao chi thi dã Vị chi phong giả, dĩ kỳ bị thượng chi hoá dĩ hữu ngôn, nhi kỳ ngón hựu túc dĩ cảm nhân, như vật nhân phong chi động dĩ hữu thanh, nhi kỳ thanh hựu túc dĩ động vật dã Thị dĩ chư hầu thải chi dĩ cổng ư Thiên tử, Thiên tử thụ chỉ nhi liệt ư nhạc quan, ư

dĩ khảo kỳ tục thượng chi mỹ ác, nhi tri kỳ chỉnh trị chi đắc thất yên= Quốc là chỉ lĩnh vực phong cho chư hầu; phong là gọi chung các bài thi ca trong dân gian Gọi rằng phong là chỉ những lời dân phát ra bởi chịu sự cảm hoá của người trên, mà lời ẩy lại đủ để cảm người, như vật nhân có gió mà động và phát ra tiếng, rồi tiếng ẩy trở lại làm rung động vật Bởi thế nên chư hầu nhặt những thi ca ẩy để hiến Thiên tử, Thiên tử tiếp nhận và liệt vào nhạc quan, lẩy đó để xét phong tục tốt xấu, biết việc chinh trị nên hư” 1

Phần lớn mọi tư liệu mà tiên sinh trích dẫn đều được thực hiện dưới dạng khoa học này cẩn trọng, tỉ mỉ, chính xác là những đòi hỏi không thể thiếu đối với người nghiên cứu khoa học Khi tham khảo các bài viết và sách của giáo sư Bửu Cầm ta luôn luôn được thấy các tiêu chí này trong phần trình bày của tác giả

Khi trích dẫn các sách tham khảo chúng tôi thấy rằng tiên sinh cũng hết sức kĩ lưỡng, thường cho biết rất cụ thể về sách cũng như phần được trích dẫn Chẳng hạn bài

nghiên cứu về Nam ông mộng lục một tác phẩm của Hồ Nguyên Trừng khi tìm hiểu về tiểu

sử Hồ Nguyên Trừng ông có viết:

1 Bửu Cầm, Tìm hiểu Kinh Thi, Tạp chí đã dẫn, Tr.1301

Trang 19

“Thảng ba năm đỏ, Hồ Nguyên Trừng tiến quân đến cửa Hàm Tử, quân nhà Minh đến đánh, quân của Nguyên Trừng bị thua to” 1

Đoạn viết này được chú thích như sau:

“Cương mục chính biên, quyển XII, tờ 16b-17b; Toàn thư, bản kỷ, quyển IX, tờ 2 ab” 2

Qua đấy cũng thấy được tính rõ ràng, hệ thống trong chú thích của tác giả

Văn phong là điểm nổi bật trong các bài viết của tiên sinh Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy phong cách viết của tiên sinh rất đa dạng, với mục đích và chủ đề khác nhau, giọng văn thể hiện cũng khác nhau

Trong các bài viết thiên về nghiên cứu tiên sinh Bửu cầm thường có cách viết rõ ràng, gọn và chuyên về phân tích để làm rõ vấn đề hướng đến Chúng tôi xin trích dẫn đoạn

sau trong bài Giao Châu thời Lục triều để minh chứng về cách viết này:

“Trong thời Tam Quốc, nước Ngô vì phương diện địa lý thuận tiện nên chiếm lĩnh Giao Châu Nhà Ngô quyết ỷ lẩy Giao Châu sau trận Xích Bích Năm Kiến An thứ 15(210) Tôn Quyền sai Bộ Chất làm thứ sử Giao Châu Năm sau Bộ Chất đáo nhiệm; lúc bẩy giờ Giao Chầu mới thật sự thuộc về nước Ngô Tuy nhiên vì uy tín và thể lực của Sĩ Nhiếp ở Giao Châu rất lớn cho nên từ năm thứ Kiến An thứ 16 của Hán Hiến Đe đến năm Hoàng

Vũ thứ năm của nhà Ngô (tức là từ năm 211- 226), trong thời gian 15 năm đó, nhà Ngô chỉ

áp dụng thống trị gián tiếp đổi với Giao Châu, vì quyền cai trị trực tiếp xứ này vẫn ở trong tay anh em Sĩ Nhiếp 3 ”

Qua đoạn văn trên có thể thấy được ngòi bút nghiên cứu của tác giả thiên về phân tích, trình bày các sự kiện, có dáng dấp và phong cách của một nhà sử học chuyên nghiệp

1 Bửu Cầm, Nam ông mộng lục một tác phẩm của Hồ Nguyên Trừng, Văn hóa nguyệt san,

Trang 20

Các bài nghiên cứu về rân học của ông giọng văn cũng thiên về phân tích, đánh giá vấn đề, cách viết chuẩn theo đúng tác phong khoa học

Thế nhung sang một số bài viết tản mạn và giới thiệu tác phẩm ta thấy tác giả viết

với một phong cách khác hẳn vẫn là phân tích, đánh giá vấn đề nhung giọng văn mềm mại

hơn, thanh thoát hơn, cảm xúc của nguời viết in đậm trên từng câu chữ Rõ ràng nhất ta có

thể thấy trong bài viết của tác giả về Nam cầm khúc của Tuy Lý Vuơng Khi trình bày về tác phẩm tiên sinh cho là ngang tầm với Tỳ bà hành này đoạn ông kể lại hoàn cảnh ra đời

đuợc thể hiện thanh thoát và đầy thi vị:

“Trước mấy hồ rượu nhạt, giữa cảnh trời nước bao la, chủ khách lặng lẽ nhìn nhau

tỏ vẻ ngậm ngùi vì cơn ly biệt

Đương lúc bâng khuâng, chủ nhân bỗng nhớ đến tác giả “Tỳ bà hành ”, trong đêm đưa khách, tuần rượu chưa tàn, đã tưởng tới ngón trúc, đường tơ Tùng Thiện Vương liền cho người đi mời Đẩu Nương, một nữ danh cầm ở An Cựu, xuống thuyền gảy đàn Nam cầm cho khách nghe, vì khách vãn chương thường yêu nghệ thuật5,1

Bên cạnh nhà nghiên cứu tài hoa, uyên thâm trên nhiều lĩnh vục, Bửu cầm tiên sinh còn là một nghệ sĩ đa tài Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi còn đuợc tiếp xúc những bài thơ bát cú của tiên sinh, thể hiện đuợc một phong cách nghệ sĩ, phong thái rất khó quên

Tin rằng khi tiếp xúc với những bài viết tản mạn về hoa lan, hoa đào hay giới thiệu

về vẻ đẹp trữ tình của cố đô qua cảnh sắc trữ tình, duyên dáng của hồ Tịnh Tâm nguời đọc khó có thể quên đuợc một văn phong rất riêng của tác giả

Đoạn văn sau giới thiệu về vẻ đẹp của hồ Tịnh Tâm, duới ngòi bút của nguời nghệ

sĩ duờng nhu càng lung linh hơn:

“Kìa, màu rêu lục phong trên mải cũ, nền xưa, màu xanh tham của lả cây, màu xanh

nhạt của da trời, màu xanh biếc của nước hồ pha lẫn nhau một cách rất 1

1 Bửu Cầm, Nam cầm khúc, một áng văn chương miền trung, Tạp chí đã dẫn, Tr.20

Trang 21

điều hòa, khéo léo Giữa bức tranh thiên nhiên có một màu xanh dịu như nhung ẩy, còn điểm thêm vào những đỏa sen hồng, những đóa hoa cẩn đỏ rực rỡ xỉnh tươi

Bóng dáng người xưa như phảng phất đâu đây Khách tưởng chừng vẳng nghe tiếng đọc sách, ngâm thơ của các ông hoàng thi sĩ, hiếu học và cũng đa tình, vọng lên từ sau những phiến đá chập chồng hay sau mẩy gốc cây già cỗi Và trên cầu xưa, nơi bến cũ, như còn thấp thoảng những tà áo cung nhân,sl

Không kể những cách nghiên cứu các bài viết đăng trên tạp chí, nhiều nhất là ở

“Fön hỏa nguyệt san" và các tạp chí khác tiên sinh viết rất cô đọng, ngắn gọn nhung rõ ràng,

đủ ý Cách viết hàm súc của ông thể hiện một phong cách nghiên cứu rất xứng đáng cho chúng ta học tập Đen với những bài viết của Bửu cầm tiên sinh chúng ta có thể dễ dàng nắm bắt đuợc vấn đề thể hiện, kiến thức tuy nhiều nhung nhung không sa đà, chủ quan mà nguợc lại còn rất tiêu biểu Ngoài ra tiên sinh còn có khả năng khái quát rất cao nên kết cấu bài viết tuy ngắn gọn nhung mạch lạc, thể hiện đuợc toàn diện những vấn đề huớng đến

Trên cơ sở trình bày thu mục nghiên cứu của giáo su Bửu cầm chúng tôi tiến hành khái quát một vài đặc điểm về nội dung và hình thức của thu mục, buớc đầu khái quát về phong cách nghiên cứu khoa học của tiên sinh Một phong cách nghiên cứu đa dạng sắc sảo, xứng đáng là tấm guơng sáng cho chúng ta noi theo

Chương 2 Thư mục nghiên cửu của giáo sư Bửu Cầm

2.1 Thư mục phân loại theo năm xuất bản của tạp chí và trật tự chữ cái tên sách

Trong phần tổng thu mục nghiên cứu của giáo su Bửu cầm chúng tôi sắp xếp các bài viết của giáo su thành hai phần gồm: Các bài tạp chí và sách đã xuất bản của giáo su

1 Bửu Cầm, Hồ Tịnh Tâm (thẳng cảnh cổ đô), Văn hóa nguyệt san, 1959, số 44, Tr.43

Trang 22

Các bài báo, tạp chí chúng tôi sắp xếp theo số thứ tự xuất bản của tờ báo đó Do giáo sư Bửu cầm viết bài cho nhiều tạp chí khác nhau nên chúng tôi ưu tiên xếp tạp chí có

số lượng bài viết của giáo sư nhiều đứng trước, các tạp chí có bài viết của giáo sư ít hơn xếp sau

Mỗi đơn vị trong thư mục được thể hiện theo trình tự các yếu tố sau: số thứ tự, tên

tác giả, tên bài viết, nguồn trích, năm xuất bản, sổ tạp chỉ xuất bản, số trang, và có thêm phần tóm tắt nội dung chỉnh của từng bài tạp chỉ đề cập đến

Ví dụ: 2 Bửu cầm, Một sử liệu quỷ giả về Nam phần Việt Nam, Văn hóa nguyệt

- 2: số thứ tự của bài viết trong thư mục

- Bửu Cầm: Tên tác giả bài viết

- Một sử liệu quý giá về Nam phần Việt Nam: Tên bài viết

- Văn hóa nguyệt san: Tên tạp chí (nguồn trích)

- 1958: Năm công bố

- Số 31 : Số của tạp chí

- Tr.506- 508: số trang của bài tạp chí

- Phần còn lại: Nội dung tóm tắt của bài tạp chí

Đe tiện lợi cho người sử dụng, trong từng đơn vị mục lục, chúng tôi trình bày tên bài viết và tên các tác phẩm được bài viết đề cập đến bằng hình thức in nghiêng

về phần sách chúng tôi sắp xếp theo trật tự chữ cái tên tác phẩm

2.1.1 Tap chí

1 Bửu Cầm, Nam cầm Khúc một áng văn chương miền Trung, Văn hóa nguyệt

san, 1957, số 20, Tr.20- 30

Trang 23

Bài viết giới thiệu một bài thơ đặc sắc của Tuy Lý Vương lấy tên Nam cầm khúc có bối cảnh ra đời phảng phất giống với Tỳ bà hành của Bạch Lạc Thiên Tác giả trên cơ sở

những dẫn chứng tiến hành phân tích, đối chiếu, so sánh đã khẳng định giá trị về nội dung

và hình thức của Nam cầm khúc không thua kém Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị Đặc biệt ông

còn nhấn mạnh sự tài hoa, sáng tạo của Di Hiên tiên sinh là con trai của Tuy Lý Vương khi

phiên dịch tác phẩm của phụ thân ra chữ Nôm Phần sau bài viết tác giả có giới thiệu Nam

cầm khúc cả bằng chữ Hán và bản dịch thơ lục bát

2 Bửu Cầm, Một sử liệu quỷ giá về Nam phần Việt Nam, Văn hóa nguyệt san, 1958,

số 31, Tr.506- 508

Bài viết đề cập đến Gia Định thông chỉ là một cuốn sách có giá trị sử liệu rất quý

về cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam Tác giả thông qua việc khảo cứu các tư liệu lịch

sử về việc dịch thuật Gia Định thông chí khẳng định bài Trịnh Hoài Đức soạn Gia Định

thông chí thành trì chú thích của Trần Kinh Hòa tiên sinh là một tài liệu sử rất có giá trị,

cần thiết cho học giả trong và ngoài nước muốn biết rõ lịch sử và địa lý đất Nam phần trước khi người Pháp đến

3 Bửu Cầm, Bài Kê minh thập sách của bà Nguyễn Thị Bích Châu dâng cho chồng

là Trần Duệ Tông (1373- 1376), Văn hóa nguyệt san, 1958, số 32, Tr 659- 662

Bài viết sưu tầm, chú thích và giới thiệu bài Kê minh thập sách gồm cả phần chữ

Hán, phiên âm và dịch nghĩa

4 Bửu Cầm, Học chế Việt Nam qua các thời đại, Văn hóa nguyệt san, 1958, số 33, Tr.811- 813

5 Bửu Cầm, Học chế Việt Nam qua các thời đại (tiếp theo), Văn hỏa nguyệt san,

Trang 24

bày rõ các tên kỳ thi diễn ra dưới từng triều đại cùng tên của những người đỗ đầu và một vài đặc điểm khác Bài viết cho thấy rằng chế độ khoa cử nước ta phôi thai từ triều nhà Lý, qua đời nhà Trần, đến đời nhà Lê và đời Nguyễn là thời kỳ toàn thịnh Việc học hành theo

nhận xét của tác giả nhìn chung khá tự do, đạo thầy trò hết sức thân mật về tổ chức thi cử

theo từng thời kỳ phát triển dần dần đã có sự hoàn chỉnh Phần đáng chú ý nhất của bài viết

là phần kết luận đã nêu lên tóm lược rằng việc học tập ở nước ta vào chế độ phong kiến cốt đào tạo những người bắt chước thượng cấp, ít sáng tạo; sang chế độ thực dân lại chỉ đào tạo

những “tri thức nô lệ” nhằm hợp tác với Pháp quốc trong công cuộc thống trị đồng bào

Cho đến từ năm 1945 nền giáo dục nước ta có thay đổi nhưng lại thiên về vấn đề hình thức, chưa có sự chuyển biến lớn về nội dung Trong phần cuối bài viết tác giả đã đưa ra những nguyên tắc cho một nền giáo dục chân chính Có thể thấy rằng những kiến giải này rất có

8 Bửu Cầm, Một vị thiền sư đã dung hòa được nghệ thuật và đạo lý: Thích Viên

Thành, Văn hoá nguyệt san, 1959, số 38, Tr.57- 60

Bài viết giới thiệu chung về cảnh sắc tươi đẹp của chùa Mật Sơn cùng thân thế và cuộc đời của sư ông Viên Thành- một nhà sư có tâm hồn thi sĩ, nửa tu phật nửa tu tiên Ngoài ra tác giả còn trích dẫn một bài thơ chữ Hán và hai bài thơ chữ Nôm của sư Viên Thành qua đó khẳng định sư là một thi sĩ có thiên tài với những vần thơ điêu luyện từ nội dung đến hình thức

9 Bửu Cầm, Phỏng Cuồng Ca (chú giải), Văn hóa nguyệt san, 1959, số 39,

Tr.422

Trang 25

Bài viết sưu tầm và chú thích bài thơ Phóng cuồng ca của Trần Quốc Tảng từ

Bài viết đăng trên hai kỳ báo xoay quanh vấn đề tìm hiểu về thân thế và cuộc đời

của Thanh Tâm Tài Nhân- tác giả lam bản cuốn Truyện Kiều của Nguyễn Du Bằng nhiều

tư liệu tác giả đã chỉ ra Thanh Tâm Tài Nhân chính là biệt hiệu của Từ Vị, người đời Minh, tên chữ là Văn Trường giỏi về văn từ, viết và vẽ tranh đều xuất sắc, một nhân vật có thật

trong nền văn học Trung Quốc, từng làm mạc khách của Tổng đốc Hồ Tôn Hiến, về sau

trong bài “Lam bản cuốn Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du ” in trong Tập san khảo

cổ tác giả đã viết hoàn thiện hơn về vấn đề này

13 Bửu Cầm, Thi Ca: Màu thu, Vãn hóa nguyệt san, 1959, số 42, Tr.789

Một bài thơ lấy chủ đề mùa thu trích trong tập Hồn vũ trụ của tác giả

14 Bửu Cầm, Sách “Tự học giải nghĩa ca” của vua Tự Đức, Văn hóa nguyệt san,

1959, số 43, Tr.920- 926

Bài viết giới thiệu về sách “Tự học giải nghĩa ca” của vua Tự Đức- là tập sách ngữ

vựng được viết theo thể lục bát để dùng vào việc học chữ Hán, được khắc in trong niên hiệu Thành Thái (1889-1907), gồm có 4 tập, chia thành 13 quyển và 7 loại Người viết đặc biệt nhấn mạnh sự hiếu học của vua Tự Đức và lợi ích của cuốn sách đồng thời trích dẫn 7 loại, mỗi loại một số câu để giới thiệu chung

15 Bửu Cầm, Thơ: Lữ - Hoài, Vãn hóa nguyệt san, 1959, số 43, Tr.960

Ngày đăng: 06/03/2017, 13:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w