1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sự thích nghi văn hóa của người raglai trong bối cảnh đô thị hóa ở xã phước đại, huyện bác ái, tỉnh ninh thuận

38 407 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 450,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự thích nghi trong đời sống văn hóa tỉnh thần về tôn giáo, đồng bào Raglai ở xã Phước Đại hiện nay đa số thờ hình Bác Hồ, tín ngưỡng của họ vẫn giữ được những nét truyền thống của tín

Trang 1

TÁC GIẢ: Nguyễn Thị Anh Thư (CN)

Trần Thị Châu Minh Hạnh Vũ Ngọc

Thanh Thảo Hoàng Minh Thảo Nguyễn

Lê Thanh Thuỷ

TÓM TẮT

Raglai là một dân tộc trong số 54 dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, địa bàn cư trú chủ yếu của tộc người này tập trung ở tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận, những vùng có khí hậu khắc nghiệt, ít mưa thừa nắng khiến cho đời sống của bà con gặp rất nhiều khó khăn Tuy nhiên, chúng ta phải thừa nhận rằng, trong giai đoạn phát triển hiện nay, quá trình đô thị hoá nhanh với việc xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi, định canh, định cư, quá trình giao lưu, hội nhập văn hóa v.v đang đẩy nhanh tiến độ biến đổi toàn diện cả về hình thức lẫn nội dung văn hóa truyền thống Với hơn 85% dân số là đồng bào Raglai, Phước Đại, được coi là xã trung tâm, nơi tọa lạc của các trụ sở hành chính huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận, đây cũng chính là nơi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa

Ctf cấu tổ chức xã hội

Sự thay đổi trước tiên có thể nhận thấy, đó chính là ở cơ cấu tổ chức xã hội

Xã hội Raglai chỉ đơn giản gồm nhiều Palay Những già làng ở đây kể lại rằng ngày xưa những gia đình có họ hàng với nhau như cô, dì , chú, bác, ông, bà thì dựng nhả ở gần nhau, cách nhau từ 3Om cho đến 45- 50m tạo thành một Palay

Palay là đơn vị hành chính cao nhất Trong mỗi Palay thì tính tự trị được thể hiện rõ nét, có nghĩa là mọi hoạt động lớn nhỏ đều giải quyết trong phạm vi Palay Palay chính là không gian xã hội lớn nhất, là trung tâm sinh hoạt kinh tế, chính trị xã hội và văn hoá của một cộng đồng mang tính độc lập Trên Palay chưa thấy có tổ chức xã hội hay đơn vị hành chính nào cao hơn

Ngày nay hầu như các Palay truyền thống của người Raglai đã không còn nữa mà họ đang sống theo đơn vị hành chính hiện hành dưới huyện là xã, dưới xã là các thôn Thôn là đơn vị hành chính nhỏ nhất và là tập hợp của nhiều Palay trước đây

Do chưa bao giờ hình thành một nhà nước tập trung để quản lý và điều hành xã hội nên qua quá trình nghiên cứu và khảo sát chúng tôi nhận thấy rằng, hình thức quản lý xã hội người Raglai vẫn còn mang đậm nét truyền thống nhưng lại cũng thích nghi nhanh chóng với loại hình tổ chức và quản lý xã hội hiện đại Điều này được thể hiện rõ nét qua việc có sự phối hợp giữa cách quản lý xã hội theo luật pháp và theo luật tục

Sự thích nghi trong đời sống văn hóa tỉnh thần

về tôn giáo, đồng bào Raglai ở xã Phước Đại hiện nay đa số thờ hình Bác Hồ, tín ngưỡng của

họ vẫn giữ được những nét truyền thống của tín ngưỡng đa thần nhưng chỉ tồn tại ở lớp người già còn đã phai nhạt dần ở giới trẻ

Lễ hội: Người Raglai ở Xã Phước Đại vốn dĩ có rất nhiều lễ hội, tuy nhiên do đời sống vẫn còn nhiều khó khăn cùng với quá trình đô thị hóa nên nhiều lễ hội đã bị lược bỏ, hay đơn giản hóa

Trang 2

Bên cạnh đó,người Raglai ở đây còn biết hợp tác với các cấp chính quyền Ngày nay, trước khi mỗi lễ hội diễn ra, họ đều báo cáo với chính quyền ở xã Thêm vào đó, trong những buổi lễ hội, đều có sự tham gia của cán bộ địa phương xã Phước Đại và huyện Bác Ái Hay ngược lại, những lễ hội nào mà do chính quyền đứng ra tổ chức, nhân dân Raglai xã Phước Đại đều tham dự rất đông

Trong cuộc sống hàng ngày, một bộ phận người dân bước đầu làm quen và có nhu cầu theo dõi thời sự, hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật phổ thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như đài, tivi, và các phương tiện nghe nhìn khác như băng, đĩa, karaoke

Có một điều tiến bộ mà chúng tôi nhận thấy rằng, cha mẹ người Raglai đều mong muốn con cái của mình học hành đến nơi đến chốn Nếu lúc trước, người Raglai có suy nghĩ là sinh con ra để

có thêm lao động làm rẫy, sau này lớn lên nuôi cha mẹ lại, thì ngày nay quan điểm đó đã thay đổi

Họ đã quan tâm đến việc học hành của con cái hơn Nhiều người đã nhận thấy rằng “Có nhiều cái chữ trong bụng thì lòng dạ con người sáng ra sẽ làm được nhiều việc tốt có ích cho gia đình và xã hội”

Cùng với sự tiến bộ trên, người Raglai đã thay đổi nhận thức về mặt sinh con Theo truyền thống,người Raglai quan niệm rằng: “con gái là để làm giống” là người duy trì và phát triển nòi giống của gia đình, dòng họ,là người thừa kế sống với cha mẹ suốt đời và chăm sóc cha mẹ khi họ về già Thế nhưng đã có sự biến chuyển về mặt nhận thức Gia đình người Raglai bây giờ chỉ sinh từ 2 đến

3 con dù gái hay trai Đó là nhờ sự tuyên truyền thành công “kế hoạch hóa gia đình” của Đảng và nhà nước

Phụ nữ khá tích cực tham gia sinh hoạt Hội phụ nữ vì họ có cơ hội giao lưu, học hỏi lẫn nhau Ngoài ra, họ còn có cơ hội vay vốn bằng sự tín chấp của Hội Chi hội phụ nữ ở thôn tổ chức họp mỗi tháng một lần để thông báo tình hình hoạt động của hội và các thành viên trao đổi kinh nghiệm giúp nhau làm kinh tế

và làm việc không trái theo pháp luật, đảm bảo sự an toàn về mặt trật tự xã hội

Cách tốt nhất để lưu giữ kho tàng văn hóa tinh thần đó là chữ viết Khi đã có được hệ thống chữ viết riêng thì việc chép lại sử thi, chuyện cổ dân gian, tục ngữ, thành ngữ của người Raglai đã giảm bớt một phần sự khó khăn Cũng tạo thuận lợi cho việc gìn giữ bảo tồn và kế truyền văn hóa cho các thế hệ sau

Thuyết phục bà con tin rằng kết hôn của những người gần gũi về huyết thống sẽ gây ra nhiều

hệ quả cho thế hệ con cháu như là giảm trí tuệ chậm phát triển bị dị dạng mắc một số bệnh về di truyền mà thầy thuốc không thể chữa được

Trang 3

Cần có những biện pháp nhằm nâng cao ý thức học tập cho học sinh người Raglai, giảm tỉ lệ học sinh bỏ học Ngoài ra cũng tạo nhiều điều kiện cho phụ nữ tham gia vào nhiều hoạt động sinh hoạt cộng đồng để họ bớt rụt rè, nhút nhát, tụ tin hơn khi tiếp xúc với người lạ và bớt phụ thuộc - điều này là khá khó - vào người chồng Và quan trọng hơn hết là khi khuyến khích chị em phụ nữ Raglai tham gia vào các hoạt động xã hội thì sẽ nâng cao được nhận thức và hiểu biết về vai trò quan trọng của chính chị em trong gia đình Chính họ chứ không phải ai khác là người sẽ xây dựng gia đình mình thành một gia đình có cuộc sống ấm no và hạnh phúc Như thế họ cũng đã góp một phần vào việc xây dựng cộng đồng ngày một tốt đẹp hơn

Trang 4

DẪN LUẬN

1 Lý do chọn đề tài

Trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, người dân Raglai đã sát cánh cùng các dân tộc anh em tham gia tích cực và có những đóng góp vô cùng to lớn vào thắng lợi của cả nước Vùng cư trú của tộc người Raglai là vùng khô nóng, khí hậu khắc nghiệt, ít mưa, thừa nắng nên đời sống kinh tế của bà con còn gặp nhiều khó khăn Neu chỉ nhìn về mặt hình thức

từ trang phục, nhà cửa, nương rẫy, làng bản v.v rất dễ ngộ nhận rằng văn hóa truyền thống của tộc người Raglai hoặc nghèo nàn, hoặc đã bị mai một, hòa tan với văn hóa dân tộc khác quá nhiều, không còn gì để nghiên cứu Nhưng qua thực hiện công trình này, chúng tôi thấy rằng, về chiều sâu văn hóa, tộc người Raglai đang lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc, là kho tư liệu quý giá trong việc nghiên cứu rân hóa các tộc người trong nhóm ngôn ngữ Nam đảo nói riêng và các tộc người Đông Nam Á nói chung Có những giá trị văn hóa, về hình thức có thể biến thiên, nhưng về chiều sâu nội dung thì tương đối bền vững

Tuy nhiên, chúng ta phải thừa nhận ràng, trong giai đoạn phát triển hiện nay, quá trình đô thị hoá nhanh với việc xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi, định canh, định cư, quá trình giao lưu, hội nhập văn hóa v.v đang đẩy nhanh tiến độ biến đổi toàn diện cả về hình thức lẫn nội dung văn hóa truyền thống Đối với tộc người Raglai cũng vậy, những giá trị văn hóa được vun đắp

từ nghìn đời nay, tưởng chừng như bền vững nhất đang trong giai đoạn có tốc độ mai một nhanh chóng nhất Do đó, cần phải có những công trình nghiên cứu về sự thích nghi văn hóa của người Raglai trong quá trình đô thị hóa, để có định hướng phát triển đúng đắn cho đồng bào Raglai, để họ

có thể hòa nhập mà không hòa tan, vẫn giữ được những giá trị truyền thống tốt đẹp

Phước Đại, được coi là xã trung tâm, nơi tọa lạc của các trụ sở hành chính huyện Với hơn 85% dân số là đồng bào Raglai, đây cũng chính là nơi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của quá trình

đô thị hóa Vì vậy, việc tìm hiểu sự thích nghi về văn hóa của đồng bào Raglai xã Phước Đại không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn nhằm góp phần tìm hiểu thêm về văn hóa cộng đồng Raglai Đó là lý do và mục đích của đề tài nghiên cứu

2 Lịch sử đề tài

Những nghiên cứu về dân tộc Raglai nói chung đã được thực hiện từ lâu, tài liệu sớm nhất nói về dân tộc này là sách Đại Nam Nhất thống chí do quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, sau

dần dần được bổ sung them trong các công trình nghiên cứu sau này về vấn đề văn hóa của người

Raglai ở Việt Nam cũng đã được đề cập đến trong rất nhiều sách, báo, bài viết như Văn hóa và xã

hội của người Raglaỉ ở Việt Nam do Phím Xuân Biên chủ biên, Trang phục truyền thống của người Raglaỉ do Hải Liên chủ biên,

Trang 5

Luật tục các dân tộc thiểu sổ Tây Nguyên của GS TS Phan Đăng Nhật, ngoài ra còn có chương

trình nghiên cứu của PGS TS Hoàng Văn Việt và GS.TS Toh Goda với đề tài Đô thị hóa và sự

biến đoi vãn hóa tộc người Raglaỉ ở Việt Nam việc nghiên cứu văn hóa của người Raglai ở quy

mô xã Phước Đại mới chỉ dừng lại ở các bài báo cáo thực tập thực tế do sinh viên lớp úc, khoa Đông Phương thực hiện

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Bài nghiên cứu xác định đối tượng nghiên cứu là đồng bào dân tộc Raglai ở xã Phước Đại, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận chịu sự tác động của quá trình đô thị hóa Tuy nhiên trong phạm vi bài viết chúng tôi không thể nói hết tất cả mọi mặt trong đời sống văn hóa của người Raglai mà chỉ tập trung làm rõ những sự thích nghi trong văn hóa tồ chức xã hội và văn hóa tinh thần

4 Nguồn tư liệu

Do đây là bài nghiên cứu về văn hóa nên nhóm nghiên cứu sẽ lấy lý luận về văn hóa làm nền tảng

Ngoài ra, nhóm còn dựa trên các tài liệu sách, báo, các công trình, bài viết cũng như những tư liệu nhóm có được thông qua quá trình nghiên cứu thực tế

5 Phương pháp nghiên cứu

Đặt trong điều kiện thực tế, nhóm thực hiện đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp xã hội học cụ thể là phương pháp phỏng vấn sâu, phương pháp thống kê, so sánh phân tích các thông tin và các số liệu thu thập được làm cơ sở cho bài nghiên cứu

Phương pháp nhân học: khảo sát điền dã, quan sát và ghi chép

6 Nội dung nghiên cứu

Ngoài phần dẫn luận và kết luận thì bài nghiên cứu còn bao gồm 4 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Đô thị hóa và quá trình đô thị hóa ở xã Phước Đại

Chương 3: Sự thích nghi của người Raglai dưới tác động của quá trình đô thị

Trang 6

CHƯƠNG 1

Cơ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Khái niệm về văn hóa

Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa Theo thống kê của 2 nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn năm 1952, có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới Vì vậy mà các nhà khoa học còn xếp loại định nghĩa văn hóa theo các tiêu chí khác nhau như định nghĩa miêu tả, định nghĩa lịch sử, định nghĩa chuẩn mực, định nghĩa tâm lí học, định nghĩa cấu trúc và định nghĩa nguồn gốc.1

Trong Đại từ điển Tiếng Việt2, hai từ văn hóa cũng được hiểu theo sáu nghĩa khác nhau

Theo định nghĩa đầu tiên thì văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử

Năm 1997, GS.TSKH Trần Ngọc Thêm đã đưa ra một khái niệm khá hoàn chỉnh về văn hóa:

Văn hóa là một hệ thống hữu CO’ các giá trị vật chất và tinh thần do con người

sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội 3

Tuy nhiên, những giá trị là văn hóa nhưng văn hóa không nhất thiết phải là giá trị Giả trị

là kết quả hoạt động do sức sảng tạo của con người tạo ra ở mức độ nghệ thuật cao Như vậy, giá

trị này phải là những sản phẩm tinh túy và có 3 thuộc tính:

■ Ben vững

■ Phổ biến

■ Kế truyền

Vậy là lại nảy sinh ra quan niệm văn hóa là kết quả của những hoạt động vật chất và tinh

thần do con người sảng tạo ra

Như vậy, hiện nay chưa có một định nghĩa hoàn thiện về văn hóa Đây cũng là điều hiển nhiên vì tùy từng góc nghiên cứu khác nhau mà các nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm riêng phục

vụ cho công việc nghiên cứu của mình Các định nghĩa này không phủ định mà bổ sung cho nhau giúp cho con người có cái nhìn đa dạng và sâu sắc hơn về văn hóa

1 Dương Huệ Linh, Quá trình hình thành và sự thích nghi văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Australia ngày nay, Khóa luận tốt nghiệp 2008

2 Nguyễn Như Ý Chủ biên, Đại tù điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa-Thông Tin 1998

3 Trần Ngọc Thêm, 1999, Cơ sởvăn hóa Việt Nam, NXB Giáo Dục

Trang 7

Tuy nhiên, để thực hiện bài nghiên cứu này, nhóm đã đi theo hướng phân chia văn hóa làm hai loại đó là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Trong đó nhóm sẽ tập trung vào sự tác động của quá trình đô thị hóa đến đời sống văn hóa tinh thần, tìm hiểu xem quá trình đô thị hóa đã có tác động thế nào đến văn hóa tổ chức xã hội và đời sống tinh thần của cộng đồng Raglai

1.2 Tộc người và văn hóa tộc người

1.2.1 Tộc người

Tộc người là một tập đoàn người ổn định hoặc tương đối ổn định được hình thành trong lịch sử dựa trên những moi liên hệ chung về ngôn ngữ, sinh hoạt văn hỏa và ỷ thức tự giác dân tộc thể hiện bằng một tộc danh chung 4

Căn cứ vào định nghĩa này có 3 tiêu chí cơ bản để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác

đó là ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác dân tộc

Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện để giao dịch, nhận thức và thông báo mà còn là phương tiện để bảo vệ, bảo tồn và phát triển các hình thái, giá trị văn hóa vật chất và tinh thần quan trọng nhất của một tộc người (ngay cả khi tộc người đó không có chữ viết)

Một tộc người hình thành và tồn tại trong lịch sử là một hiện tượng xã hội thì ý thức tộc người là một yếu tố vô cùng quan trọng khi xác định một tộc người hay một nhóm người thuộc về một tộc người nào đó

Ý thức tự giác tộc người là ý thức tự coi mình thuộc về một dân tộc nhất định được thể hiện trong hàng loạt các yếu tố: sử dụng một tên gọi tộc người chung thống nhất, có ý niệm chung về nguồn gốc lịch sử, huyền thoại về tổ tiên và vận mệnh lịch sử tộc người Ý thức đó được thể hiện trong những đặc điểm văn hóa, cùng tuân thủ theo những phong tục, tập quán, lối sống của tộc người Ý thức tự giác tộc người trước hết thể hiện ở tên gọi( tộc danh) Tên gọi là một đặc tính của dân tộc Một tộc người được hình thành có nhu cầu tự đặt ra cho mình một tên gọi riêng Tên gọi

đó biểu thị sự thống nhất giữa các thành viên trong cộng đồng mình và dân tộc khác

Cùng với tên gọi, những người cùng một tộc nguời đều có ý thức về nguồn gốc lịch sử của mình, chính vì thế, dù cư trú biệt lập và cách xa nhau, họ vẫn nhớ về lai lịch gốc của mình Ý thức

tự giác tộc người còn thể hiện ở cộng đồng tinh thần tộc người, cộng đồng kí ức về nguồn gốc và lịch sử của dân tộc qua huyền thoại và lịch sử

1.2.2 Văn hóa tộc người

Văn hóa tộc người là tổng thể các yếu tổ vãn hóa mang tính đặc trưng và đặc thù tộc người,

nó thực hiện chức năng cổ kết tộc người và phân biệt tộc người này với tộc người khác 5 Đối với

người Raglai thì văn hóa tộc người của họ gồm có:

4 Khoa Nhân học, Nhân học đại cương, NXB Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2008

5 Ngô Đức Thịnh, 2006, Văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội

Trang 8

■ ngôn ngữ mẹ đẻ, tiếng Raglai (thuộc ngữ lệ nam đả()

■ trang phục

■ các tín ngưỡng và nghi lễ(lễ bỏ mả là lễ lớn nhất của người Raglai, để từ biệt lần cuối người quá cố, từ nay giữa người sống và người chết không còn vương vấn gì nữa)

■ vốn văn hóa dân gian truyền miệng thể hiện qua các câu chuyện cổ, các diệu muá,

■ tri thức dân gian về tự nhiên, xã hội, về bản thân con người và tri thức sản xuất,

khẩu vị ăn uống, tâm lí dân tộc

Cũng cần phải phân biệt văn hóa tộc người và văn hóa của tộc người là tổng thể những

hiện tượng văn hỏa trong diện mạo hiện tại của tộc người đó không kể các yếu tố văn hóa đó cỏ sắc thái tộc người hay trung tỉnh về tộc thuộc 6

Chẳng hạn như hiện tượng các tộc người thiểu số ở Việt Nam trong đó có nguời Raglai tiếp thu văn hóa mặc của Châu Âu (áo sơ mi, quần tây), nấu các món ăn theo kiểu người Việt, xây cất nhà cửa theo kiểu người Việt ( một số người không ở nhà sàn nữa mà xây nhà) , theo một số hình thức tôn giáo như đạo Phật, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành Đây chính là hiện tượng văn hóa của tộc người nhưng không phải là bản sắc đặc trưng của tộc người nào

1.3 Giao lưu văn hóa và thích nghi văn hóa

Một trong những thuộc tính của văn hóa là có thể “chia sẻ” , tức là có thể giao lưu, ảnh hưởng, vay mượn qua lại từ cộng đồng người (dân tộc, quốc gia, khu vực ) này sang cộng đồng

người khác Giao lưu, giao tiếp văn hóa nói tóm lại là quá trình các cộng đồng người “gặp nhau” trên cơ sở đó, tiếp nhận ở nhau những giá trị văn hóa

Giao : nghĩa là gặp nhau, có nhiều kiểu gặp

■ Trực tiếp: đó là hiện tượng các tộc người cùng cư trú xen cài trong một địa bàn

nhất định

■ Gián tiếp: thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, báo đài phim ảnh mà

các tộc người bị ảnh hưởng văn hóa của nhau

Quá trình giao tiếp này cũng xảy ra trong một thời gian dài liên tục hoặc có những lúc bị đứt đoạn do nhiều nhân tố khác nhau

Tiếp: là tiếp nhận dưới nhiều dạng; tự nguyện hay cưỡng bức, vô thức hay hữu thức, thể

chất hay không thể chất ( thể chất tức là thừa nhận yếu tố văn hóa mới này sinh thuộc cơ cấu văn hóa truyền thống của mình, tiếp thu ảnh hưởng mới làm phong phú thêm truyền thống văn hóa dân tộc

hát

Truyền thống

Trang 9

rp* Ấ 1 • Ẩ T^v r • Tiêp biên - ► Đôi mới

Giao lưu, ảnh hưởng, vay mượn còn là một nhân tố quan trọng trong qui luật truyền thống

và đổi mới của rân hóa Đó là: Truyền thống (tradition) - Tiếp biến ( tiếp nhận-biến đổi = Acculturation) Đổi mới (Renovation) Theo qui luật này, để đổi mới truyền thống thì có thể thông qua con đường phát triển nội tại, do tác nhân nội sinh tức là từ truyền thống rồi đổi mới

Tuy nhiên, trong đa phần các trường hợp thì để cái truyền thống được đổi mới đều phải qua khâu tiếp biến tức là tiếp xúc, giao lưu, ảnh hưởng, vay mượn Do vậy, nếu nền văn hóa nào khép kín, ít giao lưu thì nền văn hóa đó trì trệ, phát triển chậm chạp, thậm chí còn thoái hóa nữa Như vậy, giao lưu vừa là thuộc tính, vừa là qui luật của sự đổi mới và phát triển của văn hóa

Thích nghi văn hóa chính là một dạng của giao tiếp rân hóa tự nguyện Trong quá trình tương tác với tự nhiên, con người và xã hội, một cộng đồng tộc người có thể có sự điều chỉnh nhất định văn hóa của mình cho phù hợp với hoàn cảnh sống

Thích nghi là làm quen dần, phù hợp với điều kiện mới nhờ sự biến đối, điều chỉnh nhất

định

Suy rộng ra, thích nghi văn hóa là sự biến đối, điều chỉnh nhất định trong việc sáng tạo ra

và tích lũy các giá trị vật chất và tỉnh thần của con người qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong

sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội

Văn hóa tộc người Raglai cũng không thể đi chệch qui luật giao tiếp, thích nghi văn hóa Cho dù hiện nay trong khu vực xã Phước Đại, người Raglai chiếm đa số (hơn 90%) thì sự ảnh hưởng văn hóa của các dân tộc khác không phải là nhân tố, điều kiện chính làm cho người Raglai phải điều chỉnh văn hóa của mình cho phù hợp Nhân tố quyết định ở đây là tiến trình đô thị hóa đang diễn ra từng ngày từng giờ ở trung tâm huyện Bác Ái, là xã Phước Đại Đô thị hóa chỉ tương thích với những xã hội tương đối phát triển, nó làm thay đổi toàn bộ lối sống, nếp sống, con người sống cộng cư với nhau Bản thân người Raglai lại chưa trải qua chế độ nhà nước, sống du canh du

cư, với nền kinh tế tự cấp tự túc thì để thích nghi với môi trường mới lại đòi hỏi một quá trình lâu dài

1.4 Người Raglai ở xã Phước Đại

Raglai là tộc người thuộc ngữ hệ Malayo-Polinedi của Việt Nam Ngoài tên là Raglai nghĩa

là người miền núi, đồng bào còn có các tên gọi hoặc cách viết tên khác như: Rangglai, Rai

Các tài liệu khoa học đã chứng minh được họ đã có mặt và sinh sông từ cách đây rất lâu trên các vùng núi cao tại các tỉnh Khánh Hòa, Bình Thuận, Ninh Thuận, trong đó

Trang 10

tập trung đông đảo nhất ở tỉnh Ninh Thuận, huyện Bác Ái Người Raglai ở xã Phước Đại chiếm 85% dân số toàn xã với những đặc điểm chung như sau:

Người Raglai ở xã Phước Đại như đồng bào mình ở các làng xã khác cũng sinh sống thành từng làng (Palay) Làng vừa là đơn vị cư trú, vừa là đơn vị tổ chức xã hội truyền thống của đồng bào Người có địa vị cao nhất trong làng gọi là già làng (popalay) Tầng lớp thầy cúng gọi là Bijâu,

đã hình thành trong xã hội truyền thống của người Raglai Bijâu có thể là nam hoặc nữ Họ là những người chữa bệnh cho dân làng bằng ma thuật, kết hợp với một vài kinh nghiệm y học dân gian và các loại dược thảo có sẵn tại địa phương

Bà con Raglai ở xã Phước Đại cuộc sống chủ yếu dựa vào nương rẫy Họ trồng lúa, bắp, khoai sắn trên những rẫy xa dưới chân núi

Cũng như người Churu, người Raglai tính theo dòng họ nữ và người con gái có quyền thừa

kế tài sản của bố mẹ mình, theo luật tục cổ truyền

Người Raglai ở xã Phước Đại có các dòng họ như Chameléa (họ máu), Pi Năng (cây cau),

Ka tơr (bobo), Pa-tâu, Kaya, Pơ-pyer Mỗi dòng họ hay mỗi chi của dòng họ có một sự tích, một truyền thuyết riêng về nguồn gốc dòng họ của mình

Dân tộc Raglai ở xã Phước Đại, huyện Bác Ái cũng có những nét chung như đồng bào của

họ đang sinh sống ở nhiều nơi trên đất nước Tuy nhiên họ vẫn có những nét riêng do khoảng cách địa lý, do điều kiện cư trú và đặc biệt, người Raglai ở xã Phước Đại được sự chăm lo của Đảng và Nhà nước nên cuộc sống của đồng bào nơi đây đã được cải thiện rất nhiều

Có thể nói không có đồng bào Raglai thì không có huyện Bác Ái anh hùng, cũng không có một xã Phước Đại thay da đổi thịt như ngày nay Nói như vậy không phải vì con số hơn 95% dân

số của huyện cũng như 85% dân số của xã là người Raglai mà còn vì những đóng góp to lớn của đồng bào trong suốt những cuộc chiến tranh gian khổ chống hết giặc xâm lăng này đến đế quốc nọ Chưa có tài liệu khoa học nào cho biết chính xác người Raglai ở đây từ khi nào, nhưng có thể chắc chắn rằng họ là những lớp cư dân sinh sống tại vùng núi trùng điệp của huyện Bác Ái ngày nay từ rất lâu đời Nếu như trong những cuộc kháng chiến gian nan, đồng bào Raglai ăn cơm Đảng, làm theo lời Bác và đã hi sinh biết bao xương máu quyết giữ đất, giữ buôn làng thì khi hòa bình lập lại,

bà con lại tiếp tục chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt: nắng thì nắng quắt nắng queo, mưa thì mưa xối mưa xả gây ra lũ lụt lớn

Cuộc sống còn nhiều khó khăn là vậy, nhưng đồng bào Raglai ở Phước Đại, Bác Ái vẫn lưu giữ được kho tàng văn hóa rất phong phú, đa dạng Nó bao gồm những tri thức y học dân gian, truyện cổ, dân ca, các phong tục tập quán tín ngưỡng cùng với những nhạc cụ nổi tiếng như Mã La, đàn Cha-py, đàn đá, khèn bầu Thời gian trôi qua cùng với sự phát triển, đổi mới không ngừng của thôn xã, có những lễ hội, tập tục đã

Trang 11

không còn như tục ngủ thảo, lễ ăn Đầu lúa mới nhưng những gì thuộc về nguồn cội vẫn được trân trọng giữ gìn

CHƯƠNG 2

ĐÔ THỊ HÓA VÀ QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở XÃ PHƯỚC ĐẠI

2.1 Khái niệm đô thị hóa

Một trong các khuynh hướng định cư lâu đời của loài người là đô thị hoá Quá trình đô thị hoá ra đời vào lúc nền canh tác nông nghiệp đã ở trình độ khá cao như đã có thuỷ lợi, thảnh lập kho tàng lưu trữ và phân bố lương thực tức là vào khoảng 2.000 năm trước công nguyên Các khu vực

đô thị lúc đầu thường mọc lên ở dọc bờ sông thuận tiện giao thông, nguồn nước Sự hình thành các

đô thị gia tăng mạnh mẽ nhờ các tiến bộ về công nghiệp của thế kỷ trước và hiện nay Các đô thị là thị trường lao động rộng lớn của dân cư có mức sống cao với điều kiện giao thông và dịch vụ thuận lợi

Đô thị hoá là một quá trình tập trung dân cư đô thị (chuyển từ lối sống phân tán sang lối

sống tập trung) Đồng thời đó là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất nông nghiệp giảm, sản xuất phi nông nghiệp tăng Bộ mặt đô thị ngày càng hiện đại, không gian đô thị

mở rộng Đô thị hóa với những đặc điểm cụ thể sau đây:

s Hình thành và mở rộng qui mô đô thị với hạ tầng kỹ thuật hiện đại dẫn đến sự chuyển

biến kinh tế từ sản xuất nông nghiệp là chủ yếu sang sản xuất công nghiệp và dịch

vụ

■S Tăng nhanh dân số đô thị trong tổng số dân cư, dẫn đến thay đổi cơ cấu giai cấp,

phân tầng xã hội

■S Chuyển từ lối sống phân tán ( mật độ dân cư thấp) sang lối sống tập trung (mật độ

dân cư cao)

s Chuyển từ lối sống nôngnghiệpsang lối sống đô thị, từ văn hóa làng xã

sang văn hóa đô thị, từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp

Đây là đặc trưng phản ánh đặc tính văn hóa-xã hội của môi trường đô thị Lối sổng

là một trong những đặc trưng căn bản để phân biệt xã hội nông thôn với xã hội đô thị

Đô thị hóa nông thôn:

“Đô thị hóa nông thôn được hiểu là quá trình tổ chức lại sự phân bố dân cư và những yếu

tố vật chất, làm chuyển hóa những khuôn mẫu của đời sống xã hội, phổ biến đời sống đô

thị tới các vùng nông thônvà toànxã hội” (Thành Đức, Sự biến đổi văn hóa

trong quá trình đô thị hóa ở bốn xã vùng ven thị xã Vĩnh Long, LVTS VH, 2006, tr 18)

2.2 Đô thị hóa ở xã Phước Đại

Như đã trình bày ở trên, quá trình đô thị hóa diễn ra ở những khu vực thuận lợi về mọi mặt cho sự phát triển đời sống, kinh tế Là một quá trình chuyển biến phức tạp, đòi hỏi có thời gian Trong quá trình đô thị hóa đòi hỏi con người phải thay đổi, chuyển động theo sự thay đổi, chuyển động của nó Điều này có nghĩa là nơi nào có hiện tượng đô thị

Trang 12

hóa thì nơi ấy đòi hỏi một lối sống khác, một cách ứng xử văn hóa khác Với vị trí của xã Phước Đại và những điều kiện hiện nay của xã thì chưa thể gọi đây là 1 quá trình đô thị hóa Nhưng với những sự thay đỗi đó đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế của đồng bào Raglai từ đó dẫn đến

sự thay đổi trong văn hóa tinh thần để tồn tại và thích ứng

Xã Phước Đại nằm ở trung tâm huyện Bác Ái, nơi tọa lạc các đơn vị hành chính của huyện Chính vì vậy, từ khi huyện Bác Ái được tái thành lập cuối năm 2000 thì bộ mặt của xã cũng thay

da đổi thịt, cơ sở hạ tầng và điều kiện phát triển thuận lợi hơn các xã khác của huyện Năm 2006, Phước Đại là xã duy nhất trong huyện được xếp loại thoát khỏi chương trình 135 giai đoạn 2, với

lý do chủ yếu là xã đã được đầu tư đầy đủ cơ sở hạ tầng điện đường trường trạm, có chợ trung tâm của huyện.Phước Đại sẽ trở thành thị trấn trong tương lai

(Theo báo cáo tong hợp theo dõi đói nghèo của 2 xã Phước Đại, Phước Thành, huyện Bác

Ái, tỉnh Ninh Thuận )

Đất đai:

Diện tích đất tự nhiên của xã là 5,774 ha, chiếm 5.6% diện tích đất của huyện, trong đó có

832 ha đất Nông nghiệp, 4333 ha đất Lâm nghiệp.7

Cơ sở hạ tầng và hệ thống giao thông của xã khá tốt

Khoảng cách từ trung tâm xã tới trạm y tế, trường học, chợ,., không vượt quá 1 km Các tuyến đường chính đã được trải nhựa Xã có đài phát thanh, có phòng thông tin

Hệ thống kênh mương của hồ Song sắt đang được xây dựng - đây là niềm hy vọng lớn nhất của người dân, từ đó sẽ có điều kiện sản xuất ổn định và áp dụng KHKT (làm lúa 2 vụ, làm bắp lai ) và khai hoang thêm diện tích canh tác

98% hộ sử dụng điện lưới quốc gia Xã chỉ còn 10% hộ gia đình sống trong nhả tạm (trong khi đó những xã khác con số thấp nhất là 18%).8

7 Báo cáo tổng hợp theo dõi đói nghèo của 2 xã Phước Đại, Phước Thành, huyện Bác Ái,

tỉnh Ninh Thuận, tr.4

Trang 13

■S Các dịch vụ xã hội Giảo dục

Sự cải thiện về giáo dục trẻ em là điểm sáng của công cuộc xoá đói giảm nghèo ở Bác Ái, xét về khía cạnh nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai Hiện nay, ở xã đã có trường mẫu giáo, trường tiểu học và trường PTCS Học sinh đi học đều được hỗ trợ học phí và đồ dùng học tập

Trẻ em ngày càng thích đi học hơn vì trường học đã khang trang hơn, sách vở sẵn có hơn; mặt khác các thầy cô giáo cùng với cán bộ thôn và Hội Phụ nữ thường xuyên tới nhà vận động trẻ

đi học, nhiều khi phát cả bánh kẹo để “dụ” trẻ đến trường

Dịch vụ y tế

Các thôn đều có trạm y tế thôn làm công tác tuyên truyền, vận động bà con Bác Ái là huyện miền núi vùng cao (khu vực 3) nên thẻ Bảo hiểm Y tế được phát miễn phí cho 100% người dân Xã Phước đại là trung tâm huyện nên trang thiết bị y tế cũng như nguồn nhân lực cũng tốt hơn Người dân được hưởng dịch vụ tốt hơn Đa số đồng bào Raglai được phỏng vấn đều cho rằng dịch vụ y tế

đã tốt hơn Lý do chính là y bác sĩ tại các trạm xá nhiệt tình hơn, chuyên môn giỏi hơn và khi đau bệnh, thuốc men tại trạm cũng đầy đủ hơn

Sự thay đỗi về Ctf cấu kỉnh tế

•S Nông nghiệp

Nông nghiệp vẫn là ngành nghề chính của trên 90% thành viên hộ gia đình thuộc diện điều tra

Nguồn thu nhập của người dân Raglai đã có thay đổi theo hướng đa dạng hóa Một số người

đã được tập huấn và áp dụng các kỹ thuật thâm canh vào trồng lúa nước, bắp lai, bông, điều và chăn nuôi bò, dê

■S Yiệc làm phi nông nghiệp tăng

Thời gian qua, một loạt các công trình về giao thông, nhà cửa, thủy lợi, đặc biệt là hồ Song Sắt được xây dựng trên địa bàn đã tạo một khối lượng lớn việc làm thuê ngắn hạn cho người dân

và trở thành một nguồn thu nhập đáng kể của nhiều hộ gia đình nghèo (phụ hồ, vác đá, đổ nhựa đường tiền công 20-45.000 đồng/ngày tùy công việc) Phước Đại có khoảng 200 người đi làm công trình, có khi 1 tuần, có khi 1 -3 tháng, “hết việc lại về làm rẫy”

8 Báo cáo tổng hợp theo dõi đói nghèo của 2 xã Phước Đại, Phước Thành, huyện Bác Ái,

tỉnh Ninh Thuận, tr.4

Trang 14

Điều kiện đường sá, thông tin liên lạc tốt hơn khiến cho xu hướng dịch chuyển lao động đi làm công, làm thuê ra ngoài xã đang tăng lên trong nhổm nam thanh niên: Đi gần sang xã khác trong huyện, sang huyện khác như Ninh Sơn làm dưa, làm mì cao sản, chăn bò thuê ; hoặc đi xa đến tỉnh khác như đi Đắc Lắc, Lâm Đồng làm cà phê, làm cỏ vườn

Thời gian qua, số lượng hàng quán tại chỗ đã tăng lên đáng kể Riêng thôn Tà Lú 1 đã có trên 15 quán Quán vừa là nơi thu mua các sản phẩm của người dân, từ đậu, bắp, khoai mì, đào cho đến cây ăn trái, bò, gà vịt, gùi thậm chí cả phân bò Quán cũng là nơi bán đủ loại tạp hoá như bột ngọt, mì ăn liền, cá khô, quần áo

Khi đường xá tốt hơn và điều kiện kinh tế hộ đã được cải thiện, người dân trong xã, đặc biệt là đồng bào Raglai có cơ hội tiếp cận với nhiều kênh mua bán hơn, như nhóm buôn bán rong

và chợ huyện, chứ không hoàn toàn phụ thuộc vào mua bán (chịu) với hàng quán tại chỗ bị thiệt thòi nhiều như trước Tập quán mua bán của bà con địa phương đã được cải thiện “bán không chỉ theo ca, lon như trước nữa mà dân đã biết bán theo cân, lợi hơn”, “đã biết hỏi giá chợ, giá bán rong được hơn thì bán”

2.3 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến đời sống đồng bào Raglai

Xã Phước Đại là xã có thương mại, dịch vụ phát triển nhất ở Huyện Bác Ái Cùng với sự đầu tư cơ sở hạ tầng, đường xá, và các dịch vụ xã hội khác (như đã kể trên) đã làm cho cuộc sống đồng bào Raglai có những thay đổi đáng kể Đồng bào tiếp cận với buôn bán, dịch vụ, tập quán mua bán thay đổi, biết bán theo cân lấy tiền Đời sống kinh tế của người dân được cải thiện, điều kiện đi lại, tiếp xúc với thông tin đại chúng dễ dàng hơn

Những cán bộ huyện, xã cũng có sự tham gia của đồng bào Raglai như đồng chí Chủ tịch

xã Pinăng Phước, cô Chamalea Bich Phanh , trưởng thôn, già làng là đồng bào Raglai Chính vì vậy qua các cuộc họp thôn, họp làng ý thức của đồng bào càng được nâng cao

Chính những thay đổi đó dẫn đến việc thay đổi để thích nghi trong đời sống của người Raglai ở cả khía cạnh vật chất cũng như tinh thần

Trang 15

CHƯƠNG 3 CỘNG ĐỒNG RAGLAI THÍCH NGHI VỚI QUÁ TRÌNH

ĐỒ THỊ HÓA

Sự thay đổi trước tiên có thể nhận thấy, đó chính là ở cơ cấu tổ chức xã hội

3.1 Thích nghi trong văn hóa tỗ chức xã hội

3.1.1 Mô hình tổ chức xã hội truyền thống

Tổ chức xã hội là một thiết chế xã hội do con người tạo ra để duy trì sự ổn định cuả xã hội Theo thời gian thì thiết chế này cũng thay đổi và có những bước phát triển mới

Trong xã hội người Raglai cũng vậy, tổ chức xã hội từ khi chưa có ánh sáng của Đảng và lúc hiện đại có sự khác biệt rõ rệt Trong phạm vi phần này, nhóm sẽ nghiên cứu về tổ chức xã hội truyền thống của người Raglai tại xã Phước Đại, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận

Việc nghiên cứu cách thức tổ chức xã hội của người Raglai là một điều rất khó khăn do trong một thời gian dài, cộng đồng Raglai đã chịu sự tác động to lớn của các cuộc chiến tranh ác liệt khiến cho họ bị phân tán và tổ chức xã hội truyền thống gần như bị xáo trộn hoàn toàn.Theo nhận định của các nhà nghiên cứu trước đó, thì so với người láng giềng Chăm đã hình thành nhà nước để tổ chức và quản lý xã hội, cộng đồng Raglai vẫn được tổ chức theo hình thức xã hội nguyên thủy Xã hội chưa hình thành các giai cấp, các quan hệ xã hội dựa trên nguyên tắc bình đẳng công bằng Mọi chuyện trong cộng đồng được giải quyết dựa theo luật tục - một quy chế gồm những điều kiêng cự cấm kỵ do các thành viên trong xã hội đề ra

Theo tất cả các công trình nghiên cứu về tộc người Raglai, thì đều thống nhất quan điểm cho rằng Palay là đơn vị cư trú truyền thống, một thiết chế xã hội cơ bản của xã hội cổ truyền người Raglai Điều này cũng tương tự đối với cộng đồng Raglai ở xã Phước Đại

XÃ HỘI RAGLAI

Trang 16

Palay

Palay trước hết là môt thuật ngữ để chỉ địa bàn cư trú mà thường dịch ra tiếng Việt có nghĩa là làng, xóm Nhóm chúng tôi cũng đã thăm hỏi về ý nghĩa của Palay thì rất ít người biết nên không có cơ sở chính xác để kết luận, chỉ biết từ này xuất phát từ cách gọi của các dân tộc ít người ở Tây Nguyên như Bana, Chăm, Ê-Đê , họ đều gọi làng, xóm là Palay

Xã hội Raglai chỉ đơn giản gồm nhiều Palay Những già làng ở đây kể lại rằng ngày xưa những gia đình có họ hàng với nhau như cô, dì , chú, bác, ông, bà thì dựng nhả ở gần nhau, cách nhau từ 3 Om cho đến 45- 50m tạo thảnh một Palay

Palay là đơn vị hành chính cao nhất Trong mỗi Palay thì tính tự trị được thể hiện rõ nét,

có nghĩa là mọi hoạt động lớn nhỏ đều giải quyết trong phạm vi Palay Palay chính là không gian

xã hội lớn nhất, là trung tâm sinh hoạt kinh tế, chính trị xã hội và văn hoá của một cộng đồng mang tính độc lập Trên Palay chưa thấy có tổ chức xã hội hay đơn vị hành chính nào cao hơn

Cff cấu tỗ chức

Qua những lời kể của các già làng như Pinăng Khánh (72t, già làng thôn Ma Hoa), Chamalé Liệu ( 67t, Đảng viên, già làng của thôn Tà Lú 1); hay trưởng thôn Tà Lú 3 , chúng tôi được biết vào thời xưa, cũng giống như đa phần cộng đồng người Raglai ,thì người Raglai ở xã Phước Đại sống tập trung trên các ngọn núi, và lập thành một Palay và thường thì những người có chung

“huyết thống” sẽ sống chung với nhau Sở dĩ chúng tôi nhấn mạnh từ huyết thống vì đây là yếu tố quan trọng quyết định việc hình thành một Palay Bởi trong một Palay chỉ được gồm những gia đình thuộc một dòng họ, tức là dòng họ theo “ mẫu hệ” (phần sau) Cho nên không nhất thiết phải đông gia đình mà có khi chỉ bốn gia đình cũng lập thành một Palay Những Palay này ngăn cách bằng các đặc điểm tự nhiên những con sông, con suối, quả đồi thậm chí có thể là gốc cây.v.v Người ta thường đặc tên cho các Palay này theo địa bàn cư trú, theo tên tuổi con sông,

theo núi; hoặc sự tích liên quan đến lịch sử hình thành Palay Ví dụ: Palay MaTy, Palay Tá Lú

Trang 17

Lãnh thổ mỗi Palay rất rộng, thường chiếm cả một vùng gồm nhiều ngọn núi, cũng

có làng chỉ chiếm một quả núi, thậm chí có làng chỉ chiếm một phần núi tuỳ theo từng

vùng từng nơi Từ Palay này đến Palay khác thường cách khá xa, gần nhất cũng phải 5

đến 10 km, có nơi các Palay cách nhau cả một ngày đường đi bộ

Khu dân cư thường thường được bố trí tuỳ theo địa hình, có khi nhà ở được bố trí

ở trên núi, có nơi lại ở lưng chừng núi, cũng có các Palay nằm ở lưng chừng núi hay các

thung lũng

Trên lý thuyết, đứng đầu những Palay là Po-Palay Po-Palay phải là người có “Po

wát”, tức là người có tài năng, uy tín, được nhiều người kính trọng, là người nói được

làm được, thường là người có công khai phá đất đầu tiên hoặc là người có nhiều tài sản

nhất hay dũng cảm nhất, thậm chí đó có thể là thầy cúng, (theo lời cô Mấu Thị Bích

Phanh- cựu phó chủ tịch UBND huyện Bác Ái) Các Po-Palay giải quyết các vấn đề dựa

vào luật tục

Vỉ dụ: nếu người chồng bỏ vợ thì phải đền cho gia đình vợ số trâu, bò tương

đương với số con của mình (vỉ dụ: 2 người con- 2 con trâu, )

Đứng đầu

Ngoài Po-Palay, còn có một người gọi là Po-Chưq (chủ núi) là người thông thuộc ranh giới của đất đai thuộc phạm vi mình quản lý trong đó có ruộng, nương rẫy thuộc sở hữu gia đình, sở hữu dòng họ, sở hữu cộng đồng Phạm vi quản lý của Po Chưq thường trùng khớp với địa giới của Palay nhưng cũng có trường hợp gồm nhiều Palay

Một nhân vật khác cũng được nhắc tới trong tổ chức quản lý xã hội truyền thống của cộng đồng người Raglai đó là Po Charanã (chủ xử việc) là người chủ trì các cuộc Peq Charanã (phân xử

sự việc) lớn nhỏ trong Palay Đây là người am hiểu sâu sắc phong tục tập quán, nắm rõ những điều kiêng cữ, cấm kỵ của dân tộc mình và quan trọng hơn là người có cuộc sống mẫu mực, có đạo đức

và là người có uy tín trong một Palay

Bijâu : hay còn gọi là thầy cúng, ông là người chăm lo việc thờ cúng, nghi lễ trong

làng

PALAY PO-PALAY

Như vậy có thể thấy qua chức danh và chức trách thì việc quản lý xã hội cộng đồng người Raglai cũng đã có sự phân công, bổ nhiệm theo từng công việc

3.1.2 Tỗ chức xã hội trong sự thích nghi với đời sống mới

a, Hệ thống quản lý xã hội có sự tham gia của con người dân tộc

Quá trình đô thị hóa đã có một tác động mạnh mẽ tổ chức quyền lực của xã hội người Raglai

ở xã Phước Đại Từ khi chuyển từ vùng núi xuống sống tập trung thành trong một địa bàn Mô hình

tổ chức xã hội truyền thống đã từng bước bị thay thế bởi cơ

Trang 18

cấu mới Ngày nay hầu như các Palay truyền thống của người Raglai đã không còn nữa mà họ đang sống theo đơn vị hành chính hiện hành dưới huyện là xã, dưới xã là các thôn Thôn là đơn vị hành chính nhỏ nhất và là tập hợp của nhiều Palay trước đây

Nguyên tắc tổ chức và hoạt động hệ thống quản lý xã hội Việt Nam hiện nay là : Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo- Nhà nước thực thi công việc quản lý và người dân tham gia thông qua các tổ chức chính trị-xã hội và các tổ chức quản lý quần chúng

Có thể nói mô hình cơ cấu này đã thay thế hoàn toàn tổ chức cũ, sở dĩ như vậy là hiện nay

bà con người Raglai không còn sống rải rác trong rừng hay trên núi nữa mà đã tập trung trong một địa bàn nhất định, hơn nữa hiện nay họ sống trong một đất nước đa dân tôc nhưng thống nhất dưới

sự lãnh đạo của một Đảng, vì vậy điều dĩ nhiên là một bộ máy hành chính hoàn thiện sẽ thay thế hoàn toàn cơ cấu tổ chức xã hội cũ Toàn xã Phước Đại hiện có 5 thôn : Tà Lú l,Tà Lú 2, Tà Lú 3,

Ma hoa và Châu Đắc Đảng ủy là tổ chức chính trị đứng đầu các xã ngày nay Đảng bộ xã có nhiệm vụ:

• Đề ra chủ trương nhiệm vụ chính trị của Đảng và thực hiện có hiệu quả

• Lãnh đạo chính quyền nhằm thực hiện tốt tất cả các lĩnh vực: kinh tế, quốc

phòng, an ninh, rân hoá, giáo dục

• Lãnh đạo nhân dân tập trung thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội Mặc dù đây là mô hình hoàn toàn theo người Việt, tuy nhiên không vì thế mà người Việt nắm vai trò cốt cán trong bộ máy chính quyền mà tất cả các bí thư chi bộ ở xã Phước Đại qua các thời kì đều là người Raglai Như vậy, không những thể hiện sự bình đẳng dân tộc mà còn là biện pháp để giúp cho việc đi sâu sát vào đời sống của bà con được thực hiện tốt hơn

Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân trong xã bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân của xã và cơ quan huyện Bác Ái Các đại biểu trong Hội đồng nhân dân xã là người Raglai chiếm 95%, giống như Hội đồng nhân dân cấp Huyện, Hội đồng nhân dân xã có hai chức năng là quyết định và giám sát

ủy ban nhân dân: có nhiệm vụ quản lý toàn diện trên địa bàn xã, tổ chức và thực hiện những nghị quyết và quyết định của Hội đồng nhân dân Chủ tịch ủy ban nhân dân xã Phước Đại hiện nay

là đồng chí Pinăng Phước, là một người con của dân tộc Raglai

Các tổ chức chính trị xã hội khác như hội phụ nữ, hội nông dân cùng cộng tác với Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân nhằm thực hiện việc quản lý được tốt hơn Các tổ chức chính trị xã hội được tổ chức theo giới, độ tuổi hay nghề nghiệp, hoạt động trực tiếp dưới sự lãnh đạo của Đảng Hiện nay, những người tham gia lãnh đạo các tổ chức này đều là người Raglai, điển hình như chủ tịch hội phụ nữ xã là cô Ka Dá Thị Lính

Hỗ trợ cho công việc của ủy ban nhân dân là các trưởng thôn- là những cá thể tình nguyện tham gia vào bộ máy hành chính Nhà nước theo sự ủy thác của quần chúng nhân

Trang 19

dân Bên cạnh trưởng thôn còn có phó thôn và già làng Có thể xem đây là hình thức gần gũi nhất của xã hội truyền thống Raglai Theo khảo sát, trưởng thôn là người có vai trò rất quan trọng đối với người dân nói chung và người nghèo nói riêng, để được cung cấp và xử lý thong tin Hầu hết các việc cho vay tiền ngân hang, mua hàng trợ giá- trợ cước, nuôi bò rẽ của định canh định cư đều

do trưởng thôn làm giúp Ngoài trưởng thôn, khi đi đến các thôn tìm hiểu thong tin chúng tôi cũng được người dân chỉ đến nhà của các già làng, tất cả chúng tôi đều thấy một sự phấn khởi khi tìm đến, và xem xem liệu già làng ngày nay có khác gì so với những Po-Palay của truyền thống không

Già làng là người được tất cả các thành viên trong làng chọn trong số những người đàn ông cao tuổi và được nể trọng nhất làng (ở thôn Tà Lú 1, già làng là ông Chamalé Liệu, 67 tuổi, ) Trong xã hội truyền thống, già làng là người quyết định mọi công việc trong làng, ông phải là người

có kinh nghiệm sản xuất, hiểu biết về lịch sử, phong tục của làng và dân tộc mình Già làng còn là người hướng dẫn dân trong làng tổ chức sản xuất và đời sống Nhưng trong xã hội ngày nay, già làng không phải là nhân vật chủ chốt, quyết định mọi công việc trong làng của mình, ông chỉ là người tham vấn cho thôn, xã, cùng họ quản lý, điều hành các công việc trong phạm vi địa bàn của mình Tuy nhiên, già làng ngày nay vẫn phải là người hiểu biết sâu rộng về phong tục tập quán, là người có kinh nghiệm trong việc thờ cúng, tổ chức nghi lễ cưới, ma chay Bên cạnh đó, già làng bằng uy tín của mình luôn hỗ trợ thôn để giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn, xích mích trong làng cũng như các công việc như tuyên truyền các đường lối chính sách của Đảng vào đời sống nhân dân, góp phần đưa đồng bào dân tộc Raglai có đời sống tốt đẹp hơn, hiện đại hơn nhưng vẫn giữ được bản sắc của mình

Có nghĩa là, dù cho có bộ máy chính quyền, không còn nữa những palay mà thay bằng các thôn, thì người Raglai vẫn giữ cho mình những nét truyền thống, tuy nhiên để thích nghi thì cả truyền thống và hiện đại đều có những sự điều chỉnh cho phù hợp Chính quyền đã có những thay đổi cho phù hợp với tình hình thực tế, cụ thể là phần lớn người Raglai nắm giữ những chức vụ trong

bộ máy chính quyền, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách cụ thể nhằm tăng cường

sự tham gia của cấp cơ sở và người dân, như các qui chế và phân cấp, dân chủ cơ sở, giám sát cộng đồng không những thế thì vai trò của già làng vẫn còn rất quan trọng dù không phải là người nắm

vị trí tối cao nữa

b, Cơ chế điều hành có sự phổi hợp giũa truyền thống và hiện đại

Do chưa bao giờ hình thành một nhà nước tập trung để quản lý và điều hành xã hội nên qua quá trình nghiên cứu và khảo sát chúng tôi nhận thấy rằng, hình thức quản lý xã hội người Raglai vẫn còn mang đậm nét truyền thống nhưng lại cũng thích nghi nhanh chóng với loại hình tổ chức

và quản lý xã hội hiện đại Điều này được thể hiện rõ nét qua việc có sự phối hợp giữa cách quản

lý xã hội theo luật pháp và theo luật tục

Luật tục của người Raglai: người Raglai có riêng cho mình những luật tục: đó là những điều kiêng cự, cấm kỵ được ông bà tổ tiên đề ra và truyền cho các thế hệ sau này, là cơ sở để giữ vững chuẩn mực đạo đức, tôn ti trật tự trong gia đình và ngoài xã hội Luật tục Raglai bắt đầu từ những lời răn dạy trở nên có hiệu lực cao hơn bằng các quy

Ngày đăng: 06/03/2017, 13:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w