1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những xu hướng đánh giá khác nhau về nguyễn văn vĩnh

49 288 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 556,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài phần tóm tắt công trìnhl trang, đặt vấn đề 2 trang , kết luận - đề nghị 2 trang , tài liệu tham khảo và phụ lục là 3 chương chính: Chương 112 ưang: Những vẩn đề xung quanh Nguyễn V

Trang 1

TÁC GIẢ: Ngô Thị Thanh Loan

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH

Nguyễn Văn Vĩnh(1882 - 1936) được xem là một nhân vật “có vấn đề” trong lịch

sử nước nhà, hiện vẫn đang được giới nghiên cứu vãn học quan tâm Ông là một trí thức Tây học đầu thể kỷ XX, là người có công đầu trong việc khai sáng và truyền bá chữ quốc ngữ Ông đồng thời còn là một nhà văn, nhà báo, nhà dịch thuật trứ danh Dư luận đã dành cho Nguyễn Văn Vĩnh những đánh giá ngược chiều nhau xung quanh sự nghiệp, cuộc đời hoạt động và những việc làm của ông Thực hiện đề tài, chúng tôi đã đi tìm hiểu và nhận định lại những đánh giá khác nhau mà người đời dành cho ông, đồng thời khẳng định và ghi nhận những đóng góp lớn lao của Nguyễn Vãn Vĩnh đối với đất nước và dân tộc

Đề tài bao gồm 49 trang chính vãn Ngoài phần tóm tắt công trình(l trang), đặt vấn đề( 2 trang ), kết luận - đề nghị( 2 trang ), tài liệu tham khảo và phụ lục là 3 chương chính:

Chương 1(12 ưang): Những vẩn đề xung quanh Nguyễn Văn Vĩnh, trình bày về tiểu sử(thân thế, sự nghiệp) của Nguyễn Văn Vĩnh, sự nghiệp vãn học gắn liền với công cuộc truyền bá chữ Quốc ngữ của ông, đồng thời cũng đề cập đến tờ Đông Dương Tạp Chí

- tờ báo mà ông Vĩnh chủ trì để làm rõ thêm công lao to lớn của ông và nhóm Đông Dương Tạp Chí đối với nền báo chí và văn học nước nhà

Chương 2(20 trang): Những xu hướng đánh giá khác nhau về Nguyễn Vãn Vĩnh từ trước năm 1945 đến trước đổi mới năm 1986, trình bày hai xu hướng đánh

giá: tích cực và tiêu cực về Nguyễn Văn Vĩnh, trích dẫn những ý kiến đánh giá của những người đương thời và những bài viết về ông Bên cạnh đó còn đi phân tích những ý kiến đánh giá ấy như: đánh giá nào là hợp lý, đánh giá nào quá khắt khe và tại sao lại đánh giá như vậy? Qua đó nhằm làm rõ thêm cuộc đời hoạt động tích cực và công lao to lớn của Nguyễn Văn Vĩnh đối với nền quốc vãn

Chương 3(12 ưang): Những đánh giá về Nguyễn Văn Vĩnh trong thời gian gần đây, trình bày và trích dẫn những ý kiến đánh giá mới về Nguyễn Văn Vĩnh đăng trên

các báo hoặc trong bài viết của những nhà nghiên cứu hiện nay, và đi phân tích những ý kiến đánh giá ấy Đồng thời còn có phần Nghĩ tiếp về Nguyễn Văn Vĩnh như một cách

để người thực hiện đề tài bộc lộ những suy nghĩ riêng của mình về Nguyễn Vãn Vĩnh và

về những ý kiến đánh giá mà người đời dành cho ông Qua đó, cũng nêu lên một định hướng đứng đắn khi đi đánh giá một nhân vật lịch sử nói riêng và một con người nói chung:

đã là con người thì không ai hoàn hảo, đừng vĩ một vài khuyết điểm của họ mà phủ nhận hết công lao của họ

Trang 2

Cuối cùng, đi đến khẳng định lại công lao to lớn của Nguyễn Vãn Vĩnh đối với nền báo chí và vãn học nước nhà

PHẦN I: ĐẶT VÁN ĐỀ

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong thời gian gần đây, cái tên Nguyễn Văn Vĩnh xuất hiện trên văn đàn như một vấn đề mang tính thời sự Nguyễn Văn Vĩnh(1882 - 1936) là một trí thức Tây học có những hoạt động nổi bật trong lịch sử vãn học Việt Nam đầu thế kỷ XX, là người có công đầu trong việc khai sáng và truyền bá chữ Quốc ngữ - vãn tự mà hiện nay chúng ta đang dùng Nguyễn Vãn Vĩnh không phải là người sáng lập ra chữ Quốc ngữ, nhưng để cho chữ Quốc phổ biến trong dân tộc và trở thành quốc văn thì phải kể đến công lao to lớn của ông Ông từng là chủ bút của những tờ báo nổi tiếng thời bấy giờ như Đại Nam Đăng cổ Tùng Báo

- tờ báo duy tân tích cực của nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục; Đông Dương Tạp Chỉ - tờ

tạp chí lớn thuộc loại đầu tiên ở Hà Nội; Trung Bắc Tân Văn, L’Annam nouveau,v.v Ông còn là dịch giả của nhiều tác phẩm văn học Pháp nổi tiếng như Những kẻ khốn nạn của Victor Hugo, Thơ ngụ ngôn của La Fontaine, hài kịch của Molière, v.v Cùng với sự nghiệp báo chí và dịch thuật của mình, Nguyễn Văn Vĩnh đã ghi một dấu ấn đầu tiên trong lịch sử truyền bá chữ Quốc ngữ ở nước ta Thế nhưng, trong khi ông làm mọi việc để thỏa cái chí “tang bồng” thì cũng từ đó người đời đã có những đánh giá khác nhau về ông, thậm chí trái ngược nhau, có lẽ vì ông từng cộng tác với thực dân Pháp Có người xem ông là nhà văn hóa, nhà dịch thuật trứ danh, là người yêu nước thương dân, mọi việc làm đều vì dân vì nước Nhưng cũng có người cho rằng ông theo Tây để mưu cầu danh lợi, phản bội lại quyền lợi của dân tộc và đất nước Thực hư ra sao, dư luận đã đánh giá về Nguyễn Văn Vĩnh như thế nào, ai có lý, ai quá khắt khe, tại sao như vậy? Đây hiện là một vấn đề mà giới nghiên cứu văn học đang rất quan tâm khi nhắc tới con người này

Hơn nữa, chúng ta là người Việt Nam, sống trong lòng tiếng Việt, nhưng chẳng mấy ai hiểu rõ nguồn cội của tiếng nước mình : ai đã sáng lập ra nó, ai đã có công truyền

bá và làm cho nó được tinh tể, sáng rõ như ngày hôm nay? Nhất là tầng lớp thanh niên bây giờ, có người còn chẳng biết Nguyễn Văn Vĩnh là ai! Đó là một điều gay go và thật đáng buồn! Thêm vào đó, những nghiên cứu về Nguyễn Vãn Vĩnh hiện nay còn khá ít, chưa xứng đáng với công lao của ông đối với đất nước, dân tộc

Vì những lý do thiết yếu trên, chúng tôi quyết định chọn và thực hiện đề tài

‘‘Những xu hướng đánh giá khác nhau về Nguyễn Văn Vĩnh ” như một cách tổng hợp

lại những ý kiến đánh giá về ông, nhìn nhận lại về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh để hiểu thêm về con người này và cũng để chứng

Trang 3

minh một điều rằng thanh niên bây giờ không thờ ơ với những vấn đề lịch sử trong nước!

2 MỤC TIÊU CỦA ĐÈ TÀI

- Tim kiếm và tập hợp cho được những tư liệu đã viết về Nguyễn Vãn Vĩnh trong

quá khứ và hiện tại, đi sâu tìm hiểu và phân tích để biết được một cách rõ ràng dư luận đã đánh giá về Nguyễn Văn Vĩnh như thế nào, ai có lý, ai quá khắt khe, tại sao như vậy?

- Giúp cho thế hệ hôm nay có một cái nhìn đúng đắn và sâu sắc về Nguyễn Văn

Vĩnh bên canh những đóng góp và những hạn chế của ông

- Góp thêm một nguồn tư liệu về Nguyễn Văn Vĩnh cho văn học nghiên

cứu

- Được công nhận là đề tài nghiên cứu thành công

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu

Các phương pháp chính:

- Phương pháp lịch sử - xã hội: vận dụng quan điểm lịch sử - xã hội để xác định

vị trí của Nguyễn Văn Vĩnh đối với nền quốc văn trong giai đoạn đầu thế kỷ XX, và theo

đó cũng đồng thời xác nhận những đánh giá về Nguyễn Văn Vĩnh như thế nào: cái nào có

lý, cái nào quá khắt khe và tại sao lại đánh giá như vậy?

- Phương pháp phân tích - tổng hợp: tổng hợp những ý kiến đánh giá về Nguyễn

Vãn Vĩnh và đi phân tích để làm sáng tỏ những mắc mớ, phức tạp xung quanh cuộc đời và

sự nghiệp của ông

- Phương pháp hệ thống: đặt Nguyễn Văn Vĩnh trong mối liên hệ giữa xã hội cũ

và mới để xác định công lao của ông đối với đất nước và dân tộc

Theo đó, thao tác khoa học chủ yếu là thao tác sưu tầm: sưu tầm và tập hợp tài liệu nghiên cứu về Nguyễn Văn Vĩnh, nhất là những tài liệu về thân thế sự nghiệp của ông

và những ý kiến đánh giá của người đời về ông, đó là các cuốn sách, các bài báo, các bài tiểu luận, phê bình vãn học Ngoài ra còn sưu tầm một số tài liệu về những vấn đề có liên quan đến đề tài

Trang 4

PHẦN II: GIẢI QUYẾT VÁN ĐỀ

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐÈ XUNG QUANH NGUYỄN VĂN

VĨNH

1.1 TIỂU SỬ NGUYỄN VĂN VĨNH

Nguyễn Văn Vĩnh(1882 - 1936) là một trí thức Tây học có những hoạt động nổi bật trong lịch sử vãn học Việt Nam đầu thế kỷ XX Ông vừa là nhà vãn, nhà báo, nhà dịch thuật trứ danh, thậm chí là nhà vãn hóa lớn Ông có công đầu trong công cuộc khai sáng và truyền bá chữ Quốc ngữ, đặt nền móng cho nền báo chí và vãn chương Quốc ngữ Việt Nam Ông đã có những đóng góp lớn lao trong việc xây dựng chiếc cầu nối giữa hai nền văn hóa Đông - Tây đầu thế kỷ XX

Nguyễn Văn Vĩnh sinh ngày 15 - 6 - 1882 tại số nhà 46 phố Hàng Giấy, Hà Nội, trong cảnh loạn lạc, vào lúc thành Hà Nội bị quân Pháp đánh chiếm lần thứ hai được hơn một tháng Quê gốc của ông ở làng Phượng Vũ, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông(nay là huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây), một vùng đồng chiêm quanh năm nước ngập, nghèo đói nên bố mẹ ông phải bỏ quê ra thành phố kiếm ăn, ở nhờ nhà bà nghè Đại Gia(tức ông nghè Phạm Huy Hổ) và sinh ông tại đây

Thòi thơ ấu và niên thiếu(1882 - 1896):

Suốt thời thơ ấu, Nguyễn Vãn Vĩnh sống ở phố Hàng Giấy, hồi đó đã trở thành một phố cô đầu, khách làng chơi Tây, Tàu, ta lui tới tấp nập Nguyễn Văn Vĩnh xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, đông con, ông lại là con lớn, nên lên tám tuổi, để đỡ gánh nặng cho gia đình, bố mẹ xin cho đi làm thằng nhỏ kéo quạt ở trường Thông ngôn của Pháp mới mở ở đình Yên Phụ Cậu bé ngồi phía cuối lớp kéo hai chiếc quạt nối liền nhau, vừa quạt mát cho giáo viên vừa quạt mát cho học sinh - những ông tú tài nho học thất thế quay ra học tiếng Pháp để làm thông ngôn Cậu cũng chăm chú nghe giảng và tranh thủ học, nói được và viết được tiếng Pháp, lại còn thông thạo hơn nhiều học sinh lớn tuổi khác Hiệu trưởng D’Argence thấy vậy, sau ba năm mãn khóa(1893), cho cậu thi thử tốt nghiệp và cậu đỗ thứ 12 trong tổng số 40 học sinh của lớp khi mới 11 tuổi Hiệu trưởng đặc cách nhận cậu vào làm học sinh chính thức của lớp thông ngôn tập sự ngạch tòa sứ, được hưởng học bổng theo học khóa tiếp theo, từ 1893 đén 1895

Trang 5

Cuộc đòi công chức(1896 - 1906):

Năm 1895, mãn khóa học lớp thông ngôn tập sự ngạch tòa sứ, Nguyễn Văn Vĩnh thi và đỗ thủ khoa lúc mới 14 tuổi Tháng 1 - 1896, ông được tuyển đi làm thông ngôn ở tòa sứ Lào Cai, bắt đầu cuộc đời viên chức ở tuổi vị thành niên Ông được người Pháp cử làm thông ngôn cho đoàn chuyên gia nghiên cứu và chuẩn bị xây đường sắt Hải Phòng -

Hà Nội - Lào Cai - Vân Nam của công ty Hỏa Xa Vân Nam Con đường sắt này rất cần thiết cho việc khai thác tài nguyên của thuộc địa mới Nguyễn Văn Vĩnh vừa làm việc vừa say mê học hỏi, cởi mở, thông minh, lanh lợi nên được các chuyên gia Pháp mến và giúp

đỡ rất nhiều

Năm 1897, sau một năm làm thông ngôn tòa sứ Lào Cai, Nguyễn Vãn Vĩnh được chuyển về làm thông ngôn tòa sứ Hải Phòng(theo đoàn chuyên gia khi họ chuyển về Hải Phòng chuẩn bị cơ sở vật chất để xây dựng đường sắt), làm việc trong 4 năm, từ 1897 đến

1901 Công việc của ông rất nhiều, ngoài việc thông ngôn cho các chuyên gia đón tàu nước ngoài vào cảng, còn phải tiếp nhận những vật tư kĩ thuật, hướng dẫn các công việc bốc rỡ, vận tải và xếp kho Hàng ngày được giao tiếp với thủy thủ các tàu Pháp, Anh, Hoa đã tạo điều kiện thuận lợi cho ông tự học thêm tiếng Anh và tiếng Hoa Sau ba tháng ông đã dịch được hai thứ tiếng này đủ để đoàn chuyên gia Pháp làm việc, họ đỡ phải tuyển thông ngôn tiếng Anh và tiếng Hoa, và vì vậy họ rất yêu mến cậu thông ngôn người bản xứ Cũng trong thời gian này, Nguyễn Vãn Vĩnh đã mua lại bộ sách của một thủy thủ Pháp và tự học hết chương trình Trung Học Phổ Thông trong khoảng hai năm Môn học ông thích thú nhất là triết học, chính trị và văn học Ông đã lập danh mục những sách cần phải gửi mua để học thêm Sau 4 năm làm ở Hải Phòng, ông đã dành dụm mua được cả một hòm sách, tài sản quý giá mà đi đâu ông cũng mang theo

Sau khi học hết chương trình Trung Học và đọc những sách chính trị, triết học, tiểu thuyết văn học Pháp, rồi hàng ngày được đọc sách báo và tạp chí nước ngoài đủ các loại(mượn của các thủy thủ nước ngoài), Nguyễn Văn Vĩnh nhận thấy là dân tộc An Nam không có chữ riêng của mình, phải dùng chữ Nôm, loại chữ bắt chước chữ nho, khó học

Ỷ nghĩ phát triển chữ Quốc ngữ, dễ học, để giúp cho bản thân và dân tộc mở mang kiến thức đã nhen nhúm trong đầu ông từ đó Với ý nghĩ đó, giai đoạn từ năm 1899, lúc mới được 17 tuổi, Nguyễn Vãn Vĩnh đã bắt đầu dịch những cuốn sách đầu tiên(thơ ngụ ngôn của La Fontaine, Chuyện Trẻ Con của Perrault, ) và tập viết báo bằng tiếng Pháp đăng trên tờ Courrier de Hai Phong (Tin Tức Hải Phòng) Những bài đầu tay là những tin ngắn nói về tình hình trong cảng, tình hình xây dựng cảng, xây dựng nhà máy và thành phố Sau những bản tin ông tiến tới viết những bài nói về sinh hoạt và nếp sống của nhân dân thành phố cảng và trở thành cộng tác viên An Nam đầu tiên của tờ báo

Ông còn tham gia dạy chữ Quốc ngữ, tiếng Pháp và nói chuyện khoa học ở Hội Trí Tri(mục đích của Hội là mở mang dân trí và giúp đỡ mọi người học

Trang 6

tập) Hội trưởng là ông Nguyễn Hữu Thu, tức ông Thông Vôi, thấy ông am hiểu nhiều lại nhiệt tình, đã thay mặt Hội xin học bổng cho ông sang Pháp học nhưng Nguyễn Văn Vĩnh

từ chối vì lý do: mẹ mất, bố đã nhiều tuổi, phải lập gia đỉnh để có con nối dõi Và năm

1900, đúng 18 tuổi, Nguyễn Văn Vĩnh lấy vợ là bà Đinh Thị Tính, 19 tuổi, cùng quê gốc với ông nhưng sống ở Hà Nội

Từ năm 1902 - 1905, Nguyễn Văn Vĩnh được điều lên làm thông ngôn tòa sứ Bắc Giang Bốn năm làm việc ở tòa sứ Bắc Giang ông đã đạt tới tột cùng của nghề công chức: chánh văn phòng tòa sứ Công sứ Bắc Giang lúc bấy giờ là ông Hauser, một trí thức Pháp

có đầu óc dân chủ và có ý thức đúng đắn về nhân quyền, rất tin cậy và mến phục tài năng của Nguyễn Vãn Vĩnh, đã đề bạt ông Vĩnh lên làm chánh văn phòng tòa sứ Bắc Giang, mọi việc lớn nhỏ đều giao cả cho ông Vĩnh, xem ông Vĩnh như một cộng tác viên thân cận, một người bạn Hauser được điều đi đâu thì Nguyễn Văn Vĩnh cũng được điều đi đó

Năm 1906, công sứ Hauser được đề bạt lên làm Đốc lý tại Hà Nội và Nguyễn Văn Vĩnh cũng được điều về làm thông ngôn tòa Đốc lý Hà Nội Khi toàn quyền Pháp Beau chủ trương mở mang học hành, lập các tổ chức y tế và từ thiện, giao cho Hauser nhiệm vụ giúp đỡ người Việt làm đơn xin mở các trường, các hội đệ lên phủ thống sứ để duyệt, Hauser đã giao toàn bộ việc này cho Nguyễn Văn Vĩnh Vì thế Nguyễn Vãn Vĩnh trở thành một trong những người đầu tiên sáng lập ra các trường và các hội thời bấy giờ như trường Đông Kinh nghĩa thục, Hội dịch sách, Hội Trí Tri, Hội giúp đỡ người Việt sang Pháp học

và nhiều trường, nhiều hội khác nữa

Cũng trong năm 1906, ông sang Pháp dự Đấu xảo thuộc địa ở Marseilles với danh nghĩa là thư ký của ông Đốc lý thành phố Hà Nội và ở lại Pháp trong 6 tháng(từ tháng 3 đến tháng 8) Tại đây, ông đến thăm nhà in và báo “Revue de paris”, nhà xuất bản Hachette, nhà soạn và in từ điển Larousse, tìm hiểu phong trào báo chí Pháp và nền dân chủ Pháp, tận mắt thấy những phương tiện và phương pháp dùng để truyền đạt chữ nghĩa và tư tưởng của người Pháp Ông là người đầu tiên gia nhập Hội nhân quyền Pháp(1907) Cuộc công cán sang Pháp đã kết thúc cuộc đời công chức của Nguyễn Văn Vĩnh và cũng là tổng kết

17 năm tự học của ông Sang Pháp ông được thấy tận mắt nền vãn minh của một nước tiên tiến phương Tây, được khảo sát tại chỗ nghề làm nhà in và làm báo Ông nhận thức được rằng việc nâng cao dân trí là rất quan trọng, tương lai của đất nước và dân tộc phụ thuộc cả vào đó Và ông quyết tâm in được thật nhiều sách báo để truyền bá chữ Quốc ngữ và làm cho chữ Quốc ngữ trở thành chữ viết của dân tộc

Cuồc đòi làm báo và “ngã guc nẻo Lào”(1906 - 1936):

Từ Pháp trở về, Nguyễn Văn Vĩnh quyết định từ bỏ đời sống viên chức và chuyển sang nghiệp làm báo tự do, tích cực phát triển báo chí tại Bắc kỳ

Trang 7

Năm 1907, ông cùng người Pháp Dufour lập nhà in Dufour-Nguyen Vãn Vĩnh ở

Hà Nội, đồng thời làm chủ bút Đăng cổ Tùng Báo - tờ báo ngôn luận viết bằng chữ Quốc

ngữ đầu tiên của nước ta với bút danh Tân Nam Tử Tờ báo này có cả phần Pháp văn nhan

đề Tribune Indochinoise (Diễn Đàn Đông Dương) Cũng trong năm này, ông dịch Kim

Vân Kiều từ chữ Nôm ra chữ quốc ngữ để phổ biến chữ quốc ngữ Từ 1907 đến 1923, sách

đã bán gần nửa triệu cuốn

Năm 1908-1909: Đăng cổ Tùng Báo bị đình bản vĩ chính quyền bảo hộ nhận thấy

tờ báo này theo khuynh hướng cách mạng do cụ Phan Chu Trinh đề xướng, đình bản báo

và bắt giam các nhà nho và thanh niên Tây học Nguyễn Văn Vĩnh cũng bị bắt nhưng ông

là hội viên của Hội nhân quyền, lại quen biết với ông Hauser và Schneider đang có thế lực nên chẳng bao lâu ông đã được thả(ông Schneider là kĩ sư ngành in, ký hợp đồng sang giúp chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương Ban đầu làm việc trong xưởng in của nhà nước, sau mở nhà in riêng Ông là một trong những người thầy đầu tiên dạy người Việt Nam làm báo và nhà in) Sau khi được trả tự do, Nguyễn Văn Vĩnh đứng ra chủ trương tờ báo tiếng Pháp Notre Journaỉ(Báo của chủng ta) sau đổi thành Notre Revue{Tạp chỉ của chúng

ta), ra được 12 số, Nguyễn văn Vĩnh làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, mục đích của ông là

làm cho người Pháp hiểu người An Nam và vãn hóa An Nam

Năm 1910, Nguyễn Văn Vĩnh vào Nam làm chủ bút Lục tinh tân văn do ông F

Từ 1916, ông cùng với Trần Trọng Kim mở ra tập Nam học niên khoá để cho các trường có đủ tài liệu dạy học trò, và đặt ra phương pháp mới dạy quốc ngữ thông dụng ở khắp các trường từ đó cho đến 1945

Từ 1918, ông làm chủ nhiệm nhà in TrungBẳc tân văn và Ẩu Tây tư

tưởng(t\\ằxủ\ lập cùng người Pháp Vayrac)

Năm 1922, Nguyễn Vãn Vĩnh được cử đi dự đấu xảo thuộc địa ở Marseilles(lần thứ hai) cùng với Phạm Quỳnh và Phạm Duy Tốn Nhân dịp này ông đã đi thăm thủ đô Berlin, quê hương của Guttenberg, người sáng chế ra máy in Ông nảy ra ý định đổi mới

nhà in của ông Schneider để lại và công nghệ ấn loát, về nước, Nguyễn Văn Vĩnh đã thế

chấp nhà in và tài sản để vay tiền ngân hàng Đông Dương đầu tư cho công việc đó

Trang 8

Năm 1927, ông khởi xướng ra vấn đề cải cách chữ quốc ngữ, gọi là lối chữ “Quốc ngữ mới” làm xôn xao dư luận

Năm 1930, kinh tế khủng hoảng tại nhiều nước, kinh tế Đông Dương lâm vào tình trạng đình đốn nguy kịch, sách báo không bán được Ngân hàng Đông Dương đòi Nguyễn Văn Vĩnh trả ngay món nợ đã vay, ông không trả được, bị ngân hàng tịch thu nhà in đem bán đấu giá

Năm 1931, Nguyễn Văn Vĩnh tổ chức lập hội buôn, gom cổ phần ra báo tiếng Pháp

ƯAnnam nouveau(Nước Nam mới), vừa làm chủ nhiệm, vừa làm chủ bút của báo từ

1931 đến đầu năm 1936 Trong suốt 5 năm, ông đã viết hàng ngàn bài xã luận, phóng sự,

Năm 1932, vua Bảo Đại về nước Ông được triều đình Huế mời vào làm quan trong triều nhưng ông đã từ chối Ông có viết bài phóng sự Từ triều đình Huế trở về thẳng thắn nêu ra sự vô ích của một bộ máy cai trị bù nhìn

Đầu năm 1936, bị ngân hàng gây sức ép bán đấu giá tài sản, Nguyễn Vãn Vĩnh phải sang Lào đi tìm vàng để trả nợ Lần đi thứ nhất ông đã lâm bệnh, về Hà Nội điều trị mới đỡ ông lại ra đi nữa Ngày 1 - 5 - 1936, ông chết trên một con thuyền độc mộc trên dòng sông Sê-băng-ghi, bản Ban-san-khup (Tchepone, Lào), ở tuổi 54, không rõ nguyên nhân Theo thông báo của chính quyền, Nguyễn Văn Vĩnh chết do bệnh liết lị Nhưng gia đình cho rằng ông bị đầu độc, bởi khi vợ con ông sang Lào mang xác về, thi thể ông bị tím đen không nhận ra được, vợ ông chỉ nhận ra ông nhờ vết sẹo trên người Khi chết, trong tay ông là một chiếc quản bút, đang viết dở thiên ký sự bằng tiếng Pháp Một tháng với

những người tìm vàng (Un mois avec des chercheurs d’or) đang đăng tải trên báo L’Annam nouveau Thi thể ông được đưa về Hà Nội và đám tang được tổ chức trọng thể

theo nghi thức của Hội Tam Điểm(Franc- Maconnerie, một hội kín có từ thời cách mạng Pháp, 1789), có rất đông người đến viếng ông, đông nhất là tầng lớp sinh viên, thanh niên

Ket thúc cuộc đời của một trí thức tài ba, lỗi lạc nhưng bạc mệnh, điều đáng ghi nhận và cảm phục nơi Nguyễn Văn Vĩnh là cái trách nhiệm mà ông tự gắn cho mình: nâng cao dân trí và cái quyết tâm sắt đá của ông: làm cho chữ Quốc ngữ trở thành chữ viết của dân tộc Cuộc đời ông là những chuỗi ngày dài hoạt động không biết mệt mỏi vì dân vì nước, đặt nền móng cho việc khai trí dân tộc

1.2 VĂN NGHIỆP CỦA NGUYỄN VĂN VĨNH VÀ CÔNG CUỘC TRUYỀN BÁ CHỮ QUỐC NGỮ

Suốt cuộc đời đeo đẳng nghiệp chữ nghĩa, Nguyễn văn Vĩnh luôn có thiện chí muốn xây dựng một nền quốc văn vững chắc cho dân Việt Ông nỗ lực đặt hết tâm trí vào công việc biên khảo, trước tác, ký sự và dịch thuật Có thể nói rằng, Nguyễn Văn Vĩnh đã hoạt động sôi nổi và xuất sắc trên tất cả các

Trang 9

lĩnh vực: vãn hóa, văn học và báo chí Sau đây xin kể ra những tác phẩm của ông còn để lại:

Phần trước tác:

Nguyễn Văn Vĩnh đã viết hàng ngàn bài báo đủ các thể loại bằng tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ đăng trên các báo như: Đăng cổ Tùng Báo, Notre Journal, Notre Revue, Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Dương Tạp Chỉ, Trung Bắc Tân Văn, L’Annam nouveau

với các bút danh: Quan Thành, N.v.v, Tân Nam Tử, Mũi Tẹt Tử, Tổng Già, Lang Già ,

Đào Thị Loan Những bài viết của ông mang tính cách luận thuyết hoặc ký sự Một số bài viết tiêu biểu như: Người An Nam nên viết chữ An Nam, Ma to dỗ nhớn, Thổi tệ, Thiếu gạo ăn thừa giấy đốt, Lính tuần lính lệ, Hội dịch sách, Tư tưởng Nam kỳ, Chết vì gạo, Hội kiếp bạc, Truyện ăn mày, Đốt pháo, (dăng trên Đăng cổ Tùng Báo); Loạt bài Xét tật mình, Phận làm dân, Chỉnh đốn lại cách cai trị dân xã, Hương Sơn hành trình, Con sâu đỏ nồi canh, Nhời đàn bà, Chữ Nho, Chữ quốc ngữ, Tiếng

An Nam, (âấng trên Đông Dương Tạp Chí); v.v

Phần sáng tác của Nguyễn Văn Vĩnh hoàn toàn là những bài báo nên ít nhiều mang tính thời sự Ông đã đề cập đến những vấn đề thời sự hồi đó như: thực trạng xã hội Việt Nam lúc đó, những thói hư tật xấu của dân tộc mình, sự cần thiết phải phát triển chữ quốc ngữ - thứ chữ riêng của dân tộc, Có những bài viết phê phán của ông hơi gay gắt và tiêu cực, như trong loạt bài viết về những thói hư tật xấu của người An Nam, có vẻ như ông chưa thật sự gần gũi và thấu hiểu dân tộc mình Nhưng bỏ qua những điều đó, ta thấy được tấm lòng của ông đối với đất nước và dân tộc, luôn quan tâm đến vận mệnh của đất nước, của dân tộc

Phần dich thuât :

Có thể kể ra một số tác phẩm dịch tiêu biểu của ông:

- Kim Vân Kiều (dịch từ chữ Nôm sang chữ Quốc ngữ, rồi dịch từ chữ Quốc ngữ

sang Pháp văn)

- Tiền Xích Bích và Hậu Xích Bích (dịch từ chữ Hán ra tiếng Pháp)

- Tam quốc chí diễn nghĩa (dịch cùng Phan Kế Bính từ chữ Hán ra chữ Quốc

ngữ)

Các tác phẩm dịch từ tiếng Pháp ra tiếng Việt:

• Văn luận - thuyết:

Trang 10

- Truyện các bậc danh nhân La Mã và Hy Lạp (Les vỉes parallèles des Hommes alustres de la Grèce et de Rome) của Plutarque

- Sử ký thanh hoa (Le Parfum des Humanites) của Vayrac

• Kịch (ông Vĩnh chuyên dịch hài kịch):

- Trưởng giả học làm sang (Le Bourgeois Genmlhomme) của Moliere

- Bệnh tưởng (Le Malade Imaginaire) của Moliere

- Giả đạo đức ( Tartufe) của Moliere (bản này chưa dịch hết)

- Người biển lận (L’Avare) của Moliere

- Tục ca lệ (Turcaret, 2 cuốn) của Lesage

• Tiểu thuyết:

- Mai Nương Lệ cốt (Manon Lescaut, 5 cuốn) của Abbé Prévest

- Truyện ba người ngự lâm pháo thủ (Les Trois Mousquetaỉres, 24 cuốn) của

Alexandre Dumas

- Những kẻ khốn nạn (Les Miserables) của Víctor Hugo

- Chuyện miếng da lừa (La peau de chagrín) của Honoré de Balzac

- Quỉ-lỉ-ve du ký (Les Voyages de Gulliver) của J.Swift

- Tê-ỉê-mặc phiêu lưu kỷ (Les Aventures de Télémaque) cüaFénelon

- Rabelaỉs của Emile Vayrac

- Đàn cừu vàng của chàng Panurge củaEmile Vayrac

- Truyện GU Blas de Santillane của Lesage

Nhìn chung, ta thấy phần trước tác ít hơn phần dịch thuật và trên lĩnh vực dịch thuật có thể nói ít người có thể sánh lại với ông về số lượng Nguyễn Văn Vĩnh cho rằng công việc dịch thuật sẽ là chiếc cầu nối cho sự giao lưu giữa hai nền văn hóa Đông - Tây,

là chìa khóa mở những cánh cửa hiểu biết cho dân tộc, đồng thời nó cũng là một cách thức quan trọng để truyền bá chữ Quốc ngữ Nguyễn Văn Vĩnh chú trọng dịch những tác phẩm văn học tiêu biểu của nước ngoài nhằm để giới thiệu cho dân tộc mình những tinh hoa văn hóa của nhân loại Đồng thời, ông cũng tiến hành dịch những tác phẩm giá trị nhất của nước ta như Truyện Kiều ra tiếng Pháp để họ biết rằng Việt Nam cũng có một nền văn học, văn hóa không hề tầm thường Các sách dịch của ông đã thoát khỏi tính cách thời sự

và có tính cách văn chương rõ rệt “Những sách ông dịch toàn là những sách phổ thông, không cổ quyển nào là triết lý cao thâm Văn dịch của ông rất giản dị và bình thường, lưu thông hoạt bát, không nặng về tư tưởng triết lý như văn ông Phạm Quỳnh, hay nặng về tình cảm như ông Nguyễn Khắc Hiếu "(Thiểu Sơn) Vãn chương

của Nguyễn Văn Vĩnh mang cái mộc mạc, đơn sơ, rất gần gũi với tầng lớp bình dân, hễ ông nói ra là hiểu ông muốn nói gì Ông dịch những truyện phổ thông với cái lối vãn có thể nói là tầm thường, nhưng như vậy không có nghĩa là không có công với nền vãn học nước nhà, vì văn học không chỉ ở cái tư tưởng cao sâu mà “nổ còn ở cái nét vẽ tinh thần, thâu

cả được cái hình dung bác tạp của nhân sanh và cái tâm lý thông thường của nhân loại” (Thiểu Sơn) Văn dịch của ông tầm thường nhưng mà ý vị, qua đó ông vẽ ra một bức

tranh nhân thế, nêu lên những lẽ phải trái ở đời, dạy cho người đọc “biết mình”, “biết người” Vãn dịch của ông được cái sáng sủa và chân thật, lúc mới tập dịch có một số bản dịch đi xa nguyên bản, dịch thoát ý (Trưởng giả học làm sang, Tục ca lệ), điều ấy trái với nguyên tắc dịch sát ý

Trang 11

Ông cũng đã tự thú sự bỡ ngỡ của mình trong tập Thơ ngụ ngôn của La Fontaine: “Tập

dịch vãn này tôi làm ra kể đã lâu lam rồi, khi còn ít tuổi chưa làm vãn vần bao giờ

mà đọc qua thơ La Fontaine cũng phải cảm hứng chấp thành vãn vần, tuy lắm câu vãn còn lấc-cấc lắm, nhưng các bạn đọc-giả cũng nhiều ông xét quá rộng cho là dụng công dịch lẩy đủng Đúng là đủng cái tinh - thần chứ không có nề gì những chữ hổ đổi làm sư-tử, cái gậy đổi ra con chó khiến cho những người thắc mắc được một cuộc vui Ngồi soi bói từng câu, từng chữ, mà kể được ra cổ ba bổn chữ dịch lầm ” Theo cách nghĩ đó, tuy biết văn của mình còn lủng củng nhưng ông vẫn tiếp tục

phiên dịch và sáng tác và càng ngày càng có sự tiến bộ Rồi thêm văn dịch của ông chỉ chuyển tải cái nội dung mà chưa đi sâu vào nghệ thuật của tác phẩm, làm giảm đi giá trị vãn học của tác phẩm Nguyễn Vãn Vĩnh cũng đã nhận ra được những thiếu sót của mình trong lối dịch sách, nhưng theo ông thì: ‘‘Chúng tôi cũng biết rằng sách dịch ra bây

giờ đời sau là có người chê, nhưng có thế mới gọi là tiến bộ, chủng tôi cũng sẽ thỏa lòng rằng: mình đã có cắm nêu lên trước cho nên mới có kẻ theo hút sau” Trong

bất cứ một công việc nào cũng luôn luôn cần có người khởi xướng, rồi sau đó mới có người nối tiếp theo mà đưa công việc ấy đến đích Việc tiên phong luôn đóng một vai trò cần thiết

và quan trọng Trong việc dịch thuật cũng vậy, ông Vĩnh cho rằng mình đã thực hiện vai trò của một người tiên phong, cắm cái mốc đầu tiên cho những người sau tiếp tục phát triển lên Và theo như ông nói thì cái hạn chế của ông là cái hạn chế của người đi trước, và nó như một tiền đề cho sự tiến bộ của người đời sau Cái mà ông chú trọng nhất trong công việc dịch thuật là làm sao cho người nước mình hiểu được, dù là phang phác, cái tư tưởng của người ngoại quốc Ông nói: “Bây giờ những người đọc được các sách hay của ngoại quốc mà cổ đem tiếng bản quốc dịch ra rõ được ít nào hay chút ẩy thì người xem đến dầu không biết được hết nghĩa nhưng cũng rõ được đại khái Khi đã có nhiều người nghe phang phác được cái tư tưởng của người ta rồi lúc bấy giờ có mượn những tư tưởng ấy mà làm ra sách nước ta thì mới có nhiều người hiểu

Nguyễn Vãn Vĩnh cho rằng việc dịch thuật là một giai đoạn cần thiết để chuẩn bị cho việc sáng tác Và trong thời buổi mà chữ Quốc ngữ còn quá sơ khai thì việc dịch và chuyển tải cho được tư tưởng của nước họ vào nước mình cũng đã là một công việc khó khăn rồi Như thế thì có thể thông cảm và chấp nhận được cái hạn chế trong văn dịch của ông Vĩnh Cái hay của ông là dịch theo lối vãn Tây nhưng vẫn giữ được đặc tính của văn ta, văn dịch của ông mang đậm bản sắc dân tộc Càng về sau lời văn của ông tuy vẫn giản dị nhưng rất trôi chảy và linh hoạt Một vài văn phẩm ông dịch rất khéo như : Truyện trẻ con, Mai Nương

Lệ cốt (đây được xem là cuốn sách dịch có vãn chương điêu luyện nhất)

Với sự nghiệp văn học của mình, Nguyễn Vãn Vĩnh đã góp phần phát huy văn hóa

- tư tưởng, mở mang trí thức cho dân tộc Đồng thời ông cũng đề khởi rất nhiều cái mới cho nền văn học nước nhà như: đề khởi lối văn dịch và phong trào dịch văn; đề khởi phong trào tiểu thuyết, kịch, luận thuyết; đề khởi phong trào nghiên cứu văn học; đề khởi lối thơ mới Tóm lại, Nguyễn Văn Vĩnh đã có công rất lớn đối với nền văn học nước nhà

Trang 12

Điểm đáng chú trọng trong vãn nghiệp của Nguyễn Vãn Vĩnh đó là sự nghiệp vãn học của ông đã gắn liền làm một với sự nghiệp truyền bá chữ Quốc ngữ Trong Đăng cổ

Tùng Bảo, số đầu tiên, Nguyễn Vãn Vĩnh đã nhận định rằng: “chữ nho quả là một cái hàng rào chan ngang đường văn-minh làm cho kẻ đi học mỏi lưng, tổn cơm gạo men dùng được chữ, khi dùng được chữ thì trán đã nhăn, lưng đã còng vì nỗi giùi mài một đời học các điều cao-xa quá” Chữ Hán vừa là thứ chữ vay mượn, lại vừa cao

xa, khó học, không thể thích dụng đối với toàn thể quốc dân được Đen chữ Nôm thì cũng khó học không kém gì chữ Hán, thậm chí còn phiền toái hơn nữa là đằng khác Mặc dù chữ Nôm có tính cách dân tộc hơn nhưng nó vẫn là thứ văn tự của phái trí thức chứ không thể phổ biển rộng rãi trong quần chứng được Hiểu được điều đó, Nguyễn Vãn Vĩnh đã nhận

ra được những đặc tính hữu ích của chữ Quốc ngữ và nhận thức được sự cần thiết của nó đối với nền vãn học nước nhà, đối với vấn đề nâng cao dân trí Trong suốt cuộc đời văn chương của mình, ông đã tận lực góp công xây dựng và phổ biến chữ Quốc ngữ bằng mọi cách

Năm 1907, ông đã gia nhập Đông Kinh Nghĩa Thục và phụ trách dạy môn Pháp

- Việt để truyền bá chữ Quốc ngữ

Năm 1908, bước chân vào làng báo lần đầu, ngay trong tờ Đăng cổ Tùng Báo, số đầu, như đã trích ở trên, Nguyễn Văn Vĩnh đã vạch rõ cái bất lợi của việc dùng chữ Hán làm quốc văn và qua đó làm nổi bật cái lợi của chữ Quốc ngữ Với sở đắc Hán học cũng như Pháp học, ông đã vận dụng mọi khía cạnh thích hợp của những thứ chữ này để tạo cho chữ Quốc ngữ có đủ khả năng diễn đạt mà không tiêm nhiễm tính chất ngoại lai, đó là một thành công mà ít người có thể sánh kịp Sau đó, từ tờ Lục Tinh Tân Văn, Đông Dương

Tạp Chỉ, Trung Bắc Tân Văn, đến tờ Học Bảo, v.v , không một lúc nào ông không lợi

dụng những cơ sở báo chí đó để truyền bá chữ Quốc ngữ

Trên phạm vi văn chương, nếu ta cân nhắc phần sáng tác với phần dịch thuật thì ta thấy phần dịch thuật quan trọng hơn nhiều Ông ít chú trọng đến phần sáng tác mà chú trọng nhiều đến phần dịch thuật, và kể về số lượng thì ít người lại dịch nhiều bằng ông Ông Vĩnh thiên về dịch hơn là sáng tác vì chữ Quốc ngữ cũng như chữ Nôm trong thời kỳ phôi thai đều bị người ta khinh thường, coi nó như một thứ vãn tự phụ thuộc để giải trí nhiều hơn là để xây dựng một cơ sở vãn học Nguyễn Văn Vĩnh dịch nhiều để chứng tỏ cho mọi người biết khả năng diễn đạt của chữ Quốc ngữ, nó không phải chỉ nằm trong phạm vi chật hẹp của giáo hội Thiên Chúa giáo tại Việt Nam mà còn có thể diễn ý một cách thấu đáo về mọi vấn đề và có thể làm nổi bật lên đầy đủ mọi chi tiết cái hay của những tác phẩm nổi tiếng trên thế giới Hơn nữa, ông dịch sách là cũng để lợi dụng những cái hay

có sẵn trong phần nội dung tác phẩm để thu hút độc giả, đồng thời để khuyến khích người đọc ham mê với chữ Quốc ngữ Trong phần phiên dịch của mình, ông đã chọn những tác phẩm hay nổi tiếng như Truyện trẻ con của Perrault, Qui li-ve du ký của Swift, Ba người

ngự lâm pháo thủ của Alexandre Dumas, v.v cho nên người nào đọc cũng thấy say sưa

với cốt truyện mà bắt buộc phải tự học thông chữ Quốc ngữ để lĩnh hội Vỉ

Trang 13

chỉ chú trọng vào những mục tiêu trên cho nên những tác phẩm dịch của ông ra đời với một

số lượng và thời gian kỷ lục Và cũng do đó mà một số bản dịch của ông còn nhiều chỗ thiểu sót Nhưng những cái tiểu tiết đó ông không bận tâm Ông chỉ cốt gây cho mọi người một hứng thú đọc chữ Quốc ngữ mà lĩnh hội được những cái hay chính yếu của những tác phẩm ngoại quốc là được rồi Ông không có cái mộng làm cho cả dân tộc đều trở thành nhà bác học, mà chỉ muốn dùng thứ chữ dễ học nhất làm cỗ xe truyền bá tư tưởng trong phái bình dân

Xây dựng và truyền bá chữ Quốc ngữ là công trình quý giá nhất trong suốt sự nghiệp của Nguyễn Vãn Vĩnh Lật giở lại những vãn phẩm và bài báo trước ồng Vĩnh để thấy lối văn ngây ngô và sai lạc, viết không theo một vãn phạm nào, mới cảm nhận được công lao của ông Chính ông cũng đã mò mẫm lúc đầu, sau mới thật thành công, nên giá trị công lao của ông như thế lại càng tăng Hồi đầu, không ai tin rằng chữ Quốc ngữ có thể

đủ sức để dịch được vãn Pháp, tiểu thuyết và thơ Pháp Nhưng ông Vĩnh đã chứng minh ra một cách đàng hoàng khả năng vô biên của chữ Quốc ngữ, và góp phần xây dựng lớn lao nhất để biến chữ Quốc ngữ thành thứ tiếng đủ khả năng

1.3 NGUYỄN VĂN VĨNH VÀ ĐÔNG DƯƠNG TẠP CHÍ

Lịch sử báo chí Việt Nam luôn luôn đi kèm với cái tên Nguyễn Vãn Vĩnh Đó là cái tên chói rạng nhất trong thời kỳ mở đầu thế kỷ Ông đã làm chủ bút tờ báo cổ nhất ở Việt Nam viết bằng chữ Quốc ngữ: Đại Nam Đăng cổ Tùng Báo Từ năm 1907 đến

1936, ông tiếp tục chủ trương những tờ báo: Lục Tinh Tân Văn, Đông Dương Tạp Chí,

Trung Bắc Tân Văn, Học Báo Ngoài ra, ông còn viết và chủ trương những tờ báo tiếng

Pháp như: Notre Journal, Notre Revue, L’Annam Nouveau Trong so những tờ báo mà ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút thì tờ Đông Dương Tạp Chỉ có một vị trí quan trọng nhất trong sự nghiệp làm báo của ông vì Đông Dương Tạp Chỉ là tờ báo gây được nhiều ảnh hưởng hữu ích nhất cho việc thành lập nền vãn học mới tại nước ta Cái tên Nguyễn Vãn Vĩnh luôn gắn liền với Đông Dương Tạp Chí

Vào hồi đầu thế kỷ XX, nho học suy sụp, nền tân học đang bành trướng nhưng chưa có chủ trương rõ rệt về sự xây dựng một nền văn học thích hợp Báo chí lúc đó đa số chỉ là những tờ báo thông tin tức của chính phủ, hoặc do chính phủ chủ trương, hoặc do tư nhân đảm nhiệm nhưng vẫn chưa có giá trị văn học hoặc chưa xứng đáng với vai trò lãnh đạo và truyền bá trong dân gian về phạm vi tinh thần Chữ Quốc ngữ còn là một thứ chữ mới, chưa được thông dụng, phổ biến cho nên sự phát triển của văn học cũng như báo chí đều gặp phải rất nhiều khó khăn Trong bối cảnh ấy, Đông Dương Tạp Chỉ đã ra đời

Năm 1913, ông Schneider sáng lập ra tờ Đông Dương Tạp Chí và Nguyễn Vãn Vĩnh được giao quyền chủ bút trong lúc cũng đang chủ trương mấy tờ báo khác Đông Dương Tạp Chỉ là tờ tuần báo, xuất bản vào ngày thứ năm hàng tuần, số đầu tiên ra mắt

vào ngày 15 tháng 5 năm 1913 Bộ biên tập

Trang 14

bao gồm: Phái Tân học có Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Vãn Tố, Phạm Duy Tốn; Phái Hán học có Phan Kế Bính và Nguyễn Đỗ Mục Đứng đầu là Nguyễn Văn Vĩnh Trong bộ biên tập chỉ có Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Ke Bính và Nguyễn Đỗ Mục là truớc sau viết cho Đông Dương Tạp Chí, còn những người khác viết rất ít hoặc sau này thành lập tạp chí khác

Xuất phát từ hoàn cảnh ra đời, mục tiêu của Đông Dương Tạp Chí là:

- về chính trị, tờ báo hiển nhiên là một cơ quan tuyên truyền cho cuộc bảo hộ của

Pháp Tuyên truyền bằng cách đem những công việc của nhà nước mà kể cho dân nghe, đem điều hơn lẽ thiệt mà khuyến dụ dân đừng làm loạn, đùng theo cách mạng bạo động

- về học thuật, tờ báo được dựng lên chủ yếu để truyền bá học thuật Á - Âu, đem

học thuật ấy dạy phổ thông cho người An Nam không phải đi nhà tràng cũng học được hoặc đã đi học rồi mà học thêm Việc giáo dục này có tính cách phổ thông và bách khoa cho nên tờ báo dịch thuật và giảng giải về đủ các vấn đề, từ việc nhỏ đến việc lớn, từ việc trong nhà đến việc ngoài xã hội, từ việc nuôi con cho đến việc tu bổ đê điều, từ cách buôn bán của người Lang Sa đến sự phân chia khoa tâm lý học thái tây

- về văn tự thì cổ động cho chữ Quốc ngữ, thứ chữ tiện cho người An Nam gấp

mấy lần chữ nho Không phải chỉ cổ động bằng cách viết một tờ báo Quốc ngữ để mọi người đọc chơi mà còn làm cho ai cũng tự học được chữ Quốc ngữ

Tất nhiên đối với Schneider và những người Pháp đứng sau thì mục tiêu chính trị trên kia là quan yếu nhất Còn đối với những người Việt Nam cộng tác, bắt đầu từ Nguyễn Vãn Vĩnh thì các ông muốn lợi dụng tờ báo để làm cơ quan tuyên truyền cho việc duy tân đất nước và xây dựng văn học mới Tuy nhiên bắt đầu từ tháng giêng năm 1915, nội dung

và hình thức của Đông Dương Tạp Chí có nhiều biến đổi Ông Schneider ra riêng một tờ

Trung Bắc Tân Văn in theo khổ nhật báo Còn tờ Đông Dương thì đổi thành Học Báo,

hình thức là một tờ tuần báo in khổ nhỏ để đóng thành sách và chuyên hẳn về văn chương

và sư phạm Tờ báo từ đây không còn những lời tuyên truyền trắng trợn cho Pháp nữa, bỏ phần dạy tiếng An Nam cho người Pháp, chuyển thành một cơ quan cho riêng người đọc Việt Nam, lại có tính chất hữu khuynh, mang nặng một phần cổ vãn, cổ học Riêng Nguyễn Văn Vĩnh cũng bỏ hẳn văn luận thuyết mà quay sang chuyên dịch tiểu thuyết, kịch Pháp :

Tê lê mặc phiêu lưu kỷ, Trưởng giả học làm sang, Cho đến năm 1916, Đông Dương Tạp Chỉ chính thức đình bản

Cùng với sự ra đời của tuần báo Đông Dương Tạp Chí là sự xuất hiện cái tên gọi

“nhóm Đông Dương Tạp Chí’’ - một cách để gọi những cây bút xuất sắc của tờ Đông Dương Tạp Chi, đặc biệt là các ông Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Kế Bính và Nguyễn Đỗ

Mục, những cây bút đồng hành cùng tạp chí từ lúc mới

Trang 15

xuất bản cho đến ngày đình bản Hơn nữa, những văn chương được truyền tụng của các ông cũng là những vãn chương đã đăng trong Đông Dương Tạp Chỉ Và những cây bút của các ông đã gây cho tờ tạp chí một tinh thần riêng, làm cho người lớp sau khi đọc những văn phẩm của các ông đã xuất bản riêng thành sách cũng vẫn còn thấy cái lối văn mà người

ta gọi là “loi văn Đông Dương Tạp Chỉ” Chủ trương của nhổm Đông Dương Tạp

Chi là: xây dựng và phổ biến chữ Quốc ngữ; sưu tầm các tài liệu văn học; phổ biến văn

hóa Đông - Tầy; lảm giàu cho tư tưởng bằng phiên dịch; tổng hợp những tinh hoa cũ, mới

để xây dựng văn học nước nhà, giữa lúc cần có một nền văn học mới để thay thế cho nền tảng văn học cũ đương bị chế độ dập tắt Và với chủ trương của mình, nhóm Đông Dương

Tạp Chí đã đóng vai trò tiên phong trong việc truyền bá chữ Quốc ngữ, cải tiến báo chí và

xây dựng nền văn học nước nhà Đông Dương Tạp Chí tập hợp các bài viết với đủ các thể loại: nghị luận; văn dịch(dỊch những tác phẩm ngoại quốc Đông phương và Tây phương, dịch những tác phẩm cổ của Việt Nam viết bằng Hán văn); truyện ngắn; những bài khảo cứu về vãn học Việt Nam, Trung Hoa, Pháp, ; những bài trước tác, có tính cách giáo dục, luân lý, phổ thông văn hóa, lịch sử, địa lý, kinh tế, chính trị Riêng Nguyễn Văn Vĩnh đã viết hàng trăm bài báo về đủ các vấn đề như vệ sinh, tây y, thể thao, văn học và thời sự Với hoạt động tích cực của mình, nhóm Đông Dương Tạp Chí đã gây dựng

phong trào yêu chuộng Quốc ngữ, yêu chuộng tiểu thuyết, mở đường cho các tiểu thuyết gia; phát huy những cái hay, cái đẹp trong vãn hóa Việt; phổ biến tư tưởng và tác phẩm Âu

- Á để tạo ra một cuộc tổng hợp tư tưởng có lợi; đồng thời mở đầu cho một ngành mới mà sau này rất phồn thịnh: ngành báo chí; mở đường cho các thể loại tiểu thuyết, kịch, thơ mới, truyện ngắn, ký sự, v.v sau này rất phát triển

Có thể nói Đông Dương Tạp Chỉ đã kế thừa và phát huy tinh thần của phong trào Duy Tân lúc đó Đông Dương Tạp Chỉ như là một cột mốc đánh dấu sự thay đổi của một cục diện văn hoá và thúc đẩy nền quốc văn đi vào một con đường mới

Khi nói tới giá trị trong công trình xây dựng và phổ biến chữ Quốc ngữ của ông Nguyễn Văn Vĩnh cũng là nhắc tới công trình của nhổm Đông Dương Tạp Chí đối với

thứ chữ này Với Đông Dương Tạp Chí, Nguyễn Vãn Vĩnh đã gieo một niềm tin tưởng vào chữ Quốc ngữ và truyền bá nó bằng một tổ chức có quy mô Nguyễn Văn Vĩnh cùng

Đông Dương Tạp Chỉ, thông qua những bài viết về đủ các vấn đề, thể loại đã nêu lên

được những khả năng cụ thể của chữ Quốc ngữ trên mọi lĩnh vực, đánh tan mối hoài nghi của một số người còn e dè với thứ chữ mới mẻ này, đồng thời đã mở được con đường tiến rất mau và rất rộng rãi cho nền vãn học nước nhà

Trang 16

Chirong 2

NHỮNG XU HƯỚNG ĐÁNH GIÁ KHÁC NHAU VÈ NGUYỄN VĂN VĨNH TỪ TRƯỚC NĂM 1945 CHO

ĐẾN TRƯỚC ĐỎI MỚI NĂM 1986

Nguyễn Vãn Vĩnh (1882 - 1936) sinh ra và lớn lên ở Hà Nội Ông sống và làm việc trong cái thời buổi mà “cái u, cái minh; cái hư, cái thực; cái xẩu, cái tốt, còn đương

cưỡng lộn cùng nhau Ông thẳng bước trên con đường sự nghiệp văn học , dịch thuật và

báo chí, hoạt động phụ thuộc vào chính quyền thực dân Pháp, vừa phải hoạt động tốt vừa phải biết “giữ mình” Hoàn cảnh lịch sử xã hội thì rối ren mà hoàn cảnh cá nhân của ông cũng phức tạp không kém Chính cái tình hình ấy đã đưa đến cho dư luận những cách nhìn nhận khác nhau về con người cũng như sự nghiệp của Nguyễn Vãn Vĩnh Người đời đánh giá ông theo hai hướng : tích cực và tiêu cực Có người khen ông là nhà yêu nước, nhà báo, nhà dịch thuật trứ danh, thậm chí là nhà vãn hóa nữa Nhưng cũng có người chê ông là thân Pháp, phản bội lại những người yêu nước Sau đây xin ghi nhận lại những xu hướng đánh giá về Nguyễn Văn Vĩnh trong khoảng thời gian trước năm 1945 cho đến thời kỳ đổi mới năm 1986

ngữ trong công cuộc mở mang dân trí Ông đã làm việc một cách say mê để thực hiện niềm tin của mình Song song với sự nghiệp văn học, ông còn rất nổi tiếng trong chính giới lúc bấy giờ Sinh thời, Nguyễn Văn Vĩnh rất được dân chứng tín nhiệm và yêu quý Ông được bầu làm hội viên Hội đồng thành phố Hà Nội luôn mấy khóa Từ năm 1913, ông được bầu làm hội viên Viện tư vấn Bắc kỳ, tức là nghị viên Viện Dân biểu hồi đó và có chân trong Thượng Hội đồng Kinh tế và Lý tài Đông - Pháp Dân chúng kính mến ông vì ông là người

có đủ tài đức, học nhiều biết rộng, lại thêm chỗ ở ông có sự kết tinh của lòng can đảm và nghị lực phi thường Ông là người đầu tiên gia nhập Hội nhân quyền Pháp và đã ký đơn xin ân xá cho cụ Phan Chu Trinh Năm 1918, dựa vào thuyết “dân tộc tự quyết” của Tổng thống Mỹ Wilson đề ra tại hội Quốc-Liên, Nguyễn Văn

Trang 17

Vĩnh đã viết nhiều bài báo bàn về việc Đông Dương tự trị, khiến cho ai cũng khâm phục cái khẩu khí của ông Đen năm 1931, ông lại dùng tờ L’Annam Nouveau đưa ra thuyết

trực trị để chống lại thuyết lập hiển do Phạm Quỳnh chủ trương Người đương thời cúi

đầu trước ông như cúi đầu trước một bậc trượng phu hào kiệt, thẳng thắn, cương trực, rộng rãi, hào phóng, không giả nhân giả nghĩa Người ta không chỉ nể phục mà còn thương mến ông vĩ ông là người dù cho có bị đẩy vào bước đường cùng vẫn luôn giữ cho mình một chút lòng tự trọng Ông Vĩnh là người tài đức vẹn toàn, lại có uy tín nên chính phủ Pháp rất nhiều lần tìm cách mua chuộc ông Ông đã hai lần từ chối huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh của chính phủ Pháp ban tặng, một vinh dự mà bao kẻ phải chạy chọt, luồn cúi mong

có được Chính sự ngay thẳng của mình đã đưa đến cho ông nhiều bất lợi Năm 1932, khi vua Bảo Đại về nước, chính phủ Pháp đã đặt ông trước hai sự lựa chọn : một là vào làm quan cho triều đình Huế, còn không thì phải rời bỏ quê hương sang Lào tìm vàng để trả nợ Ông đã từ chối con đường dễ dàng vinh thân phì gia vì ông nhận ra được sự vô ích, nhục nhã của một bộ máy cai trị bù nhìn Ông biết rằng con đường mà ông chọn sẽ mang đến những hậu quả nặng nề nhưng ông vẫn quyết định đi theo con đường riêng của mình Và ông đã qua đời khi bên canh mình không có một người thân Điều đó càng khiến cho những người đương thời tôn sùng ông

Ta có thể thấy được sự quý trọng của những người đương thời qua những bài điếu văn đọc tại đám tang của ông Kể cả những người không cùng chung chí hướng cũng thể hiện sự ngưỡng mộ đối với ông Những điếu vãn của những nhân vật có tiếng tăm trong các giới lúc bấy giờ đã cho ta thấy được vị trí quan trọng và những đóng góp lớn lao của Nguyễn Văn Vĩnh cho lịch sử nước nhà

Trước tiên là điếu văn của ông Phan Trần Chúc, đại diện Báo giới Bắc Việt, tôn Nguyễn Vãn Vĩnh là bậc anh trưởng, bậc nguyên huân trong làng báo Bắc Kỳ bấy giờ :

‘‘Chúng tôi không thể nén sự đau lòng, khi phải đưa đến chỗ ở cuối cùng một nhà ngôn-luận, một nhà đại-văn-hào, trọn đời đã hy-sinh cho ỉý-tưởng Cái lý- tưởng ấy là mưu việc tiến-hóa cho dân-tộc Việt-nam bằng sự cải cách về tư- tưởng

Đông-Cái đời oanh liệt của tiên-sinh kết tạo bằng can-đảm và nghị-lực sẽ là một cái gương rất tốt cho chúng ta và nhiều đời về sau ta nữa [3,ưl 1]

Trong điếu văn này, ông Phan Trần Chúc đã phân tích rất rõ tư tưởng và những việc làm của Nguyễn Vãn Vĩnh trong công cuộc truyền bá chữ Quốc

Trang 18

ngữ, trong nghề báo cũng như trong nghiệp văn chương Ông tỏ ra khâm phục và kính trọng vì “Nguyễn tiên-sinh là người nói và làm Đã có sẵn mộtỷ-tưởng trong óc, tiên-sinh bạo-dạn mang ỷ-tưởng ấy ra thực-hành ” [3,trll] Thêm vào đó,

“ Nguyễn tiên-sinh lúc nào cũng giữ thái-độ cương trực quả quyết Trong khi nói chuyện thường, hay giữa các cuộc tranh-luận tại nghị-viện, tiên- sinh không bao giờ ngại-ngùng mà không nói thẳng bằng những câu nói mạnh mẽ, thành thật khiến cho người nghe cũng phải kỉnh-phục Tiên-sinh sỡ dĩ để lại được cái văn-nghiệp rất quỷ-bảu cho đời sau, hầu hết là nhờ ở chỉ thông- minh, đức mẫn-cán và tài quan-sát Không một môn học nào tiên-sinh không xem-xét Không một sự-vật gì tiên-sinh không tìm cách thấu hiểu Cho mãi đến lúc về già, tỉên-sinh vẫn dụng công làm việc : viết báo, viết sách một cách chuyên cần như khi còn trẻ

Đoi với tiên-sinh đời người không có lúc nào đáng thất vọng Lúc thành công cũng như khi thất bại, tiên-sinh vẫn hết sức phấn-đẩu và vẫn tin ở sự tốt đẹp của tương lai Tiên-sinh là một trong số người rất hiếm đã đem dùng được câu châm-ngôn của nhà triết-học Trung-hoa : “Phú-quỷ bất năng dâm, bần- tiện bất năng di, uy-vũ bất năng khuất”

Tiên-sinh mất! Nhưng cái sự nghiệp văn-chương của tiên-sinh còn mãi và cái danh của tiên-sinh sẽ bất tử với văn-học và báo-gỉớỉ nước nhà

Nhưng cái hình ảnh của tiên-sinh vẫn in sâu trong trí nhớ của chúng tôi và tên tuổi tiên-sinh sẽ đứng đầu trong cuốn lịch-sử vẻ-vang của báo-giới” [3,trl2]

Trong điếu văn của ông Bùi Kỷ, đại diện Hội Phật giáo Bắc Việt lại tiếp tục tán dương Nguyễn Vãn Vĩnh :

“Ông Vĩnh ôi, trước đây một thảng ông còn là một người bạn rất thân thiết của đồng-bào, một người dân rất trung-thành của tổ-quốc, nay ngờ đâu, nghìn năm rồi Thân-thế ông, sự nghiệp ông sẽ kể rõ trên các báo chương, ghi chép trong các tập quổc-sử, những lời tự-thuật và tán-dương của tôi cổ lẽ chả thẩm vào đâu Song cái tin ông mất như tiếng sét bất thình lình, đã làm chẩn động cả một nước, bất cứ phái nào đều phải ngậm-ngùi ngơ-ngác, coi như là đã vẳng mất một người có quan-

hệ đến tình-thể nước này Ông chỉ là một người đem tẩm lòng son, hai bàn tay trang, ngang-dọc đội trời đạp đất, trong vòng ba-mươi năm nay

Ông là một người có tài lỗi-lạc, có trí hùng-nghị, có học-vấn uyên-bác, có tư-tưởng siêu-việt, có bản-ỉĩnh chính-đại cổ nhân có câu : “ngôn hành bất quy ư tâm, bất phục ư tâm, bất ma ư thế” Ông thật xứng-đáng với câu này vậy Ông là người hấp-thụ trước nhất được những phần hay phần đẹp trong văn - hóa Ầu-châu

mà nước Pháp đã đem sang cho ta, mà lại biết bảo-tồn những điều nên giữ nên theo ở trong văn-hỏa của Ả-đông Ông thường nóng lòng sốt ruột đến vận-mệnh của nước nhà, cốt mong gây-dựng lấy một nền học-vấn dung-hòa cả mới cũ, để thỉch-nghivớỉ trình-độ hiện thời, cho nên không những ông đã giúp được bao nhiêu việc có ích-lợi cho nền tân học mà ngày nay như Phật-giáo là một nền cổ- học ông lại càng sổt-sẳng hăng-háỉ cùng anh em

Trang 19

sáng-lập nên hội Phật-giáo ở Bắc-kỳ; một người hoàn toàn duy-tân như ông mà quay đầu về Phật-học để ỉàm tiêu-biểu cho tân phái, ông quả là có đôi huệ- nhỡn

đã nhìn thấu cuộc quá-khứ, hiện-tại và vị-lai của nước nhà, định đem tẩm lòng

bác-ái bằng-đẳng từ-bi tĩnh-tiến của đạo Phật mà cảm hóa lòng người Thôi, từ ngày nay trở đi, đồng-bào mất một người bạn thân-thiết, tổ-quốc mất một người dân trung-thành, mà nhất là hội Phật-giáo ta mat một người đồng- chí rất đẳc-lực Mat một người mà chỉ cổ một không cổ hai nữa, đau sót biết là chừng nào An hem chủng tôi đến kỉnh viếng ông có mặt đông đủ ở đây, già hơn ông cũng có, trẻ hơn ông cũng có, đảng lẽ ông nên trẻ để giúp bạn già, cũng chửa nên già để dìu-dắt bạn trẻ; thế mà ông đã vội từ-giã chúng tôi, để già trẻ bâng-khuâng, vừa thương vừa tiếc Thương tiếc đến nỗi nói không ra lời, khóc không ra tiếng

Than ôi, ông Vĩnh ôi!!” [3,trl3-14]

Dân làng Phượng vũ - quê gốc của Nguyễn Vãn Vĩnh cũng có bài điếu ông do ông Giáo học Phạm Hoàng Chung đại diện đọc, thể hiện lòng biết ơn và sự mến phục của người làng đối với ông Vĩnh :

“Chúng tôi là hương-hội lỷ-dịch xã Phượng-vũ, thay mặt cả dân làng xin phép các ngài tỏ lời kính viếng ông Nguyễn Văn Vĩnh là chánh -hương hội làng chúng tôi

Ông chánh-hội Nguyễn Văn Vĩnh ôi! Ông sinh ra ỞHà-nội nhưng gốc là ở làng, nên đổi với làng cũng tỏ ra lòng quyến luyến lam

Dân làng đổi với ông, ai nẩy đều kính mến, vì ông là người có đủ tài đức Năm 1921, chính-phủ thực-hành cải-lương hương-chỉnh, dân làng thỏa thuận bầu ông ra làm chánh-hương hội

Ông cũng biết thừa rằng công-việc ấy dù có phiền-phức khó-khăn cho ông, nhưng ông lại nghĩ tới chỗ quê cha đất tổ mà ông lẩy làm vui lòng nhận ngay Đen năm 1927, dân lại được nhờ ông xin phép nhà nước mở một trường học tại làng,

và ông lại hết lỏng mời được quan toàn-quyền, quan thổng-sứ, quan công-sứ, quan tổng-đắc, quan học-chinh và các quan tây, nam đều về dự lễ khảnh thành trường học, hiểu-thị việc học Từ bấy giờ trong dân làng được rộng thêm đường học vấn,

mở mang tri không Mà chi những thế mà thôi đâu, lại còn cách cư-xử của ông, dân làng lại càng mến phục lam Xem những khi ông rảnh việc về làng, đổi với người già thì kính trọng, đổi với người trẻ thì khoan-hòa, như thế ai mà chẳng tôn-trọng kính-yêu, coi ông thật là một ông chánh-hội hoàn toàn ở làng Phượng-vũ ta vậy

Thế mà, ôi chao ôi! Bỗng chốc dân làng nghe thấy tin ông tạ thế, đều hoàng như sét đánh ngang tai, không biết vì đâu mà nên nông-nỗi để cho dân thêm buồn, thêm nhớ, thêm tiếc thêm thương, những mong ông tái sinh lại được” [3,ưl5]

bàng-Ngoài điếu văn của những người trong nước, một số chức khách người Pháp cũng

có những bài điếu ông Vĩnh, thể hiện suy nghĩ của họ đối với ông Trong điếu văn của ông

M Delmas (Chủ tịch Hội Nhân Quyền, chi Hội Hà Nội) đã tôn vinh những đức tính tốt đẹp của Nguyễn Vãn Vĩnh :

Trang 20

" Tôi chỉ được biết ông về sau này, lúc đó tuổi tác đã nhuốm bạc mái tóc

của ông, và tạo ra những vết nhãn trên khuôn mặt cao quỷ và thanh nhã của ông, làm ánh lên một sự trưởng thành linh lợi và dày dạn kinh nghiệm, thời gian không làm giảm bớt nhiệt tình say mề sự công bằng của ông

, con người ẩy luôn luôn đứng trên những cuộc đẩu tranh vô nghĩa giữa các đảng phái; con người mà trước một sự bất công, hoặc một sự độc ác thay như

là chỉnh mình đang phải chịu đựng Con người mà cuối cùng cả một hàng ngũ trí thức An nam, mỗi ngày mỗi đông hơn, đều tôn trọng như một người thầy đáng kính

Lòng dũng cảm không phải là đức tính duy nhất của người bạn vô cùng thương tiếc của chủng ta Trí thông minh đặc biệt của ông, lòng hăng say đảm nhiệm công việc của ông, sự kỳ lạ của trí nhớ của ông,

Đối với chữ Quốc ngữ, ông là một nhà văn phạm, nói không ngoa ông chính là người sảng tạo ra văn chương chữ Quốc ngữ, việc này đã tôn ông lên một địa vị đặc biệt trong lịch sử văn chương của nước này ” [3,trl7-18]

Tiếp đó là điếu văn của ông Henry Tirard (nhà báo Pháp lão thành ở Bắc Kỳ) với những cái nhìn thiện cảm về Nguyễn Văn Vĩnh :

“ Ông Nguyễn Văn Vĩnh đã biết tự mình tạo ra một nhân cách riêng Ông

đã trở thành một trong những người tiến bộ nhất về mặt chính trị Đã có lúc ông

mơ tưởng một nước cộng hòa An Nam, với một Chủ Tịch, dưới sự bảo hộ Pháp

Bạn đồng nghiệp của chúng ta - ông Nguyễn Văn Vĩnh - qua đời phải được coi là một bài học cho những đồng nghiệp trẻ Pháp và Nam của chúng ta Họ phải nhớ rằng nghề làm báo chi nuôi sổng vừa đủ người viết báo, nếu người ấy muốn giữ vững là người lương thiện, tự do, độc lập

Tất cả những nhà báo mà chủng ta đã tiễn đưa đến nơi nghi cuối cùng, ở đất nước này đều từ trần nghèo khổ, cỏ khi còn để lại ở sau họ sự đói rách, sau khi

đã đòi hỏi cho tất cả quyền làm người, bảo vệ người này, bênh vực người khác,

Ông Nguyễn Văn Vĩnh ông đã là một nhà viết báo có tài của báo chỉ tự do

và độc lập ” [3,trl9-20]

Ngay cả Phan Bội Châu , người đã từng bị Nguyễn Văn Vĩnh công kích rất gay gắt trên Đông Dương Tạp Chí, khi hay tin ông Vĩnh mất cũng tỏ ý tiếc thương một bậc tài năng :

“Ngày tôi - Phan Bội Châu - mới về Huế, được gặp ông chủ báo “Trung Bắc” vào Huế thăm tôi, cùng một xe với tôi đi thăm cửa Thuận Xe nhà ông, ông cầm lái; nhân duyên xa lạp chưa trải bao nhiêu mà đường lối Bắc Nam chốc thành vĩnh biệt, tôi đau cảm quá nên có mẩy hàng chữ điếu ông:

1 )Duyên tương tri nhớ trước mười năm, xe tự do chung lái, sóng biển vui tai, mộng hồn há lẽ hững hờ, quang cảnh còn in mây Thuận tấn;

Trang 21

Tài bác học trổỉ trong hai nước, đàn ngôn luận phất cờ, làng văn nở mặt, công nghiệp tuy còn lỡ dở, thanh âm từng giạt gió Ba lê

2) Vân hạc dục an chi, y ngô hữu ngũ châu tân não, kim khánh bất tằng huyền, khởi hữu như Kim sơn, năng đoạt ngã tài nhân dĩ khứ:

Hải đào do tạc dã, ức lão phu thập tải tiền duyên, xa thanh y cựu hoạ, hà đương tái

xa lạp, đồng dữ nhi tạo hoá giả du ” [32,trl 1]

Nhận định của Phan Bội Châu về Nguyễn Văn Vĩnh cho ta thấy rằng, những người đương thời dù họ có những quan điểm trái ngược nhau, thậm chí chống đối nhau, nhưng khi đánh giá một con người thì họ luôn đứng trên phương diện khách quan Đây là một điểm đáng mừng và cũng rất đáng phục

Trong đám tang của Nguyễn Vãn Vĩnh, ngoài những bài điếu văn còn có những liễn điếu, thơ điếu của bạn bè, giới văn sĩ, trí thức và của những người yêu mến ông :

“Khu sa tẩu thạch, báo giới đạo tiên hà, trẩp niên uyển lực tung hoành, hóa phong-trào song quản bút;

Ầu-Lịch tinh ôn sâm, bảo tàng sưu bỉ quật, nhất vãng hùng tâm khảng khái, Thục-scm lôi vũ ngũ đình hồn ” [3,tr22]

Huỳnh Thúc Kháng

“Lạc lạc kỳ tài, khí-phách khởi ưng mai tử khứ;

Liêu liêu đồng chí, giang-san thùy cộng kế sinh tồn ”.[3,tr21]

Ưu-thiên Bùi Kỷ Lệ-thần Trần Trọng Kim

“Mạng vậy biết làm sao, tài-trí thông-minh trời vẫn ghét;

Danh kia còn thọ chán, văn-chương sự-nghiệp đất khôn vùi”

Bao nhiêu bạn đi về cùng lớp trước, nay người đã Thượng-thư Tổng- đốc, kẻ còn Tân-Đảo Côn-Lôn, người ca-tụng Pháp-Việt đề huề, kẻ theo đuổi quân-dân hiến-pháp, rộn-rịp đường ngang loi dọc, sang hèn cuộc thế, trông chừng dân nước vẫn đang say” [3,ư26]

Á-nam Trần Tuấn Khải

Trang 22

“Ngao-ngán bạn trên đường ngôn-luận, kìa tướng tiên-phong, trải bao trận, đất Bắc vang giọng vãn nôm, câu chữ pháp hùng-biện phô-bày trực trị, chính- sách không hai, dốc lòng thành yêu nước vì dân, lời báo-chí ẳt ghi trong sử-sách;

Sung-sướng người gặp buổi văn-minh, nương cờ bảo-hộ, khắp ba kỳ gió nam nổi lên, tước trọng nổi quyền cao, chỉ kinh doanh ỉừng-ỉẫy triều ban, quan sang bậc nhất, thay trò đời trái tai chướng mắt, xếp bủt-nghiêng đem thẳng tới thiên-cung” [3,ư24]

Tùng viên Nguyễn Xuân Ngoạn

“Tài cao chỉ lớn, tận-tụy với báo-giới quốc-văn, liên-phong khua trổng phất

cờ, công để nghìn thu nêu sử-sách;

Chức trọng quan sang, nhất thiết mặc trào-lưu thế-lực, thực-nghiệp xây nền đẳp móng, cuộc sao nửa độ đã tang thương” [3,tr23]

Ngô Bằng Dực

Vũ Đình Liên có bài thơ điếu ông như một sự tiếc thương “kẻ anh hào

“Non nước hỡi! hỡi muôn dân Nam Việt!

Hãy buồn đi! vì Nguyễn-quân đã chết!

Hãy buồn đi! và hãy cất tiếng cao

Đe cùng nhau than khóc kẻ anh hào

Non nước hỡi! nghìn thu không về nữa!

Than ôi! hơn ba mươi năm lao khổ Sao dẫn người đến cải chết đau-thương!

Chốn rừng xa, núi thẳm, nơi tha hương!

Nhưng người hãy yên vui về thiên giới!

Oanh nghiệp xưa Tổ quốc giữ đinh ninh

Trên trời cao, trong mây vàng chói lọi

Bên những đấng anh hùng, bên những đấng hy sinh ”

Trang 23

Sao được như người mới thật là

Một nước vãn minh trên thế giới:

Hỡi ai học-giả tính sao mà

Bởi mong cho nước được bằng người, Ông Vĩnh chăm lo suốt một đời

Đem óc, đem lòng dâng tổ quốc, Thương ông ta phải gắng theo đòi ” [3,tr48]

Báo ‘‘Trung Bắc” cũng có bài văn điếu :

Anh hùng không gặp vận, mẩy mươi năm phẩn-đẩu phong-trào;

Tạo vật khéo trêu ngươi, năm-nhăm tuổi giã từ nhân thế

Mở cờ đầu trong báo giới, công quổc-văn còn mãi nghìn thu

Treo gương sáng cho quốc dân, làng chính-khảch dễ tìm mấy kẻ!

Trời Lào bụi thẳm;

Ben Nhị mây mờ

Đọc lại vãn xưa;

Tiếc thay! người ấy

Ô hô!!” [3,tr49]

Ngoài ra còn rất nhiều liễn điếu của những vãn sĩ, trí thức khác như : Nguyễn Vãn

Tố, Nguyễn Bá Trác, Phạm Duy Khiêm, Mai Đăng Đệ, Hoàng Song An, v.v

Nguyễn Văn Vĩnh đã mãi mãi ra đi nhưng bóng dáng ông, tài năng ông, khí chất ông và những công lao to lớn của ông vẫn in sâu trong tâm thức những người ở lại Yêu mến ông bao nhiêu, người đời tiếc thương ông bấy nhiêu Người ta không thể quên một Nguyễn Văn Vĩnh nhanh nhẹn, luôn luôn hoạt động, một Nguyễn Văn Vĩnh với quần Âu, tóc húi cua, đầu đội mũ cát, lái xe môtô hiệu Terrot mang từ Pháp về, một Nguyễn Vãn Vĩnh hoạt bát, tích cực và say mê công việc, một Tân Nam Tử của thời đại Trên các báo thời bấy giờ có rất nhiều bài bình luận về ông với cái nhìn mới mẻ và tốt đẹp

Báo “Sài Gòn ” cho rằng : “Đổi với nền văn học, ông Vĩnh là người đã thấy

rõ con đường để đi, đã nhận rằng cái nền vãn học mới đúc còn thiếu thổn của chủng

ta, cần phải kiếm thêm nhiều tài liệu ở xứ ngoài, đem về bồi bổ kiến thiết mới vững vàng chắc chắn được Nhưng không phải như mọi người chi nhận thấy, chỉ than tiếc rồi thôi Thấy khuyết điểm, ông Nguyễn Văn Vĩnh ra công lo bổ túc Mẩy năm trời ông cặm cụi dịch những bộ sách hay và hữu ích của phương Tây để giúp cho việc mở mang kiến thức của anh em trong nước ” [3,tr51] Và xem ông Vĩnh như “ một nhà vãn cổ công-nghiệp với

Trang 24

báo-giới, với nền văn-học xứ này, vừa là một nhà chỉnh-trị có lương tâm, tiết- tháo

” [3,tr51]

Báo "Đuốc Nhà Nam ” thì viết:

“ Có người bảo : “Ngọc lành bị vết, tiên-sinh trong lúc thiên-hạ khóc đã

nở cười”, nhưng ta bảo đêm vẳng người thưa, tiên-sinh trong lúc thiên-hạ mê, một mình tỉnh

Một bức thư cứu mạng cụ Tây-hồ, khi phách ấy ta làm gì thấy được trong làng tân nỉên-thiếu; dập hũ rượu, ra công trong nghị-viện, tâm-trường ẩy ta cỏn thấy phơi bày giữa báo-chương, nào tiên-sinh cổ phụ gì đời đâu?

Huống chi, đương đầu với thiên-hạ mà không một chút khuất-nhục đến cho thân, đứng trước mặt ỉợi-danh mà vẫn giữ được cải bản sắc người quân-tử Thà tìm vàng ở chon rừng xanh, không thà bới tiền ở những cái ân-huệ, tiên- sinh vẫn là người đáng quỷ mà!

Nếu trong trường chỉnh-trị cần người ở chỗ thập toàn, thì tỉên-sinh vẫn có cái đáng than, chớ như cần người ở chỗ có lương-tâm thì tiên sinh thật là người đáng quỷ

Huống chi về văn-học-giới nước nhà, tiên-sinh lại là một tay cự-phách; về báo-giới nước nhà, tiên-sinh lại là bậc tỉền-khu ” [3,ư53]

Trước năm 1945, tồn tại xu hướng đánh giá nhiều chiều về Nguyễn Văn Vĩnh chứ không riêng gì xu hướng đánh giá tích cực Có dư luận còn nghi ngờ ông thep pháp nhất là sau sự cố Đông Kinh nghĩa thục Tuy nhiên, những cái hạn chế, những cái chưa tốt trong những việc làm của ông nó như một phần chìm bên dưới cái tài năng, khí chất cao cả và sự hoạt động say mê của ông Những người đương thời nhận ra được một điều rằng con người không ai hoàn hảo cả Và theo đó họ đã dành cho ông những đánh giá hết sức khách quan

Ví như Thiếu Sơn trong Phê Bình và cảo luận đã nhận xét về những cái chưa tốt của

Nguyễn Văn Vĩnh, nhưng nhận xét với một giọng điệu thiện cảm, nhẹ nhàng, không có chút gì là gay gắt Thiếu Sơn đã cho rằng ông Vĩnh là một nhà buôn, “cái óc ông nó đã

quen tinh sự lễ, lời, nghĩ chuyện ăn, thua ”, “nhờ ở cái tài kinh tế khôn ngoan của ông mà ông có được cái bề thế lớn lao ” [12,tr77], trong văn dịch thì còn nhiều hạn

chế; trong báo giới quốc văn thì lãnh đạm vì “ông lo cho cái đời kinh tế của báo nhiều

hơn là lo cho cái thể tài của bảo” [12,tr80] Tuy nhiên, bên cạnh việc phê phán, Thiếu

Sơn cũng đã ghi nhận tài năng của Nguyễn Văn Vĩnh, xem ông là người có “cái tài mẫn

tiệp, cái trí thông minh, cái đời có kỉnh nghiệm, cái học không hư văn” [12,tr81] và

đánh giá cao công trình dịch thuật của ông

Còn ông Phan Khôi trong bài Ổng Nguyễn Văn Vĩnh trong con mẳt tôi, tuần báo Sông Hương số 1, ngày 1 - 8 - 1936 tuy không đồng ý với cái cách người ta xưng tụng Nguyễn Văn Vĩnh là “đại văn hào ” vì “ông Vĩnh chi dịch sách chứ không cổ cuốn

nào tự tay viết ra cả ” và cho rằng Nguyễn Văn Vĩnh mặc dù có công đức với xã hội Việt

Nam về phương diện văn học “nhưng chưa phải là cái công đức vĩ đại đáng cho chúng

ta ki niệm đời đời” cũng phải thú nhận rằng : " ông Vĩnh là một người tài học cao cường, chí khi lỗi lạc nhất ở

Ngày đăng: 06/03/2017, 13:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w