Phần mở đầu Năm 1996, chính phủ Hoa Kỳ bắt đầu một chiến dịch để tạo ra một vũ trụ, tất cảcác hệ thống thanh toán điện tử-để giảm gần 70 tỷ đồng người Mỹ viết giấy kiểm tramỗi nămNhững n
Trang 1Phần mở đầu
Năm 1996, chính phủ Hoa Kỳ bắt đầu một chiến dịch để tạo ra một vũ trụ, tất cảcác hệ thống thanh toán điện tử-để giảm gần 70 tỷ đồng người Mỹ viết giấy kiểm tramỗi nămNhững nỗ lực đã được instigated của Dịch vụ tài chính công nghệ tiêu(FSTC), mà đã được các thành viên của các ngân hàng và các ngành công nghiệp côngnghệ thông tin Trong năm 1998, Cục ngân khố Hoa Kỳ tài trợ một chương trình thíđiểm để kiểm tra workability thanh toán của nhà thầu tham gia liên bang với E-test.Hơn $ 2,5 triệu đã được trả tiền ra trong khi giai đoạn thử nghiệm Bởi năm 2000,chương trình đã được chuyển giao cho CommerceNet, một của 500 công ty thươngmại điện tử phát triển và người dùng, mà dùng để khởi chạy nó trên toàn thế giới Các doanh nghiệp có thể tiết kiệm khoảng $ 18,3 tỷ đồng mỗi năm, hoặc khoảng 72phần trăm chi phí liên quan, bằng cách phát triển hiệu quả và an toàn thanh toán trựctuyến và thanh toán chiến lược.Nhưng nhiều người trong số các phiên bản đầu tiên củae-money(bao gồm cả CyberCoins và CyberCash), mà xuất hiện từ đầu những năm1990.Họ thường xuyên làm việc trực tuyến như cấp giấy chứng nhận quà tặng, màngười tiêu dùng mua một số lượng tiền mặt kỹ thuật số và sau đó tham gia trực tuyếntại nhà cung cấp Những phiên bản không thành công để giành chiến thắng người tiêudùng chấp nhận vì lý do nghi ngờ về sự hiệu lực, giới hạn các địa điểm mà ở đó tiềnmặt có thể được chi tiêu, và cần phải cài đặt phần mềm đặc biệt chỉ để sử dụng các sảnphẩm
Thế hệ thứ hai, e-TM xuất hiện vào cuối những năm 1990 Liên quan đến côngnghệ như: kiểm tra điện tử (e-test) và nhúng vào-chip thẻ thông minh, kỹ thuật số củacác hệ thống chuyển tiền tệ tiền mặt số tiền qua Internet trên mạng lưới mở và sử dụngcông cộng để bảo vệ nội dung của các bài viết được chuyển qua hệ thống Sau đó pháttriển trong kỹ thuật số cho phép người sử dụng tiền mặt để chuyển tiền qua e-mail saukhi thiết lập một tài khoản trực tuyến với một nhà cung cấp dịch vụ cho phép thanhtoán trực tuyến tại nhà cung cấp các trang web Do vậy, các khách hàng tránh sử dụng
lệ phí và các thương gia tránh một-hai-phần trăm chi phí giao dịch liên quan đến thẻtín dụng-giao dịch
Trang 2Từ sau những năm 1990, sự mở rộng và phổ biến của Internet đã tạo ra phươngthức mua hàng và bán hàng qua mạng (thương mại điện tử) Hầu hết mọi người đềumong đợi một ngày nào đó tiền giấy sẽ không còn là phương thức thanh toán trongnhững phiên giao dịch nữa
Khi Internet thực sự bùng nổ vào năm 2000, một số chuyên gia tin rằng đây làmốc quan trọng đánh dấu bước khởi đầu của tiền điện tử (e-money) Những dịch vụthanh toán trực tuyến rất thành công nhất như PayPal, cũng như sự phổ biến của tiềnđiện tử ở Nhật Bản với 15 triệu người sử dụng đã đưa tiền điện tử lên một tầm caomới
Tuy nhiên, vào thời kì suy thoái năm 2000, rất nhiều công ty "dot-com" đượcthành lập, nhưng đã nhanh chóng bị đổ vỡ và trở thành công ty "dot- bom" Do đó, tiềnđiện tử còn là vấn đề cần phải cân nhắc và xem xét lại một cách kĩ lưỡng, cẩn thận hơnTiền điện tử được bắt đầu sử dụng từ những năm cuối của thập kỉ 90, dựa vàonhững dự đoán về lượng khách hàng sử dụng thẻ tín dụng để mua hàng Chuyển đổitiền giấy sang tiền điện tử (e-money) dường như là một giải pháp hấp dẫn Trong thờigian này, những hoạt động đầu tiên của tiền điện tử đã bắt đầu xâm chiếm Web.Nhưng loại tiền này vẫn còn quá ít so với việc sử dụng thẻ tín dụng Được sử dụng vớimục đích chính là giao dịch trực tuyến, các loại tiền này được phát hành bởi các công
ty như Beenz.com, Flooz.com và một số các công ty khác
Trong quá trình tìm hiểu và trình bày chúng em không thể tránh khỏi những thiếu
xót và hạn chế, chúng em rất mong được sự góp ý của thầy và các bạn để bài tiểu luận
của chúng em được hoàn thiện hơn Chúng em xin chân thành cảm ơn !
Phần nội dung
Trang 3CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU TIỀN ĐIỆN TỬ 1.1 Khái niệm về tiền điện tử:
Tiền điện tử (e – money hay còn gọi là digital - cash) là một hệ thống cho phép người
sử dụng có thể thanh toán khi mua hàng, hoặc sử dụng các dịch vụ nhờ truyền đi cáccon số từ máy tính này đến máy tính khác
Giống như serial trên tiền giấy, số serial của tiền điện tử là duy nhất Mỗi tờ tiền điện
tử được phát hành bởi một ngân hàng và được đại diện cho một lượng tiền nào đó.Tính đặt trưng của tiền điện tử cũng giống như tiền giấy thật, tức là người mua hàng
sẽ trả một số tiền nào đó cho người bán hàng, và sẽ không có bất cứ phương thức nào
để lấy thông tin về người mau hàng Đó cũng là một điểm khác biệt giữa tiền điện tử
và hệ thống thanh toán thẻ tín dụng
1.2 Các hình thức giao dịch điện tử ngày nay
1.2.1 Một số loại thẻ thanh toán:
Thẻ tín dụng (Credit Card):
Là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất Chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tíndụng không phải trả lãi để mua sắm hàng hoá, dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh,khách sạn, sân bay chấp nhận loại thẻ này
Nó được gọi là thẻ tín dụng vì chủ thẻ được ứng trước một hạn mức tiêu dùng màkhông phải trả tiền ngay, chỉ thanh toán sau một kỳ hạn nhất định Cũng từ đặc điểmtrên mà người ta còn gọi thẻ tín dụng là thẻ ghi nợ hoãn hiệu (delayed debit card) haychậm trả
Ở Việt Nam có các loại thẻ tín dụng do các tổ chức quốc tế phát hành, phổ biến nhất làMaster card và Visa card, và thẻ tín dụng do các ngân hàng trong nước phát hành: thẻcủa ngân hàng Đông Á, Navibank, ACB, Agribank, Sacombank
Thẻ ghi nợ (Debit card):
Trang 4là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi Loại thẻ này khi được
sử dụng để mua hàng hoá hay dịch vụ, giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ ngaylập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử đặt tại cửa hàng,khách sạn đồng thời chuyển ngân lập tức vào tài khoản của cửa hàng, khách sạn Thẻghi nợ còn được sử dụng để rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động
Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuôc vào số dư hiện hữu trên tàikhoản của chủ thẻ
Thẻ rút tiền mặt (Cash card):
là loại thẻ rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hoặc ở ngân hàng Với chức năngchuyên biệt chỉ dùng để rút tiền, yêu cầu đặt ra đối với loại thẻ này là chủ thẻ phải kýquỹ tiền gởi vào tài khoản ngân hàng hoặc chủ thẻ được cấp tín dụng thấu chi mới sửdụng được
1.2.1.1 Xét theo phạm vi lãnh thổ, thẻ được phân chia thành:
Thẻ quốc tế: đây là loại thẻ được chấp nhận trên toàn thế giới, sử dụng các ngoại tệ
mạnh để thanh toán Các loại thẻ này đều được chấp nhận thanh toán ở các websitethương mại điện tử có kết nối với cổng thanh toán OnePAY của Vietcombank
Thẻ trong nước, thẻ nội địa : là thẻ được giới hạn trong phạm vi một quốc gia, do các
ngân hàng, tổ chức trong nước phát hành, đồng tiền giao dịch phải là đồng bản tệ củanước đó Hiện nay một số thẻ thanh toán nội địa đã có chức năng thanh toán trựctuyến: thẻ đa năng Đông Á, thẻ Connect 24 của Vietcombank
1.2.1.2 Theo công nghệ sản xuất, thẻ được phân chia thành:
Thẻ khắc chữ nổi (EmbossingCard): dựa trên công nghệ khắc chữ nổi, tấm thẻ đầu
tiên được sản xuất theo công nghệ này Hiện nay người ta không còn sử dụng loại thẻnày nữa vì kỹ thuật quá thô sơ dễ bị giả mạo
Trang 5Thẻ băng từ (Magnetic stripe): dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng từ chứa thông
tin đằng sau mặt thẻ Thẻ này đã được sử dụng phổ biến trong 20 năm qua , nhưng đãbộc lộ một số nhược điểm: do thông tin ghi trên thẻ không tự mã hoá được, thẻ chỉmang thông tin cố định, không gian chứa dữ liệu ít, không áp dụng được kỹ thuật mãhoá, bảo mật thông tin
Thẻ thông minh (Smart Card): đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, thẻ có cấu
trúc như một máy vi tính
1.2.1.3 Phân loại theo chủ thể phát hành:
Thẻ do Ngân hàng phát hành (Bank Card): là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp
cho khách hàng sử dụng một số tiền do Ngân hàng cấp tín dụng
Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: là loại thẻ du lịch và giải trí của các tập
đoàn kinh doanh lớn hoặc các công ty xăng dầu lớn, các cửa hiệu lớn phát hành nhưDiner"s Club, Amex
1.2.2 Tiền mặt điện tử:
1.2.2.1 Khái niệm: tiền điện tử (e-money hay còn gọi là digital-cash) là một hệ thống
cho phép người sử dụng có thể thanh toán khi mua hàng hoặc sử dụng các dịch vụ nhờtruyền đi các con số từ máy tính này đến máy tính khác
Giống như serial trên tiền giấy, số serial của tiền điện tử là duy nhất Mỗi tờ tiền điện
tử được phát hành bởi một ngân hàng và được đại diện cho một lượng tiền thật nào đó
1.2.2.2 Chức năng: tiền điện tử là phương tiện của thanh toán điện tử được bảo mật
bằng chữ ký điện tử, và cũng như tiền giấy nó có chức năng là phương tiện trao đổi vàtích lũy giá trị Nếu như giá trị của tiền giấy được đảm bảo bởi chính phủ phát hànhthì đối với tiền điện tử, giá trị của nó được tổ chức phát hành đảm bảo bằng việc camkết sẽ chuyển đổi tiền điện tử sang tiền giấy theo yêu cầu của người sở hữu
Trang 61.2.3 SEC điện tử:
1.2.3.1 Khái niệm: Séc là một lệnh vô điều kiện thể hiện dưới dạng chứng từ của
người chủ tài khoản, ra lệnh cho ngân hàng trích từ tài khoản của mình để trả chongười có tên trong séc, hoặc trả theo lệnh của người ấy hoặc trả cho người cầm sécmột số tiền nhất định, bằng tiền mặt hay bằng chuyển khoản Ngoài ra séc cũng có thể
được định nghĩa là một hối phiếu ký phát đòi tiền một ngân hàng, thanh toán ngay khi
có yêu cầu.
1.2.3.2 Phân loại:
Theo cách xác định người thụ hưởng:
Séc lệnh: trả tiền cho cá nhân hoặc thực thể có tên ghi trên séc hoặc trả cho bênđược chuyển nhượng
Séc vô danh: trả tiền cho người nắm giữ tờ séc
Theo các yêu cầu để đảm bảo an toàn trong thanh toán séc:
Séc trơn: mặt sau để trắng hoàn toàn, séc này có thể được ngân hàng trả tiềnmặt
Séc gạch chéo: mặt sau được gạch hai đường chéo song song, séc này chỉ có thểđược trả tiền bằng hình thức ghi có vào tài khoản của người thụ hưởng tại ngânhàng
Séc gạch chéo đặc biệt: mặt trước hoặc mặt sau của tờ séc được gạch hai đườngchéo song song, giữa hai đường chéo là tên ngân hàng hoặc cả chi nhánh ngânhàng Séc này chỉ có thể được nộp vào ngân hàng hay chi nhánh ngân hàng ghitrên đó Ngoài ra séc gạch chéo đặc biệt cũng có thể ghi tên ngân hàng nhờ thu
để thuận tiện cho việc giải quyết khi séc bị ngân hàng thanh toán từ chối thanhtoán
Ngoài ra, theo mức độ đảm bảo sẽ nhân được tiền cho người thụ hưởng còn có:
Trang 7 Séc ngân hàng (hay séc tiền mặt): là séc do ngân hàng phát hành nên người thụhưởng sẽ được đảm bảo thanh toán trừ trường hợp phát hiện ra tờ séc đã bị gianlận Sở dĩ nó được gọi là séc tiền mặt vì có giá trị gần như tiền mặt do sẽ đượcthanh toán ngay.
Séc bảo chi: là một tờ séc được ngân hàng của người phát hành đảm bảo rằngtài khoản của người đó có đủ tiền để được trích ra khi thanh toán Trong trườnghợp này, ngân hàng thường ghi hoặc đóng dấu bảo chi lên tờ séc
1.2.3.3 Các bên liên quan đến séc:
Bên ký phát, (bên phát hành): là người ký tờ séc để ra lệnh cho ngân hàng
Bên thanh toán: là ngân hàng có nghĩa vụ trả tiền theo lệnh của bên ký phát
Bên thụ hưởng: bên nhận tiền từ ngân hàng
Luật pháp của đa số các quốc gia cho phép séc có thể chuyển nhượng cho nhiều ngườiliên tiếp bằng thủ tục ký hậu trong thời hạn hiệu lực của séc
1.2.3.4 Thanh toán séc:
Xuất trình séc: người nắm giữ xuất trình séc tại:
Ngân hàng được chỉ định ghi trên séc
Ngân hàng làm dịch vụ thanh toán (ngân hàng nhờ thu) Phương thức này phổbiến hơn do thuận tiện cho người thụ hưởng
Thanh toán séc: trường hợp séc được xuất trình tại ngân hàng bị ký phát đến thìngân hàng thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng, nếu xuất trình tại ngânhàng nhờ thu thì quy trình như sau:
Ngân hàng nhờ thu nhận séc và đóng dấu gạch chéo đặc biệt lên đó để khi séckhông được thanh toán ngân hàng bị ký phát đến có thể gửi trả lại séc Tiếptheo họ gửi séc đến ngân hàng bị ký phát, ngân hàng này sẽ kiểm tra tờ séc vànếu séc hợp lệ, tài khoản của người ký phát còn đủ tiền thì tài khoản của người
Trang 8ký phát sẽ bị ngân hàng ghi nợ Việc thanh toán giữa ngân hàng nhờ thu vàngân hàng bị ký phát được thực hiện thông qua hệ thống thanh toán bù trừ séc.Séc có thể sẽ không được thanh toán trong những trường hợp sau:
Người ký phát đình chỉ hoặc hủy bỏ việc thanh toán séc
Tài khoản của người ký phát không đủ tiền
Chữ ký trên séc không giống với mẫu chữ ký mà người ký phát đã đăng ký tạingân hàng
Tờ séc bị khiếm khuyết, phổ biến là: trị giá của tờ séc bằng chữ và bằng sốkhông giống nhau; ngày tháng đề trên séc là một ngày trong tương lai; không cótên của người hưởng lợi ghi trên séc; séc bị sửa đổi một cách không hợp lệ; sécnhàu nát, bị rách mà không có xác nhận của ngân hàng là do tình cờ; séc đượchai ngân hàng gạch chéo nhưng không có đảm bảo của một trong hai ngân hàng
đó đối với ngân hàng thanh toán
Trường hợp séc không được thanh toán do tài khoản của người ký phát không
đủ tiền gọi là séc không đủ khả năng thanh toán Người ký phát sẽ được ngânhàng mà người đó ký phát đến thông báo để thực hiện nghĩa vụ thanh toán chongười thụ hưởng Nếu người ký phát không thực hiện người thụ hưởng cóquyền khởi kiện Các quốc gia có thể có hệ thống theo dõi những người ký phátséc không đủ khả năng thanh toán, ngoài việc phải chịu trách nhiệm pháp lý,các đối tác thương mại thường sẽ không chấp nhận thanh toán bằng séc đối vớinhững người đã từng ký phát séc không đủ khả năng thanh toán Theo luật củaViệt Nam, người ký phát séc không đủ khả năng thanh toán có thể bị đình chỉ
có thời hạn hoặc vĩnh viễn quyền ký phát séc
1.2.3.5 Tình hình sử dụng séc ở việt nam:
Ở nước ta, thanh toán bằng séc đã ra đời từ những năm 1960 nhưng đến nay, phươngtiện thanh toán này ngày càng giảm Mặc dù thanh toán bằng séc có nhiều thuận lợi vànhanh chóng trong giao dịch mua bán, người mua hàng ký séc đưa cho người bán và
Trang 9người bán chỉ cần cầm séc và CMND ra ngân hàng là có thể nhận được tiền hoặcchuyển vào tài khoản nhưng hiện nay, tỷ lệ thanh toán bằng séc mới chiếm khoảng 2%trong tổng thanh toán phi tiền mặt; nguyên nhân thanh toán bằng séc bị hạn chế là dochưa có quy định bắt buộc về hạn mức phải thanh toán bằng séc mà hiện chỉ “độngviên” dùng séc và một nguyên nhân khác là sự lo ngại của người bán hàng sợ tài khoảncủa người mua không còn tiền, séc giả, dễ dẫn đến rủi ro Việc thanh toán séc cũnggặp không ít phiền phức nếu khách mua và khách bán không có tài khoản ở cùng mộtngân hàng, buộc các NHTM (ngân hàng thương mại) phải thông qua hệ thống thanhtoán bù trừ của NHNN (ngân hàng nhà nước) nhưng hiện tại, NHNN chưa có Trungtâm thanh toán bù trừ séc.
1.3 Ví điện tử:
Được sự khuyến khích của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, các hình thức thanhtoán không dùng tiền mặt đang trên đà phát triển, thay thế dần thanh toán theo cáchtruyền thống, tạo điều kiện cho thanh toán trực tuyến và thương mại điện tử phát triểntheo
Hiện nay, số người dùng ví điện tử tại Việt Nam đang ngày càng gia tăng, đặc biệttại các thành phố lớn Có 2 lọai ví điện tử đang đươc sử dụng: thẻ ATM và tài khoảnđiện tử Tuy nhiên, ở đây chúng tôi sẽ không nói về thẻ ATM, mà chỉ chú trọng vàoloại ví điện tử thứ 2
Loại ví điện tử này đang được nhắc nhiều là một tài khoản điện tử, có chức năngnhư "ví tiền trong thế giới số”, dùng trên internet và các mạng di động, cho phépngười dùng có thể giao dịch, mua bán, trao đổi tại các website TMĐT, tiến hành thanhtoán trực tuyến mà không cần phải có tài khoản ngân hàng cũng như các loại thẻ tíndụng quốc tế, trong điều kiện thẻ ghi nợ nội địa còn ít được chấp nhận tại các websitebán hàng Khá nhiều dịch vụ ví điện tử phục vụ các hoạt động thanh toán nhanh gọn
đã xuất hiện tại VN Tuy nhiên, người sử dụng đến giờ vẫn không mấy mặn mà vớiloại ví công nghệ này Vậy cụ thể,ví điện tử là gì???
1.3.1 Khái niệm về ví điện tử:
Trang 10Ví điện tử là một dịch vụ về thanh toán trực tuyến cho phép người dùng sử dụng sốtiền có trong Ví để mua hàng hoặc trả phí tại các website thương mại điện tử đồng thờicho phép các giao dịch chuyển tiền, nạp tiền, rút tiền, theo dõi lịch sử giao dịch… Bêncạnh đó, Ví điện tử Doanh nghiệp với các chức năng dành cho “người bán” sẽ hỗ trợdoanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động bán hàng trực tuyến và rút ngắn quy trình thanhtoán, giao nhận hàng hóa như quản lý đơn hàng, tích hợp website bán hàng, quản trịcác phương thức vận chuyển…
Ví điện tử là một loại tài khoản dùng để thanh toán trong các giao dịch nhưng tiềntrong ví chỉ là tiền ảo, khác với tài khoản trong ngân hàng là tiền thật Nó giống nhưmột người giữ tiền trung gian đứng ra thay mặt ngân hàng thực hiện thanh toán chongười sử dụng trong các hoạt động thương mại điện tử Người dùng chỉ cần đăng kýtài khoản ví điện tử qua website dịch vụ của nhà cung cấp, rồi tiến hành nạp tiền vào ví
từ tài khoản ngân hàng, tài khoản thẻ ATM, thẻ trả trước
Sau đó có thể dùng ví điện tử để thanh toán các giao dịch áp dụng hình thức thanhtoán này Đơn vị cung cấp ví điện tử có trách nhiệm đảm bảo qu yền lợi cân bằng giữacác bên Chẳng hạn khi mua hàng, người dùng thanh toán bằng ví điện tử thì tổ chứcphát hành ví điện tử có trách nhiệm thông báo với bên bán hàng là đã nhận được tiền
và yêu cầu bên bán giao hàng cho người dùng
Người dùng nhận hàng nhưng nếu không vừa ý, không đúng như thỏa thuận khimua có thể thông báo lại với “người giữ tiền trung gian” và “người” này có tráchnhiệm không thanh toán lại cho nơi bán hàng hay đòi lại tiền nếu đã thanh toán Chính
vì điều này làm ví điện tử trở nên an toàn hơn so với tài khoản ngân hàng khi dùng đểthanh toán
1.3.2 Cách sử dụng:
Cách thức sử dụng các ví điện tử nhìn chung là tương tự nhau Để sở hữu một chiếc
ví điện tử, người tiêu dùng chỉ cần vào website của nơi cung cấp dịch vụ và khai báothông tin chính xác, sau đó tiến hành nạp tiền vào ví Có nhiều phương thức giúpngười dùng nạp tiền vào ví, như: chuyển khoản qua ngân hàng, nạp từ tài khoản thẻATM, nạp bằng thẻ trả trước,… Hầu hết các ví điện tử được gắn kết với tài khoản tiền
Trang 11gởi, hoặc tài khoản thẻ của người dùng, để có thể dễ dàng chuyển tiền giữa ví điện tử
và tài khoản tiền gửi
Ví điện tử cũng cho phép chủ sở hữu nạp tiền từ tài khoản ngân hàng, rút tiền ra tàikhoản ngân hàng một cách rất dễ dàng trên internet Người dùng ví điện tử có thể giaodịch thanh toán với người dùng khác, hay các doanh nghiệp bán hàng hoá, dịch vụ có
ví điện tử, ở bất cứ ngân hàng nào trong hệ thống Ngoài ra, người sử dụng có thể thựchiện truy vấn, quản lý các giao dịch phát sinh trên ví điện tử, theo dõi số dư của ví,kiểm soát việc chi tiêu, in sao kê, hay thực hiện thanh toán các đơn hàng của nhữnggiao dịch chưa được thanh toán thành công trước đó,…Tất cả các hoạt động trên đều
có thể thực hiện thông qua mạng Internet
1.3.3 Những lợi ích của ví điện tử:
Ví an toàn hơn thẻ thanh toán vì thẻ có thể bị hacker ăn cắp mật khẩu hoặc nếu làmkinh doanh có thể bị người khác ăn cắp và sử dụng “chùa” để thanh toán Đó là rủi rorất lớn của việc dùng thẻ Còn khi dùng ví điện tử thì cao lắm chỉ bị mất số tiền đãchuyển vào ví để thanh toán, còn tài khoản ngân hàng không bị ảnh hưởng gì Nếu bịmất tài khoản ví thì người dùng có thể tạo lại dễ dàng
Bảo đảm quyền lợi của cả hai bên mua và bán:
Để tham gia thanh toán trực tuyến, cả người mua và người bán đều phải đăng ký tàikhoản trên cổng thanh toán và có tài khoản ở ngân hàng Khi người mua chuyển tiền,tiền sẽ được giữ lại ở tài khoản lưu ký đặt tại ngân hàng; khi người bán chuyển hàng
Trang 12cho người mua (hoặc có xác nhận giao dịch mua bán đã hoàn tất) thì tiền từ tài khoảnlưu ký mới chính thức được chuyển vào tài khoản của người bán
Ví điện tử cung cấp giải pháp đảm bảo an toàn giữa người mua và người bán Khihai người giao dịch chưa quen biết nhau thì có hai rủi ro: thứ nhất, người mua khôngphải muốn mua thật, họ chỉ làm đơn hàng giả Khi đó, rủi ro về phía người bán Víđiện tử sẽ giải quyết, giúp tránh đơn hàng giả là vì ngay lúc đó, tiền sẽ được rút ra khỏi
ví người mua Rủi ro thứ hai là khi giao hàng, có thể gặp những trường hợp như mặthàng giao đến không đúng với cam kết trên mạng, cũ hơn hoặc trầy xước… Khi đó, rủi
ro về phía người mua Ví điện tử sẽ giúp giải quyết việc nầy, vì sau thời gian giao nhậncòn có thời gian khiếu kiện Trong thời gian khiếu kiện, người mua có thể khiếu kiệnđơn hàng và nhà cung cấp đóng vai trò trung gian sẽ đứng ra giải quyết Sau thời giankhiếu kiện, xem như giao dịch diễn ra tốt đẹp và tiền mới về ví người bán
Thanh toán nhanh chóng, tiện lợi:
Nếu như ATM cho phép người dùng thanh toán trực tiếp tại các quầy thanh toán khimua sắm offline thì ví điện tử trực tuyến giúp họ thanh toán khi mua hàng online mộtcách nhanh chóng và thuận tiện, qua máy tính kết nối internet, với độ bảo mật cao hơnnhiều, giảm thiểu được rủi ro sử dụng tiền mặt, hoặc lộ thông tin thẻ ATM, lại khôngphải đi lại nhiều, Hơn nữa, ví điện tử trực tuyến không chỉ phục vụ cho các cá nhân
mà còn cho các doanh nghiệp bán hàng qua mạng, giúp họ có được một phương thứcthanh toán trực tuyến an toàn và ít chi phí
Người dùng hiện nay dùng ví điện tử để thanh toán chủ yếu trong thương mại điện
tử, thanh toán hóa đơn, mua vé tàu xe, máy bay sắp tới sẽ áp dụng trong thanh toánchính phủ điện tử Trong tương lai sẽ có thể áp dụng để thanh toán ở ngoài đời như vé
xe buýt, quán ăn, cà phê Ví điện tử đem lại rất nhiều lợi ích cho người tiêu dùng,giúp họ thanh toán khi mua hàng online một cách nhanh chóng và thuận tiện qua máytính kết nối internet, sẽ xóa bỏ khá nhiều khâu trung gian như đi lại, ký giấy tờ, rút tiềnmặt và tiết kiệm thời gian, đồng thời đảm bảo an toàn cho người dùng
Ngoài ra, đối với những người dùng không có tài khoản ngân hàng như học sinh,người chưa đủ tuổi để mở tài khoản thì cha mẹ có thể mở cho con mình một tài khoản
Trang 13ví điện tử Khi muốn cho con mặt hàng nào đó, cha mẹ chỉ việc chuyển số tiền cầnthiết từ tài khoản ngân hàng của mình sang ví điện tử của con để thanh toán Các víđiện tử còn có thể chuyển tiền giữa các tài khoản với nhau, giúp những người dùng cóthể tặng tiền, cho mượn tiền, thanh toán giúp dễ dàng Từ đó tạo nên một cộng đồngthanh toán không tiền mặt
Như vậy, thanh toán bằng ví điện tử tiện lợi, nhanh chóng hơn rất nhiều so với hìnhthức thanh toán truyền thống Tuy nhiên, việc sử dụng ví điện tử ở Việt Nam vẫn chưaphát triển sâu rộng mặc dù nó đã ra đời trên thế giới từ 10 năm trước đây Người dânvẫn chưa thực sự măn mà với hình thức thanh toán mới mẻ này Nguyên nhân là vì vẫncòn tồn tại một số khó khăn nhất định
1.3.4 Những khó khăn của việc phát triển ví điện tử:
Ta có thể thấy tổng quan những khó khăn qua biểu đồ sau:
KHÓ KHĂN ĐỂ PHÁT TRIỂN VÍ ĐIỆN TỬ
Người sử dụng thiếu thông tin:
Những người trẻ tuổi như sinh viên và nhân viên văn phòng là tầng lớp làm quennhanh nhất với hình thức thanh toán mới do thường xuyên tiếp xúc với Internet Vẫncòn một bộ phận lớn vẫn chưa quan tâm tới hình thức mua bán trực tuyến và thanhtoán bằng ví điện tử Họ cũng không có nhiều thông tin về loại hình dịch vụ này như:các loại ví, cách thức sử dụng và những tiện ích mà nó mang lại, Đa phần người dânvẫn còn thói quen sử dụng tiền mặt khi thanh toán Điều này cũng khó tránh khỏi vì cónhiều nguyên nhân khiến người dân cảm thấy giao dịch trực tuyến đầy rủi ro và dễ bịlừa đảo
Trang 14Một trong những điều khiến người tiêu dùng còn e dè trước khi chấp nhận hìnhthức ví điện tử là họ không được cung cấp rõ thông tin phí phải trả cho nhà cung cấpdịch vụ là bao nhiêu.Họ cũng không biết khi giao dịch mua bán thì ai là người phảichịu phí Một số người tiêu dùng cũng cảm thấy băn khoăn khi giữa các loại ví điện tửcũng có cách tính biểu phí khác nhau Trong khi đó thì hầu hết các nhà cung cấp dịch
vụ đều không công khai khoản phí sử dụng, lộ trình miễn phí, thu phí, mức thu baonhiêu,…càng gây nhiều lo lắng cho người dân
Chưa có sự đồng bộ và liên kết giữa các nhà cung cấp:
Các nhà cung cấp dịch vụ ví điện tử vẫn chưa có sự liên kết với nhau giống nhưtình trạng thẻ ATM trước đây Việc chuyển tiền từ ví của ngân hàng ngày tới ví củangân hàng khác rất khó khăn hoặc không thực hiện được
Tính bảo mật chưa cao:
Một lệnh giao dịch điện tử sẽ đi từ người mua - người bán – ngân hàng – cổngthanh toán Bất cứ nơi nào trên chặng đường dài này đều có thể gặp phải rủi ro Vì thế,
cơ sở an toàn phải đi từ hệ thống hạ tầng, đường truyền cho đến các giải pháp quản lý
cơ sở dữ liệu và bảo mật thông tin cho người dùng, bằng cách nào để không thất thoátthông tin của khách hàng Tuy nhiên cơ sở hạ tầng kỹ thuật của nước ta vẫn chưa đủvững chắc với các cơ sở quản lý rõ ràng
Tiện ích chưa phong phú:
Mặc dù ví điện tử có khá nhiều công dụng như: thanh toán trực tuyến, nạp tiền điệnthoại, mua vé máy bay, thanh toán điện nước,… nhưng thực tế thì mỗi loại thẻ chỉ cómột hay vài những tính năng trên Số lượng các nhà liên kết dịch vụ và hệ thống ngânhàng liên kết của mỗi thẻ cũng không nhiều Ví dụ khách hàng sử dụng loại ví điện tửMobivi muốn mua vé máy bay thì chỉ liên kết được với duy nhất trang webwww.tftravel.com Một số tính năng nhiều người quan tâm như thanh toán hóa đơnđiện, điện thoại, internet hằng tháng thì không phải loại ví nào cũng thực hiện được
Do đó, khách hàng không có nhiều lựa chọn
Người sử dụng chưa tin tưởng vào dịch vụ:
Trang 15Đối tượng tiêu dùng gia đình cho rằng do họ không tin tưởng vào chất lượng hànghóa dịch vụ được giao dịch qua mạng Ta có thể thấy rõ qua bảng số liệu sau:
2.1.1 Thẻ ATM:
Số lượng người sử Dụng:
Trang 16Hiện nay, loại thẻ được dùng nhiều nhất ở VN là thẻ ATM do nhiều ngân hàng (NH)phát hành Cả nước hiện có trên 10.000 máy ATM, hơn 36.000 thiết bị chấp nhận thẻđược lắp đặt và 22 triệu thẻ ngân hàng được phát hành
Song trên thực tế, đa số người dân chỉ sử dụng thẻ ATM để rút tiền, còn việc thanhtoán điện tử là rất hạn chế Bên cạnh việc sử dụng thẻ ngân hàng, giải pháp mà VụThanh toán đưa ra là cần đẩy mạnh sử dụng các phương tiện thanh toán không dùngtiền mặt hiện đại khác như Internet Banking, Mobile Banking, ghi nợ trực tiếp từ tàikhoản…
Để đẩy mạnh việc trả lương qua tài khoản cũng như thanh toán điện tử, Ngân hàngNhà nước vừa yêu cầu (ngày 9-6) các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phải báocáo tình hình triển khai trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từngân sách nhà nước Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức cung ứng dịch
vụ thanh toán phải báo cáo việc phát triển mạng lưới ATM, công tác bảo đảm an toàn
và hoạt động thông suốt cho các máy ATM của ngân hàng; việc phát triển các dịch vụthanh toán không dùng tiền mặt đi kèm thẻ để tạo điều kiện cho chủ thẻ, trong đó cócác đối tượng nhận lương qua tài khoản áp dụng thanh toán không dùng tiền mặt
Xu hướng người sử dụng:
Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, rào cản về pháp lý không còn, dịch vụ củacác ngân hàng gần tương đương nhau Việc ứng dụng công nghệ tiên tiến hơn trởthành yếu tố quyết định cuộc chạy đua giành niềm tin khách hàng Và khái niệm tiềnđiện tử ở Việt Nam trong những năm gần đây không còn là mới mẻ nữa trong những
số sử dụng đó có một số doanh nghiệp đã nghiên cứu và đưa ra thị trường loại thẻthanh toán đa mục đích để chơi game, sử dụng Internet hay mua hàng hóa trên websitecủa doanh nghiệp Một vài ngân hàng cũng đã bắt đầu đẩy mạnh cung ứng các sảnphẩm, dịch vụ ngân hàng quan kênh điện tử như Internet banking, Mobile banking
Để nhanh chóng tiếp cận với khách hàng, ở Việt Nam sau yếu tố lãi suất, thời gianqua, các ngân hàng thương mại cũng đã có những cuộc đua mở chi nhánh Theo cácchuyên gia trong ngành, cuộc đua này xuất phát từ một lý do rất chính đáng Bởi càng