Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị – Từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị – Từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị – Từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị – Từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị – Từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị – Từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị – Từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị – Từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị – Từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị – Từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị – Từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị – Từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị – Từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị – Từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRẦN THỊ BÍCH HẠNH
PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO THANH NIÊN
Ở ĐÔ THỊ - TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI – 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRẦN THỊ BÍCH HẠNH
PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO THANH NIÊN
Ở ĐÔ THỊ - TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS LƯƠNG THANH CƯỜNG
HÀ NỘI – 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn: “Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị - Từ thực tiễn thành phố Hà Nội” là công trình nghiên cứu khoa
học của riêng tôi
Các số liệu, thống kê và kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc cụ thể, rõ ràng và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./
Hà Nội, ngày … tháng … năm 201…
Học viên
Trần Thị Bích Hạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm trân trọng nhất, tác giả luận văn xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Lương Thanh Cường, Học viện Hành chính Quốc gia đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện và hoàn
thành Luận văn Thạc sỹ với đề tài: “Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị - Từ thực tiễn thành phố Hà Nội"
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, các thầy giáo, cô giáo của Học viện Hành chính đã tận tình, chu đáo trong quá trình tham gia giảng dạy và truyền đạt kiến thức cho tác giả Xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến toàn thể cán
bộ, công chức, viên chức của Học viện Hành chính đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành chương trình cao học cũng như hoàn thành Luận văn này
Xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Lãnh đạo UBND Thành phố Hà Nội, Văn phòng UBND Thành phố Hà Nội, Sở Tư pháp Thành phố Hà Nội, các
cơ sở Đoàn, Hội, Đội, cán bộ, công chức, các cơ sở giáo dục trong địa bàn Thành phố Hà Nội tác giả đã đến khảo sát, lấy số liệu phục vụ cho việc hoàn thành Luận văn này
Kính mong nhận được sự góp ý của Quý thầy giáo, cô giáo, đồng nghiệp và các học viên cao học - Học viện Hành chính và Quý bạn đọc để Luận văn được hoàn thiện và có giá trị thực tiễn cao hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày … tháng … năm 201…
Học viên
Trần Thị Bích Hạnh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO THANH NIÊN Ở ĐÔ THỊ 7 1.1 Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc và vai trò của phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị 7 1.1.1 Khái niệm thanh niên ở đô thị 7 1.1.2 Khái niệm, mục đích của phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị 11 1.2.3 Đặc điểm của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị 15 1.1.4 Vai trò của phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị 17 1.2 Các yếu tố cấu thành phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị 20 1.2.1 Chủ thể của phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị 20 1.2.2 Đối tượng của phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị 231.2.3 Yêu cầu đối với việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị 24 1.2.4 Nội dung của phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị 271.2.5 Phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật đối với thanh niên ở đô thị 281.2.6 Hình thức của phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị 311.3 Điều kiện đảm bảo thực hiện phổ biến giáo dục pháp luật cho thanh niên ở
đô thị 32 Tiểu kết chương 1 35 Chương 2 THỰC TRẠNG PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO THANH NIÊN Ở ĐÔ THỊ - TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 36 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến phố biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở thành phố Hà Nội 36
Trang 62.1.1 Các điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa có ảnh hưởng đến hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở thành phố Hà Nội 36 2.1.3 Thanh niên ở đô thị từ thực tiễn thanh niên ở Hà Nội 38 2.2 Tình hình công tác phố biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở thành phố
Hà Nội 41 2.2.1 Chủ thể thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở Thành phố Hà Nội 41 2.2.2 Nội dung và đối tượng của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên Hà Nội 44 2.2.3 Hình thức, phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật đối với thanh niên
Hà Nội 56 2.3 Đánh giá thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở Thành phố Hà Nội 62 2.3.1 Ưu điểm của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở Thành phố Hà Nội 62 2.3.2 Hạn chế của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở Thành phố Hà Nội 63 2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật đối với thanh niên Hà Nội hiện nay 66 Tiểu kết chương 2 69 Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO THANH NIÊN Ở ĐÔ THỊ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 70 3.1 Quan điểm bảo đảm phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị 70 3.2 Giải pháp bảo đảm phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị 72 3.2.1 Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch
về phổ biến, giáo dục pháp luật 72
Trang 73.2.2 Tăng cường trách nhiệm của hệ thống chính trị đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đối với thanh niên ở thành phố Hà Nội nói riêng và ở đô thị
nói chung 75
3.2.3 Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 78
3.2.4 Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật đối với thanh niên ở thành phố Hà Nội nói riêng, thanh niên ở đô thị nói chung 80
3.2.5 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đối với thanh niên ở Hà Nội nói riêng, thanh niên ở đô thị nói chung 85 3.3.6 Tăng cường đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất và điều kiện bảo đảm triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đối với thanh niên Thủ đô nói riêng và thanh niên ở đô thị nói chung 87
Tiểu kết chương 3 89
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bất cứ thời kỳ nào, thanh niên luôn có vai trò đặc biệt quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Bên cạnh số đông thanh niên sống
có lý tưởng, có ước mơ, hoài bão tốt đẹp, ít nhất là cho bản thân họ, sau nữa là bổn phận với gia đình, xã hội, thì cũng có một bộ phận lớp trẻ đua đòi, thiếu bản lĩnh, ham hưởng thụ, trở thành nỗi bức xúc của xã hội Bên cạnh đó, thanh niên còn là đối tượng để các thế lực thù địch với nhân dân ta lôi kéo, kích động các hành động gây rối loạn xã hội…làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị trên địa bàn, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân
Mặt khác, tác động tiêu cực của cơ chế thị trường đã làm một bộ phận thanh niên có lối sống thực dụng, buông thả, ngại tham gia các hoạt động xã hội,
có biểu hiện thiếu niềm tin, tự ti, bản lĩnh chính trị non kém, dao động về lập trường, dễ bị kích động, lôi kéo…Đặc biệt, những thông tin phản động và phản văn hóa trên Internet ngày càng nhiều đã có những tác động tiêu cực đến tâm trạng, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận thanh niên, dẫn đến thanh niên sa vào các tệ nạn xã hội, thanh niên vi phạm pháp luật gia tăng Một vấn đề nổi lên trong thời gian qua khiến nhiều người rất quan tâm, đó là tình trạng vi phạm pháp luật trong thanh thiếu niên gia tăng Theo thống kê chưa đầy đủ, có trên 60% người phạm tội trong độ tuổi từ 15-30, cá biệt có một số vụ án nghiêm trọng mà người phạm tội dưới 15 tuổi
Nguyên nhân của tình hình vi phạm pháp luật trong thanh niên trước hết
là do thiếu hiểu biết về pháp luật; do vốn sống và hiểu biết xã hội của thanh niên còn hạn chế; khả năng tiếp nhận thông tin nhanh nhưng ít chọn lọc và dễ bị lôi kéo, lợi dụng Mặt khác, tình trạng thanh niên khó khăn trong cuộc sống, thất nghiệp, chưa có việc làm…; quá trình đô thị hóa phát triển nhanh nhưng không đồng bộ ở nhiều nơi; quá trình hội nhập, giao lưu kinh tế - văn hóa - xã hội không ngừng được tăng cường nhưng chưa có sự chuẩn bị kỹ càng về mọi mặt
Trang 9đã có tác động xấu đến lối sống của một bộ phận thanh niên trong việc chấp hành pháp luật Tất cả những vấn đề đó đang trở nên bức xúc, đòi hỏi sự quan tâm nhiều hơn nữa của các cấp, các ngành, toàn xã hội và mỗi gia đình trong nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho thanh niên
Trong những năm qua, cùng với cả nước, thành phố Hà Nội, đã huy động toàn bộ sức mạnh hệ thống chính trị vào cuộc để triển khai và thực hiện tốt các luật của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ, các đề án của Thủ tướng về tuyên truyền giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên Qua quá trình triển khai, bước đầu đã thu được những kết quả nhất định; các cơ quan chuyên môn, các phòng, ban và các tổ chức chính trị - xã hội đã tích cực, chủ động triển khai một cách đồng bộ từ thành phố đến cơ sở từ đó đã góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho thanh niên
Tuy nhiên, thực tế cho thấy ý thức pháp luật của một bộ phận thanh niên trong đó có thanh niên ở đô thị vẫn còn chưa cao, biểu hiện như: hiểu biết pháp luật còn hạn chế, thiếu sự tôn trọng pháp luật, còn có vi phạm pháp luật … Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân từ phía phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị chưa đạt hiệu quả cao như mong muốn Vì vậy, để có thể đạt được những kết quả như mong muốn, công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho thanh niên cần nhận được sự quan tâm, đầu tư và tham gia tích cực, chủ động của toàn xã hội Các hoạt động liên quan công tác này cần được triển khai thực chất, có kế hoạch riêng và thước đo
sự thành công phải được thể hiện bằng ý thức chấp hành pháp luật của thanh niên đặc biệt là thanh niên ở đô thị có những môi trường sống hiện đại, hội nhập rất dễ trong thực tế cuộc sống
Với những lý do trên, đề tài luận văn “Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị - từ thực tiễn thành phố Hà Nội” được chọn để nghiên cứu
nhằm làm rõ thêm cơ sở lý luận, thực tiễn cho việc hoàn thiện phổ biến giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị
Trang 102 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Phổ biến, giáo dục pháp luật là một vấn đề mang tính cấp thiết của nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay Đây là vấn đề có rất nhiều nhà khoa học quan tâm Nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố như:
- Trần Ngọc Đường và Dương Thanh Mai, Bàn về giáo dục pháp luật, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 Đây là cuốn sách nghiên cứu một cách cơ bản những vấn đề lý luận giáo dục pháp luật bao gồm khái niệm, mục đích, đối tượng, chủ thể, nội dung, hình thức, phương pháp và phương tiện giáo dục pháp luật
- Tống Đức Thảo, Giáo dục pháp luật góp phần nâng cao ý thức và nghĩa
vụ tuân thủ pháp luật, tạp chí Lý luận chính trị, số 10/2006) nghiên cứu vai trò
tác động của giáo dục pháp luật đối với việc hình thành và nâng cao ý thức pháp luật cho các tầng lớp dân cư đồng thời nêu những đặc điểm cơ bản của ý thức pháp luật
- Luận văn thạc sĩ của Hồ Quốc Dũng đã nghiên cứu “Một số vấn đề về
giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay (1997)” Tác giả đã tiếp cận, tìm
hiểu công tác giáo dục pháp luật, từ đó thấy được những khó khăn, thách thức trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật, từ đó nghiên cứu, phân tích đề xuất một số giải pháp giáo dục pháp luật, nhằm nâng cao nhận thức của nhân dân trong việc thi hành pháp luật trong giai đoạn hiện nay
- Luận án tiến sĩ của Dương Thanh Mai (1996), Công tác tuyên truyền
giáo dục pháp luật ở nước ta - Thực trạng và giải pháp Tác giả đã đi sâu phân
tích công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật ở nước ta; đặc biệt là trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội đây là khâu đầu tiên rất quan trọng trong hoạt động thực thi pháp luật, là cầu nối giữa hoạt động xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật
- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới, Đề tài khoa học cấp Bộ năm 1994, mã số 92-98-223-ĐT, của Viện
Nghiên cứu Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp
Trang 11- Hồ Việt Hiệp, Xã hội hóa công tác phổ biến giáo dục pháp luật trong
tình hình mới, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 9/2000
- Đinh Thị Hoa, (2005), Giáo dục pháp luật cho đồng bào người Chăm ở
thành phố Ninh Thuận hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học
- Nguyễn Tiến Hải, (2008), Giáo dục pháp luật đối với cư dân nông thôn
đồng bằng sông Cửu Long, Luận văn Thạc sỹ Hành chính công
- Đinh Thị Hương, (2008), Giáo dục pháp luật cho phụ nữ nông thôn trên
địa bàn thành phố Hưng Yên, Luận văn thạc sĩ Luật học
- Nguyễn Thị Phượng, (2008), Giáo dục pháp luật hôn nhân gia đình cho
nông dân trên địa bàn thành phố Bến Tre, Luận văn thạc sĩ Luật học
- Nguyễn Quốc Sửu, (2010), Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức
hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luận án tiến sỹ luật
- Nguyễn Thị Thu Ba (2012), “Nâng cao chất lượng tuyên truyền, giáo
dục pháp luật cho công nhân tại các doanh nghiệp ở Thành phố Đồng Tháp giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Luật học
- Nguyễn Thị Thu Huyền (2016), ”Phổ biến, giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sỹ Luật học
Các công trình khoa học cho thấy những vấn đề liên quan đến giáo dục pháp luật đã được rất nhiều tác giả nghiên cứu, tiếp cận và giải quyết dưới những góc độ khác nhau Tuy nhiên, có thể nói rằng, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về giáo dục pháp luật đối với thanh niên đô thị, đặc biệt tại đô thị loại 1 như Hà Nội Vì vậy, việc chọn nghiên cứu đề tài này mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục pháp luật đối với thanh niên đô thị nói chung và tại Hà Nội nói riêng Để thực hiện luận văn, tác giả tiếp thu có chọn lọc kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học liên quan đến đề tài Đây cũng là lý do để đề
Trang 12tài này được lựa chọn bởi sự không trùng lặp của đề tài với các công trình có liên quan được công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Trên cơ sở lý luận về phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị, đề tài đánh giá thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở thành phố Hà Nội để từ đó có cơ sở đề xuất những giải pháp bảo đảm phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị từ thực tiễn thành phố Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
- Phân tích, làm rõ thêm cơ sở lý luận về phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị trên cơ sở hệ thống hóa quan điểm chủ nghĩa Mác - Lê nin,
tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng và quy định của Nhà nước ta
- Phân tích thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên của thành phố Hà Nội trong những năm gần đây qua đó rút ra những hạn chế cần khắc phục và tìm ra những nguyên nhân hạn chế đó
- Đề xuất một số giải pháp bảo đảm phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn về phổ biến,
giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh
niên ở thành phố Hà Nội
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu phổ biến, giáo dục pháp luật cho
thanh niên ở thành phố Hà Nội từ năm 2010 đến 2015
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Trang 13Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử về phổ biến giáo dục pháp luật
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu để làm sáng
tỏ, trong đó tập trung một số phương pháp sau: Phương pháp khảo cứu tài liệu, phương pháp chuyên gia, phương pháp phỏng vấn trực tiếp, phương pháp kiểm tra, khảo sát, phương pháp phân tích, tổng hợp…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về lý luận: Luận văn góp phần vào hệ thống hoá cơ sở lý luận về phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị;
- Về thực tiễn: Các khuyến nghị của luận văn có giá trị tham khảo trong thực tế hoàn thiện giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị
- Đề tài còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu liên quan sau này
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, thì đề tài gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận về phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị Chương 2: Thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô
thị - từ thực tiễn thành phố Hà Nội
Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm phổ biến, giáo dục pháp luật
cho thanh niên ở đô thị - Từ thực tiễn thành phố Hà Nội
Trang 14Chương 1
LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CHO THANH NIÊN Ở ĐÔ THỊ
1.1 Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc và vai trò của phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị
1.1.1 Khái niệm thanh niên ở đô thị
Thanh niên là khái niệm dùng để chỉ một nhóm nhân khẩu – xã hội với một độ tuổi xác định, với những tâm sinh lý đặc thù và có một vai trò quan trọng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Thanh niên là lớp người đang phát triển
cả về chất, cả về tâm lý tinh thần và cả về nhu cầu tình cảm, trí tuệ và tài năng, ước mơ và lý tưởng, tư duy và tính cách Đó cũng là thời kỳ hình thành những định hướng giá trị của cuộc sống đang trưởng thành về nhân cách
Thanh niên là một nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù, chiếm số đông trong dân cư, đan xen trong các giai tầng, cơ cấu xã hội và cơ cấu nghề nghiệp Thanh niên không phải là một giai cấp nhưng lại thường xuyên chịu ảnh hưởng của các quan hệ giai cấp, của dư luận xã hội, của lối sống cộng đồng Vì thế có người cho rằng thanh niên là tấm gương phản chiếu của hình ảnh xã hội
Thanh niên là lực lượng lao động dự trữ của xã hội, là tài nguyên vô giá của mỗi quốc gia, dân tộc, là lực lượng tích cực tham gia vào quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Chính vì vậy trong công cuộc cải tạo xã hội, lực lượng chính trị nào nắm được thanh niên, lực lượng ấy sẽ dành phần thắng trong tay Lịch sử cách mạng của dân tộc Việt Nam đã chứng minh cho chân lý đó
Thanh niên là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống hằng ngày cũng như trong các lĩnh vực khoa học Tùy thuộc vào nội dung tiếp cận mà người ta đưa ra các quan niệm khác nhau về thanh niên
Từ góc độ sinh học thì các nhà nghiên cứu coi thanh niên là một giai đoạn nhất định của quá trình phát triển của cơ thể, vì trong giai đoạn này thấy rõ sự
Trang 15cường tráng về mặt thể lực, sự phát triển về trí tuệ và trưởng thành về sinh dụng, tính dục
Từ góc độ tâm lý học, các nhà tâm lý học thường nhìn nhận thanh niên là một giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ phụ thuộc sang hoạt động độc lập với tư cách là một công dân có trách nhiệm Ở giai đoạn này, sự phát triển về thể chất đạt đến đỉnh cao, tuy nhiên, các yếu tố tâm lý mới được định hình và ổn định một cách tương đối
Từ góc độ kinh tế học, thanh niên được xem là một lực lượng lao động xã hội đông đảo, nguồn lực bổ sung cho đội ngũ lao động trên tất cả các lĩnh vực, là
bộ phận quan trọng cấu thành lên lực lượng sản xuất, rất năng động, nhậy bén, gắn bó với tiến trình phát triển xã hội, đi đầu trong công cuộc đấu tranh sáng tạo mới, tham gia xây dựng giai cấp công nhân và các giai tầng trong xã hội
Dưới góc độ luật học, theo Luật Thanh niên được Quốc hội khóa IX thông qua có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 tại Điều 1 quy định
“Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”
Theo Khoản 2 Điều 1 Điều lệ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh:
"Thanh niên Việt Nam tuổi từ 15 đến 30, tích cực học tập, lao động và bảo vệ
Tổ quốc, thừa nhận Điều lệ Đoàn, tự nguyện hoạt động trong một tổ chức cơ sở của Đoàn và có lý lịch rõ ràng đều được xét kết nạp vào Đoàn"
Liên hợp quốc định nghĩa thanh niên là nhóm người từ 15 đến 24 tuổi, chủ yếu dựa trên cơ sở phân biệt các đặc điểm về tâm sinh lý và hoàn cảnh xã hội so với các nhóm lứa tuổi khác Nhưng Công ước quốc tế của Liên hợp quốc
về quyền trẻ em lại xác định trẻ em đến dưới 18 tuổi
Để nhìn nhận đánh giá một cách tương đối toàn diện, và bao hàm được các nội dung về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với thanh niên, phạm vi nghiên cứu về thanh niên được hiểu là một nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù có độ tuổi từ
đủ 16 tuổi đến 30 tuổi, gắn với mọi giai cấp, mọi tầng lớp xã hội và có mặt trên mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội
Trang 16Như vậy, Thanh niên là khái niệm dùng để chỉ một nhóm nhân khẩu – xã
hội với một độ tuổi xác định, với những tâm sinh lý đặc thù và có một vai trò quan trọng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; có độ tuổi từ đủ 16 đến 30 tuổi
Ngoài tiêu chí độ tuổi, nhóm xã hội - dân cư “thanh niên” còn có thể được chia thành các tiểu nhóm khác nhau, như thanh niên thành thị, thanh niên nông thôn (nếu lấy địa bàn cư trú làm tiêu chí phân biệt)
Theo Từ điển Tiếng việt thì “Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp” [5, tr134]
Theo Điều 3 Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 quy định: Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ rất cao, lực lượng sản xuất tập trung cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn
Đô thị có những đặc điểm như: (i) Là nơi cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội phát triển có tính liên thông, đồng bộ; (ii) Là nơi tập trung dân cư với mật độ rất cao[1], tối thiểu phải đạt một mức nhất định tùy vào các quy ước mang tính chủ quan mà Nhà nước đặt ra; (iii) Là nơi lực lượng sản xuất phát triển và tập trung rất cao; (iv) Là nơi có nếp sống, văn hóa của thị dân gắn liền với đặc điểm sinh hoạt, giao tiếp rất đặc thù khác với nông thôn; (v) Là nơi dễ tập trung, phát sinh các tệ nạn xã hội là thử thách đối với công tác quản lý; (vi)
Có địa giới hành chính và điều kiện sinh sống của người dân khá chật hẹp so với địa bàn nông thôn
Từ khái niệm đô thị, tác giả luận văn rút ra quan niệm chung về thanh
niên ở đô thị như sau: Thanh niên ở đô thị là những người từ đủ 16 tuổi đến 30
tuổi, là một bộ phận dân cư sinh sống tại đô thị
Thanh niên ở đô thị có điều kiện sinh sống đa dạng và phức tạp hơn thanh niên ở những vùng nông thôn Mặt khác, thanh niên ở đô thị gồm nhiều thành
Trang 17phần sống đan xen và có lối sống khác nhau, phức tạp Thanh niên ở đô thị được tiếp cận với nền kinh tế công nghiệp, đa ngành, đa lĩnh vực, có tốc độ phát triển cao, là địa bàn hoạt động của các loại thị trường, là nơi hội tụ và trao đổi thông tin, vì vậy đây cũng là nơi dễ nảy sinh các tệ nạn xã hội và các hiện tượng làm mất ổn định an ninh, trật tự an toàn xã hội Về cơ bản thanh niên ở đô thị có những đặc trưng khác biệt so với thanh niên sống ở nông thôn và các vùng miền khác của đất nước như:
- Về quy mô, số lượng: Do quy mô dân số ở đô thị lớn hơn, mật độ dân cư đông đúc hơn so với ở nông thôn, các vùng miền khác nên số lượng thanh niên ở
đô thị chiếm tỷ trọng lớn hơn Hiện nay ở nước ta thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh là 2 đô thi đặc biệt có quy mô và mật độ dân số cao nhất cả nước do vậy,
số lượng thanh niên ở 2 thành phố này cũng chiếm tỷ trọng lớn
- Về các nhóm giai cấp, tầng lớp xã hội thì ở đô thị thanh niên chủ yếu là công nhân, tri thức, thợ thủ công, cán bộ, công chức …
- Về cơ cấu lao động và lĩnh vực sản xuất: Thanh niên ở đô thị thường tham gia vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp, dịch vụ, thương nghiệp, sản xuất phi vật chất
- Về cơ sở hạ tầng: Thanh niên ở đô thị được tiếp cận với hệ thống cơ sở
hạ tầng tốt, tiện nghi hơn so với các vùng miền khác Đây cũng là lực lượng có khả năng quyết định sự thành công của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
- Về lối sống, văn hóa: Thanh niên ở đô thị thường có trình độ học vấn cao hơn và mức sống trung bình của thanh niên thành thị cũng cao hơn so với thanh niên ở các vùng miền khác Thanh niên ở đô thị có lối sống, giao tiếp, đời sống tinh thần phong phú, đa dạng; tác phong công nghiệp hiện đại, luôn biết học hỏi, sáng tạo và tiếp thu tinh hoa, sự tiến bộ của khoa học công nghệ
Chính những đặc trưng riêng biệt này của thanh niên ở đô thị đã quyết định đến nội dung, phương pháp phố biến giáo dục pháp luật cho thanh niên ở
đô thị Xuất phát từ sự đa dạng của thanh niên đô thị (công nhân, tri thức, công
Trang 18chức nhà nước, tư sản, thợ thủ công ….) và sự phong phú trong đời sống, sự thuận lợi trong tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến nên những nội dung, phương pháp tuyên truyền giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đây không thể đồng nhất với thanh niên ở nông thôn hay các vùng miền khác trong cả nước
1.1.2 Khái niệm, mục đích của phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì "Phổ biến là làm cho đông đảo mọi người biết đến một vấn đề, một tri thức bằng cách truyền đạt trực tiếp hay thông qua hình thức nào đó" [5, tr3]
Theo Đại từ điển Từ và ngữ Hán – Việt "Giáo dục là quá trình hoạt động
có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho con người những phẩm chất đạo đức và những tri thức cần thiết để người ta có khả năng tham gia mọi mặt của đời sống xã hội" [6, tr3]
Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ PBGDPL thì: Giáo dục pháp luật là một khái niệm rộng bao gồm cả quá trình nâng cao tri thức pháp luật cho đối tượng và bằng nhiều cách (thuyết phục, nêu gương, ám thị ) hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng [7,tr7]
Theo nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 (Điều 10) thì phổ biến, giáo dục pháp luật là hoạt động
truyền đạt thông tin, nội dung pháp luật, bao gồm: (i) Quy định của Hiến pháp
và văn bản quy phạm pháp luật về dân sự, hình sự, hành chính, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, lao động, giáo dục,
y tế, quốc phòng, an ninh, giao thông, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, các văn
bản quy phạm pháp luật mới được ban hành; (ii) Các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, các thỏa thuận quốc tế; (iii)
Ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợi ích của việc chấp hành pháp luật; gương người tốt, việc tốt trong thực hiện pháp luật
Trang 19Phổ biến, giáo dục pháp luật được tổ chức thực hiện bởi những chủ thể xác định (Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương, Uỷ ban nhân dân các cấp)
Từ cách giải thích của từ điển về hai khái niệm “phổ biến”, “giáo dục” kết hợp với các nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật mà Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật đưa ra, có thể khái quát lại khái niệm Phổ biến, giáo dục pháp luật như sau:
- Theo nghĩa hẹp: Phổ biến, giáo dục pháp luật là giới thiệu tinh thần văn
bản pháp luật cho người có nhu cầu; theo đó phổ biến, giáo dục pháp luật là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng cao tri thức, tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng
- Theo nghĩa rộng: Phổ biến, giáo dục pháp luật là một khâu của hoạt
động tổ chức thực hiện pháp luật, là hoạt động định hướng có tổ chức, có chủ định thông qua các hình thức giáo dục, thuyết phục, nêu gương nhằm mục đích hình thành ở đối tượng tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi xử sự phù hợp với các đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành với các hình thức, phương tiện, phương pháp đặc thù
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả đồng ý với khái niệm chung nhất trong đó phổ biến giáo dục pháp luật cho thanh niên đô thị là một nội
dung nằm trong phổ biến giáo dục pháp luật cho thanh niên: “Phổ biến, giáo dục
pháp luật cho thanh niên ở đô thị là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có dự định của chủ thể phổ biến giáo dục pháp luật tác động lên đối tượng phổ biến giáo dục pháp luật một cách có hệ thống và thường xuyên, nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành”
So với các dạng giáo dục khác thì giáo dục pháp luật là quá trình tác động thường xuyên, liên tục, lâu dài hơn chứ không phải tác động một lần của chủ thể lên đối tượng giáo dục Vì thế, giáo dục pháp luật trở thành hoạt động thường xuyên trong các hoạt động gia đình, trường học, tập thể lao động, tổ chức Đảng, nhà nước và toàn xã hội Người được giáo dục là người chịu sự tác động có tổ
Trang 20chức, có định hướng của các thông tin pháp luật Một vấn đề đặt ra là người giáo dục phải hiểu biết được trình độ, đặc điểm của người được giáo dục, biết cách truyền tải nó và phải là tấm gương, là hình mẫu trong việc thực hiện pháp luật
* Mục đích của việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị
Một là, nâng cao hiểu biết pháp luật cho thanh niên ở đô thị Pháp luật của
Nhà nước không phải khi nào cũng được mọi người trong xã hội biết đến, tìm hiểu, đồng tình ủng hộ và thực hiện nghiêm chỉnh Tuy rằng bản chất pháp luật của Nhà nước ta là rất tốt đẹp, nó phản ánh ý chí, nguyện vọng, mong muốn của đông đảo quần chúng nhân dân trong xã hội Nhưng quy định pháp luật đó dù tốt đẹp bao nhiêu chăng nữa mà không được nhân dân biết đến thì vẫn là lý thuyết
Pháp luật của Nhà nước có thể được một số người tìm hiểu, quan tâm và nắm bắt xuất phát từ nhu cầu học tập, nghiên cứu hay từ nhu cầu sản xuất kinh doanh của họ Những người này luôn theo sát những quy định pháp luật mới được ban hành để phục vụ trực tiếp cho công việc của mình, nhưng số lượng đối tượng này không phải là nhiều Trong điều kiện trình độ dân trí còn chưa cao, đời sống kinh tế của đa số nhân dân còn gặp nhiều khó khăn cho nên các đối tượng nằm trong sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật, nghĩa là số đông nhân dân lao động trong xã hội chưa có điều kiện tiếp cận với pháp luật
Phổ biến, giáo dục pháp luật chính là phương tiện truyền tải những thông tin, những yêu cầu, nội dung và các quy định pháp luật đến với người dân, giúp cho người dân hiểu biết, nắm bắt pháp luật kịp thời mà không mất quá nhiều thời gian, công sức cho việc tự tìm hiểu, tự học tập Đó chính là phương tiện hỗ trợ tích cực để nâng cao hiểu biết pháp luật cho nhân dân
Hai là, hình thành lòng tin vào pháp luật của thanh niên đô thị
Pháp luật chỉ có thể được mọi người thực hiện nghiêm chỉnh khi họ tin tưởng vào những quy định của pháp luật Pháp luật được xây dựng là để bảo vệ cho quyền và lợi ích của nhân dân, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng, đảm bảo công bằng và dân chủ xã hội Khi nào người dân nhận thức đầy đủ được như vậy thì pháp luật không cần một biện pháp cưỡng chế nào mà mọi người vẫn tự
Trang 21giác thực hiện Tạo lập niềm tin vào pháp luật cho mỗi người và cả cộng đồng đòi hỏi sự kết hợp của nhiều yếu tố Một trong các yếu tố đóng vai trò quan trọng là phổ biến, giáo dục pháp luật để mọi người hiểu biết về pháp luật, hiểu biết về quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật, tuyên truyền về những mặt thuận lợi và khó khăn phức tạp của việc thực hiện và áp dụng pháp luật, những mặt ưu điểm và hạn chế của quá trình điều chỉnh pháp luật
Pháp luật cũng như mọi hiện tượng khác trong xã hội bao giờ cũng có hai mặt, không phải lúc nào nó cũng thoả mãn hết, phản ánh được đầy đủ nguyện vọng, mong muốn của tất cả mọi người trong xã hội Quá trình điều chỉnh pháp luật sẽ lấy lợi ích của đông đảo nhân dân trong xã hội làm tiêu chí, thước đo, do
đó sẽ có một số ít không thoả mãn được Chính các yếu tố hạn chế và mặt trái của các quy định pháp luật càng tạo nên sự cần thiết của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật để mọi người hiểu đúng pháp luật, đồng tình ủng hộ pháp luật Có như vậy mới hình thành lòng tin vào pháp luật của đông đảo nhân dân trong xã hội
Ba là, nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của thanh niên ở đô thị
Ý thức pháp luật của người dân được hình thành từ hai yếu tố đó là tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật
Tri thức pháp luật là sự hiểu biết pháp luật của các chủ thể có được qua việc học tập, tìm hiểu pháp luật, qua quá trình tích lũy kiến thức của hoạt động thực tiễn và công tác
Tình cảm pháp luật chính là trạng thái tâm lý của các chủ thể khi thực hiện và áp dụng pháp luật, họ có thể đồng tình ủng hộ với những hành vi thực hiện đúng pháp luật, lên án các hành vi vi phạm pháp luật
Ý thức tự giác chấp hành pháp luật của nhân dân chỉ có thể được nâng cao khi công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân được tiến hành thường xuyên, kịp thời và có tính thuyết phục Phổ biến, giáo dục pháp luật không đơn thuần là tuyên truyền các văn bản pháp luật đang có hiệu lực mà còn lên án các hành vi vi phạm pháp luật, đồng tình ủng hộ các hành vi thực hiện đúng pháp
Trang 22luật, hình thành dư luận và tâm lý đồng tình ủng hộ với hành vi hợp pháp, lên án các hành vi phi pháp
Phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm hình thành, củng cố tình cảm tốt đẹp của con người với pháp luật, đồng thời ngày càng nâng cao sự hiểu biết của con người đối với các văn bản pháp luật và các hiện tượng pháp luật trong đời sống,
từ đó nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của nhân dân
1.2.3 Đặc điểm của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị
Thứ nhất, phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị là phổ
biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng trẻ, tương lai sẽ cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, định hướng đào tạo ở các bậc học khác nhau Các chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật cần thấu hiểu đặc trưng này để đưa ra các phương pháp phổ biến, giáo dục phù hợp
Mặt khác, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với thanh niên ở đô thị hướng vào một nhóm đối tượng có sự đa dạng cao về nghề nghiệp, độ tuổi, trình độ nhận thức, văn hóa, môi trường sống, dân tộc, tôn giáo…
Thanh niên đô thị có mặt ở tất cả các giai cấp, tầng lớp người trong xã hội, có thể đang ở độ tuổi đi học (học sinh, sinh viên với những thanh niên từ 16 đến 23 tuổi), có thể đang giai đoạn tìm việc làm hoặc đã bắt đầu khẳng định mình trong công việc Với những người đi làm, thanh niên ở đô thị có thể là một người công nhân, cán bộ, công chức, viên chức… Với đặc trưng đa dạng về đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật này có nghĩa là nhu cầu thông tin, kiến thức pháp luật với mỗi đối tượng sẽ khác nhau Chính vì vậy, chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật phải có sự sàng lọc, phân loại đối tượng theo trình độ, văn hóa, nghề nghiệp để cung cấp những thông tin pháp luật phù hợp
Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự điều phối,
tổ chức thực hiện của các cơ quan nhà nước và các tổ chức, đoàn thể Chính vì
Trang 23thế, việc phổ biến, giáo dục pháp luật đối với thanh niên luôn có vị trí và vai trò
vô cùng quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa hiện nay, là khâu then chốt, quan trọng để chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước thực sự đi vào cuộc sống xã hội, đi vào ý thức, hành động của từng cá nhân thanh niên trong xã hội
Thứ hai, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với thanh niên ở đô thị có mối
liên hệ chặt chẽ với công tác xây dựng, thực hiện pháp luật
Nếu không nhận thức đầy đủ vị trí quan trọng và không thực hiện tốt công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thì dù công tác xây dựng pháp luật có làm tốt đến mấy cũng không đạt được hiệu quả thực thi pháp luật Phổ biến, giáo dục pháp luật là cầu nối để chuyển tải pháp luật vào cuộc sống Nói cách khác, quá trình đưa pháp luật vào cuộc sống được bắt đầu bằng hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật Thực hiện pháp luật dù bằng hình thức nào - tuân thủ, thi hành (chấp hành) pháp luật, sử dụng (vận dụng) pháp luật hay áp dụng pháp luật
Pháp luật của Nhà nước không phải khi nào cũng được mọi người trong
xã hội biết đến, tìm hiểu, đồng tình ủng hộ và thực hiện nghiêm chỉnh Tuy rằng bản chất pháp luật của Nhà nước ta là tốt đẹp, nó phản ánh ý chí, nguyện vọng, mong muốn của đông đảo quần chúng nhân dân trong xã hội Tuy nhiên, dù những quy định pháp luật có tốt đẹp nhưng không được nhân dân biết đến thì vẫn không đi vào cuộc sống Chính vì vậy, phổ biến, giáo dục pháp luật chính là phương tiện truyền tải những thông tin, những yêu cầu, nội dung và các quy định pháp luật đến với thanh niên, giúp cho thanh niên hiểu biết, nắm bắt pháp luật kịp thời mà không mất quá nhiều thời gian, công sức cho việc tự tìm hiểu,
tự học tập Đó chính là phương tiện hỗ trợ tích cực để nâng cao hiểu biết pháp luật cho thanh niên Từ đó giúp cho thanh niên có những nhận thức đúng đắn để tránh vi phạm pháp luật Đặc biệt, với thanh niên - lứa tuổi còn chưa có sự nhận thức chín chắn, hành động đôi khi còn theo cảm tính, nông nổi rất dễ lôi kéo vào con đường phạm pháp
Trang 24Thứ tư, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với thanh niên ở đô thị đòi hỏi
phải sử dụng các phương pháp, hình thức giáo dục pháp luật phù hợp với trình
độ dân trí, sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc điểm về nhận thức, lối sống, văn hóa của thanh niên ở đô thị
Về nguyên tắc, chủ thể giáo dục pháp luật phải căn cứ vào mục đích, nội dung chương trình và đặc biệt là đặc điểm đối tượng tiếp nhận để lựa chọn và sử dụng phương pháp, hình thức giáo dục pháp luật sao cho phù hợp Điều đó cũng
có nghĩa là “trang bị cái mà đối tượng của giáo dục cần chứ không phải là trang
bị cái mà nhà giáo dục pháp luật có” Với đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật đối với thanh niên ở đô thị - là những người chủ tương lai của đất nước, những người sống trong môi trường năng động, sáng tạo dễ dàng tiếp thu sự tiến bộ của khoa học công nghệ, có lối sống tác phong công nghiệp vì vậy, cần đặc biệt quan tâm giáo dục, rèn luyện họ trở thành những con người phát triển toàn diện,
có kiến thức pháp luật và trách nhiệm công dân cao Bên cạnh những phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật truyền thống cần tăng cường áp dụng các phương pháp hiện đại, có sử dụng công nghệ để tác động nhanh vào nhận thức của thanh niên sống ở đô thị
Thanh niên ở đô thị bên cạnh những đối tượng là tri thức có khả năng tiếp thu nhanh các văn bản pháp luật thì vẫn còn nhiều đối tượng là tầng lớp lao động chân tay di cư từ nông thôn lên nên sự nhận thức cũng như khả năng tiếp cận pháp luật rất hạn chế, vì vậy chủ thể tuyên truyền, giáo dục pháp luật cần có nhiều hình thức để phù hợp với từng loại đối tượng Mặt khác trên thực tế vẫn còn tình trạng học sinh, sinh viên thiếu hiểu biết pháp luật nên không ít người trong số họ đã vi phạm pháp luật và phạm tội Với đối tượng này cần được áp dụng nhiều hình thức giáo dục pháp luật phù hợp, hiệu quả
1.1.4 Vai trò của phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị
Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật luôn có vị trí và vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa hiện nay, là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là trách nhiệm của
Trang 25toàn bộ hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự điều phối, tổ chức thực hiện của các cơ quan nhà nước và các tổ chức, đoàn thể;
là khâu then chốt, quan trọng để chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước thực sự đi vào cuộc sống xã hội, đi vào ý thức, hành động của từng
chủ thể trong xã hội Phổ biến, giáo dục pháp luật là cầu nối để chuyển tải pháp
luật vào cuộc sống Nói cách khác, quá trình đưa pháp luật vào cuộc sống được bắt đầu bằng hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật Thực hiện pháp luật dù bằng hình thức nào - tuân thủ, thi hành (chấp hành) pháp luật, sử dụng (vận dụng) pháp luật hay áp dụng pháp luật
Để thực hiện được mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên nói chung và thanh niên ở đô thị nói riêng có vai trò hết sức quan trọng là cầu nối để đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật Song song với nhiệm vụ xây dựng pháp luật là nhiệm vụ đưa pháp luật vào cuộc sống
Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị có những vai trò cơ bản như sau:
- Thứ nhất, phổ biến giáo dục pháp luật có vai trò quan trọng trong việc
hình thành ý thức pháp luật cho thanh niên ở đô thị, tăng cường sự hiểu biết pháp luật, khuyến khích thói quen ứng xử theo pháp luật, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội Hệ thống pháp luật là “con đường”, là cái “khung pháp lý” do Nhà nước vạch ra để mọi tổ chức, mọi công dân dựa vào đó mà tổ chức, hoạt động và phát triển Phổ biến, giáo dục pháp luật đối với thanh niên giúp cho thanh niên có tri thức pháp lý, tình cảm pháp luật đúng đắn và hành vi hợp pháp, tạo tiền đề cho việc sử dụng quyền lực nhà nước, tăng cường pháp chế, phát huy dân chủ và quyền tự do của mỗi người góp phần tăng cường trật tự, kỷ cương xã hội; phòng ngừa có hiệu quả các hành vi vi phạm pháp luật của thanh niên ở đô thị Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên góp phần nâng cao ý thức pháp luật, văn hoá pháp lý của thanh niên ở đô
Trang 26thị Ý thức pháp luật của thanh niên ở đô thị được hình thành từ hai yếu tố đó là tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật
Tri thức pháp luật là sự hiểu biết pháp luật của các chủ thể có được qua việc học tập, tìm hiểu pháp luật, qua quá trình tích luỹ kiến thức của hoạt động thực tiễn và công tác Tình cảm pháp luật chính là trạng thái tâm lý của các chủ thể khi thực hiện và áp dụng pháp luật, họ có thể đồng tình ủng hộ với những hành vi thực hiện đúng pháp luật, lên án các hành vi vi phạm pháp luật
Ý thức tự giác chấp hành pháp luật của thanh niên ở đô thị chỉ có thể được nâng cao khi công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên được tiến hành thường xuyên, kịp thời và có tính thuyết phục Phổ biến, giáo dục pháp luật không đơn thuần là phổ biến các văn bản pháp luật đang có hiệu lực mà còn lên
án các hành vi vi phạm pháp luật, đồng tình ủng hộ các hành vi thực hiện đúng pháp luật, hình thành dư luận và tâm lý đồng tình ủng hộ với hành vi hợp pháp, lên án các hành vi vi phạm pháp luật
Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên nhằm hình thành, củng cố tình cảm tốt đẹp của con người với pháp luật, đồng thời ngày càng nâng cao sự hiểu biết của con người đối với các văn bản pháp luật và các hiện tượng pháp luật trong đời sống, từ đó nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của nhân dân
Thứ hai, phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị góp phần
nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội
Vai trò quan trọng này của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị bắt nguồn từ chính vai trò và giá trị xã hội của pháp luật là phương tiện hàng đầu để quản lý nhà nước, quản lý xã hội Phổ biến, giáo dục pháp luật giúp cho mọi người có tri thức pháp lý, tình cảm pháp luật đúng đắn
và hành vi hợp pháp, tạo tiền đề cho việc sử dụng quyền lực nhà nước, tăng cường pháp chế, phát huy dân chủ và quyền tự do của mỗi người
Phổ biến, giáo dục pháp luật đồng thời tạo ra khả năng đổi mới các quan
hệ xã hội trong môi trường quản lý nhà nước bằng pháp luật, hình thành các điều kiện và nhân tố thuận lợi cho quá trình quản lý nhà nước, quản lý xã hội; tạo ra
Trang 27khả năng phát hiện và loại trừ những hiện tượng tiêu cực, chống đối pháp luật diễn ra trong quá trình quản lý
1.2 Các yếu tố cấu thành phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên
ở đô thị
1.2.1 Chủ thể của phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị
Chủ thể giáo dục pháp luật trong khoa học pháp lý được hiểu là những cá nhân, tổ chức nào mà theo chức năng, nhiệm vụ hay trách nhiệm xã hội đã tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động giáo dục pháp luật nhằm thực hiện các mục đích của giáo dục pháp luật
Không giống như các hình thức giáo dục thông thường, phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị đòi hỏi một đội ngũ chủ thể am hiểu về pháp luật, am hiểu về chức năng quản lý nhà nước Cụ thể, chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị bao gồm Uỷ ban nhân dân các cấp (cấp thành phố, quận, phường), Ngành tư pháp (Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, Phòng
Tư pháp quận) và các ban ngành khác có liên quan (Bộ Tài chính, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc…)
Khoản 1 Điều 3 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 “Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt” Trong điều kiện đổi mới của nước ta hiện nay, giáo dục pháp luật cho toàn dân nói chung cũng như phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên là trách nhiệm của các cấp bộ Đảng, của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể quần chúng Tuy nhiên, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ hay trách nhiệm pháp lý của các tổ chức, cá nhân làm công tác giáo dục pháp luật, chủ thể giáo dục pháp luật thường được chia thành hai loại là chủ thể chuyên nghiệp và chủ thể không chuyên nghiệp
- Chủ thể chuyên nghiệp, là những người có chức năng, nhiệm vụ hay trách nhiệm pháp lý chủ yếu, trực tiếp và thường xuyên thực hiện công tác giáo dục pháp luật Đây là loại chủ thể quan trọng và chủ yếu của giáo dục pháp luật Loại chủ thể này bao gồm các tổ chức và cá nhân như: các Hội đồng phối hợp
Trang 28công tác phố biến, giáo dục pháp luật; các trung tâm tư vấn pháp luật; trung tâm trợ giúp pháp lý; các bộ phận chuyên trách công tác phổ biến giáo dục pháp luật thuộc ngành Tư pháp; các báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật ở các cơ quan Đảng, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể quần chúng, tổ chức kinh tế… các giảng viên pháp luật, giáo viên giáo dục công dân ở các cơ sở đào tạo; các phóng viên, biên tập viên chuyên trang, chuyên
mục pháp luật ở các cơ quan Báo - Đài - Tạp chí…
- Chủ thể giáo dục pháp luật không chuyên nghiệp, là những cá nhân, tổ chức mà chức năng, nhiệm vụ chính của họ không phải là giáo dục pháp luật, nhưng thông qua hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của họ có gắn với mục đích giáo dục pháp luật, như: hoạt động của các Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng lnhân dân các cấp; hoạt động của các cơ quan hành pháp, tư pháp, thành viên các tổ chức trính trị - xã hội; hoạt động tư vấn pháp luật của các luật sư, luật gia; hoat động của cán bộ, nhân viên ở một số ngành quản lý kinh tế, quản
lý nhà nước như: Thuế, Tài nguyên - môi trường, Kiểm lâm, Quản lý thị trường Ngoài ra, còn một lực lượng đông đảo quần chúng nhân dân là những người am hiểu pháp luật, có ý thức pháp luật cao và trên hết là thực hiện tốt trách nhiệm công dân của mình thông qua việc gương mẫu thực hiện pháp luật cũng góp phần tác động tích cực đến việc hình thành ý thức pháp luật và thói quen xử sự phù hợp với pháp luật của các công dân khác
So với các chủ thể chuyên nghiệp, chủ thể không chuyên nghiệp mặc dù chức năng, nhiệm vụ chính, trực tiếp và thường xuyên của họ không phải là giáo dục pháp luật, nhưng theo chúng tôi đây là loại chủ thể bao gồm rất nhiều thành phần và rất quan trọng; lực lượng này cùng với chủ thể chuyên nghiệp góp phần tích cực vào việc thực hiện các mục đích, nội dung giáo dục pháp luật Riêng đối với đối tượng thanh niên, có thể nói vai trò của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh có vai trò nòng cốt trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật
* Yêu cầu đối với chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật
Trang 29Một là, có kiến thức pháp lý nhất định Bởi vì hoạt động tuyên truyền giáo dục
pháp luật là khâu đầu tiên của hoạt động thực thi pháp luật, là cầu nối để chuyển tải pháp luật vào cuộc sống, quá trình đưa pháp luật vào cuộc sống được bắt đầu bằng hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, bởi vì thực hiện pháp luật dù bằng hình thức nào tuân theo pháp luật, thi hành (chấp hành) pháp luật, sử dụng (vận dụng) pháp luật hay áp dụng pháp luật trước hết đều phải có hiểu biết pháp luật
Hai là, có nhiệt tình, tâm huyết, tận tụy với công tác phổ biến, giáo dục pháp
luật Phổ biến, giáo dục pháp luật là một hoạt động mang tính chất xã hội, đối tượng phục vụ của phổ biến, giáo dục pháp luật là quản đại quần chúng nhân dân,
do đó một trong các yêu cầu đầu tiên và hết sức quan trọng của người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là có tinh thần nhiệt tình, tận tuỵ với công tác Người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn cần phải tận tuỵ với công việc, luôn phấn khởi phục vụ cho mọi đối tượng, không quản ngại đối với những vấn đề mới, văn bản pháp luật mới; bản thân luôn phải cố gắng học tập, phấn đấu vươn lên; tích luỹ kiến thức pháp luật, kiến thức xã hội, kiến thức chuyên ngành, tài liệu, số liệu, dẫn chứng, minh hoạ để hoàn thành công việc được giao
Ba là, có khả năng hoà đồng và giao tiếp Làm công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật là làm công tác vận động quần chúng, nó không thuần túy là đi
thông tin và giải thích pháp luật cho các đối tượng được tuyên truyền Trước khi
thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cần phải biết đối tượng được phổ biến, giáo dục pháp luật là
ai, họ cần gì, công việc của họ ra sao, họ đang cần lĩnh vực pháp luật nào và
mình phải quan hệ công tác với họ như thế nào?
Phổ biến, giáo dục pháp luật là một hoạt động mang tính chất hai chiều, không đơn thuần là sự truyền đạt thông tin và giải thích pháp luật của người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có mà sự phản hồi của đối tượng được tuyên truyền Sự cọ sát hai chiều về cùng vấn đề được trao đổi sẽ làm cho công
tác phổ biến, giáo dục pháp luật đạt chất lượng và hiệu quả cao
Trang 30Chính các yếu tố được nêu và phân tích trên đòi hỏi người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật phải có khả năng hòa đồng và giao tiếp
Bốn là, biết tích luỹ tư liệu, kiến thức Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp
luật vừa mang tính thời sự vừa mang tính lâu dài Chỉ có thể tham gia vào hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật khi có đủ kiến thức, trình độ, kinh nghiệm về công tác pháp luật Để đạt được các điều kiện đó thì người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cần phải tích luỹ tư liệu, kiến thức; bao gồm kiến thức pháp lý, pháp luật hiện hành, đường lối chính sách của Đảng, kiến thức chuyên
ngành, kiến thức xã hội, kinh nghiệm thực tiễn ở Việt Nam và nước ngoài
Năm là, có kiến thức nhất định về tâm lý học tuyên truyền Hiểu được tâm
lý học tuyên truyền chính là hiểu được các quy luật tâm lý phát sinh, vận động trong quá trình tiếp nhận thông tin pháp luật của các loại đối tượng được thể hiện trong tất cả các giai đoạn tiến hành phổ biến, giáo dục pháp luật đối với các đối tượng Trong quá trình phổ biến, giáo dục pháp luật còn phải nắm bắt sự phản ứng, sự tiếp nhận của họ như thế nào về nội dung được tuyên truyền Sau khi phổ biến, giáo dục pháp luật cho một loại đối tượng, chủ thể tuyên truyền còn phải biết nghe dư luận xã hội và sự phản ứng tích cực, tiêu cực của các đối tượng được tuyên truyền về nội dung được phổ biến
Tất cả những động thái như vậy, người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đều cần phải nắm bắt để dự liệu, để chuẩn bị hành trang cho mình ự chuẩn bị
về kiến thức cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là cần thiết, đồng thời người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn phải hiểu biết trạng thái tâm lý khác nhau của các đối tượng được tuyên truyền, đó chính là tâm lý học tuyên truyền mà người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cần phải có
1.2.2 Đối tượng của phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị
Đối tượng giáo dục pháp luật được hiểu là các cá nhân công dân hay các nhóm cộng đồng dân cư được trực tiếp hoặc gián tiếp tiếp nhận những tác động của các hoạt động giáo dục pháp luật do các chủ thể giáo dục pháp luật tiến hành nhằm đạt được những mục đích đặt ra
Trang 31Như đã phân tích ở trên, đối tượng giáo dục pháp luật ở đây là thanh niên
ở đô thị rất đa dạng, phong phú Có thể phân loại đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật là thanh niên ở đô thị thành những nhóm cụ thể như sau:
- Một là: cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước Đây là lực lượng quan
trọng đang trực tiếp nắm giữ và thực thi các chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước các cấp Từ nhiệm vụ của mình, họ thường xuyên tiếp xúc với các đối tượng quần chúng nhân dân Vì vậy, họ vừa là đối tượng cần được trang bị hiểu biết pháp luật, nhưng đồng thời họ lại vừa là chủ thể giáo dục pháp luật trong quan hệ với đối tượng giáo dục là nhân dân
- Hai là: học sinh, sinh viên Đây là lớp công dân trẻ, là những người chủ
tương lai của đất nước Chính vì vậy, cần đặc biệt quan tâm giáo dục, rèn luyện
họ trở thành những con người phát triển toàn diện, có kiến thức pháp luật và trách nhiệm công dân cao
- Ba là: thanh niên là người lao động như công nhân, thợ thủ công hoặc
những người đang có nhu cầu tìm kiếm việc làm Đây là lực lượng đông đảo thuộc nhiều thành phần, tầng lớp, ngành nghề khác nhau, trong đó có những người là thanh niên, phụ nữ… về trình độ học vấn, trình độ hiểu biết pháp luật cũng rất khác nhau Vì vậy, cần giáo dục pháp luật để nhóm đối tượng này nhận thức được trách nhiệm, thực hiện nhiệm vụ và quyền lợi công dân của mình; đồng thời, khi tiến hành phổ biến, giáo dục pháp luật phải chú ý tới các đặc điểm về lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, nhu cầu tìm hiểu pháp luật, địa bàn sinh sống…
- Bốn là, thanh niên đã từng vi phạm pháp luật hoặc đang trong giai đoạn
thử thách, giáo dục tại phường Đây là nhóm đối tượng đặc biệt với những đặc thù
về thân nhân, tâm sinh lý… và cũng là nhóm đối tượng cần phải phố biến, giáo dục pháp luật để có thể hòa nhập với cộng đồng, trở thành những công dân tốt
1.2.3 Yêu cầu đối với việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên
ở đô thị
Một là, bảo đảm tính khoa học, tính chuẩn xác, truyền đạt trung thành
văn bản
Trang 32Phổ biến, giáo dục pháp luật không giống với việc tuyên truyền phổ biến
về văn hoá văn nghệ Khi tuyên truyền, phổ biến về văn hoá văn nghệ, người ta
có thể nhân cách hoá, hư cấu thành những hình tượng nghệ thuật để phục vụ cho mục đích của họ
Phổ biến, giáo dục pháp luật khác với các loại hình phổ biến, giáo dục khác ở chỗ nội dung được phổ biến, giáo dục là pháp luật, là những quy tắc xử
sự được Nhà nước ban hành, có cấu trúc chặt chẽ từ câu chữ tới nội dung và yêu cầu của các quy định đó Do đó, phổ biến, giáo dục pháp luật phải tuân thủ các nguyên tắc nhất định, bảo đảm tính khoa học, tính chuẩn xác, truyền đạt trung thành văn bản
Phổ biến, giáo dục pháp luật không chỉ thông tin cho người nghe về pháp luật, truyền đạt cho họ biết được các văn bản pháp luật và những điều luật mới được ban hành mà còn phải giải thích về các văn bản pháp luật và các điều luật
đó Một trong những yêu cầu đã trở thành nguyên tắc trong giải thích pháp luật
là phải bảo đảm tính khoa học Tính khoa học trong giải thích pháp luật trước hết đòi hỏi có trình độ pháp lý, chẳng hạn hiểu rõ thành phần của quy phạm pháp luật để hiểu được quy phạm, hiểu nội dung quan hệ pháp luật để phân biệt
rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, từ đó nêu lên được ý nghĩa của quy phạm trong việc điều chỉnh những quan hệ xã hội Tính khoa học trong giải thích pháp luật còn được thể hiện khi giải thích một văn bản pháp luật hay một điều luật không chỉ đơn thuần giải thích về văn bản hay điều luật đó, mà cần phải đặt một văn bản hay điều luật đó trong bối cảnh ban hành pháp luật, những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội quy định nội dung, hình thức pháp luật trong tổng thể của một hệ thống pháp luật hay của một ngành luật, thấy được mối liên hệ giữa các văn bản pháp luật và các điều luật với nhau Phổ biến, giáo dục pháp luật bảo đảm tính lôgíc, tính chặt chẽ của các văn bản pháp luật và các điều luật
Hai là, bảo đảm tính đại chúng: phù hợp với đối tượng, dễ hiểu, dễ nhớ,
dễ áp dụng
Trang 33Phổ biến, giáo dục pháp luật không những phải xuất phát từ đối tượng được phổ biến, họ đang thiếu và cần cái gì mà còn phải phù hợp với trình độ văn hoá, nghề nghiệp, giới tính, lứa tuổi, dân tộc và sử dụng ngôn ngữ đại chúng, hành văn giản dị, ngắn gọn
Ba là, chọn được hình thức phù hợp
Có nhiều hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khác nhau, mỗi hình thức
có sự phù hợp với một hoặc một số đối tượng nhất định, do đó khi phổ biến, giáo dục pháp luật phải xuất phát từ đối tượng được phổ biến, giáo dục pháp luật
để chọn hình thức tối ưu
Ngoài ra, hình thức giáo dục pháp luật còn phải phù hợp với từng địa bàn, điều kiện kinh tế xã hội nhất định, do đó khi phổ biến, giáo dục pháp luật cũng phải xuất phát từ địa bàn, điều kiện kinh tế của nơi tiến hành phổ biến, giáo dục pháp luật
Bảo đảm tính liên tục, tính hệ thống trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật Bảo đảm tính hệ thống tức là đặt văn bản vào vị trí của nó trong hệ thống pháp luật, trong ngành luật hoặc lĩnh vực pháp luật có liên quan tới văn bản Điều đó giúp cho đối tượng hiểu vấn đề sâu sắc hơn Bảo đảm tính liên tục nghĩa
là theo phương châm: mưa dầm thấm lâu; việc phổ biến, giáo dục pháp luật phải được tiến hành liên tục, có hệ thống, tránh hình thức, làm theo phong trào
Gắn việc phổ biến, giáo dục pháp luật với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị trong địa bàn Điều đó, một mặt phát huy tác dụng của phổ biến, giáo dục pháp luật, mặt khác làm tăng hiệu quả của phổ biến, giáo dục pháp luật
Tóm lại, trong rất nhiều hình thức như vậy khi tiến hành phổ biến, giáo dục pháp luật cần chọn một hình thức phù hợp cho đối tượng được phổ biến hoặc kết hợp đan xen các loại hình thức Đặc biệt đối với thanh niên ở đô thị có kiến thức, trình độ đại học, sau đại học, cán bộ, công chức đòi hỏi phải có hình thức phù hợp để phát huy hiệu quả tri thức của họ
Trang 341.2.4 Nội dung của phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị
Theo Điều 10 của Luật phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 thì việc tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật tập trung vào các nội dung sau:
- Quy định của Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật, trọng tâm là các quy định của pháp luật về dân sự, hình sự, hành chính, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, lao động, giáo dục,
y tế, quốc phòng, an ninh, giao thông, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, cán bộ, công chức, các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành
- Các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, các thỏa thuận quốc tế
- Ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợi ích của việc chấp hành pháp luật; gương người tốt, việc tốt trong thực hiện pháp luật
- Những kiến thức cơ bản về nhà nước và pháp luật, tổ chức bộ máy nhà nước, thực thi pháp luật, cơ chế bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân;
- Các quy định, trình tự, thủ tục liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của chính quyền cơ sở;
- Các trình tự, thủ tục pháp lý để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp và thực hiện các nghĩa vụ của công dân, đặc biệt là các trình tự, thủ tục liên quan đến giải quyết khiếu nại, tố cáo; quy chế tiếp công dân; quy chế dân chủ cơ sở;
- Cập nhật những thông tin pháp luật mới ban hành, đặc biệt là những thông tin pháp luật liên quan trực tiếp và mật thiết đến hoạt động của chính quyền cấp cơ sở, các văn bản quy phạm pháp luật của địa phương
- Cập nhật những thông tin pháp luật; Những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về pháp luật ở địa phương
- Cần phải lưu ý rằng, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với thanh niên không có nghĩa là yêu cầu hay bắt buộc họ học thuộc các điều luật, mà là giúp
họ hiểu được nội dung, tinh thần của các quy phạm pháp luật, nhận thức đầy đủ
về vai trò, sự cần thiết của pháp luật trong đời sống xã hội, hiểu được lý lẽ sâu
Trang 35xa của pháp luật thực định Trên cơ sở đó, thanh niên biết cách vận dụng linh hoạt, chủ động và sáng tạo các quy phạm pháp luật vào quá trình xử lý công vụ, quản lý hành chính
1.2.5 Phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật đối với thanh niên ở
đô thị
Phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật là hệ thống những cách thức tuyên truyền, tác động của chủ thể giáo dục nhằm hình thành ở thanh niên ý thức tuân thủ pháp luật, có năng lực xử lý hiệu quả các tình huống pháp luật nảy sinh trong cuộc sống
Hiện nay có nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau về phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật đối với thanh niên nói chung Theo quan điểm tiếp cận của các nhà luật học, phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật đối với thanh niên bao gồm phương pháp thuyết trình, phương pháp nêu vấn đề, phương pháp đóng vai, phương pháp thảo luận, phương pháp thông tin pháp luật Dưới góc độ khoa học giáo dục, các nhà giáo dục học cho rằng phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật bao gồm nhóm phương pháp thuyết phục, nhóm phương pháp tổ chức hoạt động, nhóm phương pháp kích thích và điều chỉnh hành vi Trong những tình huống, điều kiện khác nhau, có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Nhưng nhìn chung, chủ thể phổ biến, giáo dục thường sử dụng hai phương pháp cơ bản đó là: phương pháp giáo dục truyền thống và phương pháp giáo dục hiện đại
Phương pháp truyền thống là phương pháp sử dụng các công cụ, phương tiện đã dùng từ lâu đời trong lịch sử ngành giáo dục như: thuyết trình, giảng dạy pháp luật; nói chuyện, tọa đàm pháp luật…
Phương pháp hiện đại là phương pháp có sử dụng kết hợp các thiết bị kỹ thuật hiện đại như máy tính, máy chiếu, máy quay phim… để chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật có thể dễ dàng thực hiện các phương pháp mô hình hóa, trực quan hóa gắn với các tình huống quan sát thực tế
Trang 36Một nguyên tắc chung nhất khi sử dụng các phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị đó là kết hợp được lý luận với thực tiễn thi hành pháp luật
Với đặc trưng của phổ biến, giáo dục pháp luật đối với thanh nhiên ở đô thị nên bao gồm hệ thống phương pháp như sau: phương pháp thuyết phục, phương pháp tuyên truyền, giải thích pháp luật, phương pháp thông tin pháp luật thuyết phục, phương pháp nói chuyện, trao đổi về pháp luật, phương pháp giảng dạy pháp luật trong nhà trường; hệ thống phương pháp tổ chức hoạt động nhằm hình thành kỹ năng, kỹ xảo, hành vi và thói quen thực hiện pháp luật; hệ thống phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi
Thuyết phục là phương pháp tác động vào nhận thức, tình cảm của thanh
niên để hình thành ý thức và thái độ đúng đắn, phù hợp với các chuẩn mực pháp luật Đó là dùng lý lẽ xác đáng, dùng dẫn chứng sinh động, dùng các tấm gương tiêu biểu trong lịch sử và trong thực tế để phân tích, chứng minh, khuyên giải giúp thanh niên nhận thấy, hiểu và tin, từ đó tuân theo những giá trị pháp luật Nhóm phương pháp thuyết phục bao gồm phương pháp khuyên giải, phương pháp tranh luận, phương pháp nêu gương
Phương pháp tuyên truyền, giải thích pháp luật được sử dụng chủ yếu
khi cần phổ biến một văn bản pháp luật mới
Phương pháp thông tin pháp luật là phương pháp sử dụng các phương
tiện truyền thông như báo chí, truyền hình, truyền thanh, tạp chí chuyên ngành pháp luật, các loại hình nghệ thuật như phim, ảnh để chuyển tải các nội dung, thông tin về thực hiện pháp luật
Phương pháp nói chuyện, trao đổi về pháp luật (đối tượng giáo dục pháp
luật nghe nói cquận, hoặc trao đổi về một sự kiện, hiện tượng, tình huống pháp
luật trong thực tiễn xã hội),
Phương pháp giảng dạy pháp luật trong các nhà trường là cách thức hoạt
động phối hợp thống nhất của giáo viên và học sinh, sinh viên, trong đó chủ yếu
sử dụng các phương pháp thuyết trình, phương pháp đàm thoại, phương pháp
Trang 37trực quan, phương pháp nêu vấn đề, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp động não, phương pháp đóng vai, phương pháp dự án và tổ chức các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật ngoài giờ lên lớp
Phương pháp tổ chức hoạt động nhằm hình thành kỹ năng, kỹ xảo, hành
vi và thói quen là phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật đối với thanh niên tốt nhất để tập dượt, rèn luyện các hành vi pháp luật trong cuộc sống Bởi vì, bản chất của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là quá trình tổ chức cuộc sống và các hoạt động thực tiễn cho thanh niên Nhóm phương pháp này gồm phương pháp luyện tập và phương pháp rèn luyện Luyện tập là tổ chức cho thanh niên thực hiện một cách đều đặn, có kế hoạch, có hệ thống các hành động nhất định nhằm biến chúng thành thói quen, thành thuộc tính bền vững của nhân cách Rèn luyện là phương pháp giáo dục trong đó nhà giáo dục đưa học sinh vào cuộc sống xã hội để tham gia vào các hoạt động khác nhau nhằm thể nghiệm và thể hiện ý thức, thái độ, tình cảm của mình đồng thời xâm nhập vào những tình huống thực tiễn để giải quyết, ứng phó, xây dựng các kỹ năng sống cần thiết cho bản thân
Nhóm các phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi là nhóm phương pháp tác động vào nhận thức, tình cảm của học sinh, sinh viên nhằm tạo ra tâm lý phấn chấn, tin tưởng, lạc quan cho các em khi tham gia vào các hoạt động giáo dục pháp luật đồng thời giúp những học sinh có khuyết điểm nhận thấy sai sót của mình và tự giác khắc phục, sửa chữa Đây là phương pháp
có tác dụng thúc đẩy cá nhân học sinh tích cực tham gia những công việc có ích đồng thời hạn chế những hành vi lệch chuẩn Nhóm phương pháp này bao gồm phương pháp khen thưởng, phương pháp trách phạt, phương pháp thi đua
Như vậy, phương pháp giáo dục pháp luật rất đa dạng, mỗi phương pháp đều
có chức năng, thế mạnh riêng, phù hợp với từng đối tượng và hoàn cảnh cụ thể, tuy nhiên giữa chúng luôn có mối liên hệ mật thiết với nhau, bổ sung, hỗ trợ cho nhau
Do đó, khi tiến hành phổ biến, giáo dục pháp luật, nhà giáo dục cần lựa chọn và phối hợp các phương pháp nhằm mang lại hiệu quả giáo dục cao nhất Đặc điểm
Trang 38nổi bật về phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật cho học sinh trong trường trung học phổ thông so với phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng ở cấp trung học cơ sở, cao đẳng, đại học là ở sự phóng khoáng, nhấn mạnh
tư duy phản biện và tăng cường năng lực hoạt động thực tiễn cho học sinh
1.2.6 Hình thức của phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị
Hình thức giáo dục pháp luật có thể hiểu là những hoạt động cụ thể do chủ thể giáo dục pháp luật sử dụng hoặc tổ chức ra nhằm chuyển tải nội dung giáo dục pháp luật đến với đối tượng giáo dục pháp luật
Điều 11 của luật phổ biến, giáo dục đã quy định rất cụ thể về hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung, với thanh niên ở đô thị thì hình thức tổ chức PBGDPL luôn luôn được vận dụng một cách linh động và sáng tạo, cụ thể với các hình thức cơ bản sau:
* Phổ biến pháp luật trực tiếp được sử dụng như một hình thức phổ biến pháp luật quan trọng, gắn bó chặt chẽ với nhiều hình thức phổ biến khác và là một bộ phận không thể thiếu, không thể tách rời trong tổng thể các hình thức phổ biến giáo dục pháp luật thông qua các hoạt động tập thể, các giờ sinh hoạt;
tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật; cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật gắn với thanh niên như luật Thanh niên, Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em
* Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh, internet, pa-nô, áp-phích, tranh cổ động; đăng tải trên Công báo; đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử; niêm yết tại trụ sở, bảng tin của cơ quan, tổ chức, khu dân cư
* Tổ chức thi tìm hiểu pháp luật thông qua các hình thức đa dạng như: đố vui để học, rung chuông vàng, thi viết, thi tiểu phẩm, sân khấu hóa
* Thông qua công tác xét xử, xử lý vi phạm hành chính, hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hoạt động khác của các cơ quan trong bộ máy nhà nước; thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ sở
Trang 39* Xây dựng, quản lý và khai thác tủ sách pháp luật, một hình thức phản ánh sự nỗ lực của các cấp ủy, chính quyền, cơ quan tư pháp, các ban ngành liên quan trong việc đưa pháp luật đến gần dân hơn
* Lồng ghép trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của tổ chức chính trị và các đoàn thể, câu lạc bộ và các thiết chế văn hóa khác ở cơ sở
* Thông qua chương trình giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân.Vớii hình thức giáo dục pháp luật trong các cơ
sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân được thực hiện bằng 02 hình thức: (i) Giáo dục chính khóa thông qua việc lồng ghép trong các môn học giáo dục công dân ở cấp trung học phổ thông; môn học pháp luật, pháp luật đại cương, pháp luật chuyên ngành tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học; các môn học trong cơ sở giáo dục khác của hệ thống giáo dục quốc dân và (ii) Giáo dục ngoại khóa và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
* Tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở
1.3 Điều kiện đảm bảo thực hiện phổ biến giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị
Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cũng giống như các dạng hoạt động xã hội khác, luôn luôn chịu sự tác động, ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau Trong các yếu tố đó, việc đảm bảo về tổ chức, cán bộ, cơ sở vật chất và phương tiện cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; cũng như đảm bảo kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật là các yếu tố có tác động mạnh mẽ nhất đến công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp xã
* Điều kiện đảm bảo về tổ chức, cán bộ, cơ sở vật chất và phương tiện cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Để công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đạt được chất lượng và hiệu quả cao, việc xây dựng và kiện toàn về tổ chức, phát triển một hệ thống các cơ quan trực tiếp thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng hoạt động chuyên nghiệp là khâu đầu tiên quan trọng Đối với đô thị, hội đồng tư pháp và Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cần phát huy vai trò của mình
Trang 40trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho dân dân nói chung, cán bộ, công chức cấp xã nói riêng Có như vậy, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị mới thực sự mang lại hiệu quả
Đội ngũ cán bộ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là nhân tố không thể thiếu trong quá trình phổ biến, giáo dục pháp luật Sốlượng và chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ quyết định trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật
Cơ sở vật chất và các phương tiện phục vụ cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã cũng là một phần quan trọng của công tác này Cơ sở vật chất và phương tiện hiện đại sẽ giúp cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được diễn ra thuận lợi, dễ dàng, thông tin, kiến thức pháp luật được truyền đạt nhanh chóng Ngược lại, cơ sở vật chất và các phương tiện lỗi thời, lạc hậu sẽ làm giảm đi đáng kể hiệu quả của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
* Đảm bảo kinh phí dành cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Để công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh niên ở đô thị đạt hiệu quả cao và được tiến hành thông suốt, cần có một nguồn kinh phí thích đáng dành riêng cho công tác này Các công tác như duy trì hoạt động của Hội đồng phối hợp, phổ biến giáo dục pháp luật; tổ chức các cuộc hội thảo, toạ đàm nghiệp vụ; biên soạn tài liệu, xây dựng chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật… đều cần có kinh phí để thực hiện Chính vì thế, việc đảm bảo kinh phí dành cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là vô cùng cần thiết
Từ khi có Chỉ thị số 32 và các Chương trình, Đề án về phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ, việc đầu tư nguồn lực về bộ máy, cán bộ và kinh phí cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được tăng cường Triển khai Thông tư
số 63/2005/TT-BTC ngày 05/8/2005 của Bộ Tài chính, Thông tư số 73/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 14 tháng 5 năm 2010 hướng dẫn việc quản lý và
sử dụng kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Thông tư
số 14/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 27 tháng 01 năm 2014 quy định việc lập dự