Nguyên nhân dẫn đến kết quả hạn chế trên, trước hết là do năng lực của các cơ sở kinh doanh, làng nghề TCMN còn hạn chế về năng lực tài chính, chất lượng lao động, kỹ thuật công nghệ sản
Trang 1Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO Trường đại học kinh tế quốc dân
HOàN THIệN CHíNH SáCH PHáT TRIểN HàNG THủ CÔNG
Mỹ NGHệ XUấT KHẩU ở NAM ĐịNH ĐếN NĂM 2020
Hà Nội – 2014
Trang 2Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO Trường đại học kinh tế quốc dân
HOàN THIệN CHíNH SáCH PHáT TRIểN HàNG THủ CÔNG
Mỹ NGHệ XUấT KHẩU ở NAM ĐịNH ĐếN NĂM 2020
Chuyên
Chuyên ngành ngành ngành : : : : KHOA HọC QUảN Lý KHOA HọC QUảN Lý KHOA HọC QUảN Lý Mã số : 62340410
Mã số : 62340410
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS-TS ĐÀM VĂN NHUỆ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận án này là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Trang 41.1 Hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu 12
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu 12 1.1.2 Tầm quan trọng của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong phát triển kinh tế- xã hội, văn hóa của địa phương 17
1.1.3 Chuỗi cung ứng hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu 18 1.1.4 Nội dung phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu 21 1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu ở địa phương 23
1.2 Chính sách phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu ở địa phương 28
1.2.1 Khái niệm chính sách phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu 28 1.2.2 Các yếu tố cơ bản của chính sách phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu 30
1.2.3 Các hợp phần của chính sách phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu 32
1.2.4 Chu trình chính sách phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu 37
1.3 Hoàn thiện chính sách phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu 38
1.3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện chính sách 38 1.3.2.Các bước hoàn thiện chính sách phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất
Trang 51.4.3 Bài học kinh nghiệm 56
Kết luận chương 1 58
Chương 2 ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ XUẤT KHẨU Ở NAM ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2006-2012 59
2.1 Các nhân tố tác động đến sự phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu ở Nam Định 59
2.1.1 Những nhân tố thuận lợi đối với sự phát triển hàng TCMN xuất khẩu ở Nam Định 59
2.1.2 Những nhân tố bất lợi đối với sự phát triển hàng TCMN xuất khẩu ở Nam Định 62
2.2 Chính sách phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu thực thi ở Nam Định giai đoạn 2006-2012 64
2.2.1 Chính sách đất đai 65
2.2.2 Chính sách đầu tư tín dụng 66
2.2.3 Chính sách đào tạo nguồn nhân lực 67
2.2.4 Chính sách phát triển công nghệ 69
2.2.5 Chính sách bảo vệ môi trường 70
2.2.6 Chính sách xúc tiến thương mại phát triển thị trường 71
2.3 Đánh giá chính sách phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu ở Nam Định giai đoạn 2006-2012 73
2.3.1 Đánh giá tác động của chính sách đến sự phát triển hàng TCMN xuất khẩu ở Nam Định giai đoạn 2006-2012 73
2.3.2 Đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu phát triển hàng TCMN xuất khẩu ở Nam Định giai đoạn 2006-2012 96
2.3.3 Đánh giá việc triển khai chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu ở Nam Định 98
2.3.4 Đánh giá mức tác động của các chính sách hợp phần đối với sự phát triển hàng TCMN xuất khẩu ở Nam Định 100
2.3.5 Các điểm mạnh và điểm yếu của chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu ở Nam Định 103
2.3.6 Nguyên nhân của các điểm yếu của chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu ở Nam Định 107
Kết luận chương 2 109
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NỘI DUNG HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ XUẤT KHẨU Ở NAM ĐỊNH ĐẾN NĂM 2020 110
Trang 63.1 Quan điểm, phương hướng, mục tiêu phát triển hàng thủ công mỹ
nghệ xuất khẩu ở Nam Định đến năm 2020 110
3.1.1 Quan điểm phát triển 110
3.1.2 Phương hướng phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu ở Nam Định 111
3.1.3 Mục tiêu xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Nam Định đến năm 2020 113
3.2 Quan điểm, phương hướng hoàn thiện chính sách phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu ở Nam Định 115
3.2.1 Quan điểm về hoàn thiện chính sách phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu ở Nam Định 116
3.2.2 Phương hướng hoàn thiện chính sách phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu ở Nam Định 117
3.3 Nội dung hoàn thiện chính sách phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu ở Nam Định 120
3.3.1 Xây dựng Quy hoạch phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Nam Định 120
3.3.2 Xây dựng chính sách sản phẩm 122
3.3.3 Xây dựng chính sách phát triển nguồn nguyên liệu 125
3.3.4 Hoàn thiện chính sách đất đai 127
3.3.5 Hoàn thiện chính sách về đầu tư, tín dụng 130
3.3.6 Hoàn thiện chính sách phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 134
3.3.7 Hoàn thiện chính sách hỗ trợ ứng dụng và đổi mới công nghệ .138
3.3.8 Hoàn thiện chính sách bảo vệ và xử lý môi trường .140
3.3.9 Hoàn thiện chinh sách hỗ trợ xúc tiến thương mại .142
3.4 Các điều kiện để đảm bảo triển khai thực thi chính sách phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu ở tỉnh Nam Định 148
3.4.1 Trung ương tiếp tục hoàn thiện các chính sách vĩ mô về khuyến khích phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp .148
3.4.2 Các cơ quản lý nhà nước của tỉnh Nam Định có sự phối hợp, phân công trách nhiệm triển khai các giải pháp phát triển hàng TCMN xuất khẩu .148
3.4.3 Sự nỗ lực từ các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ trên địa bàn tỉnh .151
Kết luận chương 3 153
KẾT LUẬN 154
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ xxx
TÀI LIỆU THAM KHẢO xxx
PHỤ LỤC xxx
Trang 7PCI Provincial Competitiveness
Index
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
USD United States Dollar Đồng Đô la Mỹ
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Phân loại làng nghề TCMN trên địa bàn tỉnh Nam Định 60 Bảng 2.2 Số lao động tỉnh Nam Định được đào tạo nghề TCMN từ nguồn kinh phí ngân sách giai đoạn 2006-2012 68 Bảng 2.3 Kinh phí từ nguồn vốn ngân sách dành cho các dự án bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Nam Định giai đoạn 2006-2012 70
Bảng 2.4 Kinh phí từ ngân sách tỉnh hỗ trợ các hoạt động xúc tiến thương mại trong ngành TCMN tỉnh Nam Định giai đoạn
Bảng 2.14 Cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng TCMN của tỉnh Nam Định giai đoạn 2006-2012 87
Trang 9Bảng 2.15 Kim ngạch xuất khẩu các nhóm mặt hàng TCMN chủ yếu của tỉnh Nam Định vào thị trường EU giai đoạn 2006-2012 89
Bảng 2.16 Kim ngạch XK các nhóm mặt hàng TCMN chủ yếu của tỉnh Nam Định vào thị trường Đông Bắc Á giai đoạn 2006-2012 90 Bảng 2.17 Kim ngạch XK các nhóm mặt hàng TCMN chủ yếu của tỉnh NĐ vào thị trường Đông Âu, Nga giai đoạn 2006-2012 91 Bảng 2.18 Kim ngạch xuất khẩu các nhóm mặt hàng TCMN chủ yếu của tỉnh Nam Định vào thị trường Mỹ giai đoạn 2006-2012 91 Bảng 2.19 Kim ngạch xuất khẩu các nhóm mặt hàng TCMN chủ yếu
của tỉnh Nam Định vào thị trường khác giai đoạn 2006-2012 92 Bảng 2.20 Năng suất lao động bình quân trong ngành TCMN Nam Định theo giá trị sản xuất, doanh thu giai đoạn 2006-2012 93 Bảng 2.21 Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong ngành TCMN tỉnh Nam Định giai đoạn 2006-2012 94 Bảng 2.22 Đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu phát triển ngành TCMN xuất khẩu của tỉnh Nam Định giai đoạn 2006-2012 97 Bảng 2.23 Mức độ bao phủ chính sách phát triển ngành đối với các DN, hộ SXKD hàng TCMN ở tỉnh Nam Định 99 Bảng 2.24 Các kênh nhận thông tin về chính sách phát triển hàng
TCMN xuất khẩu của các cơ sở SXKD ở tỉnh Nam Định 100 Bảng 2.25 Mức độ tác động của các chính sách đến sự phát triển ngành hàng TCMN ở tỉnh Nam Định 101 Bảng 2.26 Ma trận chính sách tác động đến sự phát triển hàng TCMN xuất khẩu của tỉnh Nam Định 102 Bảng 3.1 Mục tiêu xuất khẩu hàng TCMN của Nam Định giai đoạn 2013-2020 114
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
rang
Biểu đồ 2.1 Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất và doanh thu ngành
TCMN tỉnh Nam Định giai đoạn 2006-2012 83 Biểu đồ 2.2 Kim ngạch xuất khẩu hàng TCMN của tỉnh Nam Định giai đoạn 2006 – 2012 84 Biểu đồ 2.3 Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng TCMN của tỉnh Nam Định giai đoạn 2006 – 2012 85
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.2 Khung chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu 33 Hình 1.3 Chu trình chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu 37 Hình 1.4 Các bước hoàn thiện chính sách phát triển hàng TCMN
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài
Việc phát triển sản xuất, xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) có vai trò quan trọng đối với việc phát triển kinh tế- xã hội (KT-XH) của Việt Nam và các nước đang phát triển, các nước có thu nhập thấp Ngành TCMN đòi hỏi ít vốn cho sản xuất, giá trị thực thu của hàng TCMN xuất khẩu rất cao do sản xuất chủ yếu bằng nguyên liệu trong nước Phát triển sản xuất hàng TCMN xuất khẩu góp phần
đa dạng hóa việc làm ở nông thôn, sử dụng các nguồn lực tại chỗ, tạo nhiều việc làm và tăng thu nhập cho người lao động nông thôn
Đối với Nam Định, là một tỉnh nông nghiệp với trên 80% dân số và lao động sống ở nông thôn thì phát triển hàng TCMN xuất khẩu càng có vai trò quan trọng đối với việc giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế nông thôn góp phần từng bước chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Nhận thức được vấn đề trên, trong thời gian qua, cùng với việc triển khai các chính sách của Trung ương, tỉnh Nam Định đã ban hành và chỉ đạo triển khai các chính sách hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn, trong đó có hàng TCMN xuất khẩu Các chính sách này đã có tác động tích cực, góp phần đưa hàng TCMN thành một trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh với tốc độ tăng trưởng bình quân 14,53 %/năm trong giai đoạn 2006-2012, năm 2012 kim ngạch xuất khẩu đạt 24,95 triệu USD Tuy nhiên, theo đánh giá kết quả đạt được còn thấp, chưa tương xứng và phát huy hết tiềm năng, thế mạnh của địa phương có nhiều làng nghề TCMN truyền thống có danh tiếng, kết quả xuất khẩu hàng TCMN chưa hết khả năng, sản lượng sản xuất trên địa bàn tỉnh
Nguyên nhân dẫn đến kết quả hạn chế trên, trước hết là do năng lực của các
cơ sở kinh doanh, làng nghề TCMN còn hạn chế về năng lực tài chính, chất lượng lao động, kỹ thuật công nghệ sản xuất, thiết kế mẫu mã sản phẩm, khai thác và phát triển thị trường xuất khẩu Nhưng có nguyên nhân rất quan trọng là chính sách phát triển hàng TCMN XK của Nam Định còn thiếu và chưa đủ mạnh để hỗ trợ thực
sự hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh hàng TCMN trên địa bàn tỉnh Hơn nữa, theo thời gian, môi trường KT-XH mà hoạt động sản xuất kinh doanh hàng TCMN
Trang 12xuất khẩu diễn ra luôn thay đổi làm xuất hiện những yếu tố mới tác động đến vấn đề chính sách, do đó chính sách phát triển cũng phải có sự thay đổi phù hợp với tình hình thực tiễn Vì vậy cần phải có sự phân tích, đánh giá tác động của chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu của Nam Định hiện hành, rút ra những hạn chế để
có sự điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển, nâng cao hiệu quả của xuất khẩu hàng TCMN trên địa bàn tỉnh Nam Định
Mặt khác về mặt lý luận, đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến vấn
đề phân tích, đánh giá chính sách kinh tế- xã hội (KT-XH), các giải pháp thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu hàng TCMN (được hệ thống hoá ở mục Tổng quan các nghiên cứu trên hướng đề tài) Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào đưa ra cơ sở
lý luận về phương pháp đánh giá, hoàn thiện chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu ở một địa phương
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn và lý luận, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài
nghiên cứu: "Hoàn thiện chính sách phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu
ở Nam Định đến năm 2020" làm Luận án tiến sĩ kinh tế
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và các vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
2.1 Tổng quan các nghiên cứu trên hướng đề tài
2.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới, đã có một số công trình nghiên cứu, bài viết về phương pháp phân tích, đánh giá chính sách phát triển KT-XH (chính sách công) và cũng đã có một số công trình nghiên cứu, bài viết về chính sách phát triển ngành nghề nông thôn và tiểu thủ công nghiệp, trong đó có hàng TCMN xuất khẩu như:
- Trong Luận văn Thạc sĩ "Expansion of Vietnamese Handicraft Industry:
From Local to Global" do Rachael A Szydlowski (trường Đại học Ohito- Nhật Bản)
[67] thực hiện vào năm 2008 đã nghiên cứu sự phát triển và vai trò của các chính sách của chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương đối với sự phát triển của ngành TCMN Nghiên cứu này đã luận giải: (1) làm thế nào ngành TCMN ở Việt Nam đã phát triển trong những năm gần đây , (2) làm thế nào các nghệ nhân TCMN
và dân làng đã mở rộng thị trường xuất khẩu cho sản phẩm của họ , và (3) các chính sách của chính phủ và chính quyền địa phương đã giúp hoặc cản trở sự phát triển
Trang 13của ngành như thế nào trên cơ sở điều tra khảo sát tại hai làng nghề: Ngọc Động (Hà Nam), Đông Hồ (Bắc Ninh), ba doanh nghiệp xuất khẩu hàng TCMN, tiến hành các cuộc phỏng vấn với đại diện của Bộ Nông nghiệp và PTNT Nghiên cứu đã chỉ ra Chính phủ đã có các chính sách trực tiếp và gián tiếp hỗ trợ ngành TCMN phát triển bao gồm chính sách phát triển kết cấu hạ tầng các làng nghề , xúc tiến thương mại
và giảm thuế xuất khẩu các mặt hàng TCMN Tuy nhiên đánh giá tác động của chính sách đến sự phát triển ngành TCMN như thế nào thì tác giả chưa đề cập đến
- Trong bài báo “Effectiveness and limitations of the “One Village One Product” (OVOP) approach as a government-led development policy: Evidence from Thai OTOP” đăng trên Tạp chí tập san của Nhật Bản, năm 2009 của Kurokawa Kiyoto [65] đã đánh giá hiệu quả và hạn chế tác động của chính sách phát triển “Mỗi làng một sản phẩm” của Chính phủ Thái Lan Tác giả đã đưa ra ba đặc điểm của phong trào OTOP ở Thái Lan: Thứ nhất, phong trào OTOP hoàn toàn khác với mô hình OVOP của Nhật Bản Phong trào xuất phát từ chính sách của Chính phủ chứ không phải xuất phát từ địa phương Chính phủ Thái Lan đóng một
vai trò quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực Thứ hai, OTOP được thừa nhận
rộng rãi qua hệ thống phân loại sản phẩm vô địch năm sao Những nỗ lực nghiêm
túc trong phát triển sản phẩm đã dẫn đến chất lượng sản phẩm Thứ ba, phong trào
OTOP được hỗ trợ mạnh mẽ của công nghệ thông tin, truyền thông Tuy nhiên, tác giả cho rằng tính bền vững của phong trào phụ thuộc nhiều vào sự can thiệp của chính phủ thông qua các chính sách hỗ trợ phát triển
- Trong báo cáo "Challenges for the OVOP movement in Sub-Saharan Africa" do Ngân hàng Thế giới thực hiện vào năm 2010 [66] đã nghiên cứu về những thách thức trong vấn đề phát triển phong trào "mỗi làng một sản phẩm" tại các nước thuộc tiểu vùng hoang mạc Sahara (Châu Phi) Báo cáo đã nghiên cứu so sánh phong trào OVOP của Nhật Bản, Thái Lan, và Malawi để kiểm tra sự tương đồng và khác biệt của mỗi nước nhằm giúp các nước tiểu vùng Sahara các biện pháp cần thiết Báo cáo đã đưa ra phương pháp và các chỉ số, trong đó bao gồm cả các chính sách của chính quyền để đánh giá và so sánh hiệu quả của các phương pháp tiếp cận OVOP trong ba quốc gia Báo cáo đã nêu rõ OVOPs của Thái Lan và Malawi được thực hiện bởi chính quyền trung ương trong các chính sách phát triển
Trang 14và nhấn mạnh về mục đích kinh tế, chứ không phải là mục đích xã hội nên có sự khác biệt với OVOP Nhật Bản được thực hiện bởi chính quyền địa phương
2.1.2 Các nghiên cứu trong nước
2.1.2.1 Các tài liệu, nghiên cứu về phân tích, đánh giá chính sách kinh tế- xã hội (chính sách công)
- Trong Chương trình giảng dạy Kinh tế Fulbright (FETP) [69] hợp tác giữa Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh và Trường Quản lý Nhà nước Harvard Kennedy (Hoa Kỳ) có nhiều bài giảng chuyên đề về phân tích, đánh giá chính sách trên cơ sở tham khảo các tài liệu nước ngoài có liên quan Trong đó có các chuyên
đề " Phân tích chính sách là gì?" và "Quy trình phân tích chính sách" nêu ra các định nghĩa về phân tích chính sách và các vấn đề liên quan đến quy trình phân tích chính sách Tuy nhiên, đây chỉ là những vấn đề về phân tích, đánh giá chính sách chung mà chưa đi vào đánh giá chính sách phát triển đối với một ngành cụ thể
- TS Đặng Ngọc Lợi với bài viết “Chính sách công ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn” [13] cũng chỉ mới dừng lại ở góc độ nhận thức bước đầu về lý luận và thực tiễn chính sách công ở nước ta Tác giả đã nêu lại đánh giá của các chuyên gia trong và ngoài nước về thực tiễn chính sách công ở Việt Nam còn thể hiện sự thiếu sót, sai lầm ở các góc độ sau: Xây dựng, hoạch định, đề ra chính sách chưa đúng thực tế, kỳ vọng quá cao; tổ chức thực thi, quản lý chính sách còn yếu kém; đánh giá hiệu quả, hiệu lực của chính sách chưa thuyết phục, khách quan Tác giả đề xuất cần tiếp tục làm rõ nội hàm chính sách công cả từ khái niệm, các phạm trù, nội dung, các đặc điểm, các yếu tố tác động chi phối và cần xây dựng quy trình hoạch định chính sách mới Trong bài viết này, tác giả cũng chưa đề cập đến vấn đề đánh giá, hoàn thiện chính sách công
- PGS.TS Nguyễn Danh với “Chính sách và công cụ phân tích” [15] đã đề cập đến phân tích chính sách, nội dung và công cụ phân tích chính sách Về công cụ phân tích và đánh giá chính sách công tác giả đã nêu ra các công cụ cơ bản: (1) Đánh giá dự báo tác động pháp luật (Regulatory Impact Assessment-RIA); (2) Phân tích chi phí và lợi ích (Cost & Benefit Analysis - CBA) Trong một số trường hợp khi lợi ích không thể tiền tệ hóa, có thể sử dụng phương pháp phân tích Chi phí - Hiệu quả (Cost Effectiveness Analysis: CEA) – tức là bao nhiêu chi phí bỏ ra để đạt
Trang 15được hiệu quả như mong muốn Tuy nhiên phương pháp đánh giá tác động sau khi triển khai để hoàn thiện chính sách tác giả chưa đề cập đến
- Từ năm 2005 đến 2012, hàng năm có Báo cáo Chỉ số Năng lực Cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) [24] là kết quả hợp tác nghiên cứu giữa Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Dự án Sáng kiến cạnh tranh Việt Nam thuộc Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID/VNCI) Nghiên cứu, đánh giá về PCI là một trong những điều tra xã hội học lớn và toàn diện nhất cả nước, được sử dụng như một công cụ quan trọng để đo lường và đánh giá công tác quản lý và điều hành kinh
tế của 63 tỉnh, thành phố Việt Nam trên 9 lĩnh vực có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển sản xuất kinh doanh Trong báo cáo có thuyết minh về phương pháp xây dựng các chỉ số, phương pháp điều tra và xử lý tài liệu điều tra v.v
- Năm 2011, 2012 có "Báo cáo đánh giá năng lực hội nhập kinh tế cấp địa phương" [61] thông qua một thang đo lường chung là "Chỉ số hội nhập kinh tế cấp địa phương" do Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế thực hiện Trong báo cáo đã đưa ra phương pháp nghiên cứu được sử dụng, xây dựng mô hình chỉ số riêng phục vụ cho công tác đánh giá năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các địa phương dựa trên 8 trụ cột cấu thành mô hình chỉ số
2.1.2.2 Các tài liệu, công trình nghiên cứu liên quan đến hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu
Trong thời gian qua, trong nước đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động phát triển làng nghề và xuất khẩu hàng TCMN của Việt Nam được công bố, điển hình là:
- Luận án tiến sĩ kinh tế "Chiến lược marketing cho các làng nghề thủ công
mỹ nghệ Việt Nam trong thiên niên kỷ mới", năm 2005 của Trần Đoàn Kim, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân [37] đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận về chiến lược marketing, đi sâu phân tích thực trạng xây dựng và thực thi chiến lược marketing tại các làng nghề TCMN, đề xuất chiến lược marketing và một số chính sách hỗ trợ của Nhà nước cho các làng nghề TCMN Việt Nam nhưng chủ yếu trong phạm vi hỗ trợ công tác marketing
- Đề án " Chiến lược Xuất khẩu Quốc gia ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam” (tháng 8-2006) [12] do Cục Xúc tiến Thương mại Việt Nam (VIETRADE) và
Trang 16Trung tâm Thương mại Quốc tế UNCTAD / WTO (ITC) phối hợp thực hiện đã đề cập đến các cơ chế chính sách hỗ trợ để thúc đẩy ngành thủ công mỹ nghệ phát triển bao gồm: Các chính sách của nhà nước đối với ngành; vai trò điều hành và phối hợp của các cơ quan quản lý; mạng lưới hỗ trợ thương mại; các nguồn hỗ trợ tài chính; các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu Tuy nhiên, Đề án chưa đi vào đánh giá tác động của các chính sách hỗ trợ cũng như các lĩnh vực hỗ trợ khác đối với sự phát triển của ngành TCMN, do đó Đề án chỉ đi vào các định hướng và giải pháp cụ thể để phát triển ngành mà không đề xuất việc bổ sung, hoàn thiện chính sách
- Luận văn thạc sĩ kinh tế "Những giải pháp nhằm đẩy mạnh XK hàng thủ công mỹ nghệ của tỉnh Nam Định giai đoạn 2006 - 2010", năm 2006 của Trần Lê Đoài, Trường Đại học Kinh tế quốc dân đã hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về xuất khẩu hàng TCMN, phân tích thực trạng sản xuất và xuất khẩu hàng TCMN của tỉnh Nam Định, đưa ra định hướng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng TCMN của Nam Định giai đoạn 2006 – 2010 nhưng đề cập rất ít đến vấn đề chính sách hỗ trợ phát triển hàng TCMN xuất khẩu của Nhà nước
- Luận văn thạc sĩ kinh tế "Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa", năm 2008 của Nguyễn Văn Hùng, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh [21] đã nghiên cứu: (1) vai trò và công cụ của chính quyền tỉnh đối với hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu; (2) phân tích, đánh giá thực trạng xuất khẩu hàng TCMN của tỉnh Thanh Hóa, phân tích đánh giá các chủ trương, biện pháp tỉnh Thanh Hóa đã thực hiện nhằm đẩy mạnh xuất khẩu; (3) Đề xuất, kiến nghị với chính quyền tỉnh một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng TCMN của Thanh Hóa Tuy nhiên, tác giả chỉ đề cập đến một số chính sách của tỉnh nhằm phát triển hàng TCMN xuất khẩu mà chưa đi vào đánh giá, hoàn thiện chính sách phát triển phát triển hàng TCMN xuất khẩu của tỉnh Thanh Hóa
- Luận án tiến sĩ kinh tế "Phát triển làng nghề, doanh nghiệp làng nghề để đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong quá trình hội nhập", năm 2009 của Nguyễn Hữu Thắng, Trường Đại học Ngoại thương [18] đã nghiên cứu: (1) hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển làng nghề, doanh nghiệp làng nghề TCMN; (2) phân tích thực trạng phát triển làng nghề, doanh nghiệp làng nghề; (3) đề xuất giải pháp, chính sách phát triển làng nghề, doanh nghiệp để tăng nhanh xuất khẩu hàng
Trang 17TCMN của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, tác giả chủ yếu đề xuất các giải pháp phát triển làng nghề, doanh nghiệp làng nghề cả ở tầm
vi mô và vĩ mô mà chưa đi sâu vào đánh giá, đề xuất hoàn thiện chính sách
- Luận án Tiến sĩ kinh tế "Hoàn thiện chính sách thị trường và marketing cho các sản phẩm chủ yếu của các làng nghề ở tỉnh Thái Bình", năm 2011 của Lê Thị Kim Hoa, Trường Đại học Thương mại [14] đã nghiên cứu: (1) lý luận cơ bản về chính sách thị trường và marketing cho các sản phẩm làng nghề; (2) đánh giá thực trạng triển khai chính sách thị trường và marketing cho các sản phẩm chủ yếu của các làng nghề ở Thái Bình; (3) đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện chính sách thị trường và marketing cho các sản phẩm chủ yếu của các làng nghề ở Thái Bình thời kỳ đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020 Tuy nhiên, Luận án chưa đề cập đến cơ sở lý luận của việc đánh giá, hoàn thiện chính sách cũng như chưa đi sâu vào việc hoàn thiện chính sách của Thái Bình nhằm hỗ trợ phát triển làng nghề
- Luận án tiến sĩ kinh tế “Giải pháp phát triển thị trường xuất khẩu hàng TCMN của Việt Nam”, năm 2012 của Phạm Nguyên Minh, Viện Nghiên cứu thương mại [22] đã hệ thống hóa, bổ sung một số cơ sở lý luận về phát triển thị trường xuất khẩu hàng TCMN của Việt Nam theo quan điểm lợi thế so sánh và quản trị chiến lược marketing xuất khẩu; phân tích, đánh giá về thực trạng phát triển thị trường xuất khẩu hàng TCMN của Việt Nam từ năm 2005; đề xuất một số định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển thị trường xuất khẩu hàng TCMN của Việt Nam, trong đó có các chính sách và giải pháp từ phía Nhà nước nhưng chủ yếu trong phạm vi hỗ trợ xúc tiến thương mại
Qua việc tổng lược các công trình nghiên cứu, bài viết trong và ngoài nước
có liên quan đến đề tài cho thấy:
Một là, các công trình nghiên cứu, bài viết về phân tích, đánh giá chính sách mới chủ yếu đề cập đến phương pháp luận về phân tích, đánh giá chính sách phát triển KT-XH (chính sách công) nói chung mà chưa đề cập đến việc đánh giá và hoàn thiện chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu dưới giác độ khoa học phân tích, đánh giá tác động của chính sách, cũng như ở mức độ thể chế hoá
Hai là, các công trình nghiên cứu, bài viết có liên quan đến hàng TCMN xuất khẩu đã nghiên cứu những vấn đề liên quan đến phát triển làng nghề, sản xuất, xuất
Trang 18khẩu hàng TCMN và các chính sách, giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng TCMN ở các cách tiếp cận và mức độ khác nhau, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào giải quyết một cách toàn diện và có tính hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về đánh giá, hoàn thiện chính sách phát triển đối với hàng TCMN xuất khẩu ở tỉnh Nam Định cũng như ở một địa phương khác trong nước
2.2 Các vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Từ việc tổng quan các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài và mục đích nghiên cứu của luận án, vấn đề đặt ra cho nghiên cứu sinh cần tiếp tục nghiên cứu là:
- Chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu trên địa bàn một tỉnh gồm những nội dung gì?
- Sử dụng phương pháp nào, các chỉ tiêu nào để đánh giá tác động của chính sách đến sự phát triển hàng TCMN xuất khẩu trên địa bàn một tỉnh?
- Cần phải hoàn thiện chính sách như thế nào để phát huy được tiềm năng lợi thế của tỉnh trong việc phát triển và nâng cao hiệu quả của xuất khẩu hàng TCMN?
3 Mục đích, mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất, kiến nghị với UBND tỉnh Nam Định hoàn thiện và ban hành chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu nhằm nâng cao hiệu quả của xuất khẩu hàng TCMN trên địa bàn Nam Định
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu, xây dựng khung lý thuyết đánh giá, hoàn thiện chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu ở địa phương
- Rà soát chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu đã có của tỉnh Nam Định, đánh giá tác động của chính sách đến sự phát triển hàng TCMN xuất khẩu ở Nam Định, rút ra những điểm mạnh, điểm yếu của chính sách và nguyên nhân
- Đề xuất nội dung hoàn thiện chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu ở Nam Định
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các chính sách của tỉnh Nam Định có tác động đến sự phát triển hàng TCMN xuất khẩu
Trang 195 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Khung nghiên cứu
- Xây dựng khung lý thuyết đánh giá, hoàn thiện chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu
- Xây dựng các chỉ tiêu đánh giá tác động của
chính sách phát triển hàng
TCMN xuất khẩu
- Kinh nghiệm xây dựng
và tổ chức thực thi chính sách phát triển hàng TCMN ở một số nước
- Đánh giá tác động của chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu của tỉnh Nam Định qua các chỉ tiêu
- Chỉ ra các điểm mạnh, điểm yếu của chính sách
- Xác định nguyên nhân của các điểm yếu của chính sách
Đề xuất nội dung hoàn thiện chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu ở Nam Định
- Nội dung hoàn thiện chính sách
- Các điều kiện đảm bảo triển khai thực thi chính sách
Nguồn: Tác giả thiết kế từ mục tiêu nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Trong quá trình nghiên cứu, luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử và các phương pháp cụ thể như: Phương pháp hệ thống, tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, dự báo
- Điều tra, khảo sát, thu thập thu thập thông tin, dữ liệu, lấy ý kiến của các nhà sản xuất kinh doanh hàng TCMN xuất khẩu, các nhà quản lý các cấp
+ Nguồn dữ liệu thứ cấp: Luận án sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ
Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp & PTNT; các Sở, ngành, cơ quan của tỉnh có liên quan đến hoạt động của ngành hàng TCMN xuất khẩu như: Sở Công Thương,
Trang 20Sở Kế hoạch & Đầu tư, Sở Tài nguyên & Môi trường, Sở Khoa học & Công nghệ,
Sở Nông nghiệp &PTNT, Cục Thống kê, UBND các huyện
+ Nguồn dữ liệu sơ cấp:
/ Luận án thu thập và khai thác dữ liệu sơ cấp từ một số báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị trong ngành TCMN của tỉnh Nam Định
/ Sử dụng phương pháp điều tra xã hội học vào quý II năm 2013 thông qua 3 mẫu phiếu điều tra tại phụ lục 1: Mẫu phiếu 1 điều tra 100 hộ gia đình, mẫu phiếu 2 điều tra 50 doanh nghiệp ở các làng nghề TCMN nổi tiếng đại diện cho 5 nhóm mặt hàng TCMN như mây tre đan Vĩnh Hào, sơn mài Cát Đằng, gỗ mỹ nghệ La Xuyên, đúc đồng Tống Xá, cói đan Hạ Đồng, ươm tơ dệt lụa Cổ Chất… Tác giả sử dụng phương pháp điều tra, chọn mẫu, vừa phát phiếu, vừa gặp gỡ các chủ cơ sở phỏng vấn nhằm tìm hiểu hoạt động sản xuất kinh doanh hàng TCMN xuất khẩu và các vấn đề liên quan đến việc triển khai và thụ hưởng chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu ở Nam Định Mẫu phiếu 3 điều tra 50 nhà quản lý có liên quan đến hàng TCMN xuất khẩu bao gồm cán bộ xã, lãnh đạo và chuyên viên các phòng Công Thương huyện, UBND huyện, lãnh đạo và chuyên viên các Sở ngành có liên quan như: Sở Công Thương, Khoa học & Công nghệ, Nông nghiệp & PTNT, Lao động Thương binh & Xã hội theo phương pháp vừa liên hệ phát phiếu điều tra, vừa kết hợp phỏng vấn sâu Kết quả thu được 200 phiếu đã được xử lý, tổng hợp vào các biểu bảng làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đánh giá
- Tham khảo, xin ý kiến tư vấn chính sách các chuyên gia là các cán bộ xây dựng chính sách, chỉ đạo thực tiễn của tỉnh và một số nhà khoa học trong việc đánh giá, hoàn thiện chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu của tỉnh Nam Định
- Tham gia các hội thảo khoa học có liên quan đến đề tài
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Các số liệu, dữ liệu thu thập và điều tra được
xử lý bằng Exel
6 Các đóng góp của luận án:
- Đã làm rõ được nội dung phát triển hàng TCMN xuất khẩu và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển hàng TCMN xuất khẩu
Trang 21- Luận giải chi tiết các nội dung liên quan đến chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu, bao gồm một số nội dung quan trọng như: Các hợp phần của chính sách và chu trình chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu
- Làm rõ các bước hoàn thiện chính sách, trong đó đã xây dựng được các chỉ tiêu đánh giá tác động của chính sách phát triển hàng TCMN ở địa phương
- Rút ra bài học kinh nghiệm về chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu
ở một số nước và một số địa phương trong nước làm cơ sở tham khảo, vận dụng vào việc hoàn thiện chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu ở Nam Định
- Phân tích được thực trạng của 6 chính sách bộ phận của chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu thực thi ở Nam Định giai đoạn 2006-2012, đánh giá tác động của chính sách đến sự phát triển hàng TCMN xuất khẩu ở Nam Định giai đoạn 2006-2012, kết quả thực hiện mục tiêu của chính sách, việc triển khai chính sách, đánh giá tầm quan trọng của từng chính sách hợp phần, từ đó chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu của chính sách cũng như nguyên nhân của các điểm yếu.làm cơ sở cho việc hoàn thiện chính sách
- Làm rõ quan điểm, phương hướng hoàn thiện chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu ở tỉnh Nam Định
- Đề xuất 9 nội dung hoàn thiện chính sách ứng với 9 hợp phần của chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu ở Nam Định bao gồm xây dựng mới 3 chính sách hợp phần chưa có; bổ sung, hoàn thiện 6 chính sách hợp phần hiện đang thực thi ở tỉnh và kiến nghị các điều kiện để đảm bảo triển khai thực thi chính sách
7 Kết cấu của luận án:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; nội dung chính của luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận hoàn thiện chính sách phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu và kinh nghiệm về chính sách phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu
Chương 2: Đánh giá chính sách phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu
ở tỉnh Nam Định giai đoạn 2006-2012
Chương 3: Phương hướng và nội dung hoàn thiện chính sách phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu ở tỉnh Nam Định đến năm 2020
Trang 22Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ XUẤT KHẨU VÀ KINH NGHIỆM VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ XUẤT KHẨU
1.1 Hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu
1.1.1.1 Khái niệm hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu
- Hàng thủ công: Là sản phẩm mà kỹ thuật sản xuất chủ yếu là làm bằng tay Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trong quy trình sản xuất có thể sử dụng máy, hoá chất và các giải pháp kỹ thuật của công nghiệp trong một số công đoạn, phần việc nhất định nhưng phần quyết định chất lượng và hình thức đặc trưng của sản phẩm vẫn làm bằng tay
- Hàng thủ công mỹ nghệ: Là sản phẩm thủ công mang tính mỹ thuật được tạo hình và trang trí tinh xảo Ở sản phẩm thủ công mỹ nghệ, chức năng văn hoá, thẩm mỹ trở nên quan trọng hơn chức năng sử dụng thông thường
Hàng TCMN thường được quan niệm là sản phẩm được sản xuất chủ yếu bằng phương pháp thủ công, tạo ra các sản phẩm có tính mỹ thuật cao, gắn liền với phong tục tập quán và mang đậm nét văn hoá của nơi tạo ra hàng hóa đó, thường là các sản phẩm truyền thống của một địa phương hay một quốc gia [18], [21]
Trước đây hàng TCMN là sản phẩm mà kỹ thuật sản xuất chủ yếu là làm bằng tay, được tạo hình và trang trí tinh xảo; nguyên liệu để sản xuất sản phẩm thường lấy trực tiếp từ thiên nhiên, công cụ sản xuất thường là công cụ cầm tay đơn giản Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trong quy trình sản xuất có thể
sử dụng máy móc, hoá chất và các giải pháp kỹ thuật của công nghiệp trong một số công đoạn, phần việc nhất định nhưng phần quyết định chất lượng và hình thức đặc trưng của sản phẩm TCMN vẫn làm bằng tay; đồng thời, ngoài nguyên liệu truyền thống từ thiên nhiên đã kết hợp vật liệu mới để sản xuất, tạo ra sản phẩm TCMN có chất lượng cao hơn, phong phú hơn
Trang 231.1.1.2 Đặc điểm hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu
Từ khái niệm trên cho thấy, không giống như những hàng hoá khác, hàng TCMN xuất khẩu có những đặc điểm riêng có của mình, đó là: Về cách thức sản xuất, sự đa dạng của các chủ thể tham gia sản xuất, sự đa dạng và phong phú về nguyên vật liệu, mẫu mã và tính mỹ thuật của sản phẩm, Chính vì vậy hàng TCMN xuất khẩu có những đặc thù riêng trong sản xuất và tiêu dùng [18, [21], [22]
- Về tính chất của sản phẩm
Mỗi sản phẩm TCMN đều được tạo ra trong một hoàn cảnh xã hội nhất định, mang sắc thái của một khu vực địa lý và cộng đồng dân cư nhất định Chất lượng sản phẩm TCMN luôn gắn liền với những yếu tố về văn hoá truyền thống, địa lý và điều kiện sống của khu vực dân cư, nơi tạo ra sản phẩm Hầu hết các sản phẩm TCMN đều phải thỏa mãn ở mức độ cao về mỹ thuật Nét tinh xảo trong chế tác và những yếu tố văn hoá truyền thống thể hiện trên sản phẩm luôn mang lại sự hấp dẫn cho người tiêu dùng Vì thế, khi nhìn nhận và xem xét hàng TCMN, người ta đặc biệt chú ý đến khả năng đem lại sự thích thú cho người tiêu dùng sản phẩm Các yếu
tố khác như độ bền, khả năng chứa đựng thường bị người ta xem nhẹ hơn
Do chủ yếu được sản xuất bằng tay với nhiều loại nguyên vật liệu khác nhau, nên mức độ đồng đều về chất lượng của hàng TCMN thường không cao Mỗi một khu vực làng nghề lại có những bí quyết riêng và cách xử lý nguyên liệu khác nhau Đây chính là một trong những hạn chế của các sản phẩm TCMN, có những sản phẩm không phù hợp với những điều kiện môi trường ở các khu vực khác nhau.
Trang 24Thông qua tiêu dùng, người ta cảm nhận được giá trị nghệ thuật của sản phẩm TCMN từ sự tinh tế, sự sáng tạo và khéo léo trong tạo dáng; sự cá biệt của từng loại nguyện vật liệu làm ra chúng; sự tinh xảo và điêu luyện của người thợ; và hơn tất cả là sự kết tinh những nét văn hoá và truyền thống của cả dân tộc, của một khu vực địa lý hay một địa phương ở trong sản phẩm Đây chính là một động lực rất mạnh kích thích tiêu dùng các sản phẩm TCMN
là phế liệu của các ngành khác, chẳng hạn như những bông hoa làm từ phôi bào, hoa khô, tranh từ cỏ dại, lá khô; các con giống, đồ trang trí từ vỏ sò, hến…
- Về chủ thể sản xuất
Trong lịch sử phát triển, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh hàng TCMN truyền thống phổ biến nhất là hình thức hộ gia đình Tuy nhiên khi sản xuất kinh doanh ở các làng nghề phát triển thì một số hình thức khác được ra đời và phát triển
Đó là các hình thức: tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp Những hình thức này cùng tồn tại và có tác động hỗ trợ lẫn nhau trong nền kinh tế thị trường, tạo ra sự đa dạng hoá các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh tại các làng nghề TCMN
- Hộ gia đình : Là mô hình sản xuất truyền thống chiếm hơn 90% các mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh trong các làng nghề hiện nay Hộ gia đình là mô hình sản xuất đặc biệt trong đó lao động là các thành viên trong gia đình, chỉ khi thời vụ hoặc khi chạy hàng thì có thể thuê thêm lao động Mọi thành viên trong gia
Trang 25đình đều có thể tham gia, tuỳ theo độ tuổi, trình độ tay nghề để làm công việc phù hợp nhưng bao giờ cũng có ít nhất một người chịu trách nhiệm về kỹ thuật, quản lý, giao dịch,… Vì vậy sản xuất hộ gia đình là quy mô nhỏ Hộ gia đình sản xuất phù hợp với cơ sở vật chất làng nghề nên đã phát huy được nhiều ưu điểm: Tận dụng, tranh thủ mọi thời gian lao động và mặt bằng sản xuất (nơi sản xuất thường là nhà ở) ; linh hoạt trong sản xuất kinh doanh; hiệu quả kinh tế được hạch toán cụ thể, kịp thời; có sự phù hợp giữa quy mô, năng lực sản xuất với trình độ quản lý
Mặc dù có một số ưu thế nhất định nhưng hình thức hộ gia đình cũng bộc lộ những nhược điểm cơ bản Vì đặc trưng chủ yếu của sản xuất hộ gia đình là quy mô nhỏ, vốn ít, lao động ít đã hạn chế khả năng cải tiến và đổi mới kỹ thuật, công nghệ, hạn chế việc đào tạo và nâng cao trình độ quản lý, trình độ tay nghề, không có khả năng sản xuất lớn, không đủ tầm nhìn để định hướng cho sản xuất kinh doanh
- Tổ sản xuất: Là hình thức hợp tác, liên kết tự nguyện một số gia đình với nhau để sản xuất kinh doanh hàng TCMN Sự hợp tác đã tạo ra sự tương hỗ lẫn nhau trong việc thực hiện các khâu của quá trình sản xuất, vừa đảm bảo được tính độc lập của các hộ gia đình vừa tạo điều kiện tăng thêm sức mạnh trong tiếp cận với thị trường và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, trong hình thức hợp tác này các mối liên kết rất lỏng lẻo, không cố định, không có tổ chức cụ thể
- Hợp tác xã: Là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể nhằm thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh Đặc trưng cơ bản nhất của hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự nguyện của các chủ thể kinh tế, kết hợp được lợi ích của cá nhân và tập thể Trong hiện tại cũng như lâu dài hợp tác xã vẫn là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh chủ yếu ở các làng nghề, do đã thể hiện rõ nhiều yếu tố tích cực như: có khả năng tập hợp được năng lực của làng nghề, với tư cách pháp nhân có thể đứng ra nhận những hợp đồng lớn tạo nhiều việc làm cho các hộ xã viên Với các nguồn vốn góp có khả năng trang bị máy móc thiết bị mới, cải tiến công nghệ, thúc đẩy sự phát triển của làng nghề
Trang 26- Các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần Đây là hình thức mới xuất hiện và phát triển ở làng nghề TCMN sau khi Luật doanh nghiệp ra đời, từ những chủ thể kinh tế có vốn và năng động trong cơ chế thị trường Trong làng nghề, các doanh nghiệp tuy không chiếm tỷ trọng lớn về lao động nhưng lại đóng vai trò trung tâm liên kết các hộ gia đình là các vệ tinh thực hiện các hợp đồng đặt hàng, giải quyết đầu ra, đầu vào cho các hộ gia đình
Trong quá trình phát triển của làng nghề, số lượng các doanh nghiệp sẽ ngày càng tăng lên tại các làng nghề Chúng cùng tồn tại đan xen với hình thức tổ chức
hộ gia đình, tổ sản xuất Sự đan xen này đảm bảo sự thích ứng của từng loại hình với nhu cầu của người sản xuất và đặc trưng của làng nghề
Hiện nay, không chỉ có các doanh nghiệp trong các làng nghề TCMN tham gia sản xuất kinh doanh mà còn có các doanh nghiệp ở đô thị, trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp cũng tham gia sản xuất kinh doanh hàng TCMN
- Về cách thức sản xuất
+ Sản xuất thủ công là chủ yếu: Sản phẩm thủ công truyền thống chủ yếu được sản xuất bằng tay, riêng công đoạn hỗ trợ có thể sử dụng máy móc; sản xuất dựa trên kỹ thuật hay công nghệ truyền thống nhưng có thể tiến hành cải tiến kỹ thuật hay công nghệ mà không ảnh hưởng cơ bản đến sản phẩm thủ công đó và không làm mất đi sắc thái văn hoá trong sản phẩm;
Sản phẩm TCMN của các làng nghề truyền thống là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật Sản phẩm ở mỗi làng nghề đều
có sắc thái riêng, từng nghệ nhân cũng có những nét riêng Những nét riêng đó được thử thách qua thời gian, được chọn lọc, được thừa nhận để tồn tại và phát triển, trở thành kiểu mẫu cho những sản phẩm cùng loại được sản xuất, chế tác tiếp sau
+ Sản xuất thường mang tính phân tán cao: Thực tế ở hầu hết các quốc gia
trên thế giới, hàng TCMN được sản xuất chủ yếu tại các làng nghề hoặc các cơ sở với quy mô nhỏ và phân tán Các làng nghề nằm rải rác tại nhiều nơi theo sự phân
bố của các nguồn nguyên liệu hoặc phát triển thành làng nghề từ nghề truyền thống Tại mỗi làng nghề, thường chỉ tập trung sản xuất một số mặt hàng nhất định mang
Trang 27tính truyền thống Điều này mang lại cho sản phẩm TCMN tính cá biệt Tuy nhiên,
vì sản xuất phân tán, nên rất khó khăn trong việc áp dụng khoa học kỹ thuật cũng như quy hoạch các làng nghề, tạo quy mô mở rộng sản xuất
1.1.2 Tầm quan trọng của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong phát triển kinh tế- xã hội, văn hóa của địa phương
1.1.2.1 Đối với phát triển kinh tế-xã hội
Một là, ngành TCMN đóng vai trò quan trọng trong giải quyết việc làm, sử dụng hợp lý và tăng thu nhập cho lao động nông thôn: Sản xuất hàng TCMN không đòi hỏi nhiều vốn, yêu cầu kỹ thuật không cao, tận dụng lao động và có khả năng làm việc phân tán trong từng hộ gia đình, lao động sống trong giá thành sản phẩm chiếm tỷ lệ cao (thường chiếm khoảng 40 - 60%) Do vậy, các làng nghề TCMN phát triển mạnh sẽ thu hút được nhiều lao động nông thôn; đồng thời mở ra nhiều hoạt động dịch vụ liên quan, tạo thêm việc làm mới, khắc phục được tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp, góp phần thực hiện phân bổ hợp lý lao động nông thôn
Trên cơ sở tạo việc làm, tăng thêm thu nhập, các làng nghề TCMN có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của địa phương và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, xây dựng nông thôn mới
Hai là, tăng nguồn thu và hiệu quả xuất khẩu: Sản xuất hàng TCMN sử dụng các nguồn nguyên liệu và cả các phế phụ phẩm, phế liệu để tạo sản phẩm Nói cách khác, hàng TCMN được sản xuất chủ yếu từ nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước
và nguyên liệu nhập khẩu thường không đáng kể Vì vậy, xuất khẩu hàng TCMN đạt mức thực thu ngoại tệ rất cao, chiếm từ 85% đến 90% giá trị xuất khẩu
1.1.2.2 Đối với bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống
Một là, phát triển sản xuất và xuất khẩu hàng TCMN sẽ bảo tồn, duy trì và phát triển được các ngành nghề truyền thống của địa phương, tạo điều kiện và cơ hội phát huy khả năng của đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi trong các làng nghề, đồng thời truyền dạy nghề cho đời sau Vì vậy, việc phát triển xuất khẩu các mặt hàng TCMN sẽ góp phần quan trọng bảo tồn và phát triển các ngành nghề truyền thống
Hai là, bảo tồn và phát triển các giá trị văn hoá truyền thống: Các làng nghề
Trang 28truyền thống gắn liền với lịch sử phát triển văn hoá quốc gia, địa phương Các sản phẩm chứa đựng những phong tục, tập quán, tín ngưỡng mang sắc thái riêng có của dân tộc, của địa phương Nhiều sản phẩm làng nghề truyền thống có giá trị minh chứng sự thịnh vượng của quốc gia, cũng như thể hiện những thành tựu, phát minh mà con người đạt được Ngoài ra, hầu hết các mặt hàng TCMN đều mang những giá trị văn hoá, lịch sử nhất định nên việc xuất khẩu các mặt hàng này có một vai trò không nhỏ trong việc truyền bá giao lưu văn hoá đến các nước trên thế giới
1.1.3 Chuỗi cung ứng hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu
Chuỗi cung ứng hàng TCMN xuất khẩu được thể hiện qua hình sau:
Hình 1.1: Chuỗi cung ứng hàng TCMN xuất khẩu
có vải hoặc chỉ được nhập khẩu do nguyên liệu sẵn có trong nước chất lượng thấp
Những nhà thu gom nguyên liệu: thu thập nguyên liệu thô từ những nhà sản
Trang 29xuất nguyên liệu, tiến hành phân loại cơ bản xong rồi họ vận chuyển nguyên liệu tới các nhà bán buôn ở các tỉnh Nhiều khâu trung gian tham gia vào mạng lưới này làm cho kênh nguyên liệu thô trở nên phức tạp và làm nâng giá mặt bằng sản xuất
Những nhà xử lý nguyên liệu thô: thu mua nguyên liệu từ những nhà thu gom hay những người bán buôn Họ hoàn toàn khác những nhà sản xuất nguyên liệu/thu gom nguyên liệu/nhà bán buôn do họ tham gia vào nhiều hơn khâu xử lý và bán nguyên liệu đã được chế biến
Các nhà sản xuất thường là các hộ gia đình tại làng nghề ở các khu vực nông thôn, đây là lực lượng lao động chính trong sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ
Các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng TCMN ở nông thôn là những doanh nghiệp sản xuất đặt tại các làng nghề và có nhiều nhân công, có trang thiết bị căn bản, có thể trực tiếp sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện hoạt động thu gom sản phẩm, giám sát sản xuất và hoàn thiện sản phẩm
Các nhà thu gom sản phẩm: là những người sống tại các làng nghề và có vai trò như cầu nối giữa những thương gia kinh doanh mặt hàng này với các nhà sản xuất Họ giữ trọng trách đối với nhiều loại công việc, từ cung cấp nguyên liệu cho người sản xuất (không thường xuyên), giám sát sản xuất, thu gom hàng và đôi khi
họ cũng phụ trách khâu hoàn thiện sản phẩm (xử lý, nhuộm màu…) và đóng gói
Các nhà cung cấp máy móc: không có vai trò lớn do máy móc, trang thiết bị
sử dụng trong ngành TCMN đơn giản, như lò nung gốm, máy sấy, máy cưa, máy tiện, máy nặn, máy may nhỏ, máy khoan, thiết bị phun dùng cho sản xuất đồ nội thất hoặc máy may cho sản phẩm dệt,…
Các nhà xuất khẩu: tìm kiếm nguồn hàng từ các nhà sản xuất ở các làng nghề, các nhà thu gom sản phẩm hoặc nhà kinh doanh sản phẩm này ở nông thôn Hầu hết các đơn hàng thực hiện theo hình thức hợp đồng phụ với các nhà sản xuất Trong một số trường hợp, các nhà xuất khẩu cũng cung cấp cho các nhà sản xuất ở các làng nghề nguyên liệu thô hoặc những cấu phần được làm sẵn
Một phần của hoạt động sản xuất đang ngày càng có xu hướng được thực hiện tại xưởng của các nhà xuất khẩu (sản phẩm cần những kỹ năng hoặc trang thiết
Trang 30bị đặc biệt, khâu hoàn thiện sản phẩm, sản xuất những cấu phần làm sẵn cho những thợ dệt và thợ gốm đòi hỏi công nghệ hiện đại) với lực lượng lao động gồm vài trăm, thậm chí hàng ngàn người
Các nhà nhập khẩu hầu hết là những nhà bán buôn ở Châu Âu, Châu Á hoặc Châu Mỹ và những chuỗi bán lẻ mua trực tiếp từ các nhà sản xuất hoặc xuất khẩu của Việt Nam Một số khách hàng quốc tế có đại lý hoặc văn phòng đại diện ở Việt Nam để tìm kiếm các sản phẩm thủ công Có một số khách hàng là những doanh nghiệp lớn có thương hiệu nổi tiếng trên thế giới Những công ty nước ngoài này có vai trò quan trọng trên thị trường và họ mua với số lượng lớn
Thông thường, các công ty nước ngoài tìm kiếm sản phẩm thông qua các nhà xuất khẩu Khách hàng thường lập kế hoạch sản xuất của họ trước từ 3-6 tháng Họ cung cấp cho các nhà xuất khẩu catalô, hình ảnh và những bức vẽ cùng với mã hàng
và đặt hàng theo các mã hàng của họ
Các nhà bán lẻ trong nước, đặc biệt là các cửa hàng ở các thành phố lớn cũng có vai trò quan trọng trong marketing sản phẩm TCMN Các sản phẩm trưng bày ở những cửa hàng này hầu hết được lấy từ các làng nghề hoặc do các nhà thu gom và đôi khi do các công ty tư nhân ở các làng nghề giới thiệu Một số các cửa hàng chuyên về các sản phẩm chất lượng cao Thu nhập của họ hầu hết là do xuất khẩu cho các khách hàng nước ngoài và họ cũng đã mang đến khá nhiều thiết kế mới và thông tin cho các làng nghề Họ phát triển các sản phẩm mới như một chiến lược cạnh tranh với các cửa hàng khác Nhiều cửa hàng cũng nhằm vào đối tượng khách hàng là khách du lịch trong nước và nước ngoài
Các công ty giao nhận và kho vận hoặc là các công ty trong nước hoặc là các công ty nước ngoài cung cấp nhiều loại hình dịch vụ, từ tờ khai và thủ tục hải quan tới thuê côngtenơ, thuê tàu, vận chuyển nội địa…[12, trg 10-13]
Liên quan đến chuỗi cung ứng hàng TCMN còn có Chính phủ, các Bộ, ngành trung ương, chính quyền địa phương ban hành, triển khai thực thi các chính sách phát triển hàng TCMN, các ngân hàng và tổ chức tín dụng cung cấp vốn, các Hiệp hội, các tổ chức xúc tiến thương mại cung cấp thông tin thị trường, dịch vụ hội
Trang 31chợ triển lãm, các nhà thiết kế mẫu sản phẩm TCMN Các chủ thể này tuy không trực tiếp tham gia vào chuỗi cung ứng, nhưng có vai trò tác động quan trọng đến việc phát triển chuỗi cung ứng hàng TCMN
1.1.4 Nội dung phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu
1.1.4.1 Phát triển quy mô, năng lực sản xuất
Để phát triển xuất khẩu hàng TCMN trước hết cần tăng nguồn cung sản phẩm TCMN từ việc phát triển quy mô, năng lực sản xuất [6], [7], [12]
Xét trên phạm vi một ngành sản xuất trên địa bàn địa phương, việc phát triển quy mô, năng lực sản xuất của ngành TCMN xuất khẩu rộng hơn so với việc phát triển quy mô, năng lực sản xuất của một doanh nghiệp Đó là:
- Phát triển làng nghề TCMN: Từ xa xưa cho đến nay, hàng TCMN vẫn chủ yếu được sản xuất tại các làng nghề Sản xuất tại làng nghề có nhiều lợi thế đó là: Tận dụng được mặt bằng sản xuất; có các nghệ nhân, thợ giỏi làm hạt nhân, thuận lợi trong việc đào tạo, truyền nghề; sử dụng được nhiều loại lao động và thời gian nông nhàn… Do đó cần nhân cấy nghề sang các vùng có điều kiện, hình thành các làng nghề mới để phát triển sản xuất
- Phát triển cơ sở sản xuất hàng TCMN: Dù là cơ sở sản xuất quy mô hộ gia đình, HTX hay doanh nghiệp thì đây chính là nơi trực tiếp sản xuất ra nguồn hàng cung cấp cho xuất khẩu Cùng với sự tăng lên của số cơ sở sản xuất khả năng sẽ sản xuất ra lượng sản phẩm lớn hơn
Cùng với sự phát triển các cơ sở sản xuất, việc tăng quy mô cơ sở sản xuất
về vốn, lao động, giá trị sản xuất cũng tạo ra lượng sản phẩm lớn hơn
- Phát triển nguồn nhân lực sản xuất hàng TCMN: Nhiều sản phẩm TCMN chủ yếu được làm bằng tay, kỹ thuật thủ công, dù ngày nay có công đoạn sản xuất một số sản phẩm đã sử dụng máy móc, thiết bị thay thế thì lực lượng lao động vẫn
là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm TCMN Phát triển nguồn nhân lực không chỉ là tăng về số lượng lao động mà còn là việc nâng cao chất lượng lao động về kỹ thuật, tay nghề…
Trang 32- Phát triển vốn đầu tư sản xuất kinh doanh: Muốn phát triển sản xuất kinh doanh hàng TCMN trước hết phải gia tăng vốn đầu tư, đa dạng hóa nguồn vốn, đa thành phần đầu tư, nhất là tăng quy mô vốn cố định đầu tư nhà xưởng, máy móc trang thiết bị để nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm
- Phát triển nguồn nguyên liệu: Việc sản xuất hàng TCMN phụ thuộc rất lớn vào nguyên liệu, do vậy muốn phát triển sản xuất trước hết phải phát triển nguồn nguyên liệu Cần chú trọng phát triển các nguyên liệu trong nước; nghiên cứu sử dụng nguyên, vật liệu mới
- Tăng giá trị sản xuất và doanh thu: Giá trị sản xuất là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị sản phẩm do hoạt động sản xuất hàng TCMN làm ra trong khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) Nó phản ánh kết quả phát triển quy mô của một DN hoặc của một ngành sản xuất Còn doanh thu cũng là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh quy mô sản xuất kinh doanh của DN, hoặc của ngành sản xuất, đồng thời qua chỉ tiêu này sẽ chứng tỏ được đơn vị đã sản xuất và kinh doanh những sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường hay không
1.1.4.2 Phát triển xuất khẩu
Phát triển xuất khẩu hàng TCMN trước hết là tăng kim ngạch xuất khẩu, đồng thời là việc phát triển các mặt hàng TCMN xuất khẩu mới, thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng tăng sản phẩm có giá trị gia tăng cao, là việc mở rộng
thị trường đã có, khai thác phát triển thị trường xuất khẩu mới
1.1.4.3 Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Nâng cao năng suất lao động: Đây là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng lao động, đặc trưng bởi quan hệ so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất) với lao động để sản xuất ra nó Năng suất lao động là một trong những yếu tố quan trọng tác động tới sức cạnh tranh, đặc biệt năng suất lao động lại phản ánh yếu tố chất lượng người lao động - yếu tố cốt lõi của sự phát triển trong sự cạnh tranh toàn cầu, sự phát triển của khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức hiện nay
- Tăng lợi nhuận sản xuất kinh doanh hàng TCMN: Lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lượng phản ánh tổng hợp kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh trong một
Trang 33năm, nó biểu hiện kết quả sự phấn đấu của các đơn vị thực hiện các biện pháp về mặt tổ chức, kinh tế, kỹ thuật; đồng thời cũng thể hiện sự tác động của các điều kiện liên quan đến hoat động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận là nguồn gốc để các đơn vị tích luỹ tái đầu tư phát triển sản xuất, là điều kiện để góp phần nâng cao đời sống và điều kiện làm việc của người lao động, thực hiện các nghĩa vụ đối với ngân sách
- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn qua việc nâng doanh thu trên vốn, tỷ suất lợi nhuận bình quân trên vốn, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu …
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu ở địa phương
Có nhiều nhân tố tác động đến sự phát triển hàng TCMN xuất khẩu ở địa phương và các nhân tố này tác động, ảnh hưởng lẫn nhau [9], [12]
1.1.5.1 Các điều kiện nhân tố sản xuất
- Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, đất đai, đặc biệt là các nguồn tài nguyên thiên nhiên là những nguồn lực và là cơ sở của lợi thế so sánh của mỗi vùng, miền nói chung và sản xuất của ngành hàng nói riêng Các điều kiện tự nhiên sẽ quyết định khả năng của nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể khai thác để chế biến xuất khẩu, nó ảnh hưởng đến lợi thế so sánh của sản phẩm
Các yếu tố địa lý, địa hình, vị trí của nơi sản xuất trong quan hệ với hệ thống giao thông trong nước và quốc tế cũng như khoảng cách tới thị trường xuất khẩu sẽ
có ảnh hưởng quyết định đến chi phí vận tải và thời gian cần thiết đưa hàng hoá đến nơi nhập khẩu Vị trí địa lý thuận lợi cũng sẽ tạo cho sự giao lưu kinh tế, mở rộng hợp tác, phát triển thị trường… tạo điều kiện cho sự phát triển hàng TCMN xuất khẩu
- Vốn cho sản xuất kinh doanh: Đây là nguồn lực quan trọng của quá trình sản xuất kinh doanh Các cơ sở muốn đầu tư phát triển, mở rộng sản xuất, đầu tư trang thiết bị mới, đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường v.v… đều phải cần đến nhu cầu vốn Vốn nhiều hay ít do nhu cầu quy mô, đặc điểm sản xuất sản phẩm của các ngành nghề Ngày nay các ngành sản xuất đang phát triển theo xu thế hiện đại,
Trang 34đa dạng, chuyên môn hóa, sản phẩm hàng loạt… thì nhu cầu về vốn là rất lớn Sự đáp ứng về vốn có một ý nghĩa quyết định cho sự phát triển sản xuất kinh doanh
- Nguồn nhân lực: Những nghệ nhân, chủ cơ sở và những người thợ thủ công
có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển hàng TCMN xuất khẩu Những nghệ nhân, những thợ thủ công lành nghề là những người truyền nghề, dạy nghề, đồng thời là những người sáng tạo ra các sản phẩm độc đáo Ngoài vấn đề công nghệ, kỹ thuật sản xuất, tay nghề của người thợ làm ra sản phẩm TCMN là một yếu tố rất quan trọng trong sản xuất, gia công hàng TCMN xuất khẩu vì nó ảnh hưởng đến chất lượng, giá thành sản phẩm
Đối với ngành TCMN xuất khẩu, cùng với chất lượng nguồn nhân lực cho tổ chức sản xuất thì chất lượng nguồn nhân lực cho các hoạt động xúc tiến thương mại cũng có ảnh hưởng lớn đến khả năng tiêu thụ sản phẩm TCMN, nhất là xuất khẩu
- Nguyên vật liệu: Để có thể mở rộng sản xuất và xuất khẩu hàng TCMN, vấn đề quan trọng mà các đơn vị sản xuất kinh doanh phải quan tâm đó là khả năng đáp ứng nguồn nguyên liệu Chính khả năng đáp ứng của các nguồn cung cấp nguyên liệu về quy mô, chất lượng, cơ cấu chủng loại sẽ là nhân tố cơ bản quyết định quy mô, chất lượng, cơ cấu, sản phẩm xuất khẩu
Sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương trước đây là đặc điểm của làng nghề TCMN và là nhân tố góp phần hình thành lên các làng nghề Hiện nay, khả năng nguồn nguyên liệu tại chỗ thường không đáp ứng đủ nhu cầu cho sản xuất nên các đơn vị sản xuất phải sử dụng nguồn nguyên liệu từ nơi khác Do vậy khối lượng, chất lượng, chủng loại và khoảng cách nguồn nguyên liệu có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng, giá thành, lợi nhuận của các cơ sở sản xuất Khả năng đáp ứng nguyên liệu cho sản xuất là nhân tố tác động đến sự phát triển ngành hàng TCMN
- Trình độ kỹ thuật và công nghệ: Để sản phẩm có thể thâm nhập và cạnh tranh được trên thị trường xuất khẩu thì sản phẩm phải có khả năng đáp ứng được những yêu cầu của thị trường về chất lượng Các sản phẩm TCMN truyền thống chủ yếu được sản xuất bằng tay với những công cụ thô sơ và kinh nghiệm truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác Tuy nhiên, khi khoa học kỹ thuật phát triển thì hàng
Trang 35TCMN không hẳn là hoàn toàn được sản xuất bằng tay mà đã có sự tham gia của thiết bị, máy móc Chính kỹ thuật và công nghệ sản xuất sẽ quyết định khả năng đó
- Kết cấu hạ tầng: Sản phẩm TCMN được sản xuất chủ yếu ở các làng nghề nông thôn, cụm công nghiệp, điểm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp nông thôn Các làng nghề chỉ có thể phát triển mạnh ở những nơi có hệ thống kết cấu hạ tầng đảm bảo và đồng bộ Hệ thống giao thông vận tải, hệ thống cung cấp điện, nước, thoát nước, bưu chính viễn thông v.v… cũng có ảnh hưởng rất lớn tới phát triển của các làng nghề, đặc biệt là quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, những hạ tầng này tạo điều kiện cho áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, giảm thiểu ô nhiễm mỗi trường, góp phần phát triển KT-XH bền vững
- Yếu tố truyền thống: Yếu tố này cũng có vai trò ảnh hưởng nhất định đến
sự phát triển ngành hàng TCMN xuất khẩu Trong các làng nghề TCMN truyền thống có các nghệ nhân, thợ cả có tay nghề cao là những hạt nhân để bảo tồn duy trì
và phát triển Những nét độc đáo của sản phẩm truyền thống gắn liền với đặc trưng văn hóa của từng làng nghề là những giá trị vô hình tạo nên sự tồn tại phát triển của sản phẩm TCMN Những luật lệ, quy ước, phong tục tập quán của các làng nghề có thể thúc đẩy và cũng có thể kìm hãm sự phát triển Những yếu tố truyền thống phải được kết hợp chặt chẽ với việc tiếp thu những yếu tố mới, đặc biệt là về khoa học công nghệ, thị trường hội nhập và cạnh tranh… để sản phẩm TCMN vừa giữ được bản sắc văn hóa dân tộc vừa được thị trường tiếp nhận và thúc đẩy phát triển
1.1.5.2 Thị trường tiêu thụ sản phẩm
- Thị trường xuất khẩu: Khả năng sản xuất, xuất khẩu hàng TCMN trước hết phụ thuộc vào nhu cầu về sản phẩm, đồng thời sản phẩm cũng phải có khả năng đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường về mẫu mã, chất lượng, giá cả
Sự tồn tại và phát triển hàng TCMN xuất khẩu phụ thuộc rất lớn vào sự biến động của thị trường, sản phẩm có khả năng đáp ứng và thích ứng với sự thay đổi của thị trường thì có khả năng phát triển Chính thị trường đã tạo định hướng để phát triển sản phẩm Người sản xuất phải hướng ra thị trường, xuất phát từ quan hệ cung cầu, từ nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng để hoạch định, tổ chức sản xuất
Trang 36kinh doanh phù hợp Mức cầu hiện tại và triển vọng gia tăng của thị trường nhập khẩu đưa đến khả năng phát triển xuất khẩu hàng TCMN vào thị trường đó
- Sản phẩm thay thế: là sản phẩm có thể thay thế các loại sản phẩm khác tương đương về công dụng (hoặc tiêu thụ) khi có các điều kiện thay đổi Sản phẩm thay thế có thể có chất lượng tốt hơn hoặc thấp hơn mặt hàng nó thay thế và đa số
có mức giá rẻ hơn Sản phẩm thay thế được người tiêu dùng lựa chọn khi sản phẩm
họ đang dùng vượt quá khả năng chi trả hoặc có các vấn đề phát sinh M.Porter coi sản phẩm thay thế là một trong 5 áp lực cạnh tranh có ảnh hưởng quan trọng đối với một ngành sản xuất Áp lực cạnh tranh chủ yếu của sản phẩm thay thế đối với sản phẩm chính là khả năng đáp ứng nhu cầu so với các sản phẩm trong ngành, thêm vào nữa là các nhân tố về giá, chất lượng, các yếu tố khác của môi trường như văn hóa, chính trị, công nghệ cũng sẽ dẫn tới sự đe dọa của sản phẩm thay thế
1.1.5.3 Các đối thủ cạnh tranh trong ngành thủ công mỹ nghệ xuất khẩu
- Trong phạm vi một tỉnh mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành TCMN xuất khẩu ảnh hưởng trực tiếp tới lượng cung cầu sản phẩm của mỗi doanh nghiệp, ảnh hưởng tới giá bán, sản lượng tiêu thụ sản phẩm tiêu thụ
- Việc cạnh trạnh giữa các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng TCMN của các địa phương trong nước với nhau về giá do gần hay xa nguồn cung cấp nguyên liệu, khoảng cách đến các cảng xuất khẩu
- Cạnh tranh giữa các quốc gia xuất khẩu hàng TCMN: Trong những năm tới, Trung Quốc sẽ vẫn là nhà cung cấp có khả năng điều phối thị trường do sự cạnh tranh về giá và công nghệ sản xuất Tuy nhiên hiện tại Trung Quốc chỉ mạnh đối với các sản phẩm được sản xuất hàng loạt với quy mô lớn mang tính công nghiệp, còn đối với những sản phẩm tinh tế hơn được làm thủ công, các nước đang phát triển khác đang có lợi thế hơn Trung Quốc Những sản phẩm TCMN tinh xảo này sẽ nằm trong phân khúc thị trường cao cấp và phân khúc này được dành cho các nước như
Ấn Độ, Thái Lan, Nhật Bản, Việt Nam, …
1.1.5.4 Các ngành hỗ trợ liên quan đến ngành hàng TCMN xuất khẩu
Các ngành hỗ trợ đóng vai trò quan trọng đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển hàng TCMN xuất khẩu như: Ngành nông nghiệp với hoạt động
Trang 37trồng cây gây rừng, khai thác và chế biến nguyên liệu thô; ngành sản xuất vải, chỉ chất lượng cao, sơn và chất nhuộm màu…; ngành ngân hàng và các tổ chức tín dụng trong việc cung cấp vốn; cơ sở hạ tầng như điện, hệ thống giao thông - vận tải (đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không), các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các dịch vụ hỗ trợ như dịch vụ kho, cảng, sân bay; hạ tầng và dịch vụ hội chợ triển lãm; hạ tầng công nghệ thông tin …Việc phát triển các ngành phụ trợ này tạo điều kiện cho việc sản xuất, xuất khẩu hàng TCMN phát triển
1.1.5.5 Môi trường chính trị, pháp luật
* Tác động của sự quản lý, điều hành và môi trường pháp lý của Nhà nước đối với hoạt động sản xuất, xuất khẩu hàng TCMN:
Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu nhằm tạo lập môi trường kinh doanh cũng như tạo động lực phát triển lâu dài của ngành TCMN Nhà nước tuy không trực tiếp tham gia các hoạt động sản xuất kinh doanh để phát triển thị trường xuất khẩu hàng TCMN nhưng đóng vai trò rất quan trọng trong việc kiến tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển hàng TCMN xuất khẩu
Tác động của sự quản lý, điều hành và môi trường pháp lý của Nhà nước đối với hoạt động sản xuất, xuất khẩu hàng TCMN có thể qua các nội dung sau:
- Các chủ trương, chiến lược của Chính phủ về khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn trong đó có ngành hàng TCMN xuất khẩu
- Các chính sách phát triển xuất khẩu của chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương
- Sự phối hợp chỉ đạo, điều hành của các cơ quan quản lý từ Trung ương tới địa phương trong việc triển khai các biện pháp phát triển hàng TCMN xuất khẩu
Các chính sách của nhà nước có những tác động lớn tới sự phát triển KT-XH nói chung và mỗi ngành hàng nói riêng Sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động sản xuất kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường là một tất yếu, mà các công cụ quan trọng nhất là các chính sách, đặc biệt là chính sách kinh tế Các chính sách này có vai trò trong việc định hướng, hỗ trợ phát triển, có thể tác động toàn bộ
Trang 38hay từng phần quá trình sản xuất, tới một nhân tố hay nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh hàng TCMN xuất khẩu
Trong phạm vi nghiên cứu, luận án chỉ tập trung phân tích, đánh giá tác động của cơ chế chính sách đến sự phát triển hàng TCMN xuất khẩu ở địa phương
* Hàng rào thuế quan và các hàng rào phi thuế của các nước nhập khẩu
Xuất khẩu hàng TCMN ngày càng phải đối mặt với nhiều hình thức bảo hộ thương mại của các nước nhập khẩu Bên cạnh các rào cản về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, trợ cấp xuất khẩu với sản phẩm , những quy định về xuất xứ hàng hóa, tiêu chuẩn môi trường cũng sẽ ngày càng nhiều và khó khăn hơn đối với các nước xuất khẩu Nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước, quốc gia nào cũng cố gắng dựng lên các hàng rào kỹ thuật ở mức tối đa có thể Thực chất đây
là những rào cản kỹ thuật, là những hành vi bảo hộ thương mại mà các nước nhập khẩu này dựng lên một cách tinh vi, nhằm hạn chế nguồn hàng của các nước vào thị trường nước họ, nhằm bảo hộ sản xuất và tiêu dùng nội địa
1.2 Chính sách phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu ở địa phương
1.2.1 Khái niệm chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu
Mọi chủ thể KT-XH đều có chính sách của mình Chính sách xác định phạm
vi, giới hạn của các quyết định, hướng các thành viên phấn đấu cho mục tiêu chung của tổ chức
Cũng như các chủ thể khác, Nhà nước thực hiện quản lý KT-XH bằng một hệ thống công cụ, trong đó, chính sách KT-XH là một công cụ quan trọng Theo các hướng tiếp cận khác nhau có nhiều định nghĩa về chính sách KT-XH:
- Tiếp cận theo mục tiêu, Thomas Dye cho rằng: "Chính sách công là tất cả những gì Nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm" (Tìm hiểu chính sách công – Prentice Hall, xuất bản lần thứ 5- 1984, trg 1) B.Guy Peters thì định nghĩa "Chính sách công là toàn bộ hoạt động của Nhà nước tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đều có ảnh hưởng đến cuộc sống của mọi công dân" (Chính sách công ở Mỹ, Chathm House, xuất bản lần thứ 2-1990, trg 6) Cụ thể hơn Jem Adersm định nghĩa
"Chính sách là quá trình hoạt động có mục đích được theo đuổi bởi một hay nhiều
Trang 39chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm" (Hoạch định chính sách công, Houghton Mifflin- 1990, trg 5)
- Tiếp cận theo hệ thống, G Brewer và P.de Leon cho rằng: Chính sách công
là những quyết định quan trọng nhất của xã hội, là những hành động có tính chức năng dựa trên sự đồng thuận hoặc phê chuẩn của toàn hệ thống" (Những nền tảng của phân tích chính sách, Dorsey Press, 1983, trg 9)
- Tiếp cận theo nội dung, Frank Ellis định nghĩa "Chính sách được xác định như là đường lối hành động mà Chính phủ lựa chọn đối với một lĩnh vực của nền kinh tế, kể cả các mục tiêu mà Chính phủ tìm kiếm và sự lựa chọn các phương pháp
để theo đuổi các mục tiêu đó" (Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội -1995, trg 23)
Trên giác độ chính sách kinh tế- xã hội, trong giáo trình "Chính sách kinh tế-
xã hội" của trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã nêu: "Chính sách kinh tế- xã hội là tổng thể các quan điểm, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế-xã hội nhằm giải quyết vấn đề chính sách, thực hiện các mục tiêu nhất định theo định hướng mục tiêu tổng thể của đất nước" [19, trg 26]
Như vậy, chính sách bao hàm các yếu tố cấu thành đó là chủ thể chính sách theo quan điểm chỉ đạo, mục tiêu của chính sách, nguồn lực thực thi chính sách, môi trường chính sách và đối tượng liên quan đến chính sách Vì vậy cũng có thể hiểu một cách ngắn gọn chính sách là những nỗ lực của nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã xác định
Ngành TCMN xuất khẩu là bộ phận cấu thành của nền sản xuất xã hội, do đó trước hết chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu là chính sách kinh tế- xã hội, bao gồm các quan điểm, chủ trương, biện pháp và quản lý được thể chế hóa bằng pháp luật của nhà nước để giải quyết các vấn đề liên quan đến mục tiêu phát triển hàng TCMN xuất khẩu Thứ hai, chính sách này nhằm tác động lên các đối tượng là chủ thể tạo nên chuỗi cung ứng hàng TCMN xuất khẩu
Từ cách hiểu trên có thể cho rằng, chính sách phát triển hàng thủ công mỹ
nghệ xuất khẩu là những chủ trương, giải pháp của nhà nước tác động vào các đối tượng trong chuỗi cung ứng hàng TCMN xuất khẩu nhằm phát triển các yếu tố để phát triển hàng TCMN xuất khẩu
Trang 40Chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu là một trong những chính sách kinh tế, thuộc hệ thống chính sách kinh tế - xã hội hướng tới việc thực hiện mục tiêu chung xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Về lĩnh vực tác động, chính sách phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu thuộc chính sách phát triển ngành kinh tế, điều tiết các mối quan hệ kinh tế nhằm tạo ra động lực phát triển kinh tế Tuy nhiên chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu cũng có mối liên hệ với các chính sách khác, có ảnh hưởng nhất định đến mục tiêu của các chính sách khác như chính sách phát triển sản xuất, chính sách phát triển xuất khẩu, chính sách an sinh xã hội Chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu có thể bao gồm chính sách của Trung ương và của chính quyền địa phương (thường là cấp tỉnh) Nhưng trong phạm vi của luận án, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu của chính quyền tỉnh
1.2.2 Các yếu tố cơ bản của chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu [34, trg 30-37]
1.2.2.1 Căn cứ xây dựng chính sách
Chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu cần được xây dựng dựa trên cơ
sở lý luận và thực tiễn, hợp hiến và hợp pháp Trong một văn bản chính sách, căn
cứ pháp lý luôn được khẳng định và được cụ thể hoá vào chính sách
1.2.2.2 Mục tiêu của chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu
- Mục tiêu chung của chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu là nhằm
phát triển sản xuất, xuất khẩu hàng TCMN, giải quyết việc làm và thu nhập cho người lao động để phát triển KT-XH của các địa phương, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hoá, góp phần thúc đẩy xây dựng nông thôn mới
- Chính sách phát triển hàng TCMN xuất khẩu có những mục tiêu cụ thể nhằm hướng vào thực hiện mục tiêu chung như phát triển sản phẩm, vốn đầu tư , lao động, đất đai, công nghệ, bảo vệ môi trường, phát triển thị trường Trong đó một mục tiêu rất quan trọng nhằm sản xuất ra các mặt hàng TCMN xuất khẩu có năng lực cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của vùng/địa phương khác trong nước và của các nước xuất khẩu hàng TCMN; đồng thời phát triển thị trường xuất khẩu, tập trung khai thác, mở rộng các thị trường mục tiêu nhập khẩu hàng TCMN