Các phương pháp nghiên cứu cụ thể cho từng nội dung công việc của luận án như sau: - Phương pháp tiếp cận hệ thống, tổng hợp, phân tích, so sánh: Được sử dụng để nghiên cứu chuẩn mực kế
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
HOÀN THIỆN BÁO CÁO TÀI CHÍNH KHU
VỰC CÔNG VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
THÀNH PH HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
HOÀN THIỆN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
KHU VỰC CÔNG VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã Số: 62.34.03.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS VÕ VĂN NHỊ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài nghiên cứu này do chính tác giả thực hiện, các kết quả nghiên cứu chính trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên
cứu nào khác Tất cả những phần kế thừa, tham khảo cũng như tham chiếu đều được
trích dẫn đầy đủ và ghi nguồn cụ thể trong danh mục các tài liệu tham khảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành và sâu sắc đến
- Thầy hướng dẫn khoa học PGS.TS Võ Văn Nhị - Người đã hết lòng hướng dẫn,
chỉ bảo, động viên và hỗ trợ tác giả hoàn thành luận án này
- Quý Thầy Cô và các nhà khoa học đã giúp đỡ tôi tận tình trong suốt quá trình học
tập và nghiên cứu tại trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM
- Cơ quan, đồng nghiệp, bạn bè đã đã tạo điều kiện về thời gian và đóng góp ý kiến
quý báu giúp tác giả hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của mình
- Các cá nhân, đơn vị đã dành thời gian tham gia, hỗ trợ, giúp đỡ tác giả hoàn
thành công việc khảo sát thực tế
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 03 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hiền
Trang 5MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH KHU VỰC CÔNG VÀ
CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN KẾ TOÁN KHU VỰC CÔNG 1
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI 1
1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về báo cáo tài chính khu vực công và kế toán khu vực công 1
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về kế toán dồn tích cho khu vực công và các nhân tố tác động đến việc cải cách kế toán khu vực công 9
1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC 20
1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về BCTC khu vực công và kế toán khu vực công 21
1.2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về kế toán dồn tích cho khu vực công và các yếu tố tác động đến việc đổi mới kế toán khu vực công từ cơ sở tiền sang cơ sở dồn tích 27
1.3 NHẬN XÉT VỀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 29
1.4 KHE HỔNG NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ 31
1.4.1 Xác định khe hổng nghiên cứu 31
1.4.2 Định hướng nghiên cứu của tác giả 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH ÁP DỤNG 34
CHO KHU VỰC CÔNG 34
2.1 KHÁI NIỆM VỀ KHU VỰC CÔNG VÀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ ÁP DỤNG CHO KHU VỰC CÔNG 34
2.1.1 Khái niệm khu vực công 34
2.1.2 Tổng quan về chuẩn mực kế toán công quốc tế 35
2.1.2.1 Giới thiệu 35
2.2.2.2 Phạm vi áp dụng và không áp dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế 37
2.2.2.3 Tóm tắt nội dung cơ bản của các chuẩn mực kế toán công quốc tế 37
2.2 BÁO CÁO TÀI CHÍNH KHU VỰC CÔNG THEO KHUÔN MẪU LÝ THUYẾT KẾ TOÁN KHU VỰC CÔNG QUỐC TẾ VÀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN CÔNG QUỐC TẾ 38
Trang 62.2.1 Khái niệm 38
2.2.2 Phân loại BCTC khu vực công 38
2.2.3 Mục đích của báo cáo tài chính cho mục đích chung của khu vực công 41
2.2.4 Đặc tính thông tin trình bày trên báo cáo tài chính cho mục đích chung của khu vực công 42
2.2.5 Các nguyên tắc lập và trình bày BCTC cho mục đích chung: 46
2.2.6 Số lượng, nội dung và kết cấu của báo cáo tài chính cho mục đích chung của khu vực công 49
2.2.7 Kỳ kế toán 60
2.2.8 Thời hạn báo cáo 61
2.3 BÁO CÁO TÀI CHÍNH KHU VỰC CÔNG Ở MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 61
2.3.1 Tình hình thực hiện chuyển đổi kế toán khu vực công sang cơ sở dồn tích và tình hình vận dụng IPSASs trong kế toán khu vực công 61
2.3.2 Lựa chọn các quốc gia để nghiên cứu bài học kinh nghiệm 62
2.3.3 Kế toán khu vực công của Úc 63
2.3.3.1 Giới thiệu chung 63
2.3.3.2 Nội dung chuẩn mực kế toán khu vực công Úc liên quan đến việc lập và trình bày BCTC 64
2.3.4 Kế toán khu vực công của Mỹ 65
2.3.4.1 Giới thiệu chung 65
2.3.4.2 Nội dung chuẩn mực kế toán chính phủ Mỹ liên quan đến việc lập và trình bày BCTC 66
2.3.5 Kế toán khu vực công của Cộng Hòa Nam Phi 69
2.3.5.1 Giới thiệu chung 69
2.3.5.2 Nội dung của chuẩn mực kế toán Cộng hòa Nam Phi về khu vực công liên quan đến việc lập và trình bày, công bố BCTC 73
2.3.6 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 75
2.3.6.1 Bài học kinh nghiệm từ việc nghiên cứu chế độ kế toán khu vực công của Úc 75
2.3.6.2 Bài học kinh nghiệm từ việc nghiên cứu chế độ kế toán khu vực công của Mỹ 76
Trang 72.3.6.3 Bài học kinh nghiệm từ việc nghiên cứu chế độ kế toán khu vực công
của Nam Phi 76
2.4 CÁC LÝ THUYẾT NỀN PHỤC VỤ CHO VIỆC NGHIÊN CỨU LUẬN ÁN 77
2.4.1 Lý thuyết đại diện hay còn gọi lý thuyết ủy nhiệm (Agency Theory) 77
2.4.2 Lý thuyết Quỹ 78
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2: 80
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 81
3.1 KHUNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 81
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 84
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG 86
3.3.1 Xác định các nhân tố tác động đến việc cải cách kế toán khu vực công sang cơ sở dồn tích cần được kiểm định 87
3.3.2 Xác định công cụ phân tích để kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến việc chuyển đổi kế toán khu vực công sang cơ sở dồn tích 94
3.3.3 Dữ liệu thống kê 97
3.3.4 Xác định kích thước mẫu và thang đo 97
3.3.5 Qui trình thực hiện thống kê trên mô hình EFA 98
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3: 100
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 101
4.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 101
4.1.1 Kết quả nghiên cứu định tính 101
4.1.1.1 Kết quả nghiên cứu về thực trạng BCTC khu vực công 101
4.1.1.2 Kết quả nghiên cứu về tính hữu ích của thông tin trên BCTC khu vực công được áp dụng cho đơn vị HCSN 113
4.1.2 Kết quả nghiên cứu định lượng (nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến BCTC khu vực công) 115
4.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN, BÁO CÁO TÀI CHÍNH KHU VỰC CÔNG VÀ CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN, BÁO CÁO TÀI CHÍNH ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 132
4.2.1 Đánh giá thực trạng chế độ kế toán, báo cáo tài chính khu vực công 132
4.2.1.1 Ưu điểm 132
4.2.1.2 Nhược điểm 133
Trang 84.2.2 Đánh giá thực trạng chế độ kế toán HCSN và Báo cáo tài chính các đơn vị
hành chính sự nghiệp 138
4.2.2.1 Ưu điểm 138
4.2.2.2 Những hạn chế và nguyên nhân hạn chế của chế độ kế toán HCSN 139
4.3 BÀN LUẬN VỀ NỘI DUNG HOÀN THIỆN BCTC KHU VỰC CÔNG 146
4.3.1 Quan điểm hoàn thiện 146
4.3.2 Định hướng hoàn thiện 147
4.3.3 Bàn luận về giải pháp hoàn thiện 149
4.3.3.1 Giải pháp nền 149
4.3.3.2 Các giải pháp cụ thể để hoàn thiện BCTC khu vực công 170
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 180
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 182
5.1 KẾT LUẬN 182
5.2 KIẾN NGHỊ 183
5.2.1 Kiến nghị với Quốc Hội 183
5.2.2 Kiến nghị với các cơ quan quản lý hành chính nhà nước 183
5.2.3 Kiến nghị với cơ quan kiểm toán Nhà nước 184
5.3 HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 184
5.3.1 Những hạn chế của luận án 185
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 185
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PHẦN TIẾNG NƯỚC NGOÀI
ADP: Ngân hàng phát triển Châu Á (The Asian Development Bank)
ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian
Nations)
AFTA: Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (ASEAN Free Trade Area)
APEC: Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (Asia-Pacific Economic Cooperation)
CEPT: Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (Common Effective
Preferential Tariff)
IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund)
FAF: Quỹ kế toán tài chính (Financial Accounting Foundation)
FASB: Ban chuẩn mực kế toán tài chính Mỹ (Financial Accounting Standards Board) FASAC: Hội đồng tư vấn chuẩn mực kế toán tài chính (Financial Accounting
Standards Advisory Council)
GASB: Ban chuẩn mực kế toán chính phủ Mỹ (Governmental Accounting Standards Board)
GASAC: Hội đồng tư vấn chuẩn mực kế toán chính phủ Mỹ (Governmental
Accounting Standards Advisory Council)
OECD: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organisation for Economic
IPSASs: Chuẩn mực kế toán công quốc tế (International Public Sector Accounting Standards)
IPSASB: Hội đồng ban hành chuẩn mực kế toán công quốc tế (International Public Sector Accounting Standards Board)
IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund)
WB: Ngân hàng thế giới (World Bank)
WTO: Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)
Trang 11DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Bảng tóm tắt một số luận án Tiến sỹ nước ngoài nghiên cứu về kế toán khu
vực công 5
Bảng 1.2: Bảng tổng hợp thay đổi hệ thống BCTC 21
Bảng 1.3 Bảng tóm tắt một số công trình nghiên cứu khoa trong nước liên quan kế toán khu vực công 24
Bảng 2.1: Bảng so sánh BCTC cho mục đích chung và BCTC cho mục đích đặc biệt 39 Bảng 3.1: Bảng tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng cải cách kế toán khu vực 89
Bảng 4.1: Bảng kết quả khảo sát về chế độ kế toán 102
Bảng 4.2: Bảng kết quả khảo sát mục tiêu BCTC, đối tượng sử dụng thông tin BCTC và nội dung, hình thức BCTC 105
Bảng 4.3: Bảng kết quả khảo sát đặc tính chất lượng của thông tin trên báo cáo tài chính 111
Bảng 4.4 Kết quả khảo sát BCTC cho mục đích chung khu vực công áp dụng cho đơn vị HCSN 114
Bảng 4.5: Bảng kiểm định các thang đo 116
Bảng 4.6: Bảng giải thích thông tin chi tiết cho các biến: 118
Bảng 4.7: KMO and Bartlett's Test 120
Bảng 4.8: Tổng phương sai được giải thích (Total Variance Explained) 121
Bảng 4.9: Bảng ma trận nhân tố xoay 122
Bảng 4.10: Mô hình điều chỉnh qua kiểm định Cronbach Alpha và phân tích nhân tố khám phá 124
Bảng 4.11: Bảng tổng hợp các thang đo 124
Bảng 4.12: Hệ số hồi quy (Coefficientsa) 126
Bảng 4.13: Tóm tắt mô hình 127
Bảng 4.14: Phân tích phương sai (ANOVAa) 127
Bảng 4.15: Correlations 128
Bảng 4.16: Hệ số hồi quy chuẩn hóa 131
Trang 12DANH MỤC HÌNH - SƠ ĐỒ
Hình 4.1: Biểu đồ tần suất của phần dư chuẩn hóa 129
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ khung nghiên cứu 82
Sơ đồ 4.1: Sơ đồ quan hệ quản lý ngân sách Nhà Nước 158
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Xuất phát từ thực trạng chế độ kế toán khu vực công Việt Nam còn nhiều cách biệt so với kế toán khu vực công trên thế giới Kế toán khu vực công Việt Nam chưa cung cấp thông tin hữu ích cho trách nhiệm giải trình và ra quyết định Vì vậy, kế toán khu vực công chưa là công cụ hữu ích để quản lý, kiểm soát nguồn tài chính công, NSNN Chính sự phát triển nhanh chóng khu vực công trong thập kỷ vừa qua và sự suy thoái mạnh nền kinh tế Việt Nam nói chung và khu vực công nói riêng trong năm gần đây cộng với xu hướng cải cách quản lý tài chính công theo hướng tăng cường hiệu quả sử dụng nguồn lực công của Việt Nam đòi hỏi kế toán khu vực công Việt Nam phải có những cải cách tích cực
Bên cạnh đó là quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đã hình thành các mối quan hệ quốc tế Việt Nam đã gia nhập các điều ước quốc tế, trở thành thành viên của các tổ chức tài chính WB, IMF, ADB, thành viên ASEAN, tham gia AFTA, CEPT, APEC… Từ năm 2007 Việt nam đã trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Trong những cam kết đa phương mà Việt Nam đã ký kết buộc phải tuân thủ theo lộ trình đã thoả thuận có cam kết về minh bạch hoá thông tin
kế toán, đặc biệt là minh bạch các thông tin kế toán khu vực công đã tạo ra nhu cầu đòi hỏi cung cấp thông tin có tính chuẩn mực, có khả năng so sánh và phải được quốc tế thừa nhận (Bộ tài chính, 2011)
Do đó, việc nghiên cứu hoàn thiện báo cáo tài chính khu vực công Việt Nam nhằm nâng cao tính hữu ích của thông tin trên báo cáo tài chính và phù hợp với thông
lệ kế toán quốc tế là việc làm cấp thiết và rất hữu ích cho Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát:
+ Hoàn thiện báo cáo tài chính cho mục đích chung của khu vực công đảm bảo BCTC khu vực công cung cấp thông tin hữu ích, phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội Việt Nam trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài
Trang 14Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu 1: Báo cáo tài chính khu vực công hiện nay có những hạn chế nào
và những hạn chế đó có ảnh hưởng như thế nào đến việc cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng?
Câu hỏi nghiên cứu 2: Các nhân tố nào tác động đến việc cải cách kế toán khu vực
công Việt Nam nhằm đảm bảo BCTC khu vực công tại Việt Nam cung cấp thông tin hữu ích và phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế?
Câu hỏi nghiên cứu 3: Nội dung và kết cấu BCTC cho mục đích chung khu vực công
Việt Nam như thế nào để BCTC khu vực công có thể cung cấp thông tin hữu ích và phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế?
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của Luận án
Luận án nghiên cứu hệ thống BCTC áp dụng cho các đơn vị trong khu vực công Việt Nam và các qui định có liên quan cũng như một số qui định quốc tế về vấn đề này Cụ thể đối tượng nghiên cứu của Luận án bao gồm:
+ Chế độ kế toán và BCTC của các đơn vị thuộc khu vực công Việt Nam
+ Chuẩn mực kế toán công quốc tế và xu hướng kế toán khu vực công trên thế giới + Các nhân tố tác động đến việc cải cách kế toán khu vực công nhằm cung cấp thông tin trên BCTC trung thực, hữu ích và phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế
- Phạm vi nghiên cứu
Tác giả tập trung nghiên cứu về nội dung thông tin trên báo cáo tài chính cho mục đích chung của khu vực công tại Việt Nam, xu hướng kế toán khu vực công của
Trang 15các quốc gia trên thế giới và các nhân tố tác động đến việc cải cách kế toán khu vực công Việt Nam để kế toán khu vực công Việt Nam có thể cung cấp thông tin kế toán hữu ích, phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế Nghiên cứu IPSASs và nghiên cứu kế toán khu vực công của các quốc gia Mỹ, Úc và Nam Phi để định hướng cho việc hoàn thiện BCTC cho mục đích chung khu vực công nhằm nâng cao chất lượng thông tin trên BCTC khu vực công
Tuy nhiên, do khu vực công quá rộng, mỗi ngành nghề, lĩnh vực thuộc khu vực công có những đặc điểm khác nhau mang tính chất đặc thù về nghiệp vụ phát sinh, về quản lý tài chính nên phần nghiên cứu hoàn thiện về nội dung chi tiết BCTC cho mục đích chung khu vực công tác giả chọn đơn vị công điển hình là đơn vị HCSN để trình bày giải pháp cụ thể hoàn thiện các chỉ tiêu BCTC cho mục đích chung Sở dĩ luận án chọn đơn vị HCSN để đề xuất các giải pháp cụ thể là do các đơn vị HCSN chiếm đại
bộ phận trong khu vực công tại Việt Nam và việc tổ chức thực hiện công tác kế toán
dễ dàng chuyển sang cơ sở dồn tích để thích ứng với việc áp dụng IPSASs
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng đồng thời hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Phương pháp nghiên cứu định tính được dùng để khái quát hóa, mô tả các lý thuyết kế toán, chuẩn mực kế toán công quốc tế, đánh giá thực trạng BCTC khu vực công hiện nay, phân tích, đề xuất các giải pháp hoàn thiện BCTC khu vực công Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng để xác định, kiểm chứng các nhân
tố tác động đến cải cách kế toán khu vực công Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng thông tin của BCTC cho mục đích chung khu vực công Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp phù hợp để BCTC cho mục đích chung khu vực công được lập và trình bày theo thông lệ kế toán quốc tế và cung cấp thông tin hữu ích Các phương pháp nghiên cứu cụ thể cho từng nội dung công việc của luận án như sau:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống, tổng hợp, phân tích, so sánh: Được sử dụng để
nghiên cứu chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSASs), nghiên cứu các quan điểm, xu hướng lập và trình bày BCTC cho mục đích chung khu vực công trên thế giới, nghiên cứu quan điểm, định hướng của Việt Nam trong việc cải cách chế độ kế toán khu vực công, nghiêu cứu bài học kinh nghiệm về lập và trình bày báo cáo tài chính khu vực công của một vài quốc gia trên trên thế giới đã được các tổ chức quốc tế thừa nhận và đánh giá BCTC cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng Tiếp cận thực
Trang 16tế công tác kế toán tại một trong các đơn vị kế toán thuộc khu vực công, trên cơ sở các nghiên cứu đó tác giả phân tích, tổng hợp, đánh giá thực trạng lập BCTC tại khu vực công nói chung và tại các đơn vị hành chính sự nghiệp nói riêng So sánh các qui định
về quản lý tài chính công và chế độ kế toán khu vực công của Việt Nam với IPSASs
và với các quốc gia đã nghiên cứu bài học kinh nghiệm để đề xuất các giải pháp hoàn
thiện BCTC cho mục đích chung khu vực công cho Việt Nam
- Khảo sát, lấy ý kiến chuyên gia: Nói chuyện, phỏng vấn với các chuyên gia kế toán
trong nước để nghe ý kiến, quan điểm đánh giá của chuyên gia về chế độ kế toán khu vực công hiện hành, các nhân tố ảnh hưởng đến cải cách kế toán khu vực công, sự cần thiết xây dựng kế toán khu vực công Việt Nam trên cơ sở dồn tích hoàn toàn Trên cơ
sở đó củng cố quan điểm nhận xét, đánh giá của tác giả về tính minh bạch, hữu ích của báo cáo tài chính khu vực công hiện hành và đề xuất giải pháp hoàn thiện các nhân tố tác động đến việc cải cách kế toán khu vực công nhằm nâng cao chất lượng BCTC Trong quá trình nghiên cứu hoàn thiện BCTC cho mục đích chung khu vực công tác giả tiếp tục khảo sát, lấy ý kiến nhận xét của chuyên gia để củng cố, khẳng định các quan điểm đề xuất giải pháp hoàn thiện BCTC là hợp lý
- Thống kê mô tả: Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát rộng rãi cho tất cả các đối tượng
đang làm việc, nghiên cứu liên quan đến kế toán khu vực công, nội dung khảo sát là đánh giá về kế toán khu vực công và BCTC khu vực công hiện nay của Việt Nam sau
đó thống kê kết quả khảo sát để bổ sung thông tin cho các nhận xét, phân tích đánh giá thực trạng chế độ kế toán khu vực công, thực trạng BCTC khu vực công tại Việt Nam
- Thống kê định lượng: Tác giả sẽ sử dụng công cụ phân tích nhân tố khám phá
(EFA) để xác định và kiểm định các nhân tố tác động đến cải cách kế toán khu vực công nhằm đảm bảo BCTC khu vực công cung cấp thông tin hữu ích và phù hợp với thông lệ quốc tế
Trang 17BCTC cho mục đích chung áp dụng cho khu vực công nói chung và đơn vị HCSN nói riêng đang hoạt động ở Việt Nam
+ Hoàn thiện nội dung thông tin trên BCTC cho mục đích chung của khu vực công nói chung và hoàn thiện nội dung, kết cấu chi tiết BCTC cho mục đích chung của đơn vị hành chính sự nghiệp nói riêng để BCTC cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra quyết định và trách nhiệm giải trình, phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế, phù hợp với môi trường pháp lý, chính trị, kinh tế, giáo dục, văn hóa Việt Nam
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và phần phụ lục, Luận án gồm có 5 chương:
Chương 1: Tổng quan về Báo cáo tài chính khu vực công và các vấn đề liên quan đến
kế toán khu vực công
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về báo cáo tài chính áp dụng cho khu vực công
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 21CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH KHU VỰC CÔNG VÀ CÁC VẤN ĐỀ
LIÊN QUAN ĐẾN KẾ TOÁN KHU VỰC CÔNG
Báo cáo tài chính khu vực công là nguồn thông tin vô cùng quan trọng để phục
vụ cho việc tổng hợp và kiểm soát tình hình quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, là căn cứ đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội đối với các loại dịch vụ công đã được thực hiện và cung cấp Do vậy, việc hoàn thiện và đổi mới BCTC cho khu vực công luôn là vấn đề được nhiều đối tượng quan tâm nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau Để nghiên cứu đổi mới, hoàn thiện BCTC khu vực công phù hợp với thông lệ chung quốc
tế, cần thiết phải nghiên cứu các điều kiện, các nhân tố tác động đến việc đổi mới kế toán khu vực công và thực hiện các biện pháp nhằm giảm thiểu các trở ngại cho việc đổi mới Chương này, tác giả sẽ trình bày tổng quan nghiên cứu về BCTC khu vực công và kế toán khu vực công Tiếp đến, tác giả sẽ trình bày các điều kiện, các nhân tố tác động đến việc đổi mới kế toán khu vực công
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI
1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về báo cáo tài chính khu vực công và kế toán khu vực công
Lüder Klaus (1992), dựa trên việc nghiên cứu so sánh kế toán khu vực công của các các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Canada, Đan Mạch, Thụy Điển, Đức, Pháp, và một vài vùng thuộc Vương quốc Anh và Cộng đồng châu Âu đã khẳng định chỉ có chuyển đổi kế toán khu vực công từ cơ sở kế toán truyền thống của các quốc gia này sang cơ sở dồn tích thì BCTC khu vực công mới cung cấp thông tin, trung thực, hữu ích, đáng tin cậy và đáp ứng yêu cầu kiểm soát nguồn lực của đơn vị công
Carlin Tyrone M (2003), đã hệ thống hóa lại các quan điểm ủng hộ kế toán dồn tích và các quan điểm không ủng hộ kế toán dồn tích và cuối cùng khẳng định kế toán dồn tích là xu hướng tất yếu trong khu vực công và chỉ kế toán dồn tích mới đạt được mục tiêu đánh giá trách nhiệm giải trình và ra quyết định của người sử dụng thông tin BCTC khu vực công Tuy nhiên, qua quá trình nghiên cứu thực nghiệm tại Úc cho thấy nếu thực hiện kế toán dồn tích cho khu vực công phải thực hiện đầy đủ, toàn phần chứ nếu chỉ thực hiện ở một vài lĩnh vực và một vài tiểu bang thì không mang lại hiệu quả so với chi phí bỏ ra Bằng việc chứng minh sự thay đổi của thông tin kế toán khi phương pháp tính giá thay đổi, tác giả cho rằng việc áp dụng kế toán dồn tích trong
Trang 22thực tế có thể làm thay đổi một số quyết định quan trọng của chính phủ như những vấn
đế liên quan đến gia công phần mềm và đấu thầu cạnh tranh vì thay đổi phương pháp tính, thông tin kế toán cũng bị thay đổi Tuy nhiên, nếu chấp nhận các khoản chi phí cao cho việc chuyển đổi cơ sở kế toán khu vực công từ cơ sở tiền sang cơ sở dồn tích hoàn toàn thì BCTC sẽ cung cấp thông tin hữu ích hơn
Theo Ouda (2004), việc thực hiện kế toán trên cơ sở dồn tích của khu vực công thành công sẽ giúp cải thiện báo cáo tài chính, cải thiện được việc đánh giá thực hiện, trình bày thông tin tình hình tài chính của chính phủ, quản lý tài sản và nợ tốt hơn Chuyển đổi BCTC khu vực công từ cơ sở tiền sang cơ sở dồn tích hoàn toàn sẽ tăng thông tin giải trình trách nhiệm của kế toán khu vực công
Janet Mack (2006), thực hiện việc nghiên cứu tại Úc với mục đích xác định mục đích BCTC cho mục đích chung của khu vực công Úc và sự hòa hợp giữa mục đích với nội dung của BCTC Nghiên cứu đã chỉ ra mục đích của người sử dụng BCTC không chỉ là mục đích ra quyết định mà còn sử dụng cho mục đích đánh giá trách nhiệm giải trình của đơn vị báo cáo Vì vậy, để thông tin BCTC cho mục đích chung cung cấp thông tin hữu ích thì BCTC phải bao gồm Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Bảng thuyết minh BCTC và Báo cáo kiểm toán BCTC
Yasuhiro Yamada (2007), tác giả cho rằng mục tiêu BCTC sẽ quyết định nội dung BCTC Yasuhiro Yamada đã dựa trên cơ sở so sánh với mục tiêu BCTC khu vực công của Nhật và Mỹ để phân tích và xác định rõ hơn mục tiêu BCTC khu vực công của Nhật BCTC khu vực công của Nhật và Mỹ đều đặt mục tiêu trách nhiệm giải trình
và cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra quyết định Tuy nhiên, với Mỹ đối tượng sử dụng thông tin BCTC khu vực công là công chúng rất được đề cao và nhu cầu sử dụng thông tin BCTC khu vực công của công chúng Mỹ rất cao cho việc đánh giá trách nhiệm giải trình của các cơ quan chính quyền địa phương Vì vậy, công chúng Mỹ là đối tượng quan trọng nhất trong việc cung cấp thông tin BCTC khu vực công Trong khi đó tại Nhật, người Nhật không có nhu cầu đòi hỏi cao về trách nhiệm giải trình của chính phủ Với họ việc nộp thuế là nghĩa vụ, dù có sử dụng dịch vụ công hay không họ vẫn phải nộp thuế Vì vậy, nhu cầu sử dụng thông tin BCTC của công chúng cho việc đánh giá trách nhiệm giải trình của chính phủ không cao như ở Mỹ BCTC khu vực công của Nhật coi trọng việc cung cấp thông tin cho việc ra quyết định của các cán bộ,
Trang 23lãnh đạo và các đối tượng có liên quan khác nhiều hơn là công chúng nên mục tiêu trách nhiệm giải trình trong BCTC của Nhật còn mờ nhạt mặc dù tất cả lãnh đạo cũng như người dân Nhật đều hiểu việc cung cấp thông tin giải trình trách nhiệm trên BCTC
là vấn đề quan trọng Yasuhiro Yamada cho rằng tại Nhật Bản cần đưa mục cung cấp thông tin đánh giá trách nhiệm giải trình là mục tiêu cơ bản của BCTC khu vực công của Nhật Bản trong giai đoạn sau này và cần có các giải pháp pháp lý mạnh mang tính bắt buộc để BCTC khu vực công của Nhật Bản cung cấp thông tin đánh giá trách nhiệm giải trình
Daniela Artemisa Calu và cộng sự (2008), các tác giả đã nghiên cứu sự khác biệt của kế toán khu vực công của Romania và IPSAS với mục đích đánh giá chất lượng thông tin trên BCTC của Romania Từ việc xem xét các qui định về kế toán cho tới các chỉ tiêu trên BCTC khu vực công, sau đó so sánh với IPSASs Trên quan điểm ủng hộ các qui định của IPSAS tác giả khẳng định BCTC khu vực công Romania chưa đáp ứng các yêu cầu của BCTC theo khuyến cáo IPSAS, vì vậy BCTC khu vực công Romania chưa cung cấp thông tin trung thực, hữu ích và cần tiếp tục thực hiện các cuộc cải cách kế toán khu vực công để thông tin trên BCTC đáp ứng được nhu cầu người sử dụng thông tin của khu vực công là ra quyết định và đánh giá trách trách nhiệm giải trình
Maria Kapadis và Colin Clark (2010), thực hiện việc nghiên cứu khảo sát tại cộng hòa Sip để xác định nhu cầu sử dụng thông tin trên BCTC khu vực công của người sử dụng Theo thống kế của Maria Kapadis và Colin Clark (2010), các thông tin cần cung cấp trên Báo cáo thường niên khu vực công gồm Báo cáo thu nhập và chi phí; Báo cáo tình hình tài sản và nợ phải trả; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Báo cáo về sự hòa hợp giữa dự toán ngân sách và tình hình thực hiện tài chính Các báo cáo cần lập trên cơ sở dồn tích và phải cung cấp được các thông tin về nguồn lực kinh tế của các đơn vị công, ảnh hưởng của các giao dịch, sự kiện, các hoạt động mà làm thay đổi nguồn lực kinh tế của đơn vị báo cáo như dòng tiền vào, dòng tiền ra, tình hình thực hiện tài chính, sự tuân thủ pháp luật liên quan kế toán, mục tiêu cần đạt được của đơn
vị báo cáo, các thông tin về tài chính, thông tin khác để đạt được mục tiêu hoạt động
và các nguồn lực cần thiết khác để hỗ trợ hoạt động của đơn vị
Colin Clark (2010), tác giả đã nghiên cứu và thực hiện khảo sát ở Úc để phủ định các quan điểm mục đích người sử dụng BCTC của khu vực công và khu vực tư là
Trang 24như nhau Vì vậy, chỉ cần xây dựng một khung khái niệm chung cho cả khu vực công
và khu vực tư Thông qua việc khảo sát tại Úc về thông tin cần sử dụng của người sử dụng BCTC khu vực công, tác giả đã chứng minh mục đích người sử dụng BCTC cho khu vực công và khu vực tư là khác nhau Khu vực công hướng đến trách nhiệm giải trình nhiều hơn sử dụng thông tin hữu ích để ra quyết định Vì vậy, việc sử dụng chung một khung lý thuyết kế toán cho cả hai khu vực là không hợp lý và qua đó tác giả cũng khẳng định mục đích BCTC theo IPSAS rất là hợp lý và Úc cần xây dựng khung lý thuyết kế toán khu vực công Úc theo mục đích sử dụng BCTC của IPSASs
Carmen Cretu và cộng sự (2011), từ việc nghiên cứu IPSASs và phân tích các nội dung thông tin trình bày trên BCTC khu vực công trên cơ sở dồn tích theo IPSASs, tác giả khẳng định việc lập và trình bày BCTC theo IPSASs bao gồm năm báo cáo Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động, báo cáo lưu chuyển tiền, báo cáo tình hình thay đổi vốn chủ sở hữu và Bảng thuyết minh BCTC thì chắc chắn thông tin cung cấp sẽ giá trị hơn, hữu ích hơn nhưng việc lập BCTC đáp ứng yêu cầu IPSASs cũng là thách thức và thể hiện đẳng cấp kế toán của tất cả các quốc gia vì cần có nhân sự có tay nghề chuyên môn cao, am hiểu về kế toán khu vực công và sự chấp nhận tốn kém chi phí thực hiện kế toán của chính phủ
Andrei-Răzvan Crişan (2014), bằng phương pháp định tính kết hợp phương pháp định lượng, tác giả thực hiện đo lường mức độ tương đồng giữa hai báo cáo thống kê tài chính chính phủ (GFS) và BCTC cho mục đích chung của chính phủ (GPFR) được lập trên cơ sở dồn tích theo IPSAS, qua đó tác giả thấy mức độ tương đồng của hai báo cáo là không quá cao chỉ 31.25% vì mục đích của hai báo cáo khác nhau Báo cáo GFS lập trên cơ sở tiền, phục vụ như hỗ trợ cho phân tích kinh tế vĩ mô
và thống kê trong khi báo cáo GPFR phục vụ như hỗ trợ cho việc thực hiện quyết định trong tổ chức khu vực công và trách nhiệm giải trình Chính vì mục đích hai báo cáo khác nhau, thông tin cung cấp khác nhau nên theo tác giả cần duy trì cả hai hệ thống báo cáo nhưng cần có sự tích hợp chung trong một phần mềm nhằm tiết kiệm chi phí
vì vẫn có 31,25% thông tin trùng nhau Quan điểm này chứng minh sự độc lập của hai báo cáo và xác định trong khu vực công cần tồn tại song song cả hai báo cáo
Bên cạnh các nghiên cứu chuyên sâu về BCTC khu vực công, các vấn đề khác liên quan kế toán khu vực công cũng được nghiên cứu tại nhiều quốc gia thế giới Tác giả sơ lược một số luận án tiến sỹ nghiên cứu về kế toán khu vực công như sau:
Trang 25Bảng 1.1: Bảng tóm tắt một số luận án Tiến sỹ nước ngoài nghiên cứu về kế toán
khu vực công
Tên tác giả
Năm phát hành
Tên công trình
Nơi thực hiện luận án Tiến Sỹ
Nội dung/Kết quả
Susan
M.Newberry 2002
New Zealand's Public Sector Financial Management System:
Financial Resourse Erosion in Government Departmentds
Luận án tiến
sĩ tại trường the
University of Canterbury
- Luận án nghiên cứu cách thức mà chính phủ thực hiện để đạt được mục tiêu
là sự công khai minh bạch
rõ ràng BCTC khu vực công giống như khu vực tư nhân Tác giả sử dụng kế toán khu vực công của New Zealand xem như là một mô hình lý thuyết lý tưởng về tính thống nhất
và gắn kết báo cáo tài chính khu vực công
Janet Mack 2003
An Investigation of The
Information Requirements
of Users of Australian Public Sector Financial Reports
Luận án tiến
sỹ của đại học Philosophy Australian University
- Mục đích của nghiên cứu
là để xác định các ứng dụng của mô hình ra
“quyết định hữu ích” cho khu vực công bằng cách thực nghiệm để xác định người sử dụng thông tin với mục đích gì trong báo cáo tài chính công và các yêu cầu thông tin của họ Luận án đưa ra kết quả của những thay đổi kế toán khu vực công được dự
Trang 26Tên tác giả
Năm phát hành
Tên công trình
Nơi thực hiện luận án Tiến Sỹ
Nội dung/Kết quả
kiến sẽ cung cấp thông tin linh hoạt hơn, hữu ích hơn
in Portugal in Comparative – International Perspective’
Luận án tiến
sĩ tại trường The
University of BirmingHam
- Tác giả xoay quanh việc
Bồ Đào Nha chuyển đổi
kế toán công trên cơ sở tiền sang cơ sở dồn tích Đây là một xu thế tất yếu
và phù hợp với thời đại, công cuộc chuyển đổi của
Bồ Đào Nha đã được tiến hành một cách triệt để trong hệ thống các cấp chính quyền từ năm 1999 Đến nay, thành quả đạt được là rất lớn, tuy nhiên vẫn còn một số điểm là chính phủ Bồ Đào Nha vẫn đang trong tiến trình hoàn thiện
Wise, Victoria
Consolidation accounting issues in the Australian public sector’
Luận án tiến
sĩ tại trường Victoria University of Technology
-Tác giả kiểm tra các vấn
đề xung quanh việc chuyển giao liên ngành của một lĩnh vực thực hành báo cáo tài chính trong khu vực công ở Úc Tác giả sử dụng lý thuyết tập trung phân quyền đã được lựa chọn vì nó phù
Trang 27Tên tác giả
Năm phát hành
Tên công trình
Nơi thực hiện luận án Tiến Sỹ
Nội dung/Kết quả
hợp với hệ thống phân cấp kiểm soát nguồn ngân sách trong khu vực công
- Tác giả xác định rõ ràng trách nhiệm của từng cơ quan đơn vị trong hệ thống hành chính sự nghiệp bởi
vì nó là một cơ sở hợp lý cho việc lập các báo cáo tài chính
Ali Rkein 2008
Accrual accounting and public sector reform:
Northern Territory experience
Luận án tiến
sĩ tại Charles Darwin University
Ali Rkein đã nghiên cứu
về cơ sở kế toán dồn tích, việc cải cách khu vực công và áp dụng kinh nghiệm của Northern Territory trong luận án tiến sĩ của mình Tác giả
đã nghiên cứu các vấn đề
có liên quan đến cơ sở kế toán dồn tích cùng với những ưu điểm, hạn chế của nó trong quá trình áp dụng để tiến đến cải cách
kế toán quốc gia
- Tác giả nghiên cứu kế toán trên cơ sở dồn tích để cung cấp thông tin đầy đủ
về chi phí, tính không
Trang 28Tên tác giả
Năm phát hành
Tên công trình
Nơi thực hiện luận án Tiến Sỹ
Nội dung/Kết quả
đồng nhất một số dịch vụ
- Nghiên cứu cho thấy rằng ngân sách dự chi đã không được sử dụng đúng cách và nó gây thất bại trong việc đạt được mục tiêu và Tác giả đưa ra những cải cách kế toán cho quốc gia thuộc lãnh thổ khu vực Bắc Úc
Mark
Christensen 2009
New South Wales Public Sector Accrual Accounting : Why did it happend and Has it mattered
Luận án tiến
sĩ của trường đại học The University of Adelaide
- Luận án xem xét lý do tại sao Chính phủ NSW đã quyết định thực hiện chuẩn mực kế toán công quốc tế trên cơ sở kế toán dồn tích và tác động của
sự thay đổi chế độ kế toán
ở Úc trong việc ra quyết định Tác động chính sách phát sinh từ dự án này là một mô hình mới - kế toán dồn tích là cần thiết nhưng phải chú ý rằng sự thay đổi kế toán cần phải được kết hợp với đặc điểm tổ chức các cấp chính quyền
Trang 29Tên tác giả
Năm phát hành
Tên công trình
Nơi thực hiện luận án Tiến Sỹ
Nội dung/Kết quả
Chan J.L 2010
Tác giả cho rằng việc các quốc gia thực hiện kế toán khu vực công theo IPSASs thì rất tốt và cần thiết nhưng việc tuân thủ IPSASs không cải thiện đáng kể hiệu quả quản lý nguồn lực công và cần phải quan tâm đến nguồn lực tạo điều kiện cho việc thực hiện kế toán theo IPSASs và hiệu quả đạt được
sở dồn tích sẽ giúp nâng cao chất lượng thông tin trên BCTC, BCTC đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra quyết định và giải trình trách nhiệm Việc chuyển đổi kế toán khu vực công từ cơ sở tiền sang cơ sở dồn tích là cần thiết cho các quốc gia nhưng sẽ có các yếu tố cản trở việc chuyển đổi cơ sở kế toán làm quá trình chuyển đổi cơ sở kế toán không thành công Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu các yếu tố tác động chuyển đổi kế toán khu vực công sang cơ sở dồn tích như Lüder (1992); Ouda (2004,2008); Chan J.L (2005); Phetphrairin Upping và Judy
Trang 30Olive (2011); Harun Harun và Haryono Kamase (2012); Cristina Silvia Nistora và cộng sự (2013)
Lüder Klaus (1992), dựa trên việc nghiên cứu so sánh kế toán khu vực công của các các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Canada, Đan Mạch, Thụy Điển, Đức, Pháp,
và một vài vùng thuộc Vương quốc Anh và Cộng đồng châu Âu Luder (1992) đã cho rằng có 4 nhóm nhân tố tác động đến sự đổi mới kế toán khu vực công nhằm cung cấp thông tin trung thực, hữu ích, đáng tin cậy về tài chính khu vực công, và nó cung cấp một cơ sở cho việc cải thiện kiểm soát tài chính của các hoạt động của chính phủ, dựa trên cơ sở kế toán dồn tích Các nhóm nhân tố bao gồm: (1) Sự kích thích đổi mới, (2)
sự biến đổi cấu trúc xã hội của người sử dụng thông tin, (3) cấu trúc của hệ thống chính trị - hành chính, và (4) các rào cản thực hiện
Nhóm nhân tố kích thích sự đổi mới bao gồm các nhân tố: Áp lực tài chính, bê bối tài chính, thị trường vốn, cơ quan ban hành chuẩn mực Theo Luder các áp lực về tài chính như nợ công, lãi suất, toàn cầu hóa và các vụ bê bối tài chính trong khu vực công như sự gian lận và sai sót, tham nhũng trong quản lý tài chính gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi chung của công chúng, chính việc bê bối tài chính sẽ dẫn đến áp lực tài chính, khủng hoảng tài chính và điều này sẽ thúc đẩy nhu cầu sử dụng thông tin trung thực, hữu ích để đo lường các yếu tố tài chính và ra quyết định của người sử dụng thông tin và từ đó tạo động lực thúc đẩy kế toán đổi mới để cung cấp thông tin hữu ích hơn Thị trường vốn trong khu vực công cũng sẽ là nguồn kích thích
sự thay đổi thông tin kế toán khu vực công Chẳng hạn như việc phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trường quốc tế để tăng mức hấp dẫn của trái phiếu đòi hỏi chính phủ phải cung cấp thông tin về tình hình tài chính quốc gia trung thực, hữu ích và được sự thừa nhận của thế giới Cơ quan ban hành chuẩn mực kế toán độc lập và lớn mạnh sẽ giới thiệu những chuẩn mực, nguyên tắc kế toán mới hơn, phù hợp hơn nhằm cung cấp thông tin hữu ích, trung thực và đây cũng là tác nhân kích thích sự đổi mới kế toán khu vực công
Nhóm nhân tố cấu trúc xã hội bao gồm các nhân tố: Sự biến đổi trạng thái kinh
tế xã hội và văn hóa chính trị Sự biến đổi trạng thái kinh tế xã hội như thu nhập người dân, trình độ văn hóa, giáo dục của người dân có liên quan đến thái độ về nghĩa vụ thuế của họ và dịch vụ công họ nhận được đồng thời liên quan đến nhận thức của người dân về mức độ trung thực, hữu ích của các thông tin chi tiết của kế toán Vì vậy,
Trang 31sự biến đổi trạng thái kinh tế xã hội sẽ sẽ thúc đẩy việc đổi mới kế toán khu vực công Văn hóa chính trị được hiểu là các hành vi chính trị Văn hóa chính trị được xác định bởi mức độ của sự tham gia rộng rãi của công dân vào quá trình ra quyết định khu vực công Vai trò của người dân trong việc ra quyết định công cộng càng cao thì mong đợi của họ về sự trung thực, hữu ích của thông tin kế toán càng cao và qua đó thúc đẩy đổi mới kế toán
Nhóm cấu trúc của hệ thống chính trị - hành chính bao gồm các nhân tố: Tuyển dụng và đào tạo, văn hóa hành chính, cạnh tranh chính trị Tuyển dụng và đào tạo đặc biệt là đào tạo về kế toán trong khu vực công sẽ liên quan đến việc sẵn sàng đổi mới hệ thống kế toán và có khả năng thực hiện việc đổi mới của đội ngũ chuyên viên, chuyên gia đang làm việc tại khu vực công Văn hóa hành chính là một phần của văn hóa chính trị, trong phạm vi văn hóa chính trị cởi mở và khuyến khích sự tham gia của mọi người, văn hóa hành chính cũng vậy, sẽ cởi mở và khuyến khích sự tham gia của mọi người vào việc đổi mới kế toán Văn hóa hành chính được thực hiện trên cơ sở thái độ của nhân viên hành chính, sự cởi mở và tham gia phổ biến chính sách công trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và chính họ có thái độ tích cực đối với các đổi mới thông tin trên hệ thống kế toán khu vực công và qua đó việc đổi mới kế toán được thực hiện thuận lợi hơn Cạnh tranh chính trị được hiểu ở hai khía cạnh là cạnh tranh trong bầu
cử và cạnh tranh giữa những đối tượng sử dụng thông tin để ra quyết định như cơ quan lập pháp, cử tri và cơ quan cung cấp thông tin Theo Luder mức độ cạnh tranh chính trị càng cao càng tạo ra một sức ép và sự nổ lực sẵn sàng cung cấp thông tin trên hệ thống
kế toán nhiều hơn và làm cho BCTC hữu ích hơn
Nhóm nhân tố rào cản thực hiện bao gồm các nhân tố: Đặc điểm tổ chức, hệ thống pháp lý, trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán, độ lớn của các đơn vị công Theo tác giả, đặc điểm tổ chức nếu việc phân quyền trách nhiệm cho các tổ chức thực hiện kế toán trong khu vực công cao sẽ tiềm ẩn nguy cơ tạo ra sự không đồng nhất trong kế toán và đó chính là rào cản cho việc đổi mới kế toán khu vực công theo cơ sở dồn tích Hệ thống pháp lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ linh hoạt của hệ thống
kế toán khu vực công Các quốc gia có hệ thống pháp lý kém linh hoạt sẽ khó đổi mới
hệ thống kế toán Như đã trình bày ở phần trên, trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán sẽ ảnh hưởng đến việc đổi mới chế độ kế toán Việc thiếu kiến thức chuyên môn
và kỹ năng trong kế toán sẽ là rào cản mà không thể khắc phục trong thời gian ngắn và
Trang 32mọi nổ lực để truyền bá, áp dụng hệ thống kế toán mới trở nên vô nghĩa Độ lớn của các đơn vị công được cho là các quốc gia ít dân số, có các cơ quan chính quyền, đơn vị thuộc khu vực công ít về số lượng và nhỏ về qui mô thì sẽ dễ đổi mới kế toán hơn các quốc gia rộng lớn có nhiều cơ quan chính quyền, nhiều đơn vị công và qui mô các đơn
vị thuộc khu vực công lớn
Ouda Hassan (2004) tiếp tục phát triển nghiên cứu của Luder, qua việc nghiên cứu kinh nghiệm thực hiện thành công kế toán khu vực công trên cơ sở dồn tích ở New Zealand, Anh và Úc, tác giả đã xây dựng mô hình các nhân tố dẫn đến sự thành công của việc thực hiện đổi mới kế toán trên cơ sở dồn tích ở các nước phát triển và các nước đang phát triển Theo Ouda, việc thực hiện kế toán trên cơ sở dồn tích của khu vực công thành công sẽ giúp cải thiện báo cáo tài chính, cải thiện được việc đánh giá thực hiện, trình bày thông tin tình hình tài chính của chính phủ, quản lý tài sản và nợ tốt hơn Theo đó mô hình các nhân tố giúp thực hiện thành công kế toán dồn tích ở các nước phát triển như sau:
AC (ps) = f (MC + PBS + PAS + CS + WC + CC + BAC + SAI + ITC)
- PAS Hỗ trợ chuyên nghiệp và học thuật trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán
- CS: Chiến lược truyền thông bao gồm sách, tạp chí, hội nghị, hội thảo
- WC: Sẵn sàng để thay đổi
- CC: Tư vấn và phối hợp với các cơ quan chính quyền để áp dụng kế toán dồn tích
- BAC: Ngân sách và các chi phí cập nhật kế toán theo thông lệ quốc tế
- SAI: Thực hiện các vấn đề kế toán cụ thể như xác định và định giá tài sản, tài sản,
sổ đăng ký, tổ chức báo cáo
- ITC: Khả năng công nghệ thông tin
Quản lý sự thay đổi (MC): Là những thay đổi quan trọng trong quản lý để có thể thực hiện kế toán dồn tích trong khu vực công và thực hiện đầy đủ những mục tiêu lợi ích mong muốn Nói cách khác là xác định chấp nhận sự thay đổi đến mức nào để đạt
Trang 33được mục tiêu mong muốn Nhà quản lý phải đối mặt và kiểm soát được các sự thay đổi phát sinh trong quá trình đổi mới kế toán như quản lý dựa trên đầu vào thay cho đầu ra, thay đổi phần mềm kế toán, thay đổi phương pháp ghi nhận, đánh giá, đo lường… Quản lý sự thay đổi càng tốt sẽ giúp cho việc đổi mới kế toán càng dễ thành công
Sự hỗ trợ chính trị (PBS): Hỗ trợ chính trị là vấn đề rất quan trọng để việc đổi mới kế toán khu vực công thành công Hỗ trợ chính trị bao gồm sự hỗ trợ của cả cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp Cơ quan lập pháp có trách nhiệm giám sát các hoạt động của cơ quan hành pháp, phê duyệt ngân sách, duy trì khả năng tài chính của chính phủ v.v…và có trách nhiệm ban hành văn bản pháp luật mới thay đổi văn bản pháp luật hiện tại để các cơ quan hành pháp thực hiện Những hoạt động này của cơ quan lập pháp thì rất cần thiết cho sự hoàn thành cải cách kế toán khu vực công trên cơ
sở dồn tích Cơ quan hành pháp chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, báo cáo kết quả cho cơ quan lập pháp, vì là đơn vị tổ chức thực hiện, điều khiển mọi hoạt động đổi mới
kế toán nên sự hỗ trợ chính trị của cơ quan hành pháp càng cao càng giúp cho quá trình cải cách kế toán thành công Tóm lại, để thực hiện kế toán dồn tích cho khu vực công sự hỗ trợ chính trị là nhân tố quan trọng đầu tiên và cần thiết nhất, không thể thực hiện cải cách kế toán thành công nếu cơ quan lập pháp và hành pháp quan liêu, không muốn đổi mới
Hỗ trợ chuyên nghiệp và học thuật trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán (PAS): Nhân tố này đề cập đến trình độ chuyên môn và sự chuyên nghiệp của chuyên gia trong lĩnh vực kế toán để có thể giới thiệu kế toán dồn tích trong khu vực công vào quốc gia Trình độ chuyên môn và sự chuyên nghiệp của nhân viên, chuyên viên trong lĩnh vực kế toán cần được hỗ trợ từ hai phía bên ngoài dưới sự tài trợ của các tổ chức quốc tế và bên trong nội bộ Nghiên cứu kinh nghiệm của những nước phát triển, Ouda nhận thấy các quốc gia thực hiện kế toán dồn tích cho khu vực công là những quốc gia
có hội nghề nghiệp phát triển mạnh, có uy tín và mục tiêu báo cáo tài chính được xác định rõ ràng Chính hội nghề nghiệp là những cơ quan đầu tiên đưa ra yêu cầu đổi mới
kế toán để đạt được mục tiêu BCTC và chủ trì về chuyên môn xuyên suốt quá trình đổi mới kế toán Đối với những quốc gia vận dụng IPSAS thì ngoài trình độ chuyên môn trong nội bộ cần có sự hỗ trợ chuyên môn tốt từ các tổ chức quốc tế, quốc gia phát triển đã áp dụng kế toán trên cơ sở dồn tích thành công
Trang 34Chiến lược truyền thông (CS): Chiến lược truyền thông là nhân tố rất quan trọng cho việc cải cách kế toán thành công Việc xây dựng một hệ thống kế toán dồn tích cho khu vực công ban đầu sẽ gây ra sự phản kháng đối lập, không đồng ý của nhiều người vì sẽ phát sinh thêm việc và ảnh hưởng lợi ích của một số đối tượng vì thông tin tài chính minh bạch hơn Vì vậy, cần có chiến lược truyền thông tốt trên nhiều phương tiện như sách, báo, hội thảo, phương tiện nghe nhìn… để tuyên truyền, giải thích sự cần thiết và những kết quả đạt được khi thực hiện kế toán dồn tích nhằm kết nối mọi người cùng ủng hộ và nghiêm túc thực hiện cuộc cải cách kế toán
Sẵng sàng để thay đổi (WC): Ngoài các nhân tố quản lý sự thay đổi, hỗ trợ chính trị, hỗ trợ học thuật và chuyên nghiệp, chiến lược truyền thông, sự sẵn sàng thay đổi thì cần thiết cho quá trình cải cách kế toán Các vấn đề cần chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc thay đổi như đào tạo, nâng cao trình độ nhân viên, tạo động lực, thúc đẩy nâng cao ý chí của nhân viên sẵn sàng cho cuộc cải cách, giải quyết các áp lực trái chiều của phe đối lập trong cuộc cải cách … cần được chuẩn bị tốt để việc cải cách kế toán thành công
Tư vấn và phối hợp với các cơ quan chính quyền để áp dụng kế toán dồn tích (CC): Theo một trình tự hợp lý, bước đầu tiên triển khai thực hiện kế toán dồn tích trong khu vực công là tư vấn và phối hợp với các cơ quan chính quyền địa phương và đơn vị công để tham khảo ý kiến, lắng nghe các ý kiến đóng góp từ các đơn vị, các rào cản của các đơn vị khi thực hiện kế toán dồn tích và phương hướng sẽ xử lý của họ Các đơn vị thuộc khu vực công là nguồn lực chính trong cuộc đổi mới kế toán vì vậy cần tư vấn, lắng nghe ý kiến và phối hợp với họ để giải quyết và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình cải cách kế toán
Ngân sách và các chi phí (BAC): Theo tác giả, thực tế cho thấy nhiều quốc gia thất bại khi thực hiện cải cách kế toán khu vực công theo cơ sở dồn tích do thiếu kinh phí phải ngừng chương trình giữa chừng Chi phí thực hiện cho một cuộc cải cách chắc chắn không thể nhỏ, do đó các quốc gia trước khi thực hiện cuộc cải cách cần tính toán, ước tính chi phí xuyên suốt cho toàn bộ cuộc cải cách và hoạch định nguồn ngân sách sẵn sàng phục vụ cho việc cải cách kế toán
Thực hiện các vấn đề kế toán cụ thể (SAI): Các vấn đề kế toán cụ thể cần được chuẩn bị thực hiện trước khi thực hiện cải cách kế toán trên cơ sở dồn tích như xác định tài sản của các đơn vị thuộc khu vực công, định giá lại tài sản, tổ chức đăng ký tài
Trang 35sản, tổ chức báo cáo tài sản hiện có v.v Nếu các vấn đề này được chuẩn bị trước một cách chu đáo thì việc cải cách kế toán diễn ra thuận lợi và nhanh chóng hơn
Khả năng công nghệ thông tin (ITC): Quá trình cải cách kế toán theo cơ sở dồn tích đòi hỏi tăng cường sử dụng hệ thống thông tin máy tính, các phần mềm và các đường truyền kết nối dữ liệu tốt Để thực hiện kế toán trên cơ sở dồn tích các quốc gia
có hai lựa chọn cho sự phát triển công nghệ thông tin để thực hiện kế toán trên cơ sở dồn tích là phát triển hệ thống cũ và sử dụng một hệ thống hoàn toàn mới Đối với các nước đang phát triển, đi sau trong quá trình cải cách thì lựa chọn thứ hai là phù hợp hơn
Ouda (2004) cũng mở rộng vấn đề bàn luận sang các nước đang phát triển, theo Ouda các nước đang phát triển sẽ khó thực hiện kế toán trên cơ sở dồn tích cho khu vực công hơn các nước phát triển vì các nước đang phát triển phải đối mặt với các vấn
đề sự thâm nhập ngày càng lớn mạnh của gian lận và tham nhũng vào mọi giao dịch của khu vực công, sự thống trị của hệ thống chính trị phi dân chủ kìm hãm sự đổi mới, thiếu nhân sự có trình độ chuyên môn, thiếu kỹ năng của con người, thiếu kỹ thuật, phương tiện, thiếu tài chính, thiếu khả năng thiết lập các chuẩn mực kế toán, người dân thiếu ý thức về sự đòi hỏi quyền sử dụng thông tin nên không tạo áp lực để chính phủ cải cách việc cung cấp thông tin kế toán khu vực công Ngoài ra các nước đang phát triển còn đối mặt với các vấn đề về quản lý kinh tế như: Tỷ lệ lạm phát cao, ổn định tiền tệ, nặng nợ nần và thâm hụt chi tiêu quốc gia, kiểm soát nội bộ yếu kém, thiếu quản lý trong khu vực công… những vấn đề này cũng là rào cản khiến cho các nước đang phát triển chậm cải cách kế toán khu vực công Vì vậy, theo tác giả, các nước đang phát triển muốn cải cách kế toán trên cơ sở dồn tích thành công cần phải có sự can thiệp và tài trợ mạnh của các tổ chức quốc tế trên nhiều phương diện đặc biệt là phương diện tài chính Vì vậy, tác giả đưa ra mô hình các nhân tố giúp các nước đang phát triển thực hiện cải cách kế toán trên cơ sở dồn thành công như sau:
AC (ps) = f (MC + PBS + PAS + CS + WC + CC + BAC + SAI + + ITC + IFS)
Trong đó: IFS là sự tài trợ tài chính của quốc tế Các nhân tố còn lại giống như mô
hình của các nước phát triển
Sau đó vào năm 2008, Ouda Hassan trong báo cáo nghiên cứu khoa học “Rào cản của quá trình chuyển đổi kế toán dồn tích trong khu vực công của các nước phát triển và đang phát triển” bằng việc sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng Ouda
Trang 36đã kiểm định các nhân tố rào cản của quá trình chuyển đổi kế toán trên cơ sở dồn tích tại các nước phát triển và nước đang phát triển, các nhân tố bao gồm: Các rào cản pháp
lý, thiếu chuẩn mực kế toán, văn hóa quản lý khu vực công quan liêu, các vấn đề kế toán cụ thể, các yếu tố chính trị, rào cản truyền thông, nguyên tắc kế toán dồn tích trong khu vực công, sự phổ biến, hướng dẫn kế toán dồn tích, đặc điểm nhân sự, đặc điểm tổ chức, nguồn tài chính, yếu tố kinh tế (lạm phát), ảnh hưởng của ngân sách truyền thống, mất động lực lợi nhuận Các nhân tố này được khảo sát thực nghiệm tại
Hà Lan, đại diện các nước phát triển và Ai Cập, đại diện các nước đang phát triển Kết quả nghiên cứu như sau:
Tại Hà Lan: Dựa trên kết quả kiểm định, tác giả chia các nhân tố thành bốn nhóm
Nhóm 1: Nhóm này bao gồm tất cả các yếu tố tác động đáng kể vào việc chuyển đổi kế toán sang dồn tích ở Hà Lan Nhóm này gồm năm yếu tố tác động sâu sắc được sắp xếp theo thứ tự lần lượt là: Các yếu tố chính trị, các vần đề kế toán cụ thể, rào cản truyền thông, nguyên tắc kế toán dồn tích và văn hóa quản lý quan liêu sẽ tác động sâu sắc đến việc chuyển đổi kế toán dồn tích trong chính quyền Hà Lan Đặc biệt nhân tố chính trị xếp hạng cao nhất, việc thiếu cam kết chính trị, thiếu sự lãnh đạo của Bộ tài chính trong việc cải cách kế toán sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công của việc chuyển đổi kế toán sang dồn tích
Nhóm 2 Nhóm ảnh hưởng rất quan trọng, nhóm này bao gồm hai nhân tố rào cản pháp lý và sự thiếu chuẩn mực kế toán
Nhóm 3 Nhóm ảnh hưởng quan trọng bao gồm ba nhân tố là sự phổ biến kế toán dồn tích, đặc điểm nhân sự và đặc điểm tổ chức
Nhóm 4: Nhóm ảnh hưởng không đáng kể Nhóm này bao gồm tất cả các yếu tố tác động không đáng kể trong việc chuyển đổi kế toán dồn tích của Hà Lan và theo đó các nhân tố này sẽ được xóa đi, không cần quan tâm tới khi nghiên cứu các nhân tố tác động chuyển đổi kế toán dồn tích ở các nước phát triển Nhóm này gồm bốn nhân
tố nguồn tài chính, yếu tố kinh tế, ảnh hưởng của ngân sách truyền thống, thiếu động
cơ lợi nhuận
Tại Ai cập: Dựa trên kết quả kiểm định tác giả tác giả cũng chia các nhân tố tác động thành bốm nhóm như sau:
Nhóm 1: Nhóm này bao gồm tất cả các yếu tố tác động đáng kể vào việc chuyển đổi kế toán sang dồn tích ở Ai Cập Nhóm này gồm các yếu tố tác động sâu sắc
Trang 37được sắp xếp theo thứ tự lần lượt là: Thiếu chuẩn mực kế toán, văn hóa quản lý quan liêu, các rào cản pháp lý và yếu tố chính trị
Nhóm 2: Nhóm ảnh hưởng rất quan trọng, nhóm này bao gồm năm nhân tố: Rào cản truyền thông, các vấn đề kế toán cụ thể, nguồn tài chính, đặc điểm tổ chức, nguyên tắc kế dồn tích
Nhóm 3: Nhóm ảnh hưởng quan trọng bao gồm hai nhân tố là sự phổ biến kế toán dồn tích và đặc điểm nhân sự
Nhóm 4: Nhóm ảnh hưởng không đáng kể Nhóm này bao gồm tất cả các yếu tố tác động không đáng kể trong việc chuyển đổi kế toán dồn tích của Ai Cập và theo đó các nhân tố này sẽ được xóa đi, không cần quan tâm tới khi nghiên cứu các nhân tố tác động chuyển đổi kế toán dồn tích ở các nước đang phát triển Nhóm này gồm ba nhân tố yếu tố kinh tế (lạm phát), ảnh hưởng của ngân sách truyền thống, thiếu động
cơ lợi nhuận
Chan J.L (2005), đã có cuộc khảo sát cải cách kế toán khu vực công của chính phủ các nước đang phát triển, đồng thời phân tích kế toán trên cơ sở dồn tích tuân thủ theo IPSASs rất có ích cho quốc gia đang phát triển về mặt phát triển xã hội và lợi ích kinh tế Tuy nhiên, tác giả đưa ra các “rào cản” để các nước đang phát triển hạn chế phát triển hệ thống kế toán khu vực công trên cơ sở dồn tích như hệ thống chính trị thiếu sự dân chủ, ý chí đổi mới không cao của nhà cầm quyền và sự thiếu khả năng của các nước đang phát triển bao gồm cả khả năng về tài chính và khả năng về mặt kỹ thuật Tác giả cũng phân tích việc không sẵn lòng đổi mới hệ thống kế toán nhằm cung cấp thông tin minh bạch của các nhà cầm quyền mà động cơ chính là vấn nạn tham nhũng tại các nước đang phát triển, ngay cả những nước đang có nền dân chủ cao và
hệ thống kiểm soát nội bộ tốt Bên cạnh đó, việc thiếu nhân lực chất lượng cao và tốn kém nhiều chi phí tổ chức cho việc tổ chức kế toán theo IPSAS làm kế toán khu vực công ở các nước này khó lòng phát triển nhưng tác giả khẳng định việc tuân thủ IPSAS tạo ra nhiều giá trị về mặt xã hội và lợi ích kinh tế cho các nước đang phát triển như tuân thủ IPSAS sẽ là tăng trách nhiệm giải trình của chính phủ hạn chế thất thoát tài sản công, tăng sự dân chủ, hạn chế tham nhũng đồng thời nhận được tài trợ của quốc tế trong việc xóa đói giảm nghèo và phát triển đất nước Vì vậy, tác giả ủng hộ các nước đang phát triển thực hiện kế toán khu vực công tuân thủ IPSAS đồng thời khuyến nghị
Trang 38các tổ chức chức quốc tế, Liên hiệp quốc chỉ tài trợ cho các nước đang phát triển đã tuân thủ IPSAS và không có tham nhũng
Phetphrairin Upping và Judy Olive (2011), trên cơ sở tiếp tục phát triển các nghiên cứu trước đã nghiên cứu về mô hình chuyển đổi kế toán khu vực công tại các nước đang phát triển và được kiểm chứng tại các trường công lập tại Thái Lan Theo tác giả, có bốn nhân tố chính tác động vào sự thay đổi là các nhân tố tác động hỗ trợ cho sự thay đổi, các nhân tố tác động cản trở sự thay đổi, các áp lực bên trong cho sự thay đổi, các áp lực bên ngoài cho sự thay đổi Các nhân tố tác động hỗ trợ cho sự thay đổi được thực hiện bởi các hoạt động hỗ trợ tích cực của nhà quảng bá cải tiến cho sự thay đổi, các nhà chịu trách nhiệm thực hiện sự thay đổi, các nhà truyền thông của sự thay đổi Các nhân tố tác động cản trở sự thay đổi bao gồm các nhân tố thuộc
về văn hóa, chính trị, pháp luật, giáo dục, sự biến dạng các hình thức tài trợ được thực hiện bởi các đối tượng từ chối sự thay đổi, làm thất bại sự thay đổi, làm chậm trễ sự thay đổi và các nhân tố cản trở sự thay đổi Các áp lực bên trong của sự thay đổi được thực hiện bởi những người sử dụng thông tin bên trong như các biến cố từ nội bộ để tạo sự thay đổi, nhân tố thuộc về thể chế, các hoạt động của đối tượng thực hiện sự thay đổi Các áp lực bên ngoài của sự thay đổi được thực hiện bởi những người sử dụng thông tin bên ngoài như các biến cố tác động từ bên ngoài để tạo sự thay đổi, nhân tố thuộc về môi trường, các hoạt động của đối tượng quảng bá sự thay đổi
Harun Harun và Haryono Kamase (2012), đã thực hiện nghiên cứu tại Malaysia, một quốc gia đang phát triển trong khu vực Đông Nam Á, nhóm tác giả này đã cho rằng năng lực thể chế thấp của khu vực công là trở ngại chính cho các quốc gia đang phát triển trong việc theo đuổi cải cách hệ thống kế toán Trong khu vực công, năng lực thể chế có thể được định nghĩa là khả năng của tổ chức để xác định vấn đề, phát triển và đánh giá chính sách lựa chọn thay thế, và để vận hành các chương trình của chính phủ Năng lực thể chế thấp đã khiến các quốc gia đang phát triển rơi vào tình huống thủ tục quan liêu, làm việc không hiệu quả, và thông tin thiếu minh bạch… Bên cạnh đó, sự tham nhũng làm cản trở việc cung cấp thông tin kế toán minh bạch và làm cho hệ thống kế toán khu vực công chậm đổi mới Ngoài ra, sự hạn chế quyền hành của công chúng trong việc tham gia vào chính sách khu vực công, sự hạn chế quyền của công chúng trong việc xây dựng chuẩn mực kế toán và sử dụng BCTC cũng làm ảnh hưởng đến việc cung cấp thông tin kế toán minh bạch Bộ tài chính Malaysia cho
Trang 39rằng có bốn lý do làm chậm việc cải cách kế toán Malaysia theo cơ sở dồn tích đó là: (1) Thiếu nguồn nhân lực có tay nghề cao, đặc biệt là trong lĩnh vực kế toán (2) Quan chức cấp cao trong Chính phủ đã quen thuộc với hệ thống kế toán tiền và cho rằng hệ thống kế toán tiền như cũ là đủ để đối phó với yêu cầu của quy định hiện hành.(3) Thiếu sự hỗ trợ chính trị (4) Không có chuẩn mực kế toán mà có thể được sử dụng như một công cụ thống nhất cho việc ghi nhận các giao dịch và tiêu chuẩn của các BCTC khu vực công
Cristina Silvia Nistora và cộng sự (2013), sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, dựa trên nền tảng nghiên cứu của Zhang (2005) kết hợp với việc hệ thống hóa các nghiên cứu của Mueller (1967), Choi và Mueller (1984), Nobes (1984), Gray (1988), Radebaugh, Gray (1997) tác giả đã thực hiện việc nghiên cứu ở Romania và cho rằng sự phát triển kế toán khu vực công chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các nhân tố môi trường (1) Môi trường chính trị, (2) Môi trường pháp lý, (3) Môi trường kinh tế, (4) Môi trường giáo dục, (5) Môi trường văn hóa xã hội, (6) Môi trường nghề nghiệp Bên cạnh đó nghiên cứu còn khẳng định các nhân tố này không chỉ tác động đến sự phát triển kế toán khu vực công Romania mà các nước mới nổi, đang phát triển khác trên thế giới cũng giống Romania chịu ảnh hưởng và tác động động qua lại của sáu nhân tố trên trong việc phát triển kế toán khu vực công
Nghiên cứu của Cristina Silvia Nistora và cộng sự (2013) về ảnh hưởng của các nhân tố môi trường tới sự phát triển kế toán khu vực công của Romani rất phù hợp với
đề tài luận án Luận án nghiên cứu hoàn thiện BCTC khu vực công để BCTC khu vực công cung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng nhưng BCTC không thể cung cấp thông tin hữu ích khi mà hệ thống kế toán kém phát triển, lạc hậu, không theo kịp với
sự thay đổi nhu cầu sử dụng thông tin của ngưởi sử dụng thông tin BCTC Vì vậy, để hoàn thiện BCTC khu vực công cần xác định rõ các nhân tố ảnh hưởng đến việc cải cách, phát triển kế toán khu vực công và tác động vào các nhân tố này theo hướng tích cực để kế toán khu vực công có thể cải cách, phát triển qua đó BCTC khu vực công mới có thể cung cấp thông tin trung thực hữu ích, đáp ứng được nhu cầu sử dụng thông tin của người sử dụng BCTC Hơn nữa, nghiên cứu của Cristina Silvia Nistora
và cộng sự (2013) rất phù hợp với Việt Nam – quốc gia đang phát triển trong khu vực bởi vì nghiên cứu này được thực hiện tại Romania cũng là quốc gia đang phát triển và thực hiện dựa trên nghiên cứu của Zhang (2005) về các nhân tố ảnh hưởng đến sự cải
Trang 40cách kế toán tài chính Trung Quốc (quốc gia có nhiều đặc điểm môi trường tương đồng với Việt Nam) Tuy rằng nghiên cứu của Zhang (2005) giải quyết các vấn đề liên quan đến sự phát triển của hệ thống kế toán tài chính thuộc khu vực tư nhưng suy cho cùng sự phát triển hệ thống kế toán khu vực công hay khu vực tư đều như nhau, tất cả cùng hướng đến việc tạo ra hệ thống thông tin đầu ra có tính hữu ích cao, đáp ứng nhu cầu của người sử dụng và được sự thừa nhận rộng rãi của các quốc gia, tổ chức kinh tế lớn trên thế giới nên nghiên cứ của Zhang (2005) cũng phù hợp với nghiên cứu về cải cách, phát triển kế toán khu vực công Việt Nam Tuy nhiên, Zhang (2005) đã hệ thống hóa các nghiên cứu trên thế giới về cải cách kế toán tài chính và xác định có sáu nhân
tố tác động đến việc cải cách, phát triển kế toán tài chính Trung Quốc bao gồm: Môi trường Pháp lý, Chính trị, Kinh tế, Văn hóa, Giáo dục, Quốc tế trong khi nghiên cứu của Cristina Silvia Nistora và cộng sự (2013) thì không có nhân tố môi trường quốc tế Bên cạnh đó, các nghiên cứu của Ouda (2004, 2008) chỉ rõ nhân tố môi trường quốc tế ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc cải cách kế toán khu vực công của một quốc gia, đặc
biệt là các quốc gia đang phát triển Vì vậy, tác giả sẽ kết hợp nghiên cứu của Cristina Silvia Nistora và cộng sự (2013) và nghiên cứu của Ouda (2004, 2008) để
làm nền tảng xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc cải cách kế toán khu vực công Việt Nam
1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
Theo nghiên cứu của tác giả, trước đây tại Việt Nam, chuẩn mực kế toán công quốc tế còn xa lạ với người làm kế toán Hầu hết những người làm kế toán và những nhà nghiên cứu kế toán Việt Nam ít chú trọng đến mảng kế toán khu vực công mà lại
có rất nhiều công trình nghiên cứu về kế toán lĩnh vực tư Mặc dù ở giai đoạn này vẫn
có một số các công trình nghiên cứu khoa học, bài báo khoa học chỉ ra sự không phù hợp của chế độ kế toán tại các đơn vị có liên quan đến ngân sách nhà nước và đưa ra các giải pháp khắc phục nhưng việc đề cập đến chuẩn mực kế toán công quốc tế là rất hiếm hầu như không có Bắt đầu năm 2006 trở lại đây, cùng với sự phát triển rộng rãi của chuẩn mực kế toán công quốc tế do IPSASB biên soạn cộng với việc Bộ tài chính Việt Nam ban hành bản dịch tiếng Việt “Hệ thống chuẩn mực kế toán công quốc tế” và
tổ chức các hội thảo về xây dựng chuẩn mực kế toán công cho Việt Nam đã thúc đẩy người làm kế toán và các chuyên gia nghiên cứu kế toán chú ý đến những cải cách, biến chuyển trên thế giới về kế toán khu vực công mà hiện nay chế độ kế toán khu vực