HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINHPHẠM HUY THÀNH giáo dục giá trị đạo đức truyền thống với việc hình thành và phát triển nhân cách cho sinh viên khu vực tây nguyên trong bối cảnh to
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
PHẠM HUY THÀNH
giáo dục giá trị đạo đức truyền thống với việc hình thành và phát triển nhân
cách cho sinh viên khu vực tây nguyên trong
bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
Chuyờn ngành : CNDVBC&CNDVLS
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:1 PGS.TS TRẦN SỸ PHÁN
2 PGS.TS Lấ THỊ THỦY
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu sử dụng trong luận án là trung thực,
có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận
án chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình khoa học nào.
Tác giả luận án
Phạm Huy Thành
Trang 3của đồng bào dân tộc Tây Nguyên nói chung và thanh niên - sinh viên
Chương 2: N HÂN CÁCH, NHÂN CÁCH SINH VIÊN, TẦM QUAN TRỌNG VÀ
NỘI DUNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG NHẰM HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH SINH VIÊN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY 29 2.1 Nhân cách, nhân cách sinh viên Việt Nam 29 2.2 Toàn cầu hóa và tầm quan trọng của giáo dục giá trị đạo đức truyền
thống nhằm hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam
2.3 Giá trị đạo đức truyền thống và một số giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc cần phải giáo dục cho sinh viên Việt Nam hiện nay 56
Chương 3: GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG NHẰM HÌNH
THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CHO SINH VIÊN KHU VỰC TÂY NGUYÊN TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 78 3.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến giáo dục giá trị đạo đức truyền thống
nhằm hình thành và phát triển nhân cách sinh viên ở khu vực Tây Nguyên trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay 78 3.2 Thực trạng giáo dục giá trị đạo đức truyền thống nhằm hình thành và
phát triển nhân cách sinh viên ở khu vực Tây Nguyên trong bối cảnh
3.3 Những vấn đề đặt ra đối với việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống
nhằm hình thành và phát triển nhân cách sinh viên ở khu vực Tây Nguyên trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay 116
Chương 4: QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN
ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG NHẰM HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CHO SINH VIÊN KHU VỰC TÂY NGUYÊN TRONG BỐI
4.1 Quan điểm định hướng để nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức
truyền thống nhằm hình thành và phát triển nhân cách sinh viên khu vực Tây Nguyên trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay 122 4.2 Một số giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức
truyền thống nhằm hình thành và phát triển nhân cách sinh viên khu vực Tây Nguyên trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay 127
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sinh viên là tầng lớp xã hội đặc thù, nguồn lực quan trọng trong sựnghiệp xây dựng và phát triển đất nước Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minhtừng nói: "Một năm khởi đầu từ mùa xuân Một đời người khởi đầu từ tuổitrẻ Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội" Nếu không có thế hệ trẻ, sẽ không có sựphát triển nối tiếp lịch sử của mỗi quốc gia, dân tộc, cũng như không có sựphát triển của nhân loại
Sau gần 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng
ta, nhân dân ta đã và đang đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng,
“có ý nghĩa lịch sử”, “đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vàonhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình” [35, tr.91] Diện mạo củađất nước có nhiều thay đổi, đời sống nhân dân được nâng lên Thế và lực củanước ta ngày càng vững mạnh, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế đượcnâng lên, đã tạo ra những tiền đề quan trọng để đẩy nhanh quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa
Bên cạnh những thành tựu to lớn và quan trọng đó, chúng ta cũng phảiđối mặt với không ít những khó khăn, thách thức Kinh tế phát triển chưa bềnvững; năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; công tácquy hoạch, kế hoạch và việc huy động, sử dụng các nguồn lực còn hạn chế,kém hiệu quả Đặc biệt là trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội có một số mặtyếu kém chậm khắc phục, nhất là về giáo dục, đào tạo và y tế; đạo đức, lốisống trong một bộ phận xã hội xuống cấp Chúng ta đang chứng kiến sựxuống cấp đạo đức từ mối quan hệ trong gia đình, nhà trường và xã hội Tronggia đình hiện tượng con cái ngược đãi cha mẹ, anh chị em vì mâu thuẩn lợiích đã không nhìn mặt nhau Trong trường học, học sinh, sinh viên đánh nhauđược tung lên mạng internet làm phản cảm xã hội, thầy cô giáo bị coi thường.Ngoài xã hội là hiện tượng xuống cấp về đạo đức như tham nhũng, lừa đảo,
Trang 5lợi ích nhóm đang làm cho dư luận xã hội bức xúc “Môi trường văn hóa bịxâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục, các tệ nạn xãhội, tội phạm và sự xâm nhập của các sản phẩm và dịch vụ độc hại làm suyđồi đạo đức, nhất là trong thanh, thiếu niên, rất đáng lo ngại” [35, tr.169].
Sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng là một bộ phận thanh niên ưu
tú, giàu tâm huyết, nhiệt tình và say mê với lý tưởng cách mạng Họ là nhữngngười rất nhạy cảm với cái mới, thích nghi nhanh chóng với sự thay đổi củađiều kiện và hoàn cảnh sống Tuy nhiên, do tuổi đời còn trẻ, kinh nghiệmsống chưa nhiều, làm cho sinh viên rất dễ bị tác động bởi những yếu tố tiêucực từ mặt trái của quá trình toàn cầu hoá Sự tác động đó đang ảnh hưởng tớimọi mặt đời sống của sinh viên, đến sự hình thành và phát triển nhân cáchsinh viên, đặt sinh viên trước những thách thức mới, trong đó có sinh viên ởkhu vực Tây Nguyên Trên thực tế, vẫn còn một bộ phận không nhỏ sinh viên
có lối sống thực dụng, xa hoa lãng phí, xa rời truyền thống đạo lý của dân tộc,thậm chí thoái hoá, biến chất, mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và hoàinghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Thực trạng nhân cách của thanh niên - sinh viên khu vực Tây Nguyênnêu trên có nhiều nguyên nhân, một trong số đó là do chúng ta chưa chú trọngđúng mức việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho những trí thức tươnglai của vùng đất Tây Nguyên Tại Hội nghị lần thứ tám, Ban chấp hành Trungương Đảng khóa XI, Đảng ta ra Nghị quyết số 29 - NQ/TW ngày 4 tháng 11
năm 2013 Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Nghị quyết đã
khẳng định: Lĩnh vực giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được những thànhtựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc…Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so vớiyêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp…“chưa chú trọngđúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc…” cho họcsinh, sinh viên
Trang 6Để củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phongphú, đa dạng; làm cho các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi mặt của đời sốngtrở thành nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúcđẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế Một trong những nhiệm
vụ cấp thiết trước mắt là tiếp tục đẩy mạnh việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức,lối sống có văn hóa, giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống (nhất lànhững giá trị đạo đức truyền thống); kiên quyết đấu tranh ngăn chặn mọi sựxâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh đang có nguy cơ làm băng hoại các giá trịvăn hóa, làm suy thoái đạo đức lối sống trong một bộ phận nhân dân nóichung, sinh viên nói riêng Đại hội lần thứ XI của Đảng khẳng định: “Chú trọngxây dựng nhân cách con người Việt Nam về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lối sống,thể chất, lòng tự tôn dân tộc, trách nhiệm xã hội, ý thức chấp hành pháp luật,nhất là trong thế hệ trẻ” [35, tr.126], trong đó công tác giáo dục giá trị đạo đứctruyền thống để hình thành nên nhân cách mới - nhân cách xã hội chủ nghĩa chosinh viên ở khu vực Tây Nguyên có tầm quan trọng đặc biệt Với ý nghĩa đó, tác
giả chọn vấn đề: “Giáo d ục giá trị đạo đức truyền thống với việc hình thành và phát tri ển nhân cách cho sinh viên khu vực Tây Nguyên trong bối cảnh toàn
c ầu hoá hiện nay” để nghiên cứu và làm luận án tiến sỹ chuyên ngành triết học.
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 M ục tiêu
Phân tích một số khái niệm công cụ của luận án: nhân cách, nhân cáchsinh viên, giá trị, giá trị truyền thống, giá trị đạo đức truyền thống, toàn cầuhóa, tầm quan trọng của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống nhằm hìnhthành và phát triển nhân cách sinh viên Làm rõ thực trạng giáo dục giá trị đạođức truyền thống đối với việc xây dựng nhân cách sinh viên khu vực TâyNguyên, từ đó luận án đề xuất quan điểm định hướng và một số giải pháp chủyếu để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục giá trị đạo đức truyền thống nhằmhình thành và phát triển nhân cách sinh viên khu vực Tây Nguyên trong bối cảnhtoàn cầu hoá hiện nay
Trang 72.2 Nhi ệm vụ
Góp phần làm sáng tỏ một số khái niệm công cụ của luận án: nhâncách, nhân cách sinh viên, giá trị truyền thống, giá trị đạo đức truyền thống,toàn cầu hóa
Làm rõ tầm quan trọng, nội dung giáo dục giá trị đạo đức truyền thốngnhằm hình thành và phát triển nhân cách sinh viên nói chung, sinh viên khuvực Tây Nguyên nói riêng trong bối cảnh toàn cầu hóa
Phân tích, đánh giá thực trạng công tác giáo dục giá trị đạo đức truyềnthống nhằm hình thành và phát triển nhân cách sinh viên khu vực Tây Nguyêntrong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay và chỉ ra nguyên nhân của thực trạng đó
Đề xuất một số quan điểm định hướng, giải pháp chủ yếu để nâng caohiệu quả công tác giáo dục giá trị đạo đức truyền thống nhằm hình thành vàphát triển nhân cách sinh viên khu vực Tây Nguyên trong bối cảnh toàn cầuhóa hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu vấn đề giáo dụcgiá trị đạo đức truyền thống nhằm hình thành và phát triển nhân cách sinhviên khu vực Tây Nguyên (nhất là sinh viên dân tộc thiểu số) trong bối cảnhtoàn cầu hóa hiện nay
Phạm vi: Diện khảo sát sinh viên hệ chính quy ở các trường đại học,cao đẳng khu vực Tây Nguyên
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở các quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam vềgiáo dục giá trị đạo đức truyền nhằm hình thành và phát triển nhân cách sinh viênViệt Nam nói chung và sinh viên khu vực Tây Nguyên nói riêng trong bối cảnhtoàn cầu hoá hiện nay
Trang 8-4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử; phương pháp lịch sử-lôgíc, phân tích và tổnghợp, thống kê, so sánh, các phương pháp chuyên ngành và liên ngành khác
Sử dụng phương pháp điều tra xã hội học: thời gian vào tháng 10 năm
2012, số phiếu phát ra 400 phiếu: trường Đại học Tây Nguyên 100 phiếu, đạihọc Đà Lạt 100, Cao đẳng Sư phạm Đắk Lăk là 100 phiếu, Cao đẳng Sư phạmGia Lai 100 phiếu, kết quả thu về 376 phiếu
5 Những đóng góp khoa học của luận án
Góp phần làm sáng tỏ một số khái niệm công cụ của luận án: nhâncách, nhân cách sinh viên, giá trị truyền thống, giá trị đạo đức truyền thống,toàn cầu hóa
Phân tích vai trò giáo dục giá trị đạo đức truyền thống đối với việc hìnhthành và phát triển nhân cách sinh viên khu vực Tây Nguyên trong bối cảnhtoàn cầu hoá hiện nay
Phân tích, đánh giá thực trạng công tác giáo dục giá trị đạo đức truyềnthống nhằm hình thành và phát triển nhân cách sinh viên khu vực Tây Nguyêntrong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay và chỉ ra nguyên nhân của thực trạng đó
Đề xuất một số quan điểm định hướng và giải pháp chủ yếu để nângcao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức truyền thống nhằm xây dựng nhân cáchcho sinh viên khu vực Tây Nguyên trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về mặt lý luận: Luận án tập trung nghiên cứu các khái niệm: giá trị, giá trịđạo đức truyền thống, toàn cầu hoá, tính tất yếu của quá trình toàn cầu hoá
Về mặt thực tiễn: Luận án làm rõ thực trạng nhân cách sinh viên vàcông tác giáo dục giá trị đạo đức truyền thống nhằm hình thành và phát triểnnhân cách sinh viên khu vực Tây Nguyên hiện nay Trên cơ sở đó, luận án đưa
ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục giá trị đạo đứctruyền thống nhằm hình thành và phát triển nhân cách sinh viên khu vực TâyNguyên trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay
Trang 9Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo phục vụviệc nghiên cứu, giảng dạy, học tập môn Những nguyên lý của chủ nghĩa Mác
- Lênin, môn đạo đức học, đồng thời góp phần vào mục tiêu đào tạo nguồnnhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận án gồm 4 chương, 11 tiết
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 NHỮNG NGHIÊN CỨU XUNG QUANH VẤN ĐỀ GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG, GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG, NHÂN CÁCH, NHÂN CÁCH SINH VIÊN
1.1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến giá trị truyền thống, giáo dục giá trị đạo đức truyền thống
Vấn đề giá trị truyền thống, giá trị đạo đức truyền thống, giáo dục giátrị đạo đức truyền thống đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở nhữngmức độ khác nhau
Tác giả Trần Văn Giàu trong cuốn sách “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam” [57] đã khẳng định tính cách dân tộc, giá trị truyền
thống của dân tộc Việt Nam được nhấn mạnh ở: lòng yêu nước, thương người.Đây là truyền thống quý báu của dân tộc đã được trải qua hàng ngàn năm lịch
sử dựng nước và giữ nước Từ đó, tác giả đặt ra vấn đề kế thừa, giáo dục nhữnggiá trị tinh thần yêu nước, thương người cho con người Việt Nam hiện nay
Bằng cách tiếp cận giá trị truyền thống có vai trò trong quá trình phát
triển đất nước, tác giả Trần Đình Hượu trong cuốn “Đến hiện đại từ truyền thống” [85] đã nêu lên cho xã hội một cách đánh giá, nhìn nhận đúng tầm
quan trọng của văn hoá truyền thống trong đời sống xã hội Xác định văn hoátruyền thống như một nguồn lực nội sinh và không ngừng ảnh hưởng đến việcxây dựng văn hoá mới trong giai đoạn hiện nay
Luận án tiến sĩ triết học của Nguyễn Văn Lý “Kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” [97] đã làm rõ hơn vai trò của kế thừa và đổi
mới các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển sang nền kinh tếthị trường ở nước ta Qua đó, tác giả góp phần xác định nội dung, phươnghướng, giải pháp cơ bản bảo đảm kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức
Trang 11truyền thống nhằm xây dựng đời sống đạo đức tốt đẹp của con người và xãhội Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong quá trình phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vănhóa luôn được cọi là động lực của sự phát triển Các giả Nguyễn Trọng
Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sỹ Quý trong cuốn “Tìm hiểu giá trị văn hoá truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [18] đã đề cập
đến vấn đề giá trị, giá trị đạo đức truyền thống, giá trị văn hoá truyền thống và
sự chuyển biến của chúng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.Công trình khoa học đề cập tương đối toàn diện về vấn đề khai thác, giữ gìn
và phát huy các giá trị truyền thống trong chiến lược phát triển con người ViệtNam toàn diện
Luận án tiến sỹ triết học của Võ Văn Thắng “Kế thừa và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc trong việc xây dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay” [122] đã làm rõ vấn đề xây dựng lối sống ở nước ta trong thời kỳ
đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩymạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chủ động hội nhập quốc tế là vấn đề lớnbao gồm nhiều phương diện khác nhau Luận án phân tích và luận giải mộtcách khoa học về việc kế thừa, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống dântộc là vấn đề tất yếu trong quá trình xây dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay.Trên cơ sở làm rõ các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc, luận án đã xác địnhnhững giá trị văn hoá truyền thống dân tộc cần được kế thừa và phát huy trongquá trình xây dựng lối sống của con người Việt Nam hiện nay với những giátrị: chủ nghĩa yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, đoàn kết dân tộc, lòng nhân ái,khoan dung, cần cù, hiếu học
Cùng khai thác vấn đề trên cơ sở vai trò của các giá trị đạo đức truyền
thống, tác giả Phan Văn Ba trong luận án tiến sĩ triết học “Vấn đề giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay” [5] và Ngô Thị Thu Ngà với luận án tiến sĩ “Giá trị đạo đức truyền thống với việc xây
Trang 12dựng đạo đức mới cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay” [109] Các tác giả đã
làm rõ giá trị truyền thống, giá trị đạo đức truyền thống trước những biến đổicủa môi trường văn hóa xã hội ở nước ta hiện nay Tác giả Phan Văn Ba đãgóp phần làm rõ nội dung giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc Việt Nam
và vai trò của nó trong đời sống tinh thần của thanh niên Việt Nam Từ đó,luận án đưa ra phương châm, phương pháp giáo dục truyền thống đoàn kếtdân tộc cho thanh niên Việt Nam, quan hệ giữa giáo dục truyền thống đoànkết dân tộc với giáo dục thanh niên trong điều kiện hội nhập quốc tế Tác giảphát hiện những vấn đề nảy sinh từ thực trạng giáo dục truyền thống đoàn kếtdân tộc cùng xu hướng tách rời giữa quá khứ với hiện tại trong giáo dụctruyền thống đoàn kết dân tộc Tác giả Ngô Thị Thu Ngà đã làm rõ một sốkhái niệm cơ bản: đạo đức mới, giá trị đạo đức truyền thống, vai trò của giá trịđạo đức truyền thống với việc xây dựng đạo đức mới cho thế hệ trẻ Việt Namhiện nay Trên cơ sở khảo sát thực trạng ảnh hưởng của giá trị đạo đức truyềnthống đối với việc xây dựng đạo đức mới cho thế hệ trẻ Việt Nam, tác giả đã
đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò các giá trị đạo đứctruyền thống trong xây dựng đạo đức mới cho thế hệ trẻ nước ta hiện nay
Như vậy, vấn đề giá trị truyền thống, giáo dục giá trị đạo đức truyềnthống Việt Nam luôn được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Các giá trịtruyền thống được làm sáng tỏ từ sự hình thành, phát triển và tiếp biến trongđiều kiện mới Nội dung nghiên cứu là các giá trị truyền thống, chủ yếu là cácgiá trị tinh thần được biến đổi trong sự thay đổi của điều kiện kinh tế - xã hội
ở nước ta Các công trình khoa học đã làm rõ các khái niệm giá trị, giá trị đạođức, giá trị đạo đức truyền thống, giáo dục giá trị đạo đức truyền thống Cáchtiếp cận của các công trình khoa học thường đi từ khái niệm giá trị và cấu trúcgiá trị bao gồm giá trị vật chất và giá trị tinh thần; trong giá trị tinh thần thìgiá trị đạo đức đóng vai trò chủ yếu Song, có thể thấy, đó chủ yếu là các giátrị tinh thần (bao gồm giá trị đạo đức), và do vậy, việc nghiên cứu giá trị đạo
Trang 13đức truyền thống chỉ được nghiên cứu cùng với giá trị tinh thần khác, mà ít cócông trình nghiên cứu chuyên biệt Vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyềnthống cho đối tượng cụ thể là sinh viên được nhiều công trình khoa học đềcập đến, nhưng đối với sinh viên khu vực Tây Nguyên chưa có một công trìnhkhoa học nghiên cứu một cách có hệ thống Luận án của tác giả sẽ kế thừa cáckhái niệm cộng cụ: giá trị, giá trị đạo đức, giá trị đạo đức truyền thống của cáccông trình khoa học nêu trên để thực hiện mục đích, nhiệm vụ đặt ra.
1.1.2 Những công trình liên quan đến nhân cách, giá trị nhân cách, thực trạng nhân cách của con người Việt Nam trong quá trình đổi mới đất nước
Các tác giả Đỗ Huy, Chu Khắc, Vũ Khắc Liên, Trường Lưu, Lê Quang
Thiêm trong cuốn sách “Nhân cách văn hoá trong bảng giá trị Việt Nam” [75]
đã có những lý giải về phương diện lý luận vấn đề nhân cách từ góc độ vănhóa Ngoài ra các tác giả còn đề cập đến nền tảng các quan hệ xã hội, sự vậnđộng của lịch sử đã tạo nên các bước phát triển của nhân cách Từ đó, cuốnsách khẳng định xây dựng nhân cách mới làm phong phú bảng giá trị ViệtNam là khâu trung tâm của tiến bộ văn hoá và phát triển xã hội
Đề cập đến quan niệm nhân cách của một con người cụ thể, Đỗ Long trong
cuốn “Hồ Chí Minh - những vấn đề tâm lý học nhân cách” [92] đã tập hợp những
bài viết của các nhà khoa học tâm lý, giáo dục học đề cập đến quan niệm của HồChí Minh về tâm lý học nhân cách, quá trình hình thành và phát triển nhân cách.Các tác giả đã làm nổi bật nhân cách Hồ Chí Minh, một tấm gương tiêu biểu đểcho mỗi con người Việt Nam học tập, noi theo
Ở Việt Nam, lần đầu tiên có cuộc điều tra giá trị được tiến hành vàonăm 1993 đến năm 1994 trong phạm vi chương trình KX - 07, đề tài KX07 -
04 “Giá trị - định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị” [137] Trong
công trình này các tác giả nghiên cứu khái niệm nhân cách và đề cập đến giá trị,nhưng không có bài nào đề cập đến giá trị nhân cách Vấn đề đặt ra ở đây là tìm
Trang 14mối quan hệ giữa giá trị (theo nghĩa giá trị học) và nhân cách, hay là vận dụngcách nghiên cứu của giá trị học và nghiên cứu nhân cách rồi từ đây đi đến kháiniệm giá trị nhân cách.
Để làm rõ sự biến đổi các giá trị trong nền kinh tế thị trường, năm
1994 Viện Triết học cùng với Trung tâm giao lưu văn hoá Việt Đức đã tổ
chức hội thảo khoa học “Sự chuyển đổi giá trị trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường” [139] Hội thảo tập trung 4 cụm vấn đề chính: Những
vấn đề phương pháp nghiên cứu giá trị và sự chuyển đổi giá trị trong xã hộinói chung trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường nói riêng; về sựhình thành hệ thống giá trị trong cơ chế thị trường hiện nay; sự chuyển đổigiá trị trong văn hoá đạo đức; về giáo dục giá trị con người Việt Nam nóichung và thanh niên Việt Nam nói riêng Hội thảo này đã làm sáng tỏ một sốvấn đề lý luận và thực tiễn trong sự chuyển đổi giá trị nói chung và giá trịnhân cách nói riêng
Phạm Minh Hạc trong“Nghiên cứu giá trị nhân cách theo phương pháp NEOPI-R cải biên” [60] đã đưa ra bảng hỏi trắc nghiệm Neopi-r có gần
200 câu hỏi trong đó có 6 giá trị (thái độ) đối với sức khoẻ, học vấn, đạo đức,tiền bạc, quyền lực, hạnh phúc gia đình mà chúng ta gọi là các giá trị cơ bản(sống còn) của cuộc sống Ngoài ra có hơn 60 câu hỏi về 9 vấn đề: lý tưởngphấn đấu, thái độ chính trị, yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tôn trọng pháp luật,thái độ học tập, thái độ với đồng tiền, hội nhập mở cửa, thái độ với môitrường và thái độ với công việc Đây là công trình nghiên cứu có tính chấtchuyên sâu về giá trị nhân cách theo phương pháp điều tra xã hội học
Nhấn mạnh vai trò của đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhâncách của con người Việt Nam, Lê Thị Thuỷ trong luận án tiến sỹ Triết học
“Vai trò của đạo đức đối với sự hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện nay” [126] đã đi sâu phân tích đặc điểm nhân cách con người Việt Nam
và vai trò của đạo đức đối với sự hình thành nhân cách con người Việt Nam
Trang 15hiện nay Việc khai thác vai trò của đạo đức như một yếu tố trong cấu trúcnhân cách và sự vận dụng các tri thức khoa học triết học, đạo đức học, tâm lýhọc, xã hội học để xây dựng mối quan hệ đạo đức và nhân cách làm căn cứkhoa học vững chắc Từ đó, Luận án đề ra những luận cứ khoa học, giải pháp
để nâng cao vai trò của đạo đức trong xây dựng nhân cách con người ViệtNam: chân, thiện, mỹ
Vấn đề kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc đốivới sự phát triển nhân cách con người Việt Nam tác giả Cao Thu Hằng trong
luận án tiến sĩ “Kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống trong xây dựng nhân cách con người Việt Nam hiện nay” [68] đã phân tích một cách có hệ thống và
luận giải những vấn đề lý luận về giá trị đạo đức truyền thống cũng như nhâncách trong tính tất yếu của việc kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống Từ đó,luận án đưa ra những giải pháp để việc kế thừa các giá trị đạo đức truyền thốngtrong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam hiện nay được tốt hơn
Vấn đề thực tiễn trong xây dựng đạo đức, lối sống, thái độ, niềm tin, lýtưởng của thanh niên nói chung, sinh viên nói riêng được Trung ương ĐoànThanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thực hiện trong các cuộc điều tra năm 2007
“Điều tra tình hình tư tưởng và nhận thức chính trị của thanh niên trong giai đoạn hiện nay” [45]; năm 2008 “Tổng quan tình hình sinh viên, công tác hội
và phong trào sinh viên nhiệm kỳ VII (2003 - 2008)” [47] và trong Hội thảo khoa học năm 2008: “Đổi mới nội dung, phương thức giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên trong thời kỳ hội nhập” [48] Các công trìn này đã làm rõ
tình hình tư tưởng và nhận thức chính trị cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay.Kết quả cuộc khảo sát cho thấy các nhận thức về niềm tin vào sự phát triển đấtnước, thái độ đối với việc tham gia các tổ chức Đảng, Đoàn và các phong tràotình nguyện; niềm tin vào mục tiêu “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xãhội”; niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, nhà nước trong điều kiện nền kinh tếthị trường và sự tác động của quá trình toàn cầu hoá Mặt khác, kết quả khảo sát
Trang 16cũng cho thấy sự đề cao các chuẩn mực trong đời sống của sinh viên: điều kiệnsống, điều kiện thành đạt, mẫu hình của người thành đạt, tâm tư nguyện vọngđối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, trách nhiệm thái độ của sinh viêntrước các hiện tượng tiêu cực của xã hội.
Về vấn đề sinh viên và sự định hướng các giá trị cuộc sống cho sinh
viên, tác giả Trần Sỹ Phán trong bài báo “Sinh viên với định hướng giá trị nhân cách” [114] đã đưa ra thực trạng nhân cách sinh viên và một số giá trị
nhân cách định hướng cho sinh viên Việt Nam trong điều kiện phát triển kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Từ địnhhướng các giá trị nhân cách đó, giúp sinh viên Việt Nam nhận thấy được vaitrò và trách nhiệm của mình với bản thân, gia đình, dân tộc
Trần Sỹ Phán trong luận án tiến sĩ triết học “Giáo dục đạo đức đối với
sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay” [115] đã
làm rõ hơn về khái niệm nhân cách, tính đặc thù của nhân cách sinh viên Đây
là công trình khoa học nghiên cứu sâu vai trò của giáo dục đạo đức đối với sựhình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam Luận án góp phần làmsáng tỏ thực chất, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của giáo dục đạo đức thôngqua giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng đối với sự hình thành và pháttriển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay Từ đó, tác giả đề xuất một sốphương hướng, giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quảgiáo dục đạo đức nói chung, môn đạo đức học nói riêng
Giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin có tầm quan trọng trong việc xâydựng nhân cách sinh viên Việt Nam, tác giả Hoàng Anh trong luận án tiến
sĩ triết học “Giáo dục lý luận Mác - Lênin với việc hình thành và phát triển nhân cách ở sinh viên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay” [2] đã góp phần làm rõ nhân cách, nhân cách sinh viên, quá trình hình
thành và phát triển nhân cách sinh viên Luận án đi sâu phân tích vai tròcủa giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin đối với sự phát triển nhân cáchcủa sinh viên Việt Nam trong điều kiện nền kinh tế thị trường Từ đó, tác
Trang 17giả đã đề ra các giải pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy các môn khoahọc Mác - Lênin nhằm xây dựng nhân cách mới cho sinh viên, nhân cách
xã hội chủ nghĩa
Đề cập đến vai trò của giáo dục trong việc hình thành và phát triển nhân
cách sinh viên, tác giả Hoàng Anh trong cuốn “Giáo dục với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên” [3] đã trình bày những vấn đề lý luận chung về
nhân cách, nhân cách sinh viên Tác giả đã tập trung phân tích thực trạng đạo đứcsinh viên Việt Nam và vấn đề giáo dục đạo đức cho sinh viên trong các trường đạihọc, cao đẳng để hình thành, phát triển nhân cách sinh viên
Đề cập đến các giá trị cuộc sống của sinh viên trong điều kiện kinh tế
thị trường và hội nhập, tác giả Phạm Huy Thành trong bài báo“Quan niệm về giá trị cuộc sống của sinh viên Việt Nam trong điều kiện nền kinh tế thị trường” [120] tập trung làm rõ sự tác động của nền kinh tế thị trường đối với
cuộc sống của sinh viên ở những mặt tiêu cực và tích cực Các giá trị cuộcsống được sinh viên quan niệm: ý nghĩa cuộc sống, điều kiện thành đạt, quan
hệ bạn bè, thầy trò và những người xung quanh Từ đó, tác giả đưa ra bốn giảipháp để phát huy những mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực do tác động của
cơ chế thị trường đối với đời sống sinh viên hiện nay
Ngoài một số công trình trên, liên quan đến vấn đề nhân cách còn có cuốn
“Chủ nghĩa xã hội và nhân cách” [4] đề cập đến vấn đề nhân cách trong xã hội
chủ nghĩa, bắt nguồn từ mối quan hệ kinh tế, chính trị, pháp luật, tinh thần, đạođức, mỹ học Mặt khác, cuốn sách đã chú ý tới những vấn đề có tính chất xuấtphát điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhân cách như: bản chất nhân cách, cơchế quyết định thế giới tinh thần và hoạt động của nhân cách
Tóm lại, vấn đề nhân cách, sự hình thành và phát triển nhân cách ởnước ta được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khácnhau, nhằm xây dựng và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Các công trình đề cập đến khái niệmnhân cách, quá trình hình thành và phát triển cách, cấu trúc nhân cách; vai trò
Trang 18của giáo dục đối với việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam nói chung
và sinh viên nói riêng Cách tiếp cận của các công trình khoa học trên thườngkhai thác khái niệm nhân cách, cấu trúc nhân cách và quá trình hình thành,phát triển nhân cách; cấu trúc nhân cách bao gồm tài và đức là vấn đề xuyênsuốt được phân tích rõ trong quá trình giáo dục nhằm hình thành và phát triểnnhân cách Chưa có công trình nào nghiên cứu nhân cách dưới góc độ cụ thể,chẳng hạn, nghiên cứu vai trò giáo dục giá trị đạo đức truyền thống đối vớiviệc xây dựng nhân cách con người Tây Nguyên nói chung, sinh viên nóiriêng Do vậy, đây là hướng nghiên cứu mới của luận án, làm rõ vai trò giáo dụcgiá trị đạo đức truyền thống đối với việc hình thành và phát triển nhân cách sinhviên khu vực Tây Nguyên Đồng thời, luận án kế thừa các khái niệm nhân cách,cấu trúc nhân cách và cách triển khai cấu trúc nhân cách trong việc giáo dục giátrị đạo đức truyền thống cho sinh viên khu vực Tây Nguyên
1.2 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN TOÀN CẦU HÓA, TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HOÁ ĐỐI VỚI NHÂN CÁCH, LỐI SỐNG,
ĐẠO ĐỨC CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM NÓI CHUNG VÀ SINH VIÊN VIỆT
NAM NÓI RIÊNG
1.2.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến toàn cầu hóa và đặc điểm của toàn cầu hóa
Vấn đề toàn cầu hóa là một vấn đề đã và đang thu hút sự quan tâm củacác học giả trong và ngoài nước Xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ của luận án,tác giả đề cập đến một số công trình sau đây có liên quan trực tiếp đến đề tài
Các tác giả S.Xmit và G.Bâylơ trong cuốn sách “Toàn cầu hóa của nền chính trị thế giới” [146] đã đề cập đến trong giai đoạn hiện nay đang có ba
loại quan niệm về toàn cầu hóa khác nhau Những người theo chủ thuyết thực
tế và thực tế mới cho rằng, toàn cầu hóa không làm biến đổi được sự phânchia lãnh thổ của thế giới thành các quốc gia dân tộc Thể hiện tính liên kếtgiữa các nền kinh tế và xã hội ngày càng gia tăng có thể chúng phụ thuộc lẫnnhau nhiều hơn, các quốc gia vẫn giữ được chủ quyền Còn những người theothuyết tự do và tự do mới lại có xu hướng coi toàn cầu hóa đang làm thay đổi
Trang 19căn bản những nhận định, đánh giá của những người theo chủ thuyết thực tế,bởi vì các quốc gia không còn đứng ở trí trung tâm nữa Họ cho rằng toàn cầuhóa báo hiệu sự đăng quang của một trật tự toàn cầu mới và báo hiệu sự cáochung của hệ thống các quốc gia Những người theo chủ thuyết hệ thống thếgiới thì cho rằng, toàn cầu hóa chỉ là một hiện tượng bên ngoài, nó không cócái mới, chẳng qua chỉ là giai đoạn phát triển cuối cùng của chủ nghĩa tư bảnquốc tế.
Các tác giả Hồ Bá Thâm, Nguyễn Ngọc Diễm trong cuốn sách “Toàn cầu hóa và sự phát triển bền vững từ góc độ triết học đương đại” [124] đã
làm nổi bật nội dung và xu hướng tất yếu của toàn cầu hóa dưới góc độ triếthọc Công trình khoa học công bố trong cuốn sách gồm 6 chuyên đề chính cónội dung tương đối độc lập với nhau, nhưng phần lớn đề cập sự tác động củatoàn cầu hóa tới các vấn đề kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội Phần mở đầu:Một số vấn đề triết học đương đại từ thực tiễn toàn cầu hóa, đổi mới, hội nhập
và phát triển đất nước sau này; phần 1: Những vấn đề chung về thời đại vàquan hệ giữa toàn cầu hóa, hội nhập và phát triển trên thế giới và Việt Nam; phần2: Toàn cầu hóa và sự tiến hóa nhân loại ngày nay; phần 3: Khoa học công nghệ
ở các nước đang phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay; phần 4: Hộinhập và phát triển bền vững; phần 5: Con người, văn hóa Việt Nam với hội nhập
và phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa; kết luận: Biết mình, biếtngười, hội nhập thành công, tiến cùng thời đại, phát triển bền vững - một triết lýcủa kỷ nguyên toàn cầu hóa
Các vấn đề của cuốn sách đưa ra có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn, đápứng nhu cầu bức thiết của các nước đang phát triển, trong đó có nước ta lựachọn hướng đi cho mình trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay Kết quả nghiêncứu của các tác giả góp phần mở ra việc nhận thức đầy đủ hơn về phép biệnchứng trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay và sự tác động của nó đến sự hộinhập và phát triển tiến bộ ở các nước đang phát triển Điều đó có ý nghĩa đặcbiệt với Việt Nam trong tiến trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu
Trang 20hóa Hội nhập quốc tế là một phương thức cơ bản, một tiến trình tất yếu, mộtđộng lực mạnh mẽ để đổi mới - phát triển rút ngắn khoảng cách tụt hậu kinh
tế, khoa học - công nghệ, văn hóa - xã hội và trước mắt đưa nước ta cơ bản trởthành một nước công nghiệp vào năm 2020
Cuốn sách “Toàn cầu hóa trong bối cảnh châu Á Thái Bình Dương một số vấn đề triết học” [53] đã đưa ra cách nhìn nhận khá toàn diện về toàn
-cầu hóa từ góc độ triết học Trong số 24 bài viết (có 10 bài viết của học giảnước ngoài), có gần 20 bài viết liên quan trực tiếp đến toàn cầu hóa Về cơbản, các tác giả cho rằng: biết chấp nhận những thái độ khác nhau, ủng hộ hayphản đối, toàn cầu hóa vẫn là một xu thế tất yếu, khách quan và đang tác độngmạnh mẽ đến tất cả các quốc gia dân tộc, cả ở những nước phát triển lẫn đangphát triển
Về đặc điểm toàn cầu hóa, các tác giả cho rằng, toàn cầu hóa hiện nay
có những nét khác biệt so với các giai đoạn toàn cầu hóa trước đây Đó là xuthế hợp tác để cùng tồn tại và phát triển, thay cho đối đầu; sự tác động ngàycàng sâu rộng đến tất cả các quốc gia, dân tộc và đến mọi mặt của đời sống xãhội hiện đại; việc mở ra cơ hội, điều kiện cho sự phát triển, đồng thời cũng đặt
ra những thách thức về kinh tế, xã hội, văn hóa Sự phân tích toàn cầu hóacũng như đặc điểm của nó trong cuốn sách này là tư liệu tham khảo có giá trị
để tác giả có thể kế thừa ở mức độ nhất định trong quá trình thực hiên luận án
Đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn của quá trình toàn cầu
hóa, trong cuốn sách “Toàn cầu hóa - những vấn lý luận và thực tiễn”, các tác
giả Lê Hữu Nghĩa, Lê Ngọc Tòng [111] đã khẳng định toàn cầu là xu thế tấtyếu tác động đến các quốc gia dân tộc Các tác giã đã tập trung phân tíchnhững cơ hội và thách thức của toàn cầu hóa trên bình diện lý luận và thựctiễn, làm rõ nguyên nhân thành công cũng như thất bại của quá trình hội nhập
ở nước ta trong thời gian qua Tiếp tục làm rõ vấn đề toàn cầu hóa trong
những thập niên tới, các tác giả cuốn “Xu thế toàn cầu hoá trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI” [111] đã nghiên cứu chuyên sâu về toàn cầu hoá và
Trang 21ảnh hưởng của nó tới mọi vấn đề của cuộc sống Các tác giả luận chứngquá trình toàn cầu hoá là tất yếu khách quan dựa trên cơ sở phương phápluận duy vật lịch sử, được Các Mác - Ăngghen đề cập vào năm 1848 trong
tác phẩm: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Sự tác động của toàn cầu hoá
được biểu hiện ở hai mặt: tích cực và tiêu cực, bất cứ quốc gia, dân tộc nàokhi tham gia vào quá trình toàn cầu hoá đều phải chấp nhận sự tác độngnày Các tác giả trong cuốn sách này khẳng định, toàn cầu hóa, xét về bảnchất là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, sự ảnh hưởng, tácđộng lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, cácdân tộc trên thế giới
Cùng cách tiếp cận phương pháp luận duy vật lịch sử cuốn sách “Toàn cầu hóa - phương pháp luận và phương pháp tiếp cận nghiên cứu” [15] đã
làm rõ những các cách tiếp cận toàn cầu hóa nhưng nhấn mạnh cách tiếp cậntheo quan điểm chủ nghĩa Mác -Lênin Với cách tiếp cận khoa học, biệnchứng, các tác giả đã đi sâu tìm hiểu, làm rõ bản chất quá trình toàn cầu hiệnnay Đánh giá sự tác động của toàn cầu hóa đối với đời sống kinh tế, chính trị,văn hóa, xã hội thế giới cũng như trong nước; từng bước chỉ ra cách tiếp cậnhợp lý để giải quyết các vấn đề do tác động của toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế là vấn đề vô cùng rộnglớn mà Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiêm Ngô Văn Điểm trong cuốn sách
“Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam” [39] đã đi sâu phân
tích quá trình nước ta tham gia toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc
tế Cuốn sách đã đề cập đến ba trong số những lĩnh vực mà thời gian qua ViệtNam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong quá trình hội nhập kinh tế,
đó là: thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), thương mại và sắp xếp, đổimới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước
Như vậy, toàn cầu hóa đã có những quan niệm rất khác nhau, song tất
cả các công trình được đề cập ở trên, chúng ta thấy chủ yếu là toàn cầu hóa vềkinh tế Cũng có rất nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, toàn cầu hóa đang diễn ra
Trang 22trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự và môi trường tự nhiên…Vấn đề ởchỗ, bản chất của toàn cầu hóa là toàn cầu hóa kinh tế chiếm một vị trí trọngtâm Những vấn đề toàn cầu hóa của văn hóa, môi trường tự nhiên…cũng nảysinh từ toàn cầu hóa kinh tế Vì vậy, có thể nói, toàn cầu hóa ngày nay chủyếu là toàn cầu hóa kinh tế, với những tác động sâu rộng của nó đến các mặtđời sống xã hội như quân sự, chính trị, văn hóa, môi trường của thế giới trênquy mô toàn cầu Toàn cầu hóa tác động tới một khu vực riêng biệt thì rất ítcông trình nghiên cứu đề cập đến, đặc biệt là vùng đất Tây Nguyên Đây cóthể nói là vấn đề mới mà luận án cần phải đi sâu nghiên cứu, nhất là sự tácđộng của toàn cầu hóa làm biến đổi giá trị đạo đức truyền thống trong việcxây dựng nhân cách sinh viên khu vực Tây Nguyên.
1.2.2 Các công trình nghiên cứu về sự tác động của toàn cầu hóa đến đạo đức, nhân cách con người Việt Nam nói chung và sinh viên nói riêng
Toàn cầu hóa là một xu thế của thời đại chúng ta, nó tác động sâu rộngđến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, do đó có rất nhiều côngtrình khoa học ở trong và ngoài nước nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này
Ở đây, tác giả luận án xin đề cập một số công trình có liên quan đến sự tácđộng của toàn cầu hóa tới đạo đức, nhân cách của con người Việt Nam nóichung, sinh viên Việt Nam nói riêng
Tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn trong bài báo “Hội nhập quốc tế: cơ hội
và thách thức đối với giá trị truyền thống trong điều kiện toàn cầu hoá” [21]
cho rằng thế giới đã trải qua ba lần toàn cầu hoá, quá trình toàn cầu hoá hiệnnay khác với các lần trước là diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xãhội và nó trở thành xu thế tất yếu Từ đó, tác giả cho nêu ra trong điều kiệntoàn cầu hoá các giá trị văn hóa truyền thống vừa có cơ hội để phát triển caonhưng cũng chứa đựng những nguy cơ xói mòn Cũng theo hướng nghiên cứu
sự tác động của toàn cầu hóa đến giá trị truyền thống, tác giả Nguyễn Đình
Tường có bài báo“Giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống ở Việt Nam trước tác động của toàn cầu hoá” [134] Theo tác giả, toàn cầu hoá là
Trang 23quá trình khách quan, quá trình đó một mặt tạo ra cơ hội cho các quốc gia dântộc mở rộng giao lưu hợp tác, mặt khác nó cũng đặt những giá trị văn hoátruyền thống của mỗi quốc gia dân tộc trước nhiều thách thức Do đó giữ gìn
và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc để văn hóa trở thành nềntảng tinh thần xã hội đã và đang là đòi hỏi cấp bách hiện nay
Tác giả Cao Thu Hằng trong bài báo“Giá trị đạo đức truyền thống và những yêu cầu đạo đức đối với nhân cách con người Việt Nam hiện nay” [67]
đã làm nổi bật vai trò của các giá trị đạo đức truyền thống và những yêu cầuđạo đức đối với việc hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện nay Tuynhiên, các biện pháp kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trongxây dựng con người Việt Nam hiện nay, chưa được tác giả đề cập đến
Một trong những công trình đề cập tương đối toàn diện về sự tác độngcủa toàn cầu hóa đến các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, nhất là lĩnh
vực văn hóa, tinh thần phải kể đến cuốn sách “Giá trị truyền thống trước những thử thách của toàn cầu hóa” [19] Cuốn sách gồm có hai phần, phần
một các tác giả tập trung làm rõ thực chất của toàn cầu hóa nhưng từ góc độtriết học và giá trị học Ngoài ra, các tác giả còn đi sâu phân tích nội dung,thực chất giá trị truyền thống và giá trị truyền thống Việt Nam, trong đó có giátrị đạo đức truyền thống; chỉ ra cơ hội và thách thức của toàn cầu hóa đối vớiviệc giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống
Trong phần thứ hai, các tác giả nói lên thực trạng các giá trị truyềnthống Việt Nam trước xu thế toàn cầu hóa hiện nay, đề xuất những giải phápnhằm giữ gìn, phát huy các giá trị truyền thống Việt Nam trước thách thức củatoàn cầu hóa Nhiều kết luận được các tác giả rút ra trong công trình khoa họcnày làm tài liệu tham khảo rất cần thiết cho nghiên cứu sinh trong quá trìnhthực hiện luận án Đối tượng và phạm vi sự tác động của toàn cầu hóa được
đề cập trong cuốn sách khá rộng Trong số 28 bài viết được đăng tại công
trình này, chỉ có bài “Một số suy nghĩ về giữ gìn và phát huy giá trị đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Đình Tường liên quan
Trang 24đến trực tiếp đề tài luận án của nghiên cứu sinh Tuy nhiên trong bài viết đó,tác giả Nguyễn Đình Tường cũng không đề cập đến vùng đất Tây Nguyên -địa bàn mà tác giả luận án chọn làm khảo sát.
Bàn về vai trò của giáo dục đối với việc hình thành nhân cách sáng tạo,
tác giả Vũ Minh Tâm trong bài báo“Giáo dục nhân cách sáng tạo và phát triển bền vững trong thời đại toàn cầu hoá” [118] đã đề cập đến giáo dục nhân cách
sáng tạo và những nhân tố của nhân cách sáng tạo: vốn tri thức, hoạt động thựctiễn, phẩm chất xã hội và lý tưởng Từ đó, tác giả bàn đến quá trình hình thànhnhân cách sáng tạo do các yếu tố: tự chủ, tự ý thức và tự giác Trên cơ sở đó, tácgiả bài báo đã đưa ra những giải pháp nhằm tạo ra một thế hệ trẻ năng động,sáng tạo phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh toàncầu hoá hiện nay
Tác giả Võ Minh Tuấn trong bài báo“Tác động toàn cầu hoá đến đạo đức sinh viên Việt Nam hiện nay” [132] đã đề cập đến sự tác động tích cực và
tiêu cực của toàn cầu hoá tới đời sống của sinh viên nước ta hiện nay Mặt tíchcực mà toàn cầu hóa mang lại theo tác giả là phát huy tinh thần năng động,sáng tạo, tự chịu trách nhiệm; còn mặt tiêu cực là lối sống thực dụng, thái độbàng quan đối với mọi người xung quanh Tuy nhiên tác giả bài báo chưa đưa ranhững giải pháp để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực
trong đời sống đạo đức sinh viên Tác giả Phạm Huy Thành trong bài báo “Đạo đức sinh viên Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay” [121] tập trung
làm rõ thực trạng đạo đức sinh viên Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá hiệnnay Theo tác giả bên cạnh ưu điểm, mặt tích cực, cần khẳng định trong đời sốngđạo đức của sinh viên Việt Nam hiện nay cũng có không ít bất cập, hạn chế cầnkhắc phục để họ thực sự trở thành những tri thức trong tương lai
Như vậy, sự tác động của toàn cầu hoá đến nhân cách con người ViệtNam được nhiều nhà khoa học đề cập đến, tạo ra sự đa dạng và phong phútrong cách tiếp cận vấn đề, giải quyết vấn đề Mặt khác, cũng cho chúng tathấy tính chất phức tạp của toàn cầu hoá tác động tới nhân cách, đạo đức
Trang 25con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Các công trình khoa học đãlàm rõ khái niệm toàn cầu hóa, sự tác động tích cực và tiêu cực của quátrình toàn cầu hóa đến các quốc gia, trong đó có Việt Nam Làm rõ biểuhiện các giá trị đạo đức của con người Việt Nam trong bối cảnh toàn cầuhóa và kinh tế thị trường: quá trình thay đổi các giá trị trong cuộc sống,biểu hiện lệch lạc trong mối quan hệ giữa con người với con người, lốisống thực dụng đề cao đồng tiền, chủ nghĩa cá nhân đang làm băng hoạiđạo đức xã hội ở nước ta Bên cạnh đó, các công trình cũng đã đưa ra cácgiải pháp để hạn chế tác động tiêu cực của toàn cầu hóa tới đạo đức xã hội,đồng thời nâng cao hiệu quả trong công tác xây dựng đạo đức mới - đạođức cách mạng ở nước ta Trong luận án chúng tôi kế thừa khái niệm toàncầu hóa, kết quả nghiên cứu xu thế tất yếu với những ảnh hưởng tích cực
và tiêu cực của toàn cầu hóa đối với đời sống xã hội và sự biến đổi các giá trịđạo đức Nhưng các công trình trên, chưa có một công trình nào nghiên cứu
về nhân cách sinh viên khu vực Tây Nguyên trong bối cảnh toàn cầu hóa,
mà chỉ đề cập đến sinh viên cả nước nói chung Đây là điểm mới của luận
án, nghiên cứu sinh tập trung khai thác để làm rõ vai trò của giáo dục giátrị đạo đức truyền thống đối với việc hình thành và phát triển nhân cáchsinh viên khu vực Tây Nguyên trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
1.3 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HOÁ ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC TÂY NGUYÊN NÓI CHUNG VÀ THANH NIÊN - SINH VIÊN TÂY NGUYÊN NÓI RIÊNG
13.1 Các công trình nghiên cứu về tác động của toàn cầu hoá đến đời sống đồng bào dân tộc Tây Nguyên
Các công trình nghiên cứu sự tác động của toàn cầu hóa đối với cảnước nói chung là rất đa dạng, được các nhà khoa học luận giải dưới nhiềugóc độ khác nhau Nhưng nghiên cứu sự tác động của toàn cầu hóa đến mộtkhu vực nhất định, chẳng hạn như khu vực Tây Nguyên, cho đến hiện nay vẫncòn rất khiêm tốn
Trang 26Khai thác văn hóa Tây Nguyên thời kỳ hoang sơ, đầy bản sắc, tác giả
Nguyễn Tấn Đắc trong “Văn hoá, xã hội và con người Tây Nguyên” [38] đã
đề cập một cách toàn diện về văn hoá, con người, xã hội Tây Nguyên trướcnăm 1975, trên cơ sở đó đề xuất các kiến nghị để phát triển vùng đất TâyNguyên trong quá trình đổi mới, hội nhập Đề cập rõ nét hơn về phong tục của
người Tây Nguyên, Lâm Tâm - Linh Nga Niêk Đam trong cuốn sách “Một số nét đặc trưng của phong tục các dân tộc Tây Nguyên” [119] bước đầu đã làm
rõ những đặc trưng, phong tục của các dân tộc thiểu số trên vùng cao nguyênđất đỏ Những phong tục đó, một mặt níu kéo con người Tây Nguyên trở vềvới cuộc sống buôn làng, mặt khác, chính những giá trị phong tục đó đangcùng đồng bào hoà nhập vào cuộc sống mới hôm nay
Đi sâu tìm hiểu những biến động, xáo trộn của của văn hóa Tây Nguyên
trong quá trình hội nhập, tác giả Lưu Hùng trong cuốn sách “Văn hoá cổ truyền Tây Nguyên” [83] đã chỉ ra sự đa dạng, huyền bí của văn hoá cổ truyền người
dân tộc Tây Nguyên: nhà Rông, rượu cần, lễ ăn trâu, nhà mồ, tượng mồ, lễ chúcsức khoẻ, đánh cồng chiêng, đàn t’rưng, đàn K,lôngpút, già làng, sử thi, Vua lửaPơtao Pui, Vua nước Mơtao Ya, ma lai Đồng thời tác giả cũng chỉ ra những khókhăn, thách thức mà văn hoá cổ truyền Tây Nguyên đang gặp phải trên conđường phát triển và hội nhập Trong những năm gần đây, thiết chế xã hội buônlàng truyền thống của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên chịu sự va đập, biến độngmạnh, khiến động lực và tính năng động của nó bị suy giảm, thậm chí bị triệt tiêu,ảnh hưởng tới sự phát triển văn hóa ở nơi đây Các hình thức sinh hoạt văn hóacộng đồng, nghe già làng kể về những câu chuyện sử thi anh hùng trong nhàRông, nhà Dài đang vắng bóng dần
Quá trình toàn cầu hóa đã tác động làm biến đổi những quan hệ dân tộctrong đời sống đồng bào Tây Nguyên Điều đó được tác giả Trương Minh Dục
đề cập đến trong cuốn sách: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc ở Tây Nguyên” [26] Trong cuốn sách này, tác giả đã
trình bày tình hình dân tộc, xu hướng vận động của quan hệ dân tộc ở Tây
Trang 27Nguyên trong những năm gần đây, đánh giá một cách cơ bản những mặt làmđược và chưa làm được trong việc thực hiện chính sách dân tộc Từ đó, cuốnsách nêu lên những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra và đề xuất những giảipháp nhằm thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở TâyNguyên trong giai đoạn mới.
Khai thác giá trị đoàn kết của đồng bào dân tộc Tây Nguyên dưới sự tácđộng của toàn cầu hóa, tác giả Trương Minh Dục đã cho ra mắt bạn đọc cuốn
sách “Xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc ở Tây Nguyên” [27],
trong đó tập trung phân tích và làm rõ truyền thống đoàn kết các dân tộc ởTây Nguyên qua các thời kỳ lịch sử Trên cơ sở đó, tác giả đã chỉ ra quá trìnhxây dựng và củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc ở Tây Nguyên trong cáchmạng dân tộc dân chủ và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là thời kỳ đổimới Đồng thời công trình khoa học đã phân tích những xu hướng biến đổitrong quan hệ dân tộc, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoànthiện khối đại đoàn kết dân tộc ở Tây Nguyên
Trước âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng chính sách mở rộngquan hệ quốc tế để nhằm mục đích thiết lập khu vực Tây Nguyên thành khu
tự trị, Lê Văn Đính, đã thực hiện đề tài cấp bộ: “Một số giải pháp góp phần bảo đảm ổn định chính trị trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên” [40] Công trình
đã đề cập đến sự biến đổi tình hình kinh tế - xã hội khu vực Tây Nguyên trongnhững năm gần đây Đặc biệt là sự biến động về mặt chính trị tư tưởng trongđời sống của đồng bào dân tộc Tây Nguyên do các thế lực phản động kêu gọi,xuyên tạc đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước Từ đó, tác giả đưa racác quan điểm định hướng và giải pháp để làm ổn định tình hình Tây Nguyêntrong giai đoạn hiện nay
Đề cập đến tầng lớp thanh niên ở khu vực Tây Nguyên, tác giả Lê Văn
Đính đã đi tìm “Giải pháp tăng cường đoàn kết, tập hợp thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay” [41] Công trình đã phân tích thực trạng công tác
đoàn kết, tập hợp thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên trong giai đoạn hiện
Trang 28nay Tác giả đưa ra những nhân tố tác động đến sự thay đổi trong văn hoá,trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến sự tác động của toàn cầu hóa làm biến đổilối sống của thanh niên Tây Nguyên theo những chiều hướng khác nhau Từ
sự biến đổi các giá trị văn hóa, tác giả đề xuất các giải pháp để tăng cườngcông tác đoàn kết thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay
Năm 2010, Nxb Chính trị quốc gia có xuất bản cuốn sách “Một số vấn
đề về văn hoá - xã hội các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay” [86], đề
cập đến việc nghiên cứu, nhận diện những nhân tố đã, đang và sẽ tác độngđến sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung, sự phát triển văn hoá - xã hội nóiriêng ở khu vực Tây Nguyên Trong đó, các tác giả đã chỉ ra sự tác động củatoàn cầu hóa đã làm thay đổi những giá trị văn hóa, các thiết chế buôn làngđược thiết lập từ nhiều đời nay của đồng bào dân tộc Tây Nguyên Công trình
đã đề cập đến những thành tựu đạt được của vùng đất Tây Nguyên, đồng thờicũng nên lên tính đặc thù của vùng đất này: kinh tế - xã hội có điểm xuất phátthấp, luôn bị các thế lực thù địch chống phá Vì vậy, ở Tây Nguyên công cuộcxây dựng và phát triển kinh tế - xã hội cần được đầu tư, quan tâm giải quyếtcủa Đảng và Nhà nước, cùng với sự chung tay, góp sức của đồng bào cả nước
Từ vấn đề đó, cuốn sách đề ra những giải pháp phù hợp, hiệu quả cho sự ổnđịnh và phát triển kinh tế - xã hội ở vùng đất Tây Nguyên hiện nay
Quan tâm tới sự phát triển bền vững của vùng đất Tây Nguyên, tác giả
Bùi Minh Đạo trong công trình:“Thực trạng phát triển Tây Nguyên và một số vấn đề phát triển bền vững” [37] đã làm rõ thực trạng phát triển kinh tế - xã
hội vùng đất Tây Nguyên hiện nay Tác giả dựa trên cơ sở nguyên tắc, nguyên
lý phát triển bền vững nói chung và phát triển bền vững vùng lãnh thổ nóiriêng, bằng góc nhìn đồng đại kết hợp lịch đại, khảo sát, nghiên cứu, làm sáng
tỏ thực trạng phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, bảo vệ môi trường TâyNguyên những thập niên qua Để Tây Nguyên phát triển bền vững, tác giả đềxuất một số kiến nghị, giải pháp góp phần phát triển vùng đất này trongnhững thập niên tới
Trang 29Các công trình nghiên cứu sự tác động của toàn cầu hóa đến vùng đấtTây Nguyên chỉ mới dừng lại ở sự tác động đối với văn hóa - kinh tế - xã hộinói chung Chưa có công trình nào đề cập trực tiếp đến sự tác động của toàncầu hóa đối với những giá trị đạo đức truyền thống cho đồng bào dân tộc TâyNguyên Trong luận án, nghiên cứu sinh tập trung luận giải các nhân tố ảnhhưởng tới giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho đồng bào các dân tộc TâyNguyên nói chung và sinh viên nói riêng.
1.3.2 Các công trình nghiên cứu thực trạng, giải pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho sinh viên khu vực Tây Nguyên
Vấn đề thực trạng và giải pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thốngnhằm hình thành và phát triển nhân cách sinh viên khu vực Tây Nguyên chođến hiện nay, chỉ mới dừng lại ở các báo cáo của Đoàn Thanh niên, Hội sinhviên các trường đại học, cao đẳng khu vực Tây Nguyên
Ban chấp hành Trung ương, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
tổ chức Hội nghị “Báo cáo tình hình thanh niên khu vực Tây Nguyên và một
số nhiệm vụ, giải pháp tăng cường đoàn kết tập hợp thanh niên dân tộc Tây Nguyên” [46], làm rõ những tác động của toàn cầu hoá và nền kinh tế thị
trường tới đời sống của thanh niên Tây Nguyên Những tác động đó, đã làmbiến đổi các giá trị của cuộc sống, trong đó có sự đoàn kết của thanh niên,sinh viên khu vực Tây Nguyên Báo cáo đã đề ra những giải pháp để tăngcường đoàn kết thanh niên, sinh viên dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay
Công trình khoa học “Giải pháp tăng cường đoàn kết, tập hợp thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay” [41] đã nêu lên thực trạng đoàn kết
của thanh niên Tây Nguyên nói chung, sinh viên Tây Nguyên nói riêng Từ đó,tác giả đề ra những giải pháp để tăng cường khối đoàn kết thanh niên TâyNguyên trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, trong công trình chỉ mới đề cậpđược một giá trị đạo đức truyền thống đó là đoàn kết, chưa làm rõ được các giátrị đạo đức khác
Trang 30Tác giả Bùi Minh Đạo trong cuốn sách “Thực trạng phát triển Tây Nguyên và một số vấn đề phát triển bền vững” [37] đã đề cập đến sự tác động
và biến đổi toàn diện của vùng đất Tây Nguyên dưới tác động của toàn cầu hóa
và kinh tế thị trường Trong đó, có sự xung đột giữa giá trị đạo đức của các đồngbào dân tộc bản địa và các dân tộc mới đến sinh sống Còn về vấn đề đạo đức,nhân cách tác giả cũng chỉ đề cập một cách chung chung, chưa khai thác vấn đềnhân cách sinh viên khu vực Tây Nguyên, chưa đưa ra các giải pháp về giáo dụcđạo đức để hình thành nhân cách con người Tây Nguyên
Như vậy, thực trạng đạo đức, giải pháp giáo dục giá trị đạo đức truyềnthống nhằm hình thành và phát triển nhân cách sinh viên khu vực Tây Nguyêntrong các công trình khoa học chỉ mới được đề cập một vài giá trị tiêu biểu,cũng chưa đưa ra được các giải pháp để xây dựng nhân cách, đạo đức sinhviên khu vực này trong thời gian tới Chưa có công trình khoa học nào nghiêncứu chuyên sâu, riêng biệt dưới góc độ triết học về nhân cách sinh viên khuvực Tây Nguyên trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
Tây Nguyên một khu vực đang tiềm ẩn nhiều điều “mới mẻ” ngaychính trong các điều kiện sống, không gian sinh hoạt văn hoá - tín ngưỡng củađồng bào dân tộc nơi đây Vấn đề tuy đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứunhưng vẫn chưa khai thác hết chiều sâu của nó, đặc biệt là vấn đề đạo đức,nhân cách sinh viên khu vực Tây Nguyên Các công trình khoa học đã tiếpcận con người và mảnh đất Tây Nguyên từ chính sách dân tộc, văn hóa tộcngười, điểm nóng chính trị, sự phát triển bền vững dưới góc tác động từ kinh
tế Văn hóa Tây Nguyên được các công trình khoa học làm rõ quá trình tiếp biến,giao thoa văn hóa trong điều kiện ở nơi đây đối diện với di cư cơ học sau năm
1975 cho đến nay Sự xáo trộn thành phần cư trú, dân số tăng nhanh đã làm chovăn hóa Tây Nguyên biển đổi theo xu hướng Kinh hóa và Tây hóa Từ đó, cácgiá trị đạo đức truyền thống, sinh hoạt văn hóa của đồng bào các dân tộc TâyNguyên bị biến đổi có phần bị mai một; sự hoang sơ huyền bí đang được thaydần vào đó là các giá trị chuẩn mực hiện đại Các công trình khoa học nêu trên là
Trang 31cơ sở để tác giả luận án kế thừa, phân tích những biến động văn hóa, xã hội - conngười Tây Nguyên nói chung và sinh viên nơi đây nói riêng.
Tiểu kết chương 1
Đến nay đã có nhiều nghiên cứu về giá trị truyền thống, giáo dục giá trịđạo đức truyền thống, quá trình hình thành nhân cách, sự biến đổi nhân cách,điều đó đã được thể hiện ở trên các tạp chí chuyên ngành, ở nhiều cuốn sách,nhiều cuộc hội thảo cấp quốc gia, quốc tế Tuy nhiên, phần lớn các kết quảnghiên cứu chỉ mới dừng lại ở giá trị văn hoá truyền thống của con người ViệtNam nói chung Chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt,khai thác dưới góc độ triết học về giáo dục giá trị đạo đức truyền thống nhằm hìnhthành và phát triển nhân cách sinh viên khu vực Tây Nguyên Chính vì vậy luận áncần tiếp tục giải quyết các vấn đề sau:
Một, góp phần làm sáng tỏ những nhân tố ảnh hưởng đến giáo dục giá
trị đạo đức truyền thống nhằm hình thành và phát triển nhân cách sinh viênkhu vực Tây Nguyên trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
Hai, khảo sát, điều tra vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc nhằm hình thành và phát triển nhân cách sinh viên khu vực Tây Nguyêntrong giai đoạn hiện nay
Ba, xác định tầm quan trọng của giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho sinh viên khu vực Tây Nguyên,trên cơ sở đó, đề xuất quan điểm định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằmphát huy vai trò của giáo dục giá trị đạo đức truyền thống đối với việc xây dựngnhân cách sinh viên Tây Nguyên trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
Trang 32Chương 2 NHÂN CÁCH, NHÂN CÁCH SINH VIÊN, TẦM QUAN TRỌNG VÀ NỘI DUNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG NHẰM HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH SINH VIÊN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HOÁ HIỆN NAY
2.1 NHÂN CÁCH, NHÂN CÁCH SINH VIÊN VIỆT NAM 2.1.1 Khái nhiệm nhân cách
Trước khi đi sâu nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển nhân cách,chúng ta cần tìm hiểu một số khái niệm có liên quan như con người, cá nhân.Các khái niệm con người, cá nhân, nhân cách vừa có điểm tương đồng vừa có
Khác với các quan điểm trên, triết học Mác - Lênin cho rằng con người
là một thực thể sinh vật - xã hội, mang bản chất xã hội
Con người trước hết là một thực thể sinh vật, một sinh vật sống với tất cảnhững đặc điểm sinh lý, cấu trúc cơ thể và những nhu cầu tự nhiên Về mặt tựnhiên, con người chịu sự chi phối của quy luật sinh học: quy luật về sự phù hợpgiữa cơ thể với môi trường, trao đổi chất, biến dị và di truyền, đồng hoá, dịhoá… Là một thực thể tự nhiên - sinh vật, con người cũng tồn tại với những bảnnăng tự nhiên và những nhu cầu tự nhiên: ăn, uống, ở, đi lại, duy trì nòi giống
Với tư cách là thực thể xã hội, con người trong quá trình tồn tại đã cónhững hoạt động cộng đồng như lao động, giao tiếp, thông qua đó mà một hệ
Trang 33thống quan hệ xã hội được thiết lập Xét về nguồn gốc xã hội, trước hết và cơbản nhất là lao động và ngôn ngữ Chính nhờ lao động và ngôn ngữ mà conngười có khả năng vượt qua loài động vật để tiến hoá và phát triển thànhngười C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định:
Bản thân con người bắt đầu bằng tự phân biệt với súc vật ngay khicon người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình - đó
là một bước tiến do tổ chức cơ thể con người quy định Sản xuất ranhững tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sảnxuất ra chính đời sống vật chất của mình [98, tr.29]
Sự tồn tại và phát triển của con người luôn chịu sự chi phối bởi cácnhân tố xã hội và các quy luật xã hội; bởi hoàn cảnh lịch sử, bởi môi trườngnơi con người sinh sống và tồn tại
Trong hai mặt: sinh học và xã hội của con người thì mặt sinh học làđiều kiện cần, còn xã hội là điều kiện đủ Do đó, con người luôn luôn giữ vaitrò chủ thể trong mọi hoạt động Tuy nhiên, vai trò này phụ thuộc vào trình độtrí tuệ của mỗi cá nhân
Cá nhân là một chỉnh thể đơn nhất với một hệ thống những đặc điểm
cụ thể, không lặp lại, khác biệt với những cá nhân khác về mặt sinh học cũngnhư về mặt xã hội, cá nhân cũng là sự thống nhất của hai mặt: mặt sinh vật vàmặt xã hội Về mặt sinh vật mỗi cá nhân là một cơ thể sống đơn nhất vớinhững cấu trúc cơ thể và đặc điểm tâm sinh lý riêng biệt
Về mặt xã hội, mỗi cá nhân là thành viên của xã hội và không bao giờtách khỏi xã hội Quan hệ giữa xã hội và cá nhân là hiện tượng lịch sử, baogiờ quan hệ này cũng biến đổi và phát triển trong lịch sử Xã hội được tạo ra
từ những mối quan hệ của các cá nhân, mối quan hệ của hoạt động nhóm,cộng đồng, tập đoàn xã hội do mục đích và yêu cầu lịch sử đặt ra Do đó, mốiquan hệ giữa cá nhân và xã hội trong xã hội cổ đại không giống như trong xãhội trung đại, hay xã hội hiện đại
Trang 34Mỗi cá nhân bao giờ cũng có đời sống riêng, với những mối quan hệ xãhội riêng, kinh nghiệm riêng, có nhu cầu lợi ích riêng Chính vì vậy, khôngbao giờ được cào bằng giữa các cá nhân với nhau Tuy nhiên, các cá nhântrong xã hội dù có khác biệt nhau đến đâu đi nữa thì cũng mang những cáichung: là thành viên xã hội, mang bản chất xã hội, chịu sự tác động của cácquy luật xã hội và không thể sống ngoài xã hội.
Như vậy, cá nhân là một khái niệm dùng để chỉ một cá thể người có sự thống nhất giữa mặt sinh vật và mặt xã hội, chịu sự tác động to lớn trong quá trình phát triển của xã hội, là chủ thể của hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Liên quan đến khái niệm con người, cá nhân còn có khái niệm nhân cách.
Nhân cách là một thuật ngữ thường được sử dụng rộng rãi trong đời sống hàngngày Người ta thường đề cao hiểu biết, sáng tạo nhân cách trong các hoạt động
xã hội, trong hành vi ứng xử giữa con người với con người Do vậy, nhân cách
đã được rất nhiều ngành khoa học quan tâm trong đó có triết học
Trong thời kỳ cổ đại, đã có một số nhà tư tưởng ít nhiều đã bàn về vấn đềnhân cách, chẳng hạn như Arixtôt đã đề cập đến vai trò của xã hội và giáo dụcđối với việc hình thành và phát triển nhân cách con người Trong lúc đó, Platoncho rằng: nhân cách là cái gì đó phi vật chất, là kết quả của sự bắt chước “ýniệm”, chỉ là cái bóng của “ý niệm” chứ không phải là bản thân “ý niệm” Quanniệm tôn giáo cho rằng: nhân cách là yếu tố tinh thần đầu tiên của tồn tại người
và chúa là nhân cách tối cao có trước và chi phối nhân cách con người
Chủ nghĩa duy vật trước Mác thường có xu hướng tuyệt đối hoá mặttâm lý, sinh lý, xem nhẹ mặt xã hội hay tách rời mặt xã hội và mặt tự nhiên củanhân cách Lamêtơri (1709 - 1751) cho rằng: nhân cách con người chủ yếu phụthuộc vào yếu tố sinh học, còn yếu tố xã hội được xem là thứ yếu
Trong triết học Phương Đông người ta không bàn trực tiếp đến kháiniệm nhân cách, cấu trúc nhân cách, nhưng các triết gia tiêu biểu của nền triết
Trang 35học phương Đông ngay thời đại cổ đại đã đưa ra nhiều kiến giải sâu sắc vềbản chất, bản tính và đạo làm người Tư tưởng triết học “nhân sinh” củaKhổng Tử và các học trò của ông sau này, chữ “nhân” đã được nói đến nhiềulần Người có “nhân” đồng nghĩa với người hoàn thiện nhất, nên “nhân” lànghĩa rộng nhất của đạo làm người Khổng Tử nói: “Khắc kỷ, phục lễ vinhân” = vượt lên trên mình, phục tùng kỷ luật trở thành Người - con ngườinhân cách [125, tr.251-152].
Cùng với triết học, tâm lý học cũng nghiên cứu về nhân cách Các nhàtâm lý học quan niệm nhân cách là: “Hệ thống những phẩm giá xã hội của cánhân thể hiện những phẩm chất bên trong của cá nhân, mối quan hệ qua lạicủa cá nhân với cá nhân khác, với tập thể, xã hội, với thế giới xung quanh vàmối quan hệ của các cá nhân với công việc trong quá khứ, hiện tại và tươnglai” [113, tr.233] Định nghĩa này, đã cho chúng ta thấy được bản chất xã hộicủa nhân cách đồng thời nêu lên được cấu trúc và cơ chế phát triển của nhâncách với tư cách là con người làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủngay chính bản thân mình
Trên đây chưa phải là tất cả, nhưng chỉ bấy nhiêu đó cũng đủ cho thấy
để có được một quan niệm đầy đủ về nhân cách là một vấn đề không đơngiản Hơn nữa như Ph.Ăngghen viết trong tác phẩm “Chống Đuyrinh” rằng:đúng về mặt khoa học mà nói, thì mọi định nghĩa đều chỉ có một giá trị nhỏthôi Từ vấn đề nhân cách được lý giải như trên, chúng tôi đồng ý với quan
niệm cho rằng: Nhân cách như là một chỉnh thể cá nhân có tính lịch sử - cụ thể, tham gia vào hoạt động thực tiễn, đóng vai trò của chủ thể nhận thức và cải tạo thế giới, chủ thể của quyền hạn và nghĩa vụ, của những chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ và mọi chuẩn mực xã hội khác [115, tr.19] Khi nói đến
nhân cách của con người là nói đến những vấn đề:
Thứ nhất, con người hiện thực, gắn với điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể Thứ hai, nhân cách của từng cá nhân riêng biệt, có những mối quan hệ
mật thiết với tự nhiên, xã hội
Trang 36Thứ ba, đề cập đến các chuẩn mực xã hội (đạo đức, thẩm mỹ) do chính
điều kiện lịch sử - xã hội của mỗi thời đại, mỗi quốc gia quy định
Như vậy, khái niệm nhân cách thường gắn liền với khái niệm conngười, và những phẩm chất đạo đức mà mỗi con người cần phải có Để cómột khái niệm nhân cách toàn diện cần phải xuất phát từ những quan điểmcủa chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất xã hội của con người
Xét về mặt cấu trúc, nhiều ý kiến cho rằng nhân cách gồm hai mặt
thống nhất với nhau là phẩm chất và năng lực, hay nói cách khác nhân cách là
sự thống nhất của phẩm chất đạo đức và năng lực
Vấn đề phẩm chất đạo đức và năng lực lâu nay vẫn có những ý kiếnkhác nhau Có ý kiến cho rằng phẩm chất đạo đức là cái gốc quan trọng, quyếtđịnh toàn bộ nhân cách của con người Nhưng cũng không ít ý kiến khẳngđịnh trong điều kiện của nền kinh tế thị trường thì không chỉ có đạo đức là đủ,
mà điều cần thiết là năng lực
Chúng tôi cho rằng cả phẩm chất đạo đức và năng lực là nội dung quantrọng trong cấu trúc nhân cách Đức được coi là gốc, nền tảng của nhân cáchhay còn gọi là hạt nhân cơ bản của nhân cách con người Thành phần của Đứcbao gồm: “1) phẩm chất xã hội (thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, thái độchính trị - xã hội, trong đó thế giới quan là thuộc tính kết cục chủ yếu củanhân cách, là đặc quyền của con người vươn tới tầm cao của tinh thần)(A.G.Xpirkin) 2) phẩm chất cá nhân (còn gọi là đạo đức, tư cách của cánhân) 3) Phẩm chất ý chí (tính kỷ luật, tính mục đích, tính quả quyết, tínhkiên trì, tính dũng cảm) 4) cung cách ứng xử (tác phong lễ tiết, tính khí…củacon người)” [115, tr.21]
Khi nói đến năng lực là chúng ta muốn nói đến năng lực thích ứng với
xã hội, các năng lực đó bao gồm: 1) năng lực xã hội hoá là khả năng tích luỹtri thức và vận dụng tri thức đó vào giải quyết các vấn đề của cuộc sống 2)năng lực chủ thể hoá là khả năng thể hiện tính độc đáo, sáng tạo của mỗi cá
Trang 37nhân để lại dấu ấn cho cộng đồng và xã hội 3) năng lực hành động thể hiện
sự chủ động trong hành động để đạt được mục tiêu được đề ra
Sự thống nhất giữa phẩm chất đạo đức và năng lực ở mỗi cá nhân cóđược chủ yếu là do quá trình đào tạo, rèn luyện của bản thân mỗi cá nhân đótạo nên Khi nói đến sự thống nhất này, Hồ Chí Minh thường đề cập đến mốiquan hệ giữa “hồng” và “chuyên”, thể hiện quyết tâm xây dựng con ngườiViệt Nam xã hội chủ nghĩa “vừa hồng, vừa chuyên”
2.1.2 Một số nhân tố cơ bản tác động đến sự hình thành nhân cách
Nhân cách của mỗi cá nhân không phải hình thành một lúc, một lần làxong mà diễn ra theo một quá trình, suốt cả cuộc đời và chịu sự tác động, chiphối của nhiều yếu tố, trong đó nổi lên mấy yếu tố cơ bản sau đây:
Th ứ nhất, quá trình hình thành và phát triển nhân cách luôn gắn liền
với giáo dục
Quá trình giáo dục và tự giáo dục luôn là một nhân tố tác động quan trọngnhất đối với quá trình phát triển nhân cách của con người, định hướng các giá trịcuộc sống cho con người Điều này, được cắt nghĩa bởi các lý do sau đây:
Một là, quá trình học tập của một con người chiếm một tỷ lệ rất lớn
trong cuộc đời của họ, họ học tập từ lúc mới sinh ra cho đến lúc trưởng thành
và lúc về già Con người tham gia vào các quá trình hoạt động của xã hội, đểthích ứng với môi trường xã hội thì buộc con người phải tham gia quá trìnhhọc tập, học ở nhà trường, học ở mọi người Khi đề cập đến nhiệm vụ củaThanh niên nói chung, của đoàn Thanh niên Cộng sản nói riêng, V.Lênin nóirằng, Thanh niên bây giờ chỉ có một nhiệm vụ, nhiệm vụ đó có thể tóm gọnbằng một từ, nhiệm vụ đó là: học tập Hồ Chí Minh quan niệm học tập là sựnghiệp suốt đời của mỗi con người (học ở nhà trường, học ở nhân dân, học ởthực tiễn cuộc sống) Chính vì vậy, tất cả những gì tốt đẹp của giáo dục, tựgiáo dục đều có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự hình thành và pháttriển nhân cách của mỗi con người
Trang 38Hai là, trong môi trường giáo dục con người trưởng thành về mặt nhận
thức và hoàn thiện dần về nhân cách Quá trình giáo dục trang bị cho conngười tri thức về tự nhiên và xã hội, các kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năngsống, những giá trị về văn hoá nhân loại, văn hoá dân tộc, giá trị đạo đức,pháp luật, tôn giáo, chính trị, khoa học công nghệ.v.v Nhờ những tri thức conngười tiếp thu được trong quá trình giáo dục không chỉ giúp con người nhậnthức được thế giới mà còn cải tạo thế giới, yếu tố thực sự góp phần vào việchình thành và phát triển nhân cách của con người Mặt khác, thông qua giáodục mà các thế hệ nối tiếp nhau, kế thừa các thành tựu văn minh nhân loại đểhình thành nên nhân cách
Ba là, giáo dục là môi trường xã hội đặc biệt, trong đó diễn ra nhiều
tương tác xã hội mà chủ thể chính là những con người Đó là mối tương tácgiữa người dạy và người học, giữa bạn bè cùng trang lứa, giữa các thế hệ đểtruyền tải tri thức cho nhau, kế thừa kinh nghiệm của nhau Chính mối tươngtác này, tác động lên cuộc sống hàng ngày của mỗi người tạo nên quá trìnhhình thành nhân cách, ngăn chặn được những tác động tiêu cực, phản giá trịcủa cuộc sống
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, trong đó một tập hợp xã hội (nhómngười) đã tích luỹ được vốn kinh nghiệm nhất định truyền đạt lại chonhóm xã hội khác nhằm giúp họ tham gia vào đời sống xã hội, giúp họhiểu biết các chuẩn mực, khuôn mẫu, giá trị xã hội để xây dựng thànhnhân cách phù hợp với sự đòi hỏi của lợi ích xã hội [71, tr.5]
Có thể nói, sự hình thành và phát triển nhân cách con người, cả về mặt nănglực lẫn phẩm chất đạo đức phụ thuộc rất lớn vào giáo dục Những tố chất bẩmsinh - di truyền có thể được coi là điều kiện cần thiết ban đầu cho sự phát triểnnăng lực, tài năng Nhưng sự phát triển năng lực của con người, của nhân cáchphụ thuộc vào một yếu tố khác, đó là yếu tố xã hội - lịch sử, trong đó giáo dụcgiữ vai trò quan trọng Trong “Hệ tư tưởng Đức” C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết
Trang 39rằng: “Một cá nhân đại loại như Ra-pha-en có thể phát triển được tài năng củamình hay không - điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào nhu cầu, mà nhu cầu thì lạitùy thuộc vào phân công lao động và tùy thuộc vào những điều kiện giáo dụccon người do sự phân công ấy sản sinh ra” [98, tr.574].
Th ứ hai, quá trình hình thành và phát triển nhân cách chịu sự tác động
qua lại giữa cá nhân và xã hội
Xã hội hoá cá nhân thực chất là quá trình cá nhân tham gia vào đờisống xã hội Đây là quá trình xã hội tác động tới cá nhân, làm cho cá nhân hoànhập và thích nghi với đời sống của cộng đồng, trở thành thành viên của cộngđồng Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn quan tâm tới quá trình con người tham giavào các hoạt động xã hội trong việc hình thành và phát triển nhân cách phùhợp với các giá trị chuẩn mực xã hội Mọi chuẩn mực và giá trị xã hội đượchình thành từ hoạt động lao động của con người Quá trình đó làm nảy sinhbản tính người trong quan hệ xã hội và bản chất xã hội của con người Cơ sởcho mọi lối sống đều được nghiên cứu từ tính chất và trình độ hoạt động laođộng Từ khi xuất hiện các quan hệ sản xuất thì nhiều quan hệ giao tiếp kháccũng ra đời Trong quá trình tham gia của cá nhân vào hoạt động của xã hội,những giá trị, các chuẩn mực xuất hiện, cùng với sự quy định của lịch sử đãtác động to lớn tới việc hình thành và phát triển nhân cách
Sự hình thành và phát triển nhân cách luôn chịu sự chi phối bởi cácquan hệ, trong đó quan hệ lợi ích giữ vai trò quan trọng Bởi vì, khi đánh giánhân cách của một con người thì người ta luôn đặt trong mối quan hệ lợi íchcủa cộng đồng, tập thể, lợi ích cá nhân và lợi ích của quốc gia dân tộc
Con người khi mới sinh ra nhân cách chưa xuất hiện, nhân cách chỉ có
ở mỗi con người khi con người tham gia vào quá trình hoạt động xã hội, cáchoạt động đó đặt trong mối quan hệ nhiều chiều (gia đình - nhà trường - xãhội) Đây chính là quá trình con người tham gia vào quá trình giao tiếp, hoạtđộng xã hội để làm biến đổi con người không chỉ về mặt sinh học mà còn biến
Trang 40đổi về mặt xã hội Sự biến đổi đó chính là quá trình hình thành và phát triểnnhân cách con người.
Th ứ ba, sự hình thành và phát triển nhân cách con người chịu sự chi
phối bởi các yếu tố văn hoá - xã hội trong các giai đoạn lịch sử cụ thể
Con người đã sáng tạo ra các giá trị văn hoá - xã hội và ngược lại cácgiá trị văn hoá - xã hội lại tác động đến quá trình phát triển nhân cách Xã hộinào cũng hình thành các giá trị văn hoá chứa đựng những phong tục tập quán,lối sống, những điều cấm kỵ tạo nên các chuẩn mực của văn hoá - xã hội.Những giá trị, chuẩn mực của văn hoá - xã hội được phản ánh qua thế giớiquan, tri thức hiểu biết về xã hội, ý thức thẩm mỹ, giá trị đạo đức…Những giátrị chuẩn mực này tác động tới sự hình thành và phát triển nhân cách của conngười thông qua giáo dục và tự giáo dục
Mối quan hệ giữa nhân cách và các giá trị văn hoá truyền thống khôngphải là một chiều mà là quan hệ biện chứng: mỗi cá nhân, một mặt tiếp nhận
sự tác động của các giá trị văn hoá truyền thống một cách tích cực, có cảibiến, chọn lọc, kế thừa và chuyển hoá để biến thành cái “tôi” bên trong; mặtkhác, thông qua hoạt động tích cực của mỗi cá nhân lại tác động trở lại làmphong phú thêm các giá trị văn hoá truyền thống
Lịch sử phát triển của xã hội loài người diễn ra vô cùng phức tạp, cácgiá trị chuẩn mực xã hội luôn đan xen, tác động lẫn nhau, ảnh hưởng tới quátrình hình thành và phát triển của nhân cách con người Khi nhân cách đượchình thành, con người trở thành chủ thể xã hội và thúc đẩy xã hội phát triển
Sự phát triển nhân cách của chủ thể dựa vào tiếp thu các giá trị văn hoá truyềnthống dân tộc và các chuẩn mực xã hội khác, trên cơ sở của một phương thứcsản xuất nhất định của xã hội đó
Th ứ tư, quá trình hình thành và phát triển nhân cách chịu sự chi phối
của đạo đức - nhân tố cốt lõi trong cấu trúc nhân cách
Đạo đức là một trong những yếu tố cấu thành nhân cách và là nòng cốt,hạt nhân của nhân cách Có thể nói thành tố đạo đức là phẩm chất đầu tiên của