1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn Thành phố Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa

180 216 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 180
Dung lượng 3,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tạo việc làm cho người lao động ở khu vực nông nghiệp nông thôn trong quá trình đô thị hóa là vấn đề cần thiết phải được Đảng, Nhà nước, các địa phương nhìn nhận, đánh giá đúng đắn để đả

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

TRẦN THỊ MINH PHƯƠNG

GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH ĐÔ THỊ HÓA

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ PHÁT TRIỂN

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN THỊ MINH HIỀN

TS NGUYỄN QUỐC CHỈNH

HÀ NỘI, 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hiền và

TS Nguyễn Quốc Chỉnh là những giáo viên trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi về mọi mặt để hoàn thành luận án tiến sĩ kinh tế này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Ban Quản lý đào tạo, tập thể giáo viên và cán bộ Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn mà trực tiếp là các thầy, cô giáo Bộ môn Phát triển Nông thôn đã tận tình hướng dẫn, định hướng cho tôi trong quá trình xây dựng luận án Tôi cũng cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi về tinh thần, vật chất và thời gian để tôi hoàn thành quá trình học tập và hoàn thành luận án

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự tận tình giúp đỡ của các đơn vị, tổ chức, Sở Nông nghiệp và PTNT TP Hà Nội, Sở Lao động-Thương binh và Xã hội TP Hà Nội, Cục Thống kê TP Hà Nội; Các Trung tâm giới thiệu việc làm trên địa bàn

TP Hà Nội, UBND các huyện, thị xã trong TP Hà Nội; UBND xã, Phòng Lao động việc làm các huyện, thị xã trong TP Hà Nội, các hộ gia đình tại TP Hà Nội đã tạo điều kiện giúp tôi thu thập số liệu và những thông tin cần thiết để hoàn thành luận án

Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận án

Trần Thị Minh Phương

Trang 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU TẠO VIỆC

LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRONG BỐI CẢNH ĐÔ

1.1.3 Các tác động của đô thị hóa tới tạo việc làm cho lao động khu vực

1.1.5 Nội dung các hoạt động và biện pháp tạo việc làm cho lao động

Trang 6

1.2.1 Kinh nghiệm tạo việc làm cho lao động nông thôn ở một số nước 34

Chương 3 THỰC TRẠNG TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG

3.1 Khái quát về lao động và việc làm ở khu vực nông thôn thành phố

Trang 7

3.2 Thực trạng tạo việc làm cho lao động nông thôn thành phố Hà Nội 85

Chương 4 GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG TẠO VIỆC LÀM

CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH

Trang 8

4.3 Các giải pháp chủ yếu 134

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Cụm từ tiếng Việt Cụm từ tiếng Anh

CNH-HĐH Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa

Organization

thức

Official Development Assisstance

Standard Survey

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

3.2 Cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật của dân số trên 15 tuổi khu

3.3 Tỷ lệ lao động có việc làm khu vực nông thôn so với toàn thành

3.4 Lao động có việc làm của Hà Nội theo ngành kinh tế, giai đoạn

3.6 Số việc làm được tạo ra từ các hộ vay vốn giải quyết việc làm phân

3.7 Số việc làm được tạo ra từ các đề án học nghề phân theo

3.8 Số việc làm được tạo ra qua các doanh nghiệp phát triển sản xuất

Trang 11

3.12 Tỷ lệ người dân đi tìm việc qua Trung tâm dịch vụ việc làm phân

3.14 Trình độ chuyên môn kỹ thuật theo nông thôn và khu vực kinh tế

3.15 Kết quả ước lượng mô hình xác định khả năng có việc làm phi

4.1 Kết quả dự báo dân số, cung lao động thành phố Hà Nội giai đoạn

4.3 Kết quả dự báo cầu lao động thành phố Hà Nội theo ngành, giai

Trang 12

3.3 Cơ cấu lao động có việc làm khu vực nông thôn theo 3 nhóm ngành

3.4 Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động ngành nông nghiệp,

3.5 Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nhóm ngành phi nông

Trang 13

DANH MỤC SƠ ĐỒ

4.1 Áp lực tạo việc làm cho lao động nông thôn trong bối cảnh đô thị hóa 128

DANH MỤC HỘP

1.1 Mô hình giải quyết việc làm cho lao động mất việc làm do chuyển

đổi mục đích sử dụng đất ở Hải Dương 513.1 Vấn đề tạo việc làm cho lao động nông thôn 933.2 Xuất khẩu lao động góp phần giải quyết việc làm cho lao động

nông thôn 953.3 Hộ kinh doanh vay vốn tạo việc làm 963.4 Nguồn vốn từ Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm 1043.5 Hỗ trợ vốn vay phát triển sản xuất và chuyển đổi nghề nghiệp cho

người lao động 1063.6 Xuất khẩu lao động giúp giải quyết việc làm 1124.1 Mô hình tạo việc làm bằng hình thức phát triển ngành nghề dịch vụ

thương mại 139

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tất yếu sẽ dẫn đến quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng một bộ phận diện tích đất nông nghiệp sang phục vụ quá trình phát triển đô thị và các khu kinh tế, khu - cụm công nghiệp Vì vậy, sẽ có những tác động tích cực cũng như tiêu cực đến hộ gia đình nông nghiệp, nông thôn Những hộ gia đình này phải đối mặt với việc chuyển đổi nghề do bị mất đất sản xuất, rơi vào trạng thái bị động và thiếu các điều kiện đảm bảo cuộc sống khi họ bị mất việc làm và buộc phải chuyển đổi nghề từ sản xuất nông nghiệp sang các ngành nghề khác, lao động nông nghiệp mất việc làm truyền thống và khó chuyển đổi nghề nghiệp Vấn đề giải quyết việc làm để ổn định đời sống cho người lao động nổi lên như một hiện tượng vừa mang tính khách quan của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, vừa mang tính đặc thù của khu vực nông nghiệp, nông thôn (Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, 2011)

Tạo việc làm cho người lao động ở khu vực nông nghiệp nông thôn trong quá trình đô thị hóa là vấn đề cần thiết phải được Đảng, Nhà nước, các địa phương nhìn nhận, đánh giá đúng đắn để đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người nông dân bị thu hồi đất, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

Với mục tiêu năm 2015, cơ bản hoàn thành CNH-HĐH Thủ đô (về đích trước 5 năm so với cả nước trên con đường CNH-HĐH), Hà Nội phấn đấu đạt tốc

độ tăng trưởng GDP bình quân 9,5% đến 10%/năm Mục tiêu, định hướng này được nêu rõ trong Chỉ thị của UBND TP Hà Nội về việc xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm (2011-2015) (Hội đồng Nhân dân Thành phố Hà Nội, 2012) Hà Nội là một trong những thành phố có tốc độ đô thị hoá thuộc loại nhanh nhất so với các địa phương khác trong cả nước Điều này được thể hiện qua sự mở rộng phạm vị địa giới và sự tăng trưởng về số lượng các khu công nghiệp tập trung, cụm công nghiệp vừa và nhỏ, các khu đô thị mới

Trang 15

Từ 01/8/2008, thực hiện nghị quyết số 15/NQ-QH về mở rộng địa giới hành chính thủ đô Hà Nội, dân số Hà Nội tăng từ 3,556 triệu người lên 6,4 triệu người sau khi hợp nhất, dân số trong tuổi lao động tăng từ 2,256 triệu người lên 4,3 triệu người, trong đó số lao động tham gia hoạt động kinh tế là 3,2 triệu người, quy mô cung lao động khoảng 170.000 người/năm, tương ứng 5,34% số lao động tham gia hoạt động kinh tế toàn thành phố Năm 2015, quy mô dân số của Hà Nội khoảng 7,2 triệu người, trong đó có 4,8 triệu người trong độ tuổi lao động Dự báo đến năm 2020, dân số đạt 7,9 triệu người, bình quân trong 5 năm

từ 2015- 2020, hàng năm Hà Nội có khoảng 180 - 220 nghìn lao động mất việc làm hoặc thiếu việc do chuyển đổi mục đích sử dụng đất (Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, 2011)

Quá trình đô thị hoá đã và đang diễn ra mạnh mẽ ở Hà Nội Ở tầm vĩ mô, một mặt đô thị hoá là một trong những giải pháp quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đáp ứng mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá Mặt khác, đô thị hoá cũng là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh sự phát triển của một đất nước Tuy nhiên bên cạnh những tác động tích cực, vẫn còn có không ít những bất cập, tồn tại đặt ra cần phải giải quyết, đặc biệt là vấn đề lao động - việc làm đối với một bộ phận lớn người dân bị rơi vào tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm khi bị thu hồi đất đai phục vụ mục tiêu đô thị hoá Cụ thể, đô thị hóa có ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm, thu nhập của những người dân chịu ảnh hưởng của đô thị hóa Mặt tích cực

rõ nhất của đô thị hóa đem lại là cơ cấu kinh tế và cơ cấu việc làm chuyển dịch theo hướng hiện đại (tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ, giảm dần khu vực nông nghiệp) Ngược lại, mặt tiêu cực hiển hiện của đô thị hóa là diện tích đất nông nghiệp của nông thôn Hà Nội có xu hướng ngày càng bị thu hẹp nhanh chóng, việc chuyển đổi cơ cấu lao động và việc làm của người dân có tác động lớn đến thu nhập và đời sống của họ

Đô thị hóa có thể tác động làm người nông dân không còn từ liệu sản xuất, mất việc làm trong nông nghiệp, quá trình chuyển đổi nghề nghiệp và tìm kiếm việc làm của họ rất khó khăn bởi trình độ tay nghề còn thấp và hạn chế,

Trang 16

thiếu kinh nghiệm và kỹ năng làm việc trong môi trường công nghiệp Vì vậy, mặc dù dự án mở ra nhiều, nhưng để có việc làm, thu nhập ổn định vẫn luôn là vấn đề cần giải quyết Có thể nói, đô thị hoá đã tác động rất lớn đến việc làm của người lao động nói chung và người nông dân nói riêng Sự quá tải về cơ sở

hạ tầng, thiếu việc làm, thất nghiệp gia tăng làm phát sinh các tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường gây không ít khó khăn cho việc hoàn thành các chỉ tiêu kinh

tế - xã hội, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Mặc dù, đi cùng những dự án, hạ tầng kĩ thuật và hạ tầng xã hội ở các khu vực dân cư xung quanh vùng quy hoạch cũng được cải tạo và nâng cấp đồng bộ Đời sống của người dân có nhiều thay đổi theo chiều hướng tích cực, hạ tầng cơ sở và hệ thống (y tế, giáo dục, giao thông ) ngày càng được cải thiện hơn Tóm lại, bên cạnh những tác động của đô thị hoá đối với đời sống kinh tế - xã hội nói chung thì đô thị hóa tác động trực tiếp đến vấn đề lao động - việc làm của người dân nông thôn Hà Nội

Vì vậy, việc nghiên cứu để tổng kết lý luận và thực tiễn tạo việc làm cho lao động nông thôn Hà Nội là hết sức cần thiết, nhằm phân tích, đánh giá khái quát thực trạng việc làm, tạo việc làm cho người lao động nông thôn Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa và đánh giá và đo tác động của các yếu tố tác động đến tạo việc làm khu vực nông thôn Từ đó đề xuất những giải pháp tăng cường tạo việc làm cho người lao động nông thôn Hà Nội

2 Mục tiêu nghiên cứu

a, Mục tiêu chung

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm cho lao động nông thôn

Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa, đề xuất các giải pháp tăng cường khả năng tạo việc làm cho khu vực này

b, Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hoá và làm rõ cơ sở lý luận về việc làm, tạo việc làm và kinh

nghiệm thực tiễn tạo việc làm cho lao động nông thôn

- Đánh giá thực trạng tạo việc làm cho lao động nông thôn Hà Nội trong

bối cảnh ĐTH

Trang 17

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm cho lao động nông thôn

của Hà Nội trong bối cảnh ĐTH

- Đề xuất định hướng và giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn

thành phố Hà Nội trong bối cảnh ĐTH

3 Câu hỏi nghiên cứu và giả định nghiên cứu

a) Đề tài tập trung nghiên cứu trả lời các câu hỏi:

- Thực trạng về việc làm và tạo việc làm cho lao động nông thôn TP Hà

Nội trong bối cảnh ĐTH diễn ra như thế nào?

- Những chính sách, quy định hiện nay đã được thực hiện như thế nào để

có thể hỗ trợ tạo việc làm, hiệu quả của các chính sách?

- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến tạo việc làm cho lao động nông thôn

Hà Nội, mức độ ảnh hưởng ra sao?

- Với bối cảnh ĐTH cần có những giải pháp gì để tăng cường tạo việc làm

cho lao động nông thôn Hà Nội?

b) Giả định nghiên cứu

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành Công nghiệp

và dịch vụ sẽ kéo theo xu hướng này đối với việc làm

- Đầu tư, tăng trưởng, một số chương trình tạo việc làm sẽ đem lại hiệu quả đến tạo việc làm cho lao động nông thôn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a) Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng của luận án được xác định là lý luận và thực tiễn tạo việc làm

cho lao động nông thôn Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa

b) Phạm vi nghiên cứu

được chọn để khảo sát là các huyện, thị xã phía Tây TP Hà Nội nơi có tốc độ ĐTH diễn ra mạnh mẽ

- Luận án nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tạo việc làm

cho lao động nông thôn trong bối cảnh ĐTH

Trang 18

- Thực trạng tạo việc làm cho lao động nông thôn, các yếu tố ảnh hưởng

và các giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn thành phố Hà Nội

ĐTH mà không coi ĐTH như một nhân tố chính để phân tích về tạo việc làm;

dân số, lao động - việc làm của thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2014, kết hợp các số liệu điều tra thực địa do tác giả thực hiện: Các đề xuất cho giai đoạn 2015

- 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

5 Những đóng góp mới của luận án

a, Đóng góp về lý luận

- Hệ thống hóa và làm rõ thêm cơ sở lý luận về tạo việc làm nói chung, tạo

việc làm cho lao động nông thôn nơi có tốc độ ĐTH diễn ra rất nhanh và các yếu

tố ảnh hưởng đến tạo việc làm từ đó đưa ra giải pháp tạo việc làm cho LĐNT trong bối cảnh ĐTH

- Tăng cường nhận thức cho các cấp lãnh đạo, các nhà quản lý trong

việc vận dụng cơ sở lý luận về tạo việc làm cho lao động nông thôn trong bối cảnh ĐTH

- Về mặt phương pháp phân tích, luận án áp dụng các mô hình phân tích

khả năng có việc làm và phân tích cầu lao động vào trường hợp nghiên cứu cụ thể của luận án, ngoài việc sử dụng các biến truyền thống thường có sẵn như lao động, vốn, giá trị gia tăng hay tiền lương,…luận án cũng sử dụng một số biến đại diện cho quá trình thay đổi cơ cấu kinh tế, chính sách tạo việc làm,…nhờ đó phản ánh được phần nào vai trò của các yếu tố tác động đến tạo việc làm cho khu vực nông thôn

b, Đóng góp về thực tiễn

- Cung cấp thông tin về thực trạng việc làm và các chính sách tạo việc làm

của thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2014

- Làm rõ những vấn đề tồn tại trong tạo việc làm cho người lao động nông

thôn của thành phố Hà Nội

Trang 19

- Đánh giá phân tích định lượng và định tính các yếu tố tác động đến tạo

việc làm cho lao động nông thôn thành phố Hà Nội Nêu rõ vai trò của giáo dục, đào tạo đối với khả năng có được việc làm của người lao động Khả năng tạo việc làm từ chính sách, từ đầu tư, tăng trưởng hay những cơ hội và thách thức đối với người lao động để tìm việc làm trong bối cảnh đô thị hóa

- Cung cấp các thông tin về dự báo cung và cầu lao động; bối cảnh kinh tế

xã hội đến 2020; Đề xuất các giải pháp tạo việc làm, tăng cường tạo việc làm cho người lao động nông thôn của thành phố Hà Nội

Trang 20

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRONG

BỐI CẢNH ĐÔ THỊ HÓA

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Việc làm

- Các quan điểm về việc làm

Theo Nguyễn Hữu Quỳnh (1998): "Việc làm là hành vi của nhân viên, có năng lực lao động thông qua hình thức nhất định kết hợp với tư liệu sản xuất, để

được thù lao hoặc thu nhập kinh doanh" Bản chất của định nghĩa là sự kết hợp

giữa người lao động và tư liệu sản xuất Khu vực làm việc thuộc các loại hình

kinh tế có thể là Nhà nước, tư nhân, có vốn đầu tư nước ngoài, v.v

Theo từ điển tiếng Việt: “Việc làm là công việc được giao cho làm và được trả công” (Viện Ngôn ngữ học, 2010) tuy nhiên, khái niệm này còn quá

rộng và chưa cụ thể Trong thực tế người lao động có thể tự tạo ra việc làm cho

mình, đồng thời có thu nhập mà không cần được giao

Trong thực tế, khái niệm về việc làm thường nhấn mạnh ở hai điểm cơ bản, đó là thu nhập và tính hợp pháp của các hoạt động lao động Ở Việt Nam,

Luật Việc làm có nêu: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không

bị pháp luật cấm” (Quốc hội, 2013) Điều 3, Chương 1, Luật Việc làm ban hành

ngày 16 tháng 11 năm 2013, như vậy, nội dung điều này cho thấy hai tiêu thức

bắt buộc để xác định hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm ở Việt Nam

bao gồm tiêu thức về thu nhập và tính pháp lý của việc làm

Thứ nhất, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động

và cho các thành viên trong gia đình Điều này chỉ rõ tính chất hữu ích và nhấn

mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập và việc làm Hoạt động đem lại thu nhập được

lượng hóa dưới các dạng như:

+ Người lao động nhận được tiền công, tiền lương bằng tiền hoặc hiện vật

từ người sử dụng lao động

+ Tự đem lại thu nhập cho bản thân thông qua các hoạt động kinh tế mà bản thân người lao động làm chủ

Trang 21

+ Đem lại thu nhập cho hộ gia đình mà bản thân người thực hiện công việc đó là thành viên của hộ gia đình hoặc hộ gia đình quản lý

Thứ hai, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm, điều này chỉ rõ tính

pháp lý của việc làm Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi, ngành nghề

và hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động ở Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế nhiều thành phần Người lao động hợp pháp ngày nay được đặt vào vị trí chủ thể, có quyền tự do hành nghề, tự do liên doanh liên kết,

tự tìm kiếm việc làm, tự do thuê mướn lao động trong khuôn khổ của pháp luật, không bị phân biệt đối xử dù làm trong hay ngoài khu vực Nhà nước Điều này khẳng định tính chất pháp lý trong hoạt động của người lao động thuộc khu vực ngoài Nhà nước và các khu vực phi chính thức (Quốc hội, 2013)

Hai tiêu chí đó có quan hệ chặt chẽ với nhau và là điều kiện cần và đủ để một hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm Nếu một hoạt động tạo ra thu nhập nhưng vi phạm pháp luật như buôn lậu, trộm cắp, mại dâm… thì không được thừa nhận là việc làm Nếu căn cứ vào thu nhập đem lại cho người lao động thì có nhiều loại hoạt động có ích cho xã hội, gia đình cộng đồng nhưng không tạo ra thu nhập hoặc góp phần tạo ra thu nhập Cụ thể, hai người cùng làm công việc nội trợ, người thứ nhất làm công việc nội trợ cho gia đình thì sẽ có ích cho gia đình người đó (vì gia đình không cần phải thuê người giúp việc và các thành viên trong gia đình có thể yên tâm đi làm việc kiếm tiền từ công việc bên ngoài) nhưng không được trả công, không tạo ra thu nhập nên không được coi là việc làm Người thứ hai cũng làm công việc nội trợ nhưng là làm giúp việc là gia đình khác và được trả công thì lại được coi là việc làm Như vậy, theo các tiếp cận này khái niệm việc làm chưa khái quát được hết bản chất của việc làm (Quốc hội, 2013)

- Phân loại việc làm

Theo Tổ chức lao động quốc tế ILO (2009), khái niệm việc làm chỉ đề cập đến trong mối quan hệ với lực lượng lao động Khi đó, việc làm được phân thành hai loại: Có trả công (những người làm thuê, học việc…) và không được trả công nhưng vẫn có thu nhập (ví dụ: chủ cơ sở)

Trang 22

Từ những khái niệm trên, tác giả thống nhất khái niệm việc làm là hoạt động lao động của các cá nhân trong xã hội nhằm mục đích tạo ra thu nhập cho người lao động và cho các thành viên trong gia đình (được trả công bằng tiền, hiện vật, trao đổi công hay tự làm cho gia đình không hưởng tiền công/lương) mà không bị pháp luật cấm

Trong các cuộc điều tra Lao động việc làm ở Việt Nam, việc làm được xác định: Việc làm là mọi hoạt động từ 1 giờ trở lên tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm (Tổng cục Thống kê, 2011) Trong đó, việc làm được phân thành hai loại, bao gồm:

Việc làm được trả công: bằng tiền, hoặc dưới các hình thức khác mà

người nhận tiền lương, tiền công,… phải hoàn thành trong một thời gian nhất định với yêu cầu cụ thể về số lượng và chất lượng công việc do người hoặc nơi trả công quy định, không phân biệt người đó hoặc nơi đó là cá thể hay cơ quan, doanh nghiệp,… Hợp đồng lao động (bằng giấy hoặc thỏa thuận miệng) cho phép

họ nhận được tiền lương, tiền công cơ bản mà khoản thu nhập này không phụ thuộc trực tiếp và kết quả hoạt động của cơ quan/đơn vị nơi họ làm việc

Việc tự làm: là các công việc mà thu nhập phụ thuộc trực tiếp vào lợi

nhuận thu được từ hoạt động sản xuất hàng hóa và dịch vụ Việc tự làm gồm các công việc tự làm của bản thân để tạo thu nhập hoặc làm cho kinh tế ủa hộ gia đình mình không hưởng tiền lương, tiền công

Phân loại việc làm theo vị trí lao động:

Việc làm chính: Là công việc mà người lao động thực hiện dành

nhiều thời gian nhất và đòi hỏi yêu cầu của công việc cần trình độ chuyên môn kỹ thuật

Việc làm phụ: Là công việc mà người lao động thực hiện dành nhiều thời

gian nhất sau công việc chính

Việc làm bền vững: Khái niệm và nội dung về việc làm bền vững đã

được các quốc gia trên thế giới (Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan,…) quan tâm trong các chương trình việc làm Theo ILO (2009), việc làm bền vững là cơ hội cho nam giới và nữ giới có được việc làm ổn định và năng suất trong điều kiện

tự do, bình đẳng, và nhân phẩm được tôn trọng Mục tiêu chính của ILO ngày

Trang 23

nay là tạo cơ hội cho nam và nữ có được việc làm bền vững và năng suất trong điều kiện tự do, công bằng, an toàn và tôn trọng giá trị nhân phẩm Việc làm bền vững chính là những khát vọng của con người trong cuộc sống lao động của

họ về cơ hội và thu nhập, quyền lợi, tiếng nói và sự thừa nhận; sự ổn định gia đình và phát triển cá nhân; sự công bằng và bình đẳng như nhau Phản ánh mối quan tâm của Chính phủ cùng người sử dụng lao động và người lao động sẽ cùng nhau tạo ra một sự hợp nhất về đối thoại ba bên (nhà quản lý, người chủ sử dụng lao động và người lao động)

Khái niệm việc làm bền vững được Tổ chức Lao động quốc tế ILO (2009) xác định: “Việc làm bền vững là cơ hội việc làm có năng suất, có mức thu nhập công bằng, bảo đảm an toàn ở nơi làm việc và bảo trợ xã hội về mặt gia đình”

1.1.1.2 Tạo việc làm

- Các quan điểm về tạo việc làm

Vấn đề tạo việc làm được nhắc đến trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X: “Phát triển thị trường lao động trong mọi khu vực kinh tế, tạo

sự gắn kết cung-cầu lao động, phát huy tính tích cực của người lao động trong học nghề, tự tạo và tìm việc làm” (Ban chấp hành Trung Ương, 2006) Các chương trình hỗ trợ tín dụng, chuyển giao công nghệ và dạy nghề giúp người lao động nói chung và thanh niên nói riêng đầu tư sản xuất kinh doanh, tự tạo việc làm là một trong những nội dung hoạt động của các Chương trình Mục tiêu quốc gia về việc làm, giảm nghèo và dạy nghề đến năm 2010 và 2015

Khái niệm về tạo việc làm: Theo Trần Ngọc Diễn (2002) tạo việc làm là

quá trình tạo ra số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất, số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động, đem lại thu nhập cho người lao động Tạo việc làm theo nghĩa rộng, bao gồm những vấn đề liên quan đến việc phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực Quá trình đó diễn ra từ việc giáo dục, đào tạo và phổ cập nghề nghiệp, chuẩn bị cho người lao động tham gia vào thị trường lao động đến tự do lựa chọn việc làm và nhận lại những gì xứng đáng với giá trị lao động mà mình

đã tạo ra Tạo việc làm theo nghĩa hẹp chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, chưa có việc làm hoặc thiếu việc làm nhằm tạo thêm chỗ làm cho người lao

động, duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp

Trang 24

Để phản ánh rõ vấn đề tạo việc làm, các phân tích về sau sử dụng kết hợp theo hai nghĩa (nghĩa rộng và nghĩa hẹp) của tạo việc làm Tạo việc làm cần có

sự tham gia của cả người sử dụng lao động, người lao động và nhà nước Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong tạo việc làm Vai trò của nhà nước thể hiện trong việc tạo môi trường thuận lợi cho việc hình thành và phát triển, tạo ra môi trường thuận lợi cho người lao động và người sử dụng lao động phát huy khả năng của họ, đưa ra các chính sách có liên quan đến người lao động, người sử dụng lao động như: chính sách khuyến khích đầu tư trong nước, chính sách khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài…

Ngoài ra, tạo việc làm có thể được chia làm hai loại:

+ Tạo việc làm ổn định: Công việc được tạo ra cho người lao động mà

tại chỗ làm việc đó và thông qua công việc đó họ có thu nhập lớn hơn mức thu nhập tối thiểu hiện hành và ổn định theo thời gian từ 3 năm trở lên Việc làm

ổn định luôn tạo cho người lao động một tâm lý yên tâm trong công việc để lao động hiệu quả hơn

+ Tạo việc làm không ổn định: Bao gồm các việc làm được tạo ra mà

người lao động phải thay đổi công việc của mình liên tục trong thời gian ngắn

Như vậy, mục đích của tạo việc làm nhằm khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, các tiềm năng kinh tế, tránh lãng phí nguồn lực xã hội Bên cạnh đó, tạo việc làm giúp con người nâng cao vai trò của mình trong quá trình phát triển kinh tế, giảm được tình trạng thất nghiệp hạn chế các tệ nạn xã hội do không có việc làm gây ra Về mặt kinh tế khi con người có việc làm sẽ thoả mãn được các nhu cầu vật chất, tinh thần, ổn định và nâng cao đời sống của người lao động Giải quyết việc làm, tạo việc làm cho người lao động có ý nghĩa giúp họ tham gia vào qua trình sản xuất xã hội cũng là yêu cầu của sự phát triển,

là điều kiện cơ bản cho sự tồn tại và phát triển của con người

 Số lao động được tạo việc làm

Trên cơ sở Quyết định số 43/2010QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 6/2010 về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, trong đó,

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có nhiệm vụ, quyền hạn thu thập, tổng

Trang 25

hợp chỉ tiêu số 0309 “Số lao động được tạo việc làm” (trước đây là Quyết định số 305/2005/QĐ-TTg), Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư

số 02/2011/TT-BKHĐT ngày 10 tháng 1 năm 2011 Quy định nội dung hệ thống chỉ tiêu thống kê Quốc gia; danh mục nội dung hệ thống chỉ tiêu thống

kê cấp tỉnh, huyện, xã Theo quy định tại thông tư 02/2011/TT: “Số lao động được tạo việc làm” phản ánh số lượng người lao động làm việc trong nền kinh tế quốc dân tăng thêm hằng năm, là chênh lệch giữa số lao động có việc làm ở kỳ báo cáo và số lao động có việc làm của kỳ trước” Đây là một trong những chỉ tiêu chính phục vụ cho việc hoạch định chính sách, xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Bộ, ngành, các địa phương

đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực, tạo việc làm bền vững và phát triển thị trường lao động

 Cơ chế tạo việc làm ba bên

Cơ chế tạo việc làm cho người lao động đòi hỏi sự tham gia tích cực của

ba bên: Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động sao cho cơ hội việc làm và mong muốn được làm việc của người lao động gặp nhau trên thị trường

được kết nối với nhau (Hoàng Phê, 1998)

Về phía người lao động, muốn tìm được việc làm phù hợp, có thu nhập cao, đương nhiên phải có kế hoạch thực hiện và đầu tư cho phát triển sức lao động của mình, phải học tập, đào tạo để nắm vững một nghề, biết nhiều nghề và không ngừng hoàn thiện nâng cao tay nghề (World Trade Organization, 2006)

Về phía Nhà nước, tạo ra hành lang pháp lý, ban hành các luật lệ, chính sách liên quan trực tiếp đến người lao động và người sử dụng lao động, tạo môi trường pháp lý kết hợp sức lao động với Tư liệu sản xuất là một bộ phận cấu thành trong cơ chế tạo việc làm cho người lao động (WTO, 2006)

Về phía người sử dụng lao động, gồm các doanh nghiệp trong nước thuộc các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các tổ chức kinh tế xã hội cần có thông tin về thị trường đầu vào và đầu ra để không chỉ tạo

ra chỗ làm việc mà còn phải duy trì và phát triển chỗ làm việc cho người lao động Đó cũng chính là duy trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Do đó, người sử dụng lao động cần có vốn để mua hoặc thuê nhà xưởng, công nghệ,

Trang 26

máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, mua sức lao động để sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ; cần có kinh nghiệm quản lý - yếu tố quyết định thắng lợi trong cạnh tranh (WTO, 2006) Sơ đồ cơ chế tạo việc làm (cơ chế 3 bên):

Sơ đồ 1.1 Cơ chế tạo việc làm - Cơ chế 3 bên

1.1.1.3 Lao động

Lao động: là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay

đổi những vật thể tự nhiên cho phù hợp với mục đích của con người Đặc điểm của hoạt động lao động: Hoạt động lao động phải có mục đích của con người; Hoạt động đó phải tạo ra sản phẩm nhằm thỏa mãn những nhu cầu nào đó của con người; hoạt động của con người phải là sự tác động vào tự nhiên làm biến đổi tự nhiên và xã hội nhằm tạo ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ lợi ích của con người (Nguyễn Tiệp, 2007)

* Sức lao động: Quá trình lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao

động “Sức lao động là phạm trù chỉ khả năng lao động, là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống

và được con người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó” (Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh, 2008)

* Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả

năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội (Nguyễn Tiệp, 2008)

Thị trường lao động Chủ sử dụnglao động

Người lao động Tạo việc làm

Tạo ra số lượng

và chất lượng tư liệu sản xuất

Môi trường kết hợp các yếu tố

Tạo ra số lượng và chất lượng sứclao động

Nhà nước

Tạo ra môi trường pháp lý cho thị trường lao động

Trang 27

* Nguồn lao động: là toàn bộ những người có khả năng tham gia lao

động, bao gồm những người trong độ tuổi quy định có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động, nhưng thực tế còn khả năng và đang tham gia lao động (Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, 2007)

Các thuật ngữ tương tự, liên quan đến nguồn lao động bao gồm: Lực lượng lao động, dân số làm việc và dân số hoạt động kinh tế Toàn bộ dân số có thể chia thành hai nhóm: Nhóm một gồm những người tham gia hoạt động kinh tế; nhóm hai là những người không tham gia hoạt động kinh tế Nguồn lao động tiếp cận theo tuổi lao động và trạng thái hoạt động kinh tế, ngoài lực lượng lao động còn bao gồm cả những người trong độ tuổi lao động nhưng chưa tham gia vào lực lượng lao động vì những lý do khác nhau như: nội trợ, học sinh, sinh viên, Ngoài ra, nguồn lao động còn bao gồm cả những người trên độ tuổi lao động nhưng đang làm việc (Nguyễn Tiệp, 2008)

Nguồn lao động = (Dân số trong độ tuổi lao động - Những người không có khả năng lao động) + dân số trên độ tuổi lao động có việc làm (Nguyễn Tiệp, 2008)

Nguồn lao động = Lực lượng lao động + Dân số trong độ tuổi lao động không tham gia làm việc mà đang nội trợ + đi học + không có nhu cầu làm việc +

lý do khác (Nguyễn Tiệp, 2008)

* Lực lượng lao động: bao gồm những người trong độ tuổi lao động,

đang có việc làm và những người chưa có việc làm đang tìm việc và sẵn sàng làm việc (thất nghiệp) (Nguyễn Tiệp, 2008)

Lực lượng lao động = Số người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm + Số người thất nghiệp

- Làm những công việc có thu nhập thấp không đảm bảo cuộc sống nên

muốn làm việc thêm để có thu nhập

Thiếu việc làm là những người làm việc ít hơn mức mà mình mong muốn Thiếu việc làm có thể chia làm 2 loại: thiếu việc làm hữu hình và thiếu việc làm

Trang 28

vô hình Thiếu việc làm hữu hình là khi thời gian làm việc thấp hơn mức bình thường Thiếu việc làm vô hình là khi thời gian sử dụng cho sản xuất kinh doanh

không có hiệu quả dẫn đến thu nhập thấp, không đủ sống người lao động muốn tìm việc làm bổ sung

Theo ILO (2009), người thiếu việc làm là người trong tuần lễ phỏng vấn

có số giờ làm việc dưới mức quy định chuẩn cho người có đủ việc làm và có nhu cầu làm thêm Một số chuyên gia về kinh tế lao động lại quan niệm: “Thiếu việc làm còn gọi là bán thất nghiệp hoặc thất nghiệp trá hình là hiện tượng người lao động có việc làm ít hơn mức mà mình mong muốn

Theo định nghĩa trong điều tra lao động việc làm người thiếu việc làm được xác định: “người thiếu việc làm là những người làm việc dưới 35 giờ một tuần, mong muốn và sẵn sàng làm thêm việc” (Tổng cục Thống kê, 2011)

* Thất nghiệp

Người thất nghiệp gồm những người trong khoảng thời gian xác định của cuộc điều tra không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm và có nhu cầu được làm việc (David and Stanley, 1995)

Người thất nghiệp là người không có việc làm được trả công và đang có những cố gắng cụ thể để đi tìm một công việc trong 04 tuần qua hoặc bị buộc thôi việc nhưng đang chờ đợi đi làm trong tháng tới Người thất nghiệp là những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc hoặc đang chờ được trở lại làm việc (Samuelson and Nordhaus, 1989)

Theo khái niệm ILO (2009), thất nghiệp (theo nghĩa chung nhất) là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn có việc làm nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công nhất định Trong điều tra Lao động việc làm, thất nghiệp được xác định căn cứ vào ba tiêu chuẩn sau: (i) hiện không làm việc; (ii) đang tìm kiếm việc làm; (iii) sẵn sàng làm việc

Từ những khái niệm và khái niệm liên quan đến tạo việc làm, tác giả thống nhất sử dụng khái niệm tạo việc làm như sau:

Tạo việc làm là quá trình phát triển của hoạt động kinh tế hay nghề nghiệp, quá trình này có thể do nhà nước, các tổ chức kinh tế xã hội, cá nhân thực hiện đem lại việc làm, thu nhập cho chính bản thân hoặc người lao động

Trang 29

Khái niệm trên phản ánh toàn diện và chỉ ra được vấn đề tạo việc làm phải được xuất phát từ nhiều phía bao gồm: cá nhân (người lao động), tổ chức (người sử dụng lao động, nhà nước) và các điều kiện kinh tế xã hội khác Người lao động có thể tạo việc làm bằng cách tự tạo việc làm cho chính họ, doanh nghiệp phát triển sản xuất tạo ra nhiều việc làm và đối với nhà nước ban hành các chính sách, thực hiện các chương trình hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp tạo việc làm Những tương tác trên được đặt trong điều kiện kinh tế xã hội nhất định

1.1.1.4 Nông thôn và đô thị hóa

Trịnh Khắc Thẩm và cs (2007) đã định nghĩa đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống

Quá trình đô thị hóa gắn liền với quá trình công nghiệp hóa Quá trình đô thị hóa cũng là quá trình biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp,

cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc từ dạng nông thôn sang thành thị Có hai chỉ số biểu hiện sự đô thị hóa là: mức độ đô thị hóa và tốc độ đô thị hóa Tốc độ đô thị hóa là tỷ lệ tăng dân số đô thị theo thời gian Mức độ đô thị hóa là tỷ lệ phần trăm giữa dân số đô thị hay diện tích đô thị trên tổng dân số hay diện tích của một vùng hay khu vực hoặc toàn vùng (Trịnh Khắc Thẩm và cs., 2007)

1.1.2 Khu vực nông thôn và đặc điểm của lao động nông thôn

Đặc điểm của khu vực nông thôn

 Khái niệm về nông thôn

Nhiều quan điểm cho rằng nông thôn là địa bàn mà ở đó dân cư sống chủ yếu bằng nông nghiệp, tuy nhiên như vậy là chưa đầy đủ vì có nhiều vùng dân cư sống chủ yếu bằng tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu nhập từ nông nghiệp trở thành thứ yếu, chiếm một tỷ trọng rất thấp trong tổng thu nhập của dân cư Theo tác giả Triệu Đức Hạnh (2012) đã đưa ra khái niệm về nông thôn như sau:

"Nông thôn là vùng khác với thành thị ở chỗ ở đó có một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, cơ cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn"

Trang 30

Đây là khái niệm dùng nhiều chỉ tiêu để đánh giá giữa nông thôn và thành thị vì vậy nó mang tính toàn diện hơn và được nhiều người chấp nhận hơn

Đặc trưng chủ yếu của khu vực nông thôn, so sánh với khu vực thành thị

Với khái niệm về nông thôn như trên, tác giả Tống Văn Chung (2000) đã chỉ ra những đặc trưng chủ yếu của khu vực nông thôn và so sánh với khu vực thành thị theo như sau:

Thứ nhất, nông thôn là vùng sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, các hoạt

động kinh tế chủ yếu nhằm phục vụ cho nông nghiệp và cộng đồng cư dân nông thôn Phần lớn việc làm của khu vực nông thôn nằm trong khu vực nông nghiệp và thường là những việc làm có chất lượng và năng suất lao động thấp

do mức độ ứng dụng khoa học công nghệ vào nông nghiệp của Việt Nam nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng chưa cao

Thứ hai, khu vực nông thôn có cơ sở hạ tầng kém phát triển hơn thành thị,

trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn Do đó, số lượng việc

làm tạo ra ít hơn và chất lượng việc làm thấp hơn

Thứ ba, khu vực nông thôn bao gồm đa số người lao động có thu nhập

trình độ văn hoá, khoa học và công nghệ thấp hơn thành thị Vì vậy, khó có thể

có được những điều kiện việc làm tốt

Thứ tư, khu vực nông thôn có tính cộng đồng làng, xã, thôn/bản rất chặt

chẽ Điều này cũng có ảnh hưởng đến vấn đề tạo việc làm, khi mà người lao động chỉ quen với cuộc sống ở nông thôn, làm những công việc nông nghiệp, do

đó khó thích nghi với những công việc ở lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ

 Vai trò của khu vực nông thôn trong phát triển kinh tế xã hội

Theo Chu Tiến Dũng (2001) nông thôn có vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội

Thứ nhất, khu vực nông thôn cung cấp những sản phẩm thiết yếu cho cuộc

sống của con người, do vậy nó đảm bảo sự ổn định và phát triển của xã hội Nông thôn là nơi cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển

Thứ hai, lao động nông thôn chiếm đa số trong tổng lao động xã hội Vì

vậy, nông thôn là nơi cung cấp nguồn lao động chủ yếu cho phát triển công

nghiệp và các ngành khác

Trang 31

Thứ ba, khu vực nông thôn không những là thị trường rộng lớn cho phát

triển công nghiệp mà còn có vai trò đặc biệt quan trọng trong củng cố an ninh và

quốc phòng, giữ gìn trật tự và an toàn xã hội

Thứ tư, nông thôn chiếm giữ tuyệt đại bộ phận tài nguyên của đất nước, từ

rừng núi sông biển với các loại thuỷ hải sản, động thực vật tới các loại khoáng sản… Vì vậy, nông thôn có vai trò to lớn trong việc quản lý, khai thác và sử dụng

có hiệu quả các nguồn tài nguyên để phát triển kinh tế xã hội

Lao động nông thôn

Lao động nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động và tham gia hoạt động trong hệ thống các ngành kinh tế nông thôn như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trong nông thôn (Mai Thanh Cúc và cs., 2005) Các tác giả đã chỉ ra một số đặc điểm của lao động nông thôn:

+ Lao động nông thôn sống và làm việc rải rác trên địa bàn rộng, gây khó khăn trong việc bồi dưỡng đào tạo nghề, thông tin thị trường lao động cho lao động nông thôn Do đó, ảnh hưởng lớn đến khả năng tạo việc làm cho người lao động

+ Lao động nông thôn có trình độ văn hoá và chuyên môn thấp hơn Tỷ

lệ lao động nông thôn đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ rất thấp Lao động nông thôn chủ yếu học nghề thông qua việc hướng dẫn của thế hệ trước hoặc tự truyền cho nhau nên lao động theo truyền thống và thói quen là chính, tạo ra sự khó khăn cho việc thay đổi phương hướng sản xuất và thực hiện phân công lao động, tạo việc làm bền vững, đồng thời hạn chế sự phát triển kinh tế nông thôn

+ Việc làm của lao động nông thôn mang tính thời vụ rõ rệt, đặc biệt là các vùng nông thôn thuần nông Do đó, việc sử dụng lao động trong nông thôn kém hiệu quả, vấn đề thiếu việc làm xảy ra phổ biến và lâu dài ảnh hưởng đến vấn đề tạo việc làm

+ Lao động nông thôn có khả năng tiếp cận và tham gia thị trường kém, thiếu khả năng nắm bắt và xử lý thông tin thị trường, khả năng hạch toán hạn chế Do đó, gây khó khăn trong việc tạo việc làm đặc biệt là những việc làm đòi hỏi kỹ năng của người lao động

Trang 32

1.1.3 Các tác động của đô thị hóa tới tạo việc làm cho lao động khu vực

nông thôn

+ Tác động tích cực: Thứ nhất, đô thị hóa tạo sức ép mạnh mẽ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Do trong

quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa một bộ phận đất nông nghiệp bị thu hồi

phục vụ các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, các khu công nghiệp,

khu đô thị,… Qua đó, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất các ngành thương mại và

dịch vụ cũng như công nghiệp và xây dựng Từ đó, tạo ra càng nhiều việc làm

trong các ngành phi nông nghiệp có giá trị gia tăng cao Thứ hai, đô thị hóa góp

phần chuyển dịch cơ cấu lao động, việc làm theo hướng gia tăng lao động, việc

làm trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ và công nghiệp, xây dựng Đồng thời

tăng dần, lao động việc làm có trình độ chuyên môn và giảm lao động giản đơn,

thu nhập của người lao động tăng lên Thứ ba, đô thị hóa góp phần thúc đẩy khả

năng tự tạo việc làm, tìm kiếm việc làm và chuyển đổi việc làm đối với người

nông dân mất đất nói riêng và người lao động nói chung.Quá trình đô thị hóa góp

phần làm giảm việc sử dụng lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật, do

đó người lao động phải tự trang bị những kiến thức, kỹ năng mới cho mình để

tìm kiếm việc làm hay chuyển đổi việc làm,khi tham gia vào các hoạt động kinh

tế.Thứ tư, đô thị hóa góp phần làm tăng lực lượng lao động trẻ, hiện đại hóa đời

sống dân cư nông thôn Cơ sở hạ tầng ở các khu vực đang xảy ra hiện tượng đô

thị hóa được xây dựng phát triển, các dự án đầu tư, đặc biệt là các khu công

nghiệp thu hút lao động trẻ ở các vùng khác tới làm việc, tạo động lực lớn cho

phát triển kinh tế Đời sống nhân dân được thay đổi, những người lao động nông

thôn vốn quen với nền sản xuất nông nghiệp, nay dần trở thành các cư dân thành

thị với tác phong công nghiệp, nếp sống văn minh và văn hóa cao hơn (Trịnh

Khắc Thẩm và cs., 2007)

+ Tác động tiêu cực: Ngoài những tác động tích cực nêu trên, quá trình

đô thị hóa cũng làm nảy sinh những vấn đề tiêu cực như: Làm cho một số người

dân trong diện bị thu hồi đất nông nghiệp rơi vào tình trạng thiếu việc làm hoặc

thất nghiệp Đối với người dân, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, vì vậy mất

đất sản xuất đồng nghĩa với mất tư liệu sản xuất, mất việc làm, không còn kế

sinh nhai Hơn nữa, đa số những người dân đó có trình độ học vấn thấp, chưa

Trang 33

qua đào tạo và thiếu vốn, khó khăn trong việc tự tạo việc làm; Gia tăng sức ép tìm kiếm việc làm cho người lao động bị thu hồi đất và sức ép tạo việc làm, đảm bảo an sinh xã hội đối với các cấp chính quyền Do quá trình đô thị hóa làm cho người dân rơi vào tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, đòi hỏi họ phải tự đi tìm kiếm việc làm tại những nơi thành thị đông đúc dân cư, gây sức

ép về nhà ở, môi trường, y tế, giáo dục,…Bên cạnh đó, là áp lực về giải quyết việc làm cho người lao động, công tác quản lý xã hội được đặt lên đối với các cấp quản lý, chính quyền địa phương (Trịnh Khắc Thẩm và cs., 2007)

Như vậy, nhu cầu việc làm của người lao động nông thôn trong bối cảnh

đô thị hóa luôn được đặt ra một cách cấp thiết Thực tế, đòi hỏi các cấp chính quyền cần có chính sách hỗ trợ người nông dân Tích cực hỗ trợ đào tạo nghề mới, tìm kiếm việc làm ổn định và lâu dài cho người nông dân, đặc biệt là ở những vùng có quá trình thu hồi đất nông nghiệp và chuyển đổi cơ cấu kinh tế diễn ra nhanh Phát triển đa dạng các loại hình nghề nghiệp trên địa bàn các khu vực nông thôn thông qua các chương trình đào tạo nghề ngắn hạn, có kế hoạch giúp đỡ những người đã được đào tạo nghề có thể tự mình phát triển nghề nghiệp, nâng cao thu nhập và ổn định đời sống Tăng cường sự phối hợp giữa các

tổ chức hội, đoàn thể và chính quyền các cấp với các cơ sở đào tạo nghề, đồng thời mở rộng thị trường xuất khẩu lao động để giảm tải áp lực thất nghiệp, thiếu việc làm ở khu vực nông thôn (Trịnh Khắc Thẩm và cs., 2007)

1.1.4 Các lý thuyết về tạo việc làm khu vực nông thôn

 Lý thuyết John Maynard (Keynes, 1936)

Tạo việc làm được thể hiện trong tác phẩm "Lý luận chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ" xuất bản năm 1936 của Keynes Theo đó, việc làm được xem xét trong mối quan hệ sản lượng - thu nhập - tiêu dùng - đầu tư - tiết kiệm - việc làm, số việc làm có thể được tạo ra hay giảm đi theo biến động của nền kinh tế Trong một nền kinh tế, khi sản lượng tăng, thu nhập tăng, đầu tư tăng thì việc làm được tạo ra nhiều hơn và ngược lại Khi tổng thu nhập tăng, người dân có xu hướng tăng tiêu dùng, song tốc độ tăng của tiêu dùng lại chậm hơn so với tăng thu nhập và người dân có khuynh hướng tiết kiệm một phần thu nhập, làm cho cầu tiêu dùng thực tế giảm tương đối so với thu nhập dẫn đến một số hàng hóa và dịch vụ không có khả năng bán được dẫn đến thừa hàng hóa Thừa hàng hóa là

Trang 34

nguyên nhân gây ra khủng hoảng, ảnh hưởng tới sản xuất ở chu kỳ tiếp theo dẫn đến số lượng việc làm giảm và tăng thất nghiệp - ảnh hưởng đến khả năng tạo việc làm của nền kinh tế Tương tự, khi quy mô đầu tư tư bản tăng thì hiệu quả cận biên của tư bản đầu tư có xu hướng giảm sút ảnh hưởng đến thu nhập của người sản xuất trong đầu tư tương lai Các nhà sản xuất chỉ tích cực mở rộng đầu

tư khi hiệu quả cận biên của tư bản cao hơn lãi suất Ngược lại, khi hiệu quả cận biên của tư bản nhỏ hơn hoặc bằng lãi suất sẽ không thu hút sự đầu tư dẫn đến quy mô sản xuất bị thu hẹp, khiến việc làm giảm, thất nghiệp tăng Keynes (1936) cho rằng, để số lượng việc làm được tạo ra nhiều hơn và giảm thất nghiệp, phải tăng tổng cầu của nền kinh tế Tăng trực tiếp các khoản chi tiêu chính phủ hoặc các chính sách khuyển khích đầu tư tư nhân, của các tổ chức kinh tế xã hội

để kích thích tiêu dùng nhằm tăng tổng cầu qua đó tạo việc làm Các biện pháp:

hạ lãi suất cho vay, giảm thuế, trợ giá đầu tư, in thêm tiền giấy đến cả sản xuất vũ khí,… được Keynes chỉ ra nhằm mục đích tăng ngân sách nhà nước, tăng đầu tư,

bù đắp các khoản chi tiêu của Chính phủ và tăng tổng cầu

Ưu điểm của lý thuyết về việc làm của Keynes (1936) được xây dựng dựa trên các giả định đúng với các nước phát triển, tuy nhiên nhược điểm là các giả thuyết đó không hoàn toàn phù hợp với các nước đang phát triển Nhược điểm trên là do hầu hết các nước nghèo, nguyên nhân khó khăn cơ bản

để gia tăng sản lượng, tạo việc làm không phải do tổng cầu không đủ cao, khác với các nước đang phát triển khi tổng cầu tăng sẽ kéo theo tăng giá cả, dẫn đến lạm phát Do vậy, biện pháp tăng tổng cầu để tăng quy mô sản xuất, tạo việc làm không đúng với mọi quốc gia, trong mọi thời kỳ Mặt khác, nếu tạo việc làm cho khu vực thành thị và một số trung tâm công nghiệp bằng cách tăng tổng cầu sẽ tạo ra làn sóng di dân từ nông thôn ra thành thị và tỷ lệ thất nghiệp ở đô thị gia tăng Điều này có thể làm suy giảm việc làm và sản lượng quốc dân của quốc gia

 Thất nghiệp, việc làm ở các nước đang phát triển theo quan điểm

của Nafziger

Vấn đề tạo việc làm là mối quan tâm lớn ở các nước kém phát triển Phát triển sản xuất, giải quyết tiền lương xứng đáng cho người lao động là biện pháp

Trang 35

quan trọng và cơ bản để giảm nghèo đói và bất bình đẳng ở các nước kém phát triển Ở các nước kém phát triển có tình trạng thất nghiệp cao do trình độ sử dụng lao động thấp, những người thất nghiệp chủ yếu là lao động thanh niên ở khu vực thành thị, đặc biệt ở nhóm có trình độ là một trong những nguyên nhân gây mất ổn định chính trị, xã hội Cùng quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá xuất hiện sự di chuyển lao động nông nghiệp, nông thôn vào khu vực đô thị, công nghiệp do những khu vực này tạo ra nhiều việc làm Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhanh, không có lộ trình hợp lý sẽ có tác động ngược lại (Wayne,1998)

Wayne và Nafziger (1998) giành nhiều tâm huyết để chỉ ra nguyên nhân

và các chính sách khắc phục thất nghiệp ở các nước kém phát triển:

- Về nguyên nhân thất nghiệp Ông quan tâm đến các nguyên nhân đặc biệt như: Sự không phù hợp về công nghệ; giá các yếu tố sản xuất bị méo mó, tình trạng thất nghiệp trong những người được đào tạo,

- Về các chính sách giảm thất nghiệp ông quan tâm đến chính sách về dân

số, chính sách hạn chế di cư từ nông thôn ra thành thị (chính sách phát triển kinh

tế nông thôn); chính sách lựa chọn công nghệ thích hợp (công nghệ phù hợp vừa tiết kiệm vốn và thu hút được nhiều lao động - tạo nhiều việc làm) Chính sách làm giảm thiểu sự méo mó của giá cả yếu tố sản xuất (khuyến khích phát triển công nghiệp vừa và nhỏ, tăng cường hiệu quả sử dụng vốn; chính sách tăng giá hối đoái,…); chính sách giáo dục; chính sách theo hướng tăng trưởng;…

 Mô hình phát triển của Lewis

Vấn đề tạo việc làm cũng được thể hiện qua lý thuyết này của Arthur (1954) - nhà kinh tế học Jamaica ra đời vào những năm 50 của thế kỷ XX, được giải thưởng Nobel 1979 Tư tưởng cơ bản của lý thuyết này là chuyển số lao động

dư thừa từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp hiện đại do hệ thống tư bản nước ngoài đầu tư vào các nước lạc hậu - tạo thêm nhiều việc làm cho lao động khu vực nông nghiệp, nông thôn Quá trình này sẽ tạo điều kiện cho nền kinh

tế phát triển do trong khu vực nông nghiệp, đất đai chật hẹp, lao động lại quá dư thừa Ngoài số lao động cần đủ cho sản xuất nông nghiệp, còn có lao động thừa

Trang 36

làm các ngành nghề trung gian nhỏ lẻ, buôn bán nhỏ, phục vụ trong gia đình và lao

động phụ nữ Số lao động dôi dư này không có công ăn việc làm, hay nói cách

khác, họ không có tiền lương và thu nhập Vì vậy, tạo nhiều việc làm trong lĩnh

vực công nghiệp và dịch vụ sẽ di chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang

khu vực công nghiệp Theo mô hình này, kết quả đem lại có thể là: thứ nhất là,

chuyển bớt lao động ra khỏi lĩnh vực nông nghiệp, chỉ để lại lượng lao động đủ để

tạo ra sản lượng cố định Từ đó nâng cao sản lượng theo đầu người đồng thời tạo

việc làm cho số lao động dôi dư trong nông nghiệp Thứ hai, việc di chuyển này sẽ

làm tăng lợi nhuận trong lĩnh vực công nghiệp, tạo điều kiện nâng cao sức tăng

trưởng và phát triển kinh tế nói chung (Vũ Thị Ngọc Phùng, 2008)

Mặc dù mô hình Lewis có tác dụng nhất định trong hướng dẫn phân tích

và hoạch định chính sách giải quyết việc làm nhưng không thể áp dụng máy móc

mô hình này vào Việt Nam vì các giả định này chỉ phù hợp với kinh tế các nước

phương tây Với giả định thứ nhất, ở Việt Nam tốc độ tăng trưởng của khu vực

hiện đại ở thành thị và tăng việc làm có thể trái ngược nhau; với giả định thứ hai,

ở Việt Nam tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị luôn cao hơn nông thôn, chứ không toàn

dụng được lao động

 Mô hình Harry T Oshima (dẫn theo Nguyễn Thị Đông, 2008)

Vấn đề tạo việc làm cho lao động nông thôn được quan tâm nhiều trong lý thuyết của Oshima Dựa trên điểm khác biệt giữa sản xuất nông nghiệp ở các

nước Châu Á và Châu Âu, Oshima đã đưa ra mô hình phát triển hai khu vực ở

các nước Châu Á Khác với Arthus và một số nhà kinh tế học phát triển khác,

T Oshima cho rằng ở các nước đang phát triển, đặc biệt ở các nước châu Á thì

không phải lúc nào cũng có tình trạng dư thừa lao động nông thôn Ông đưa ra lý

do là nền nông nghiệp ở các nước châu Á có tính thời vụ rất cao và sản lượng

nông nghiệp phụ thuộc vào vụ thu hoạch, sẽ không có sự dư thừa lao động và có

thể còn bị thiếu lao động Oshima cho rằng tình trạng dư thừa lao động chỉ diễn

ra vào lúc nông nhàn Do vậy, nếu áp dụng như mô hình chuyển dịch của

Lewis-Fei-Renis sẽ không thích hợp ở các nước châu Á

Mô hình của Oshima xuất phát từ việc cho rằng việc đầu tư nhiều vào

Trang 37

nông nghiệp trong ngắn hạn là không thực hiện được do nền kinh tế ở các nước đang phát triển thường ở trọng tình trạng thiếu các nguồn lực về vốn và khoa học công nghệ Do vậy, để khắc phục tình trạng lao động theo mùa vụ ở khu vực nông nghiệp, tạo điều kiện phát triển nông nghiệp nông thôn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển, Oshima phải tiến hành theo ba bước Trong đó vấn đề việc làm và tạo việc làm được nhấn mạnh Tạo việc làm được nhấn mạnh ở bước đầu tiên để bắt đầu cho quá trình tăng trưởng Tạo việc làm cho thời gian nhàn rỗi Oshima cho rằng do các nước đang phát triển ở Châu Á

cơ giới hóa chưa được áp dụng nhiều nên tăng công ăn việc làm bằng mở rộng quy mô canh tác là hết sức khó khăn Do vậy, biện pháp cơ bản là tăng vụ, đa dạng hóa cây trồng, mở rộng chăn nuôi, trồng cây lâm nghiệp Khi được tạo việc làm thu nhập người dân tăng lên tạo điều kiện cho đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp Nhà nước hỗ trợ từ tiêu thụ nông sản từ xây dựng hệ thống kênh mương, mở rộng các dịch khuyến nông, tổ chức các dịch vụ nông thôn,… Cùng với việc gia tăng số lượng lao động trong khu vực nông nghiệp là sự tăng sản lượng trong khu vực này Điều đó sẽ dẫn tới nhu cầu nhập khẩu lương thực giảm xuống đồng nghĩa với việc tiết kiệm ngoại tệ và tạo ra khả năng xuất khẩu lương thực, tăng nguồn thu ngoại tệ và kết quả là nguồn ngoại tệ của quốc gia sẽ dồi dào hơn để nhập khẩu các máy móc thiết bị cho các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động từ đó tạo nhiều việc làm Đến giai đoạn 2, hướng tới việc làm đầy

đủ, tiến hành đa dạng hóa nông nghiệp, tạo việc làm nhiều hơn trong lĩnh vực phi nông nghiệp như đầu tư chế biến lương thực, thực phẩm, đồ gỗ,… Khi đó sự phát triển nông nghiệp sẽ tạo điều kiện thúc đẩy mở rộng thị trường cho khu vực công nghiệp, tạo cơ hội tăng quy mô sản xuất công nghiệp cũng như về các hoạt động dịch vụ Khi đó, việc làm phi nông nghiệp được tạo ra nhiều lao động từ khu vực nông nghiệp chuyển sang khu vực công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ Quá trình này diễn ra trong nhiều năm cho đến khi khả năng tạo việc làm vượt quá tốc độ tăng lao động làm cho thị trường bắt đầu thu hẹp, tiền lương thực tế tăng lên, quá trình này còn phụ thuộc rất nhiều vào tốc độ tăng dân số và khả năng giải quyết việc làm của từng nước Bước thứ ba, sau khi có việc làm đầy đủ, quá

Trang 38

trình công nghiệp hóa diễn ra nhanh tiền lương thực tế trong nông nghiệp có xu hướng tăng dần với tác động ngày càng nhanh Dần dần máy móc sẽ thay thế bớt cho lao động chân tay vì lúc này sử dụng máy móc sẽ rẻ hơn sử dụng nhân công Công nghệ, phương tiện hiện đại tạo điều kiện cho việc thu hút lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp trong khi sản lượng nông nghiệp vẫn tăng lên Công nghiệp là ngành sử dụng nhiều lao động tạo nhiều việc làm, tuy nhiên việc mở rộng các ngành này đồng nghĩa với việc sự thiếu hụt cung lao động ở khu vực nông nghiệp cho khu vực công nghiệp trong khi thị trường nông thôn cũng đạt đến trạng thái toàn dụng nhân công, tiền công tăng lên đồng thời khu vực dịch vụ cũng mở rộng Do vậy, liên tục có sự tạo việc làm cho lao động nông thôn Tóm lại, trong mô hình phát triển của Oshima, tạo việc làm là tiền đề cho sự tăng trưởng (dẫn theo Nguyễn Thị Đông, 2008)

 Các lý thuyết khác

Tạo việc làm thông qua thành lập doanh nghiệp ở các ngành, trong lý

thuyết kinh tế học hiện đại với Mankiw (1997), hành vi của các doanh nghiệp khi

gia nhập hoặc rời bỏ thị trường được dựa trên cơ sở so sánh giữa tổng doanh thu

và tổng chi phí dự kiến, nếu tổng doanh thu lớn hơn tổng chi phí bỏ ra trong dài hạn các doanh nghiệp sẽ gia nhập thị trường Tuy nhiên lý thuyết này mang tính chất mô tả về mặt hành vi của doanh nghiệp, và chỉ gián tiếp phản ánh vấn đề tạo việc cho người lao động thông qua quyết định gia nhập thị trường tạo điều kiện

mở rộng việc làm cho nền kinh tế

Tạo việc làm thông qua việc tự tạo việc làm được nhắc đến trong Lý thuyết về “Cách mạng công nghệ” Theo Nelson and Winter (1982) và Malerba and Orsenigo (1996) những ngành có môi trường công nghệ phát triển nhanh chóng tạo ra khả năng thu hút sự gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới nhiều hơn những ngành khác, chẳng hạn đối với ngành thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin Trong những ngành này xu hướng tự tạo việc làm xảy ra nhiều hơn những ngành khác

Tạo việc làm gián tiếp phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của các ngành Theo lý thuyết (Jovanovic, 1994; Klepper, 1996) “Vòng đời của ngành” giai

Trang 39

đoạn phát triển của ngành quyết định đến việc gia nhập của các doanh nghiệp Khi một ngành đang ở giai đoạn mới phát triển, thì rào cản gia nhập là thấp nhất sẽ thu hút sự gia nhập ngành nhiều hơn của các doanh nghiệp mới tạo điều kiện gia tăng việc làm - tạo nhiều việc làm và ngược lại khi ngành đã phát triển đầy đủ, ngành không còn hấp dẫn cho các doanh nghiệp mới, có thể còn xảy ra hiện tượng rút khỏi ngành làm số việc làm bị giảm xuống- suy giảm việc làm Tuy nhiên, mặt khác có hiện tượng những ngành có nhiều doanh nghiệp đang hoạt động lại càng thu hút thêm các doanh nghiệp mới gia nhập qua đó tạo thêm nhiều việc làm Mô hình của Horvath (2001) giải thích rằng bằng cách theo dõi các doanh nghiệp đang hoạt động, số lượng các doanh nghiệp này càng nhiều càng cung cấp nhiều hơn thông tin cho các doanh nghiệp mới do dó giảm được nhiều rủi ro, từ học tập kinh nghiệm của doanh nghiệp đi trước Do vậy, những doanh nghiệp thành lập sau thường tạo ra việc làm có tính chất bền vững hơn cho người lao động Tóm lại, các lý thuyết về ngành ở trên, giúp chúng ta hiểu được tại sao một số ngành, việc làm được tạo nhiều hơn so với các ngành khác chứ chưa tìm hiểu đầy đủ trách nhiệm của các doanh nghiệp trong tạo việc làm

 Tạo việc làm thông qua các chương trình kinh tế - xã hội

Các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước nói chung qua đó tạo nhiều việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động Nội dung các chương trình được xây dựng gắn với nhiệm vụ trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương trong từng thời kỳ Một số chương trình cụ thể như:

Chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn: Các chương trình này

tập trung vào chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và tăng cường áp dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật vào nông nghiệp để tăng năng suất lao động, tạo nhiều việc làm Đồng thời, đầu tư phát triển nông - lâm - thủy sản: nuôi trồng, đánh bắt, chế biến và xuất khẩu thủy sản, mở rộng diện tích nuôi trồng,… Ngoài

Trang 40

ra, tăng đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp - nông thôn để tạo điều kiện phát triển việc làm (Trần Thị Thu, 2003)

Các chương trình phát triển công nghiệp và dịch vụ: Các chương trình này

có vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm và mở rộng việc làm trong công nghiệp và dịch vụ Các chương trình này tập trung chủ yếu vào phát triển các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế mở,… thu hút hàng triệu lao động làm việc trong khu vực này Hơn nữa, chương trình phát triển công nghiệp và dịch vụ nhằm đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị công nghệ, hiện đại hóa các ngành có lợi thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường trong nước và xuất khẩu: như chế biến nông- lâm- thủy sản, may mặc, điện tử, một số sản phẩm cơ khí,… qua đó giải quyết việc làm cho người lao động, đặc biệt là lao động nông thôn (Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung, 1997)

Chương trình Mục tiêu quốc gia giải quyết việc làm: Từ năm 2000, Chính

phủ phê duyệt danh mục Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2001-2005 và phân công cơ quan quản lý, triển khai thực hiện chương trình mục tiêu trong đó

có mục tiêu phấn đầu giải quyết việc làm cho khoảng 1,4-1,5 triệu lao động; nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn lên 80% vào năm 2005 Đến năm 2007, Chính phủ phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2010”, đây là căn cứ pháp lý để thực hiện mục tiêu chung về bảo đảm việc làm và giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị dưới 5% vào năm 2010 Mục tiêu của chương trình là đến năm 2010 sẽ tạo việc làm cho từ 2 đến 2,2 triệu người lao động, trong đó 1,7 -1,8 triệu việc làm trong nước và từ 40 -50 vạn lao động làm việc ở nước ngoài Năm 2012, Thủ tướng Chính phủ có quyết định số 1201/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia việc làm và dạy nghề giai đoạn 2012-2015, với 6 dự án thành phần, nhằm nâng cao khả năng tạo việc làm cho nền kinh tế và đào tạo nghề cho người lao động,…

Chương trình tín dụng hỗ trợ tạo việc làm và đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Các chương trình này hướng vào các hộ gia đình là một hướng tạo

việc làm, có tính xã hội rộng rãi Trong chương trình, hỗ trợ vốn còn đi kèm với

Ngày đăng: 06/03/2017, 03:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
89. Lee J. and S.S.Lim (1999). “Agriculture in Korea”,Korea Rural Economic Institute Sách, tạp chí
Tiêu đề: Agriculture in Korea
Tác giả: Lee J. and S.S.Lim
Năm: 1999
8. Cục thống Kê thành phố Hà Nội (2014). Đơn vị hành chính, đất đai, khí hậu, truy cập ngày 20/09/2014 từhttp://thongkehanoi.gov.vn/uploads/files/source/NGTK%202013%20-DVHC%20dat%20dai%20va%20khi%20hau.pdf Link
26. Khuyết danh (2014a). Đặc điểm kinh tế xã hội Hà Nội, truy cập ngày 16/5/2014 từ http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_N%E1%BB%99i Link
27. Khuyết danh (2014b). Thị trường lao động Malaysia, truy cập ngày 30/08/2014 từ http://vlninhthuan.vieclamvietnam.gov.vn/XuatKhauLaoDong/tabid/11002/n/42711/c/4032/Default.aspx?tin=Th%E1%BB%8B+Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng+lao+%C4%91%E1%BB%99ng+c%C3%A1c+n%C6%B0%E1%BB%9Bc Link
34. Ngô Thắng Lợi (2014). Đô thị hóa ở Hà Nội nhìn từ góc độ phát triển bền vững, truy cập ngày 15/7/2014 từ http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=28340652&cn_id=427617 Link
66. Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Nam (2014). Thông tin lao động việc làm trên địa bàn tỉnh, truy cập ngày 25/8/2014 từ http://hanam.gov.vn/vi-vn/Pages/Article.aspx?ChannelId=17&articleID=7673 Link
75. Ủy ban Nhân dân tỉnh Hải Dương (2013). Tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, Truy cập ngày 18/8/2014 từ http://skhdt.haiduong.gov.vn/ktxh/quyhoachvaptktxh/pages/BC6t.aspx Link
77. Đinh Trọng Vân (2014). Kinh nghiệm sử dụng lao động của Trung Quốc, truy cập 25/05/204 từ http://voer.edu.vn/pdf/cae7eb04/1 Link
1. Vũ Quỳnh Anh (2009). Mô hình phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng mất việc làm ở Việt Nam, Tạp chí Lao động và Xã hội, 363 (9): 17-20 Khác
2. Nguyễn Thế Bá (2004). Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị, NXB Xây dựng, Hà Nội, tr. 150-202 Khác
3. Ban chấp hành Trung Ương (2006). Báo cáo chính trị tại Đại hội IX, Hà Nội Khác
4. Bộ Xây dựng (2002). Thông tư 02/2002/TTLT-BXD-TCCBCP ngày 08/03/2002 của Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Kiểm Hướng dẫn về phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị Phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị Khác
5. Bộ Xây dựng (2009). Thông tư số 34/2009/TT-BXD quy định chi tiết một số nội dung của nghị định 42/2009/NĐ - CP ngày 07/05/2009 của Chính phủ về việc phân loại đô thị, Hà Nội Khác
6. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2014). Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006 - 2011, NXB Thống kê, Hà Nội Khác
7. Các Mác và Ph.Ănghen (1993). Các Mác và Ph.Ănghen toàn tập, tập 23, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
9. Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008). Giáo trình Kinh tế Nguồn nhân lực, NXB Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, tr. 130-199 Khác
10. Tống Văn Chung (2000). Xã hội học nông thôn, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Khác
11. Mai Thanh Cúc, Quyền Đình Hà, Nguyễn Thị Tuyết Lan và Nguyễn Trọng Đắc (2005). Giáo trình Phát triển nông thôn,NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
12. David B. and F. Stanley (1995). Kinh tế học, Trần Phú Thuyết dịch, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 282 Khác
13. Trần Ngọc Diễn (2002). Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn tạo việc làm cho lao động ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, 155 tr Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. Cơ chế tạo việc làm - Cơ chế 3 bên - Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn Thành phố Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa
Sơ đồ 1.1. Cơ chế tạo việc làm - Cơ chế 3 bên (Trang 26)
Sơ đồ 2.1. Khung nghiên cứu phân tích tổng thể của luận án - Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn Thành phố Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa
Sơ đồ 2.1. Khung nghiên cứu phân tích tổng thể của luận án (Trang 75)
Bảng 2.2. Phân bố số hộ khảo sát theo xã, huyện - Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn Thành phố Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa
Bảng 2.2. Phân bố số hộ khảo sát theo xã, huyện (Trang 76)
Bảng 3.2. Cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật của dân số trên 15 tuổi khu - Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn Thành phố Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa
Bảng 3.2. Cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật của dân số trên 15 tuổi khu (Trang 92)
Hình 3.1. Lực lượng lao động khu vực nông thôn của thành phố Hà Nội, - Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn Thành phố Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa
Hình 3.1. Lực lượng lao động khu vực nông thôn của thành phố Hà Nội, (Trang 93)
Hình 3.2. Tình trạng hoạt động kinh tế của lao động khu vực nông thôn của - Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn Thành phố Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa
Hình 3.2. Tình trạng hoạt động kinh tế của lao động khu vực nông thôn của (Trang 94)
Bảng 3.4. Lao động có việc làm của Hà Nội theo ngành kinh tế, - Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn Thành phố Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa
Bảng 3.4. Lao động có việc làm của Hà Nội theo ngành kinh tế, (Trang 95)
Hình 3.3. Cơ cấu lao động có việc làm khu vực nông thôn theo 3 nhóm - Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn Thành phố Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa
Hình 3.3. Cơ cấu lao động có việc làm khu vực nông thôn theo 3 nhóm (Trang 96)
Bảng 3.5. Cơ cấu nghề nghiệp của lao động nông thôn - Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn Thành phố Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa
Bảng 3.5. Cơ cấu nghề nghiệp của lao động nông thôn (Trang 97)
Bảng 3.7. Số việc làm được tạo ra từ các đề án học nghề phân theo - Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn Thành phố Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa
Bảng 3.7. Số việc làm được tạo ra từ các đề án học nghề phân theo (Trang 112)
Bảng 3.9. Tăng trưởng, việc làm trong 3 ngành ở Hà Nội - Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn Thành phố Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa
Bảng 3.9. Tăng trưởng, việc làm trong 3 ngành ở Hà Nội (Trang 114)
Hình 3.4. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động ngành nông nghiệp, - Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn Thành phố Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa
Hình 3.4. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động ngành nông nghiệp, (Trang 126)
Hình 3.5. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nhóm ngành phi nông - Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn Thành phố Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa
Hình 3.5. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nhóm ngành phi nông (Trang 127)
Hình 3.6. Cơ cấu lao động nông thôn khu vực chính thức - Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn Thành phố Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa
Hình 3.6. Cơ cấu lao động nông thôn khu vực chính thức (Trang 127)
Bảng 3.16. Kết quả ước lượng mô hình nhu cầu lao động - Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn Thành phố Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa
Bảng 3.16. Kết quả ước lượng mô hình nhu cầu lao động (Trang 132)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w