Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về với thế giới người hiền gần nửa thế kỷ, nhưng Người đã để lại cho Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc Việt Nam và bạn bè quốc tế một di sản vô cùng quý báu – Tư tưởng Hồ Chí Minh.Tư tưởng của Người là ngọn đèn soi sáng cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam trong đêm trường nô lệ, đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do, hòa bình, phát triển và sánh ngang với các cường quốc năm châu. Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với những đóng góp quan trọng của Người trong thực tiễn đã góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, góp phần thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc trên thế giới. Chính vì thế, nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một nhu cầu tự nhiên không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia khác trên thế giới.
Trang 1BÁO CÁO ĐỀ DẪN
Kính thưa quý vị đại biểu
Kính thưa các nhà khoa học
Kính thưa hội thảo!
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về với thế giới người hiền gần nửa thế kỷ, nhưng Người đã để lại cho Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc Việt Nam và bạn bè quốc tế một di sản vô cùng quý báu – Tư tưởng Hồ Chí Minh.Tư tưởng của Người là ngọn đèn soi sáng cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam trong đêm trường nô lệ, đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do, hòa bình, phát triển và sánh ngang với các cường quốc năm châu Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với những đóng góp quan trọng của Người trong thực tiễn đã góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, góp phần thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc trên thế giới Chính vì thế, nghiên cứu và vận dụng
tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một nhu cầu tự nhiên không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia khác trên thế giới
Sau 30 năm kiên trì thực hiện đường lối đổi mới, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã giành được những thắng lợi rất quan trọng cả về kinh tế, xã hội, chính trị, lẫn đối nội, đối ngoại Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam có những bước tiến lớn trên con đường xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh, vai trò và vị thế của Việt Nam được nâng cao trên trường quốc tế Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu một cột mốc mới trong tiến trình phát triển của cách mạng nước ta Đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra đã được các Đại hội sau đó tiếp tục bổ sung và phát triển
Bên cạnh những thành tựu quan trọng đạt được trong 30 năm qua, quá trình đổi mới, hội nhập cũng gặp phải không ít thách thức như vấn đề phân hóa giàu nghèo, sự bất bình đẳng, môi trường ô nhiễm, sự xuống cấp về đạo đức… Những thách thức đó đang làm xuất hiện những rào cản cho sự phát triển đất nước trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới
Nhằm góp phần tiếp tục thực hiện và hoàn thiện đường lối đổi mới của Đảng, phát huy những thành quả đã đạt được, tháo gỡ những rào cản trở ngại cho sự phát triển của đất nước trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, việc nghiên cứu, quán triệt, làm sáng tỏ sức sống mãnh liệt, bảo vệ và bổ sung, phát triển giá trị di sản tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Chính
vì vậy, Trường Đại học Thủ Dầu Một tổ chức hội thảo khoa học: “Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước”
Mục đích của hội thảo khoa học này là:
Trang 2Thứ nhất, làm sáng tỏ thêm sức sống mãnh liệt của Tư tưởng Hồ Chí Minh – di
sản thời đại
Thứ hai, làm rõ vai trò và giá trị di sản tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp
Đổi mới, phát triển đất nước
Thứ ba, kết quả nghiên cứu và các ý kiến bình luận, thảo luận đóng góp của các
nhà khoa học, của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu tại Hội thảo này là nguồn dữ liệu tham khảo có giá trị hữu ích cả về mặt lý luận và thực tiễn cho việc hoạch định chính sách đổi mới ở nước ta trong giai đoạn tiếp theo
Hội thảo đã thu hút được sự quan tâm, hưởng ứng của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu từ các học viện, viện, trung tâm nghiên cứu, các trường đại học, cao đẳng trong cả nước Các báo cáo tham luận gửi về Hội thảo có nội dung phong phú, cung cấp nhiều thông tin khoa học mới và gợi mở những ý kiến đóng góp có giá trị, thể hiện
sự tâm huyết của các tác giả đối với chủ đề Hội thảo Tuy nhiên, do giới hạn về dung lượng và nội dung Hội thảo, Ban Tổ chức không thể đưa vào kỷ yếu tất cả các bài tham luận
Để đáp ứng được mục đích của Hội thảo, tại buổi hội thảo hôm nay, trong khuôn khổ thời gian có hạn, Ban Tổ chức đề nghị các nhà khoa học, các quý vị đại biểu tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến làm sâu sắc thêm một số vấn đề cơ bản sau:
Một là, tiếp tục làm rõ bản chất khoa học, cách mạng và nhân văn của Tư tưởng
Hồ Chí Minh với những nguyên lý lý luận đã và đang chỉ ra con đường cách mạng để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, bất công Cùng với khẳng định sự đúng đắn, sức sống mãnh liệt, cần tập trung phân tích, làm rõ sự cần thiết phải bổ sung, phát triển và vận dụng khách quan, sáng tạo tư tưởng
Hồ Chí Minh vào tình hình thực tiễn của Việt Nam hiện nay
Hai là, làm rõ quá trình vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào
sự nghiệp đổi mới đất nước trên lĩnh vực chính trị, ngoại giao và an ninh – quốc phòng
Ba là, làm rõ quá trình vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào
sự nghiệp đổi mới đất nước trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội
Để có được chương trình hội thảo này, ngoài việc Ban Tổ chức Hội thảo nhận được sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu gửi bài viết, còn có sự chỉ đạo và hỗ trợ tích cực của Ban giám hiệu Nhà trường Chính sự quan tâm quý báu này
đã góp phần thành công cho Hội thảo Ban Tổ chức Hội thảo xin chân thành cảm ơn đến các chuyên gia, các nhà khoa học và Ban giám hiệu Trường Đại học Thủ Dầu Một
BAN TỔ CHỨC HỘI THẢO
Trang 3PHẦN I
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH – DI SẢN THỜI ĐẠI
Trang 4NHẬN THỨC RÕ HƠN VỀ CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC HỒ CHÍ MINH,
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM
TS Trần Thị Thu Hoài
Tóm tắt: Con đường cứu nước lãnh tụ Hồ Chí Minh tìm thấy cho dân tộc Việt
Nam đầu thế kỷ XX là giải phóng dân tộc theo quỹ đạo cách mạng vô sản Con đường này đã được chứng minh tính đúng đắn của nó cả về lý luận lẫn thực tiễn Bài viết góp phần làm rõ hơn những thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức mà con đường này tạo
ra đối với sự phát triển của Việt Nam trong suốt thế kỷ qua và giai đoạn hiện nay Thuận lợi, cơ hội chúng ta đã khai thác và sử dụng tạo nên những chiến thắng kỳ diệu trong 2 cuộc kháng chiến thần thánh bảo vệ nền độc lập dân tộc trong thế kỷ XX Khó khăn, thách thức là phải tích lũy nội lực đủ lớn để vượt qua khoảng cách quá dài giữa thực trạng còn nghèo nàn lạc hậu của đất nước với mục tiêu thực sự của CNXH Vấn
đề cốt yếu để vượt qua khó khăn, thách thức là củng cố Đảng, làm cho Đảng thực sự
“khơi nguồn lực lượng và sức sáng tạo của nhân dân”, phát huy sức mạnh khổng lồ từ nhân dân
Từ khóa: Cách mạng vô sản, đến nơi, triệt để
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Con đường cứu nước Hồ Chí Minh tìm thấy cho dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ
XX là con đường cách mạng vô sản Người khẳng định: Muốn cứu nước giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản Chân lý này đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước suốt thế kỷ qua phân tích và khẳng định tính đúng đắn của nó Gần trăm năm đã trôi qua kể từ khi lãnh tụ Hồ Chí Minh khẳng định một cách dứt khoát sự lựa chọn này, những cơ sở lý luận và thực tiễn, khách quan
và chủ quan được đưa ra để minh chứng cho sự lựa chọn duy nhất đúng đắn này đã được các nhà nghiên cứu cày đi xới lại Tuy nhiên, nhìn lại lịch sử, quan sát Việt Nam hiện nay trong mối tương quan với các nước trong cộng đồng khu vực, quốc tế và suy ngẫm, có thể nhận thấy nhiều điều thú vị
Một trong những luận cứ mà các nhà nghiên cứu luôn đưa ra khi phân tích khẳng định sự lựa chọn của lãnh tụ Hồ Chí Minh là duy nhất đúng đắn trong bối cảnh Việt Nam lúc bấy giờ là: cách mạng tư sản là các cuộc cách mạng “không triệt để” vì: nước độc lập rồi nhưng nhân dân lao động vẫn chưa có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc
do đó Hồ Chí Minh phủ nhận con đường cách mạng tư sản Trong khi đó, cách mạng tháng Mười, cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới, lại đạt được “sự triệt để”
đó Vì vậy, đây là một trong những lý do quan trọng để Hồ Chí Minh quyết định đi
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội
Trang 5theo con đường của Lênin, con đường của cách mạng Tháng Mười Nói như Người khi nghiên cứu lịch sử cách mệnh Mỹ: “Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai Ấy là
vì cách mệnh Mỹ là cách mệnh tư bản, mà cách mệnh tư bản là chưa phải cách mệnh đến nơi” [4; 291,292] Hay khi Người kết luận về cách mệnh tư bản nói chung: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa” [4;296]
Khi nghiên cứu cách mạng Nga, Người kết luận: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như
đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam” [4;304]
Như vậy, chính cái “chưa đến nơi”, “không đến nơi” của cách mạng tư sản là một trong những lý do để Người không chọn con đường cách mạng tư sản cho Việt Nam
Và cũng chính cái “đến nơi” của cách mạng Nga là một trong nhiều lý do Người chọn Việt Nam đi theo con đường của cách mạng tháng Mười
Và Người cũng khuyên rằng: “chúng ta đã hi sinh làm cách mệnh thì NÊN LÀM cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người Thế mới khỏi hi sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc” [4;292]
Các nghiên cứu hàng thế kỷ qua về nội dung này đều chỉ ra “cái dở” của một cuộc cách mạng không đến nơi, không triệt để và “cái hay” của một cuộc cách mạng đến nơi, triệt để Nhìn thế là đúng nhưng chưa đủ Nhìn trong tính hai mặt của vấn đề, với một cách nhìn biện chứng, có thể thấy rằng: một cuộc cách mạng “không đến nơi” hay “đến nơi” đều có cái hay cái dở của nó
2 NỘI DUNG
Với một cuộc cách mạng “không đến nơi” thì cái dở như Hồ Chí Minh đã chỉ ra
là “công nông vẫn cứ cực khổ” do chính quyền nằm trong tay ít người nên chính quyền đó được giai cấp cầm quyền sử dụng làm công cụ để áp bức người lao động cả trong và ngoài nước Và do tính chất “không đến nơi” nên cách mạng phải làm đi làm lại để đạt tới đích (“đến nơi”), nơi mà nhân dân thực sự được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc: “cách mệnh đã 4 lần rồi mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức” [4;296] Tuy nhiên, một cuộc cách mạng “không đến nơi” thì cần ít thời gian lại dễ thực hiện vì theo logic phát triển mà chính chủ nghĩa Mác Lênin chỉ ra, cuộc cách mạng đó thực hiện một bước chuyển ngắn theo kiểu quá độ trực tiếp, từ hình thái kinh tế xã hội này lên hình thái kinh tế xã hội ngay sau nó (từ phong kiến lên tư bản chủ nghĩa)
Và nay, đã gần hai thập kỷ của thế kỷ XXI trôi qua, công nông Pháp vẫn “chưa thoát khỏi vòng áp bức” vì xã hội Pháp vẫn là xã hội tư bản chủ nghĩa Nhưng trong
Trang 6trật tự xã hội đó, nước Pháp vẫn phát triển và vẫn là một trong những quốc gia nằm trong tốp các nước phát triển hàng đầu của nhân loại Còn đến bao giờ họ thực hiện những cuộc cách mạng tiếp theo để đạt tới một cuộc cách mạng triệt để, “đến nơi” thì
đó vẫn còn là một bí mật?
Với một cuộc cách mạng “đến nơi” thì cái hay như Hồ Chí Minh đã chỉ ra “dân
chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật” Và cái hay nữa là do cách mạng đã “đến nơi” rồi nên chỉ phải làm một lần, không phải làm nhiều lần Tuy nhiên với một cuộc cách mạng “đến nơi” thì cái khó là rất khó làm vì phải thực hiện một bước nhảy dài, một bước phát triển mang tính đột phá Nói như chủ nghĩa Mác Lênin,
đó là sự phát triển theo kiểu quá độ gián tiếp bỏ qua một hoặc một vài hình thái kinh tế
xã hội Một bước nhảy dài như vậy để có thể thành công đòi hỏi nhiều thời gian và sự tích lũy, chuẩn bị về nhiều mặt
Và thực hiện một cuộc cách mạng “đến nơi” như Việt Nam từ mùa thu năm
1945, quyền lực giao cho dân chúng số nhiều, đến nay, đã 2/3 thế kỷ trôi qua, công nông Việt Nam đã thực sự được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật sự hay chưa? Đã thực sự được giải phóng trong lao động hay chưa hay vẫn còn phụ thuộc vào những công cụ lao động thủ công, thô sơ, tiêu tốn nhiều sức lực? Những câu hỏi trên nên được đặt ra để chúng ta có một sự nhìn nhận đúng đắn, thỏa đáng về con đường phát triển Việt Nam và có những định hướng rõ ràng hơn cho tương lai của đất nước?
Về con đường giải phóng dân tộc theo cách mạng vô sản mà lãnh tụ Hồ Chí Minh lựa chọn cho dân tộc ta từ một thế kỷ trước, cần nhìn nhận một cách thấu đáo bằng những cứ liệu lịch sử mà chính Người nêu ra để từ đó xác định rõ hơn con đường mà chúng ta đang hướng tới
Ngoài căn cứ từ sự “đến nơi” hay “không đến nơi” của cuộc cách mạng mà lãnh
tụ Hồ Chí Minh lựa chọn cuộc cách mạng này, phủ nhận cuộc cách mạng khác, một luận điểm của Người mà theo tôi, các nhà nghiên cứu rất cần làm cho rõ là: Người đã
trích không ít hơn một lần lời của đồng chí Ăngđrê Giuyliêng: “Nhiều người dân bản
xứ đến với CNXH ít vì gắn bó trí thức với những nguyên lý XHCN mà vì cốt tìm kiếm
trong nghị viện, trong dư luận một sự ủng hộ chống bọn thực dân bóc lột họ” [3;32] Ở một đoạn khác trong bài viết của Người: “Một người dân bản xứ đến với CNXH, không có ý nghĩa gì khác ngoài việc tìm kiếm sự ủng hộ chống lại bọn thực dân bóc lột” [3,32] Điều này có nghĩa là những người bản xứ (trong đó có Hồ Chí Minh) đến với CNXH vì tìm kiếm một đồng minh để giải phóng dân tộc chứ thực chất cũng chưa hiểu CNXH là gì? Điều này cũng giống như khi Người đến với Quốc tế Cộng sản vậy Người tự bộc bạch: vì các ông bà ấy quan tâm, ủng hộ cuộc cách mạng của nhân dân các nước thuộc địa, chứ thực tình cũng chưa hiểu rõ Quốc tế Cộng sản thực chất như thế nào? Từ cảm tính đến lý tính, từ những quan sát đầu tiên về đồng minh trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đến hình thành một lý luận về trạng thái tương lai của dân tộc (tiến lên CNXH) là logic tất yếu của quá trình nhận thức Quá trình nhận thức
Trang 7của Hồ Chí Minh cũng không nằm ngoài logic tất yếu ấy Nhìn như vậy có thể thấy, đặt ra mục tiêu chiến lược tiến lên CNCS, CNXH là phương thức để Hồ Chí Minh có thể tìm động lực và đồng minh cho cuộc cách mạng giành độc lập từ tay chủ nghĩa đế quốc, thực dân Vấn đề là, sau khi đạt được mục tiêu trực tiếp, giành được độc lập rồi, con đường phía trước cần phải được cụ thể hóa và vận dụng phù hợp với thực tiễn đất nước, bám sát tiêu chí cốt lõi mà Người chỉ ra: Một con đường phải đem lại hạnh phúc
cho nhân dân lao động Chính cái đích lâu dài tiến lên CNXH, CNCS đã quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và mọi sức mạnh có thể khác của người Việt Nam tạo ra một nguồn sức mạnh khổng lồ để đánh thắng các kẻ thù phát triển cao hơn chúng ta hẳn một phương thức sản xuất Đây chính là cơ hội và thuận lợi lớn mà con đường giải phóng dân tộc theo quỹ đạo cách mạng vô sản tạo ra cho dân tộc Việt Nam
Trở lại lịch sử, tiếp cận trên lý luận hình thái kinh tế xã hội của Mác, trả lời câu hỏi: Tại sao nửa sau thế kỷ XIX, Nhật và Thái Lan thoát khỏi số phận bị phương Tây thôn tính và nô dịch? Câu trả lời là: Vì hai quốc gia này đã thực hiện cải cách để trở thành các quốc gia phát triển ở trình độ ngang ngửa phương Tây Trở thành nước TBCN để chiến thắng kẻ thù TBCN là sự lựa chọn thông thái của Nhật Bản và Thái Lan trong những điều kiện hiện thực cho phép của các quốc gia này Trong khi đó, Việt Nam chúng ta không có cuộc cải cách nào, chúng ta vẫn là nước phong kiến và tất yếu sẽ bị nước phát triển ở trình độ cao hơn là đế quốc Pháp TBCN thôn tính và cai trị Tiếp tục logic ấy để trả lời cho câu hỏi: Tại sao thế kỷ XX, một nước phong kiến nghèo nàn, lạc hậu như Việt Nam lại có thể chiến thắng hai quốc gia TBCN rất phát triển là thực dân Pháp, và đế quốc Mỹ? Câu trả lời trong trường hợp này là: Chính vì
tự đặt mình lên một quỹ đạo phát triển cao của nhân loại, quỹ đạo CNXH, CNCS (Đây chính là mục tiêu mà một cuộc cách mạng theo con đường cách mạng vô sản của Hồ Chí Minh hướng tới), mà cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam đã huy động được tối đa nội lực của dân tộc, những sức mạnh tiềm ẩn của dân tộc đã được bộc lộ
và phát huy cao độ làm nên sức mạnh tổng hợp chiến thắng những kẻ thù lớn mạnh TBCN Cái khí phách ngàn năm của người Việt Nam, cái văn hóa không cam chịu thân phận nô lệ lầm than của dân tộc Việt cộng hưởng với một tương lai sáng lạn hướng tới một xã hội “bốn biển một nhà”, không còn người bóc lột người đã tạo nên một sức mạnh khổng lồ giúp chúng ta chiến đấu và chiến thắng Đây chính là cơ hội lớn mà con đường giải phóng dân tộc theo quỹ đạo cách mạng vô sản đã đem lại cho chúng ta Khẳng định như vậy để chúng ta nhận thức một điều rõ ràng rằng: Cơ hội và những thuận lợi chúng ta đã “dùng” rồi Những cơ hội đó đã đem lại cho chúng ta
những chiến thắng lẫy lừng trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XX Vậy còn những khó khăn, thách thức mà con đường này tạo ra cho dân tộc là gì?
Trang 8Giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản nghĩa là phải thừa nhận một logic tất yếu: Giành độc lập rồi xây dựng đất nước theo con đường XHCN, tiến lên CSCN
Khó khăn, thách thức lớn nhất chính là khoảng cách quá xa giữa điểm xuất phát
và đích tới Từ những năm 60 của thế kỷ XX Đảng cộng sản Việt Nam đã nhận thức rõ điều này: Đặc điểm lớn nhất của miền Bắc khi xây dựng CNXH là: “Từ một nền nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không trải qua giai đoạn phát triển TBCN” [2;118] Và hiện nay, khi hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII họp tháng 1/2016 vừa qua khẳng định nước ta đã “trở thành nước đang phát triển
có thu nhập trung bình” Tuy nhiên, “việc tạo nền tảng để cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại không đạt được mục tiêu đề ra” [1;18] Trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội còn quá nhiều bất cập, hạn chế, khuyết điểm: Về kinh tế:
“trong 10 năm gần đây, kinh tế vĩ mô có lúc thiếu ổn định… Chất lượng, hiệu quả, năng suất lao động xã hội và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp” [1;18] Về các mặt khác: “Phát triển thiếu bền vững cả về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường Nhiều vấn đề bức xúc nảy sinh, nhất là các vấn đề xã hội và quản lý xã hội chưa được nhận thức đầy đủ và giải quyết có hiệu quả, còn tiềm ẩn những nhân tố và nguy cơ mất
ổn định xã hội Trên một số mặt, một số lĩnh vực, một bộ phận nhân dân chưa được hưởng thụ đầy đủ, công bằng thành quả của công cuộc đổi mới” [1;18] Đó là sự khẳng định của Đảng cộng sản VIệt Nam, lực lượng lãnh đạo toàn diện mọi mặt, đời sống xã hội Việt Nam Còn nếu nhìn trên các góc nhìn khác, từ sự đánh giá của các lực lượng
xã hội khác nhau, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế về sự phát triển kinh
tế xã hội nước ta, bức tranh còn ảm đạm hơn rất nhiều Do đó, trạng thái xã hội mà ở
đó “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn mình” một cách thực sự còn ở quá
xa
Nhìn một cách khách quan và công bằng với lịch sử, hiện tại và tương lai sự phát triển chung, có thể khẳng định: Chúng ta đặt ra một cái đích tới là xã hội XHCN, CSCN, một cái đích tới ở trình độ phát triển cao hơn hẳn CNTB về nhiều mặt nhưng điểm xuất phát của chúng ta quá thấp về nhiều mặt (từ những năm 60 và 70 của thế kỷ XX), cùng với những sai lầm chủ quan trong việc hoạch định chủ trương, đường lối phát triển (điều này Đảng đã chỉ rõ trong từng kỳ Đại hội Đảng), đến nay, về nhiều mặt, chúng ta còn phải nỗ lực rất nhiều, cố gắng rất nhiều mới có thể đạt tới trình độ hiện tại của các nước TBCN Âu, Mỹ Nhận thức rõ điều này để chúng ta có thể hoạch định một cách rõ ràng những biện pháp vượt qua thách thức, khó khăn, vững bước trên con đường đã chọn Nhận thức rõ điều này để chúng ta không còn băn khoăn mỗi khi
đi du lịch, công tác ở các nước Âu, Mỹ và nhiều nước phát triển khác trên thế giới Họ văn minh quá, khi nào thì ta đạt tới trình độ như họ? Đích ta đặt ra cao hơn họ, tuy nhiên để cán đích thì còn là thời gian với những nỗ lực rất lớn của cả hệ thống chính trị
Trang 9và nhân dân để vượt qua thách thức, khó khăn, biến khó khăn, thách thức thành động lực cán đích
“Bỏ qua chế độ TBCN”, chúng ta không phải trải qua một giai đoạn đau thương,
bi đát của lịch sử với một thiểu số người giàu có trên cả biển người nghèo khổ (nghèo tương đối) mà cuộc khủng hoảng phố Wall đã bộ lộ rõ hơn bao giờ hết Không phải đối mặt với những vấn đề kinh tế, xã hội nhức nhối mà các nước TB trải qua Song chúng ta cũng không có cơ hội hưởng thụ những thành quả tuyệt vời của nền văn minh
tư sản Thấm thía tính hai mặt đó, chúng ta sẽ tự tin, thanh thản đi trên con đường mà chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã lựa chọn cho dân tộc bằng những trải nghiệm phong phú cùng với trí tuệ uyên bác, lỗi lạc của Người
Vấn đề đặt ra mang tính cốt yếu với dân tộc lúc này là: Để tiếp tục vững bước
trên con đường đã chọn, điều tiên quyết là sức mạnh và vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Nói như Hồ Chí Minh phải làm sao để Đảng “có thể trở thành hình thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động, hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc” [5;412] Phải làm sao để Đảng thực sự là “đội tiên phong”, làm sao để Đảng có thể “khơi nguồn lực lượng và sức sáng tạo của nhân dân” [5;412,413], biết dựa vào dân, lấy dân làm gốc? Làm sao để Đảng có thể vận dụng hiệu quả nguyên tắc phê bình và tự phê bình như “phương pháp thần diệu để sữa chữa và xóa bỏ những thiếu xót hoặc sai lầm” [5;413] Công việc mà Đảng cần làm là “hết sức quan tâm nâng cao trình độ công tác của Đảng” [5;413], nâng cao “tính tích cực chính trị, sự đoàn kết về mặt tổ chức và trình độ tư tưởng của đảng viên” [5;413] Tất cả những điều đó đều có thể thực hiện được khi Đảng “không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân và Tổ quốc” [5;413] Đây là một bài toán quá khó để tìm ra đáp án trong điều kiện hiện nay khi mà tình trạng vào đảng để thăng quan tiến chức, để làm quan phát tài, để vinh thân phì gia còn khá phổ biến hiện nay Và khi mà “tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã bước đầu được ngăn chặn song chưa được đẩy lùi; một số rất ít cán bộ, đảng viên bị phần tử xấu lợi dụng lôi kéo, kích động, xúi giục, mua chuộc đã có tư tưởng, hành động, việc làm chống đối Đảng, Nhà nước” [1;176]
Hiện nay, Đảng cộng sản Việt Nam đang làm gì để tiếp tục thực hiện con đường mà Hồ Chí Minh đã tìm ra cho dân tộc Việt Nam? Vấn đề là tích lũy nội lực
để rút ngắn dần khoảng cách từ thực tại đến mục tiêu
Nội lực đó đang được lực lượng lãnh đạo đất nước là Đảng cộng sản Việt Nam cùng với toàn thể nhân dân Việt Nam nỗ lực thực hiện thông qua hệ thống đường lối cách mạng do Đảng hoạch định
Sức mạnh đó trước hết và quan trọng bậc nhất là sức mạnh về kinh tế Chúng ta
đang nỗ lực tạo ra nó bằng chiến lược đẩy mạnh CNH-HĐH mà đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (2006) khẳng định mục tiêu là sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo tiền đề để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công
Trang 10nghiệp theo hướng hiện đại Đại hội XI (2011) tiếp tục phát triển: Từ nay đến giữa thế
kỷ XXI, nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đại hội XII khẳng định phải “nâng cao chất lượng CNH-HĐH” [1;31] Chúng
ta đang thực hiện CNH – HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức; Lấy phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững; khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của CNH – HĐH; CNH – HĐH gắn với phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế; phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường Những định hướng phát triển trên đây là những biện pháp cơ bản để phát triển lực lượng sản xuất xã hội Song song với phát triển lực lượng sản xuất, việc thiết lập quan hệ sản xuất phù hợp được đẩy mạnh bằng đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân Về mặt sở hữu, đó là việc thừa nhận mọi hình thức
sở hữu thông qua phát triển kinh tế nhiều thành phần, các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật Về cơ chế quản lý đó là cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Về định hướng xã hội và phân phối: thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển Thực hiện thành công đường lối CNH-HĐH và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là yếu tố cơ bản để tạo nên nội lực về kinh tế, đảm bảo sức mạnh vận hành trên quỹ đạo lịch sử đã đặt chúng ta trên đó
Sức mạnh đó là sức mạnh về chính trị Đó là việc không ngừng hoàn thiện hệ
thống chính trị của CNXH với sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, vai trò quản lý xã hội của Nhà nước và sức mạnh của các tổ chức chính trị xã hội (Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Hội phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội cựu chiến binh Việt Nam) trong việc quy tụ sức mạnh của nhân dân, là nơi nhân dân nói lên tiếng nói của mình Hoàn thiện từng bộ phận cấu thành hệ thống chính trị, mối quan hệ bên trong và bên ngoài
hệ thống đặc biệt mối quan hệ của hệ thống chính trị với nhân dân, với xã hội chính là chúng ta đang tạo nên sức mạnh chính trị để cùng với sức mạnh kinh tế, chúng ta có thể vận hành trên con đường Bác Hồ đã chọn
Đó còn là sức mạnh của một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc, hòa nhập mà không hòa tan, sức mạnh được tạo ra từ những nỗ lực giải quyết các
vấn đề xã hội, xóa đói giảm nghèo, khuyến khích làm giàu hợp pháp Sức mạnh của đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, ngày càng khẳng định vị thế đất nước trong lòng
bạn bè quốc tế
Như vậy, bằng một hệ thống đường lối cách mạng toàn diện từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội, từ đối nội đến đối ngoại, Đảng cộng sản Việt Nam với vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội trên tất cả các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội đã và đang
nỗ lực tạo nên sức mạnh cho đất nước về mọi mặt, tạo tiền đề để chúng ta có thể vận
Trang 11hành trên con đường mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm thấy cho dân tộc từ những năm đầu thế kỷ XX
3 KẾT LUẬN
Hồ Chí Minh vạch ra con đường, Người cũng chỉ cho chúng ta công cụ cơ bản để thực hiện Điều cốt yếu là chúng ta thẩm thấu những tư tưởng đó như thế nào và vận dụng một cách sáng tạo trên hành trình đầy khó khăn, thử thách để đạt tới một tương lai sáng lạn với những giá trị đích thực của hạnh phúc, tự do
Có thể chốt lại: Con đường giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh tìm thấy cho Việt Nam đầu thế kỷ XX tiềm ẩn cả hai mặt thuận lợi và khó khăn, cơ hội và thách thức Thuận lợi và cơ hội chúng ta đã khai thác, sử dụng rất tuyệt vời để tạo nên những thắng lợi lớn trong các cuộc đấu tranh với các cường quốc lớn (Pháp, Mỹ) trong thế kỷ
XX để giữ vững nền độc lập Khó khăn, thách thức chúng ta đang phải đương đầu để vượt qua khoảng cách khá xa giữa thực tại và đích tới Vấn đề mấu chốt là phải củng
cố sức mạnh lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Để tiếp tục thực hiện con đường
mà lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chọn, Đảng cộng sản Việt Nam đã hoạch định một hệ thống đường lối xây dựng và phát triển đất nước toàn diện trên tất cả các mặt từ kinh
tế, chính trị đến văn hóa, xã hội, từ đối nội đến đối ngoại Trở lại những chỉ giáo của lãnh tụ thiên tài Hồ Chí Minh, chốt lại là: khi nào Đảng biết “khơi nguồn lực lượng và sức sáng tạo của nhân dân” [5;412,413], biết dựa vào dân, lấy dân làm gốc thì CNXH
sẽ ngày càng trở nên gần hơn, con đường mà Hồ Chí Minh lựa chọn cho dân tộc sẽ có
cơ hội thành hiện thực
CNH-HĐH: Công nghiệp hóa- hiện đại hóa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Ban Tuyên giáo Trung ương (2016), Tài liệu học tập các văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Hà Nội
2 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Giáo trình Đường lối Cách mạng của Đảng cộng
sản Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
3 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 1, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
4 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 2, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
5 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 9, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Trang 12CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC LỰA CHỌN VÀ XÁC LẬP GIÁ TRỊ CỐT LÕI TRONG MÔ HÌNH CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Thiếu tướng, TS Nguyễn Xuân Trường
Tóm tắt: Bài viết trình bày những sáng tạo lý luận và thực tiễn của Hồ Chí Minh
về con đường xây dựng xã hội mới ở Việt Nam Bằng những dữ liệu lịch sử, tác giả khẳng định hai vấn đề: Thứ nhất, lựa chọn mục tiêu chủ nghĩa xã hội - sự khẳng định giá trị của một mô hình "cách mạng đến nơi"; Thứ hai: Hồ Chí Minh với việc xác lập giá trị cốt lõi trong mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đây là cơ sở vững chắc để đấu tranh với những luận điểm sai trái của các thế lực thù địch nhằm phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay
Từ khóa: Hồ Chí Minh, giá trị cốt lõi, mô hình, chủ nghĩa xã hội, Việt Nam
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Sau những biến động chính trị ở Đông Âu và Liên Xô, các thế lực thù địch và bọn phản bội chủ nghĩa Mác - Lê nin ra sức tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận lý luận cách mạng, khoa học và tính phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lê nin, phủ nhận giá trị hiện thực của chủ nghĩa xã hội Trước tình hình đó, một số người vốn một thời theo Đảng, giờ đây đã mất bình tĩnh, tỏ ra hoài nghi dao động, cởi áo cộng sản, xin ra khỏi tổ chức đảng như là sự chạy trốn quá khứ, rũ bỏ niềm tin vào con đường cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta lãnh đạo; có kẻ cố tỏ ra ít nhiều "nhiệt huyết" với "tương lai" của dân tộc bằng cách "bới lông tìm vết" phát ngôn rỉa rói, phê phán những mặt chưa được của chế độ với một thái độ thiếu thiện chí và thiếu công tâm Tồi tệ hơn, gần đây liên minh của những phản đồ chính trị còn phát động chiến dịch nhằm bôi nhọ hình ảnh cao đẹp của lãnh tụ Hồ Chí Minh; cho rằng con đường xã hội chủ nghĩa là do Hồ Chí Minh gán cho Việt Nam; giá như lúc đó đi con đường khác thì biết đâu nước ta vẫn giành được độc lập, kinh tế vẫn phát triển, lại tránh được mấy cuộc trường kỳ, gian khổ, tốn bao xương máu; rằng chủ nghĩa xã hội hiện thực là "quái thai" của lịch sử, đi lên chủ nghĩa xã hội là đi trên con đường vốn đã sai lầm từ đầu; rằng chủ nghĩa xã hội trên thực tế đã hết sức sống, định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội là định hướng tới xã hội không có thực, đó
là sự ảo tưởng, là con đường phi hiện thực Bản chất của lịch sử là khách quan và tường minh; chỉ cần thực sự cầu thị, nhìn đúng sự thật lịch sử, thì không ai lại không nhận ra đó
là những quan niệm, đúng hơn là những luận điệu sai trái, hết sức chủ quan và thiên kiến
Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng
Trang 132 NỘI DUNG
Khẳng định giá trị vĩnh hằng của tư tưởng Hồ Chí Minh, những sáng tạo (lý luận,
thực tiễn) của Hồ Chí Minh về con đường xây dựng xã hội mới ở Việt Nam, bằng những
dữ liệu lịch sử, bài viết góp phần trao đổi hai vấn đề:
2.1 Lựa chọn mục tiêu chủ nghĩa xã hội - sự khẳng định giá trị của một mô hình "cách mạng đến nơi"
Về sự lựa chọn con đường cách mạng Việt Nam, trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng ta chỉ rõ: đây là "sự lựa chọn của chính lịch sử" [1, tr.109]; gắn liền với tư duy sáng tạo, hợp lô gíc và nhất quán của Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh Thực tiễn lịch sử Việt Nam đã minh chứng: chủ nghĩa xã hội là con đường duy
nhất giải phóng dân tộc Việt Nam, là sự khẳng định trong hiện thực giá trị của một mô hình "cách mạng đến nơi"
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Việt Nam nằm dưới sự thống trị của thực dân Pháp và triều đình phong kiến nhà Nguyễn nhu nhược, ươn hèn cam tâm làm tay sai cho
đế quốc Với thân phận nô lệ, nhân dân ta chịu cảnh "một cổ hai tròng", sưu cao thuế nặng, cuộc sống lầm than, cơ cực Trong phong trào yêu nước chống thực dân Pháp đã xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng và các cuộc vận động cách mạng với các khuynh hướng, đường lối và phương pháp cách mạng khác nhau Kết cục các phong trào yêu nước, kháng Pháp lúc đó và những bài học xương máu rút từ các cuộc đấu tranh bi hùng của dân tộc cho thấy đến đầu thế kỷ XX, con đường cứu nước của dân tộc lâm vào khủng hoảng như đi vào ngõ cụt, "tình hình đen tối như không có đường ra", và "bóng đêm" vẫn bao trùm xã hội Việt Nam Lịch sử đòi hỏi phải có con đường mới để giải thoát dân tộc khỏi ách áp bức lầm than Đòi hỏi đó đặt lên vai thế hệ cùng thời với Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh
Làm thế nào để: "tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi", làm thế nào để đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành Đó là mong muốn, cũng đồng thời là điểm xuất phát, là mục đích và là động lực để Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh ra đi, đi khắp nơi trên thế giới để tìm con đường thực hiện mục tiêu đó Sau gần 10 năm đi nhiều nước, đọc nhiều lý luận, học thuyết, học hỏi nhiều kinh nghiệm, tiếp xúc với nhiều hạng người, chứng kiến trực tiếp văn minh phương Tây, đồng thời được hoà mình với cuộc sống của người lao động trong xã hội tư bản, Người nhận ra rằng, cách mạng giải phóng của Việt Nam cần phải học tập nhiều điều ở cách mạng Mỹ (1776) và cách mạng Pháp (1789), nhất là ở tinh thần cách mạng của họ Nhưng cách mạng Việt Nam có đi theo con đường cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp không? Hồ Chí Minh khẳng định dứt khoát: con đường đó không phù hợp với cách mạng Việt Nam Bởi đó là những cuộc cách mạng chỉ đem lại quyền lợi cho người giàu, là cuộc cách mạng "không đến nơi" Theo Người: "Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm đến nơi, nghĩa
là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một
Trang 14bọn ít người Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc" [3, tr.270]
Trên con đường khảo cứu thế giới, đặc biệt những năm tháng hoạt động ở Pari trong Đảng Xã hội Pháp đã đưa Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Lê nin, đến với chiến lược, sách lược của cách mạng vô sản Luận cương về vấn đề dân tộc
và thuộc địa của Lê nin đã làm sáng tỏ trong Người tất cả những điều đang nung nấu, đang trăn trở về con đường giải phóng dân tộc mình, nhân dân mình Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến nước Nga Xô viết Thực tiễn sinh động ở nước Nga Xô viết giúp Người nhận thức sâu sắc sự bất lực, lạc hậu của chế độ phong kiến và sự tàn bạo của chế
độ tư sản; sự xuất hiện một chế độ xã hội mới ở nước Nga Xô viết, trong đó nhân dân lao động thực sự được giải phóng khỏi áp bức bất công Đây là một thực tiễn sinh động
mà Người mơ ước thiết lập ở Việt Nam; là mô hình "cách mạng đến nơi" mà Người đang khát khao kiếm tìm Chính từ đây, Người đi đến kết luận: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản" [5, tr.314],
"chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức
và những người lao động trên thế giới thoát khỏi ách nô lệ"[6, tr.128] Theo đó, con đường cách mạng Việt Nam cũng như nhiều nước châu Á là phải giành độc lập hoàn toàn và tiến lên chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa xã hội là bước phát triển tất yếu của độc lập dân tộc; cách mạng giải phóng dân tộc phải trở thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì nền độc lập dân tộc mới được củng cố vững chắc, cách mạng mới giành thắng lợi hoàn toàn
Như vậy, sự lựa chọn mục tiêu chủ nghĩa xã hội suy cho cùng là quyết định khách quan của chính lịch sử Và trong số bao trái tim và bộ óc trăn trở tìm tòi con đường cứu nước, "tự nhiên và như nhiên" lịch sử dân tộc đã lựa chọn không ai khác Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh - người duy nhất lúc đó nắm được cơ hội lịch sử để thay đổi lịch
sử, thay đổi thân phận con người bằng cả khát vọng mãnh liệt của dân tộc và của chính Người, bằng sự nung nấu, trăn trở, đào sâu và mài sắc tư duy theo thời gian của Nguyễn
Ái Quốc - Hồ Chí Minh chứ không phải là sự chủ quan, nhất thời hay ngẫu nhiên, vận may lịch sử, càng không phải là do Hồ Chí Minh tự gán cho Việt Nam như một số luận điệu xuyên tạc Có thể nói, sự lựa chọn con đường buổi đầu tiên ấy là cả một công trình mang tầm vóc lịch sử, thể hiện khả năng lớn, trí tuệ lớn của một thiên tài chính trị kiệt xuất - Hồ Chí Minh
2 2 Hồ Chí Minh với việc xác lập giá trị cốt lõi trong mô hình chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một trong những nội dung trung tâm của tư tưởng Hồ Chí Minh; trong đó, những luận giải rất phong phú của Người về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam như một biểu trưng mẫu mực về sự nghiền ngẫm uyên bác những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê nin, về tinh thần sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê nin vào hoàn cảnh các nước thuộc địa
Trang 15Đây là những luận điểm đặt tiền đề quan trọng và là kim chỉ nam cho cho hành trình tới tương lai tươi sáng của dân tộc; là nền tảng vững chắc cho việc tiếp tục phát triển hệ thống quan điểm lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong điều kiện mới
Trong các di sản lý luận của mình, C Mác và Ph Ăng ghen đã nêu lên những dự đoán thiên tài về xã hội tương lai - xã hội cộng sản chủ nghĩa Hai ông đã có công biến chủ nghĩa xã hội vốn là học thuyết không tưởng thành học thuyết có cơ sở khoa học Tuy vậy, do điều kiện lịch sử, các nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học chỉ có thể
dự đoán những nét chủ yếu, chứ không thể nêu lên một cách chi tiết những quan niệm của mình về xã hội tương lai Hơn nữa, những dự đoán ấy được hình thành chủ yếu trên
cơ sở nghiên cứu hiện thực xã hội tư bản chủ nghĩa phát triển tương đối cao ở một số nước Tây Âu Vấn đề đặt ra là: chế độ cộng sản có thể áp dụng được ở châu Á nói chung và Đông Dương nói riêng không? Có thể có một mô hình chủ nghĩa xã hội chung cho mọi quốc gia, dân tộc không?
Về vấn đề thứ nhất Đây là vấn đề được Hồ Chí Minh cùng những người cách
mạng ở châu Á và Đông Dương quan tâm ngay từ năm 1921 Gần đây, sau gần một thế
kỷ dân tộc ta, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, vẫn còn có kẻ bám gót bọn cơ hội xét lại muốn "truy cứu" vấn đề này
Muốn hiểu biết vấn đề đó và muốn trả lời câu hỏi đó, Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh cho rằng cần phải xem xét tình hình cụ thể ở lục địa châu Á về mặt lịch sử và địa
lý Bằng nhãn quan chính trị sắc sảo và sự hiểu biết sâu rộng, trên cơ sở nghiên cứu, xem xét các nước châu Á một cách toàn diện cả về lịch sử xã hội - văn hoá, kinh tế, chính trị , Người đi đến kêt luận: "Bây giờ hãy xét những lý do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập dễ dàng vào châu Á, dễ dàng hơn là ở châu Âu" [2, tr.35] Bởi ở châu Á, tư tưởng về cộng đồng xã hội, bình đẳng, giáo dục và đề cao giá trị nhân văn; tư tưởng phải đấu tranh cho hạnh phúc của con người, đề cao nhân dân đã phát triển sớm, trở thành cơ sở thuận lợi để tiếp nhận tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản Cuối thế kỷ XX, một sự thật lịch sử là trong khi một mô hình chủ nghĩa xã hội tan rã ở các nước xã hội chủ nghĩa châu Âu, thì chế độ xã hội chủ nghĩa lại được củng cố và phát triển ở các nước châu Á như Việt Nam, Trung Quốc Thực tế đó đã chứng minh nhận định thiên tài của Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh
Về vấn đề thứ hai Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê nin đã có những dự
đoán thiên tài về xã hội tương lai, song chưa lúc nào các ông cho rằng, trong tương lai chủ nghĩa xã hội sẽ chỉ có một mô hình duy nhất Chủ nghĩa xã hội về bản chất và mục tiêu là thống nhất, nhưng có nhiều mô hình khác nhau, thể hiện sự đa dạng, phong phú trong việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Mô hình chủ nghĩa xã hội ở mỗi quốc gia bao giờ cũng mang trong nó những nét đặc thù về lịch sử, văn hoá, dân tộc của quốc gia đó
Trang 16Hồ Chí Minh đã tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ nhiều phương diện khác nhau: từ chủ nghĩa yêu nước và khát vọng giải phóng dân tộc, từ phương diện đạo đức, từ góc độ văn hoá Trên các phương diện Người đều thấy rằng, về bản chất chủ nghĩa xã hội là một chế độ mới khác biệt về chất, một chế độ thực sự ưu việt, đầy tính nhân văn cao cả Người chỉ rõ: "Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hoà bình, hạnh phúc "[2, tr.461] Đối với Việt Nam, chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển tất yếu của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Sau này, trong lý luận nhận thức về chủ nghĩa xã hội, Người khẳng định thêm nhiều luận điểm quan trọng: "Không có một chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích
cá nhân đúng đắn và đảm bảo cho nó được thoả mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa"[5, tr.291]; chủ nghĩa xã hội là "nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được no ấm và sống một đời hạnh phúc"[6, tr.17]
Giá trị xuyên suốt và đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về mô hình chủ nghĩa xã
hội gắn liền với khát vọng cháy bỏng của Người; đó là xã hội giải phóng thật sự con
người, xã hội do nhân dân lao động làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Theo Hồ Chí Minh, xây dựng chế độ chính trị - xã hội ưu việt là nhằm giải phóng con người về mặt chính trị Khi đó con người mới thực sự là mục tiêu theo ý nghĩa chân chính của nó Mặt khác, giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột và nô dịch trong xã hội có giai cấp đối kháng là một động lực mạnh mẽ, là công cụ chủ yếu để khai thác và phát huy mọi khả năng vật chất và tinh thần của con người vào sự phát triển xã hội Một
xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa theo Hồ Chí Minh quan niệm là một xã hội trong
đó con người được tự do, bình dẳng, hạnh phúc Con người có sự phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Hồ Chí Minh đã nêu những nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Cả sáu vấn đề người đưa ra đều liên quan đến con người và giải phóng con người Đó là:
Nhân dân đang đói, làm gì để thoát khỏi nạn đói
Nhân dân đang dốt, làm gì để thoát khỏi dốt
Nhân dân chưa được hưởng dân chủ, làm gì để nhân dân được hưởng tự do
Nhân dân bị đầu độc bằng rượu và thuốc phiện, phải làm gì đẻ thoát khỏi nạn này Nhân dân phải chịu nhiều thứ thuế, phải bỏ ngay các thứ thuế đó cho dân
Nhân dân bị thực dân chia rẽ, phải làm gì để đoàn kết nhân dân lại
Trong suốt quá trình lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người thường xuyên nhắc nhở Đảng và Chính phủ phải luôn lo cho dân: việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh Trước lúc đi xa, trong Di chúc Người lại nhắc: "Đảng cầ n phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm
Trang 17không ngừng nâng cao đời sống nhân dân" [7, tr.511] Như vậy, yêu thương những con người lao động, đấu tranh nhằm giải phóng con người khỏi ách áp bức bóc lột, bất công, khỏi sự nghèo đói, dốt nát là điểm xuất phát trong cách tiếp cận mô hình chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trong lịch sử Việt Nam, các triều minh quân đều nhận thức: yêu thương nhân dân
là việc đầu tiên của vương chính Chủ trương ái dân và đã có những chính sách "chăn dân", nhưng trên thực tế hầu như ở tất cả các triều đại xưa quyền làm chủ của người dân không được xác lập; có chăng nhân dân chỉ được hưởng cái "quyền" của mình khi đất nước lâm nguy, khi thái ấp của vua chúa có nguy cơ rơi vào tay giặc Đặc biệt ở các triều đại vua chúa nhà Nguyễn (cuối thế kỷ XIX), "đức" thương dân của vương quan trong triều chỉ là đức thương của người cưỡi ngựa thương con ngựa; ái dân cốt để vinh thân, củng cố vương quyền Những khẩu hiệu: "Tự do, bình đẳng, bác ái" mà chủ nghĩa
tư bản rêu rao, được Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh khảo cứu bằng chính thực tế cuộc sống người lao động ở các nước: Pháp (1911), Hoa Kỳ (1912), Anh (1914) , rốt cuộc chỉ là sự che đậy bản chất bất công tàn bạo và đê tiện của chủ nghĩa tư bản Trên thực tế,
ở đâu giai cấp công nhân và nhân dân lao động cũng bị áp bức bóc lột rất dã man Cho đến nay, chủ nghĩa tư bản đã kéo dài sự phát triển qua mấy thế kỷ, vẫn không thể xoá bỏ được những mâu thuẫn cố hữu giữa lao động và tư bản, giữa người bị áp bức, bóc lột và
kẻ áp bức, bóc lột; sự phát triển ấy không những không thể khắc phục được mà ngày càng làm trầm trọng hơn sự bất công, bất bình đẳng trong xã hội
Đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, chủ nghĩa xã hội là xã hội duy nhất mà ở đó quyền con người trở thành hiện thực và có khả năng phát huy cao nhất mọi tiềm năng con người (cá nhân, tập thể, cộng đồng) Với Hồ Chí Minh, con người là chủ thể tích cực của lịch sử, nhân dân là giá trị quý báu nhất, cao nhất; của dân, tài dân, sức dân là nguồn lực quan trọng nhất của phát triển Không có dân ủng hộ giúp đỡ thì cách mạng không có sức mạnh, không thể thành công Không có dân thì Đảng không có lực lượng Có dân, được dân tin, dân yêu, dân phục, lại có đường lối đúng để dẫn dắt dân tranh đấu thì việc khó mấy cũng giải quyết được
Nói đến quyền con người trong chủ nghĩa xã hội không thể không nói đến tư tưởng dân chủ Dân chủ xã hội chủ nghĩa chính là sự thể hiện quyền con người của cá nhân và cộng đồng ở mức cao nhất Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh: nếu trong bầu trời không có
gì quý bằng nhân dân thì dân chủ là của quý báu nhất trên đời của nhân dân; dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ[4, tr.515, 365] Quan niệm đó thể hiện sự gắn bó mật thiết giữa tính nhân văn và tính pháp lý của dân chủ, được thể hiện thống nhất trong nội hàm dân chủ xã hội chủ nghĩa
Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân và vì nhân dân Nhưng để nhân dân thực hiện được vai trò cách mạng của mình, đem lại hạnh phúc cho chính mình cần phải có
sự lãnh đạo của Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng tới công việc thực tế để xây dựng nền dân chủ tiến bộ nhất thực sự là của dân, do dân, vì dân Suốt cuộc đời của
Trang 18mình, Người luôn quan tâm xây dựng Đảng trên cả ba phương diện: tư tưởng, lý luận; đường lối chính trị; tổ chức cán bộ Người đòi hỏi Đảng phải thực sự là đạo đức, là văn minh, cán bộ đảng viên phải "chính tâm", "nghiêm pháp"; phải tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp, của nhân dân, ngoài ra không còn lợi ích nào khác Đảng và nhà nước không phải là "cứu tinh" của nhân dân mà có trách nhiệm phụng sự nhân dân, là đày tớ của nhân dân Để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, Đảng phải quan tâm tới đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; chú trọng nâng cao dân trí; đặt dân sinh, dân trí, dân chủ trong quan hệ thống nhất
Khi xác lập những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê nin cũng nhấn mạnh, chủ nghĩa xã hội không phải là một lý tưởng
mà hiện thực phải tuân theo, không phải là những sắc lệnh từ trên xuống, mà nó là một phong trào hiện thực, là sự nghiệp sáng tạo của bản thân quần chúng nhân dân Vì thế, mọi sự gò ép, bất chấp hiện thực, công thức hoá những tư tưởng lý luận trên thực tế đều phải trả giá Chủ nghĩa xã hội hiện thực luôn phát triển, do đó quan niệm về nó cũng phải được phát triển
Chủ nghĩa xã hội và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thuộc phạm trù cách mạng vô sản nhưng được diễn ra ở một xứ thuộc địa không hoàn toàn giống một cuộc cách mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo ở phương Tây như các nhà kinh điển Mác - Lê nin
đã chỉ ra Vì vậy, tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê nin đòi hỏi sự vận dụng cần phải "Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông"[2, tr.465] Đồng thời, nó phải được cụ thể hoá, phát triển và hoàn thiện trong quá trình cách mạng Hơn nữa, chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội có nhiều nội dung, mỗi nội dung có quy luật phát triển riêng và luôn mang tính khả biến, gắn với diễn trình lịch sử trong mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ cách mạng Bởi vậy, để cách mạng thắng lợi đòi hỏi trong nghiên cứu, hoạch định đường lối cách mạng và chỉ đạo thực tiễn phải có quan điểm lịch sử cụ thể và phát triển; phải thấy rõ, phân tích và giải quyết tốt các mối liên hệ, có bước đi phù hợp, có những điều kiện cơ bản đảm bảo cho con đường cách mạng được hiện thực hoá Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ phát hiện ra con đường cách mạng Việt Nam mà Người đã không ngừng phát triển hoàn thiện nó qua những thời kỳ lịch sử với những quan điểm cực kỳ đúng đắn, sáng tạo, chẳng những chỉ đạo cách mạng Việt Nam lúc sinh thời của Người mà còn có giá trị xuyên suốt tới ngày nay và mai sau
Tính cách mạng khoa học, đúng đắn, sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh trong xác định con đường cách mạng Việt Nam đã được lịch sử kiểm chứng Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, sau chiến thắng 30-4-1975 cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội Sự phát triển không ngừng của đất nước trước những cam go, thử thách và biến động thăng trầm của lịch sử, những thành quả to lớn của cách mạng Việt Nam trong gần thế kỷ qua càng chứng minh giá trị và sức sống mãnh liệt của tư tưởng
Hồ Chí Minh Sự vận động của thực tiễn cách mạng đòi hỏi lý luận về mô hình chủ
Trang 19nghĩa xã hội phải có bước phát triển mới Việc xác định những đặc trưng cơ bản trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và tám đặc trưng được xác định trong Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 đã phản ánh tổng quát, toàn diện quan niệm về chủ nghĩa xã hội của Đảng ta, là sự tiếp nối kiên định, hiện thực hoá tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới của đất nước
3 KẾT LUẬN
Con người - cuộc đời - sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự hội kết, chiết suất các giá trị và trở thành hệ giá trị vĩnh hằng đi sâu vào tâm thức mỗi người, thành biểu tượng thiêng liêng của lớp lớp các thế hệ không dễ phai nhạt Đánh giá về Hồ Chí Minh, trong tham luận Hội thảo quốc tế nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người có khẳng định: "Trong mọi sự biến đổi cũng có một số điều quan trọng không thể thay đổi,
Đó là lý tưởng chủ nghĩa xã hội, các tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa, tự do dân chủ và công bằng xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà yêu nước vĩ đại, người theo chủ nghĩa quốc tế đã cống hiến trọn đời mình cho lý tưởng đó" [8, tr.168] Ai đó cố tình rêu rao cái gọi là "chọn sai đường" và "giá như" là không thể chấp nhận với tất cả những ai có lương tri và biết trân trọng lịch sử
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb
CTQG, Hà Nội, 1991
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002
3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002
4 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002
5 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002
6 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002
7 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002
8 Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh (trích tham luận của đại biểu quốc
tế UNESCO và Uỷ ban KHXHNV), Hà Nội, 1990
Trang 20TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ, THỰC HÀNH DÂN CHỦ -
GIÁ TRỊ CỐT LÕI VÀ Ý NGHĨA THỜI ĐẠI
PGS,TS Phạm Ngọc Anh
Tóm tắt: Bài viết trình bày quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ: xây
dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực Đồng thời, bài viết tập trung phân tích giá trị cốt lõi và ý nghĩa của tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó, tác giả nêu lên một số vấn đề phương pháp luận cho việc thực hành dân chủ ở Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Từ khóa: tư tưởng Hồ Chí Minh, dân chủ, thực hành dân chủ, ý nghĩa thời đại
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Di sản dân chủ Hồ Chí Minh (bao gồm cả tư tưởng về dân chủ và chỉ đạo thực tiễn thực hành dân chủ) rất phong phú, nhiều nội dung; kết tinh thành hệ giá trị ổn định, bền vững định hướng xây dựng nền dân chủ kiểu mới ở Việt Nam, rất đáng được nghiên cứu theo chiều sâu để vận dụng tốt hơn trong điều kiện hiện nay
2 NỘI DUNG
2 1 Giá trị cốt lõi và ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ
Dân chủ là khát vọng ngàn đời của nhân loại; là động lực, mục tiêu của sự phát triển trong công cuộc đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng con người Có thể thấy, trong
xã hội đã có nhiều người viết và nói về vấn đề “dân chủ” rất hay Song, để đi vào cuộc sống thì lại không đơn giản Người dân chỉ mong muốn giản dị là được quyền phát biểu chính kiến của mình, nói đúng nguyện vọng của mình, nói thật thực trạng mình đang chứng kiến, làm những điều gì có lợi cho mình, đồng bào mình, dân tộc mình Có thể khẳng định, đó là bản chất cơ bản nhất của dân chủ Chủ tịch Hồ Chí Minh định
nghĩa điều này thật nôm na dễ hiểu:“Dân chủ là để người dân được mở cái miệng
ra”.(1)
Hồ Chí Minh còn quan niệm dân chủ có nghĩa là “Dân là chủ, Chính phủ là đầy
tớ”(2) Khi xác định như thế, có lúc đem quan niệm “dân là chủ” đối lập với quan niệm “quan chủ” Đây là quan niệm được Hồ Chí Minh diễn đạt ngắn, gọn, rõ nghĩa,
đi thẳng vào bản chất của khái niệm trong cấu tạo quyền lực
Mở rộng theo ý đó, Hồ Chí Minh cho rằng : “Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là
nước nhà do nhân dân làm chủ Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa vụ
làm tròn bổn phận công dân, giữ vững đạo đức công dân…”.(3) Trong tác phẩm “Dân
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 21vận” viết 15-10-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở Đảng và Nhà nước ta phải
thực hành dân chủ Người khẳng định :
“Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân
Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân
Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân.(4)
Tựu trung lại, quan niệm Hồ Chí Minh về dân chủ được biểu đạt qua hai
mệnh đề ngắn gọn : “Dân là chủ” và “Dân làm chủ” Khi biểu đạt như thế, chúng ta
có thể hiểu rằng, dân là chủ, nghĩa là đề cập đến vị thế của người dân; còn dân làm chủ nghĩa là đề cập đến năng lực và trách nhiệm của dân Cả hai vế luôn luôn đi đôi với nhau, thể hiện vị trí, vai trò, quyền và trách nhiệm của người dân Xã hội nào bảo đảm quyền hành và lực lượng đều thuộc về nhân dân thì đó là một xã hội thực sự dân chủ
Dân chủ trong xã hội Việt Nam được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,… Trong đó, dân chủ thể hiện trên lĩnh vực chính trị là quan trọng nhất, nổi bật nhất và được biểu hiện tập trung trong hoạt động của Nhà nước Ngay từ năm 1941, trong Chương trình hoạt động của Việt Nam độc lập đồng minh hội (Mặt trận Việt Minh), Hồ Chí Minh đã “thiết kế” một chế độ dân chủ cộng hòa cho nước ta sau khi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thực hiện thắng lợi
Đó là chương trình thực hiện mục tiêu dân chủ, xác định rõ quyền và trách nhiệm của nhân dân trước vận mệnh của nước nhà; gắn độc lập, tự do của Tổ quốc với quyền lợi của từng người dân Nhờ hướng đến mục tiêu dân chủ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã thức tỉnh quần chúng nhân dân làm nên thắng lợi vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 Với thắng lợi của cuộc Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, một tuyên bố về chế độ dân chủ ở Việt Nam đã được Hồ Chí Minh nêu trong bản
“Tuyên ngôn độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945,
trong đó các giá trị về dân chủ được gắn liền với đất nước độc lập, tự do, hạnh phúc Dân chủ ở nước Việt Nam mới được thể hiện và được bảo đảm trong đạo luật cơ bản nhất đó là các bản Hiến pháp do Hồ Chủ tịch chủ trì xây dựng và được Quốc hội
thông qua Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa, thể hiện rõ nhất và thấm đậm nhất tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh Điều thứ 1, Hiến pháp đã khẳng định “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn dân Việt
Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” Có thể nói,
Hiến pháp năm 1946 là Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước Việt Nam mới, phù hợp
Trang 22với giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của nước ta và đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc thực hiện quyền lực của nhân dân
Tiếp thu các giá trị về dân chủ đã được Ðảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và toàn dân
ta khởi dựng từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên (ngày 6/1/1946), lập nên một chính thể dân chủ rộng rãi, với bản Hiến pháp 1946 lịch sử, trong suốt quá trình lịch sử từ năm
1946 đến năm 1985, quan điểm về quần chúng nhân dân luôn được Đảng ta xác định
là một trong những vấn đề mấu chốt của cách mạng Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ VI, Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra quan điểm “lấy dân làm gốc” với phương châm “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra”
Ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) ban
hành Chỉ thị số 30 về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở đã mở ra giai đoạn
mới về thực hiện các quyền công dân trong đời sống xã hội Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX, X và lần thứ XI thì vấn đề dân chủ được thể hiện trên nhiều lĩnh vực, tiêu biểu là kinh tế và quyền công dân đã ngày càng được bảo đảm Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt
Nam, vấn đề dân chủ được đưa vào với tư cách là mục tiêu phát triển “dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Dân không chỉ có quyền mà còn có trách
nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, quan điểm về dân chủ
của Đảng ngày càng được rộng mở, cụ thể là thực hiện “dân chủ hóa” tất cả các mặt
của đời sống xã hội, trước hết là dân chủ về kinh tế Theo chủ trương của Đại hội, đảng viên được làm kinh tế tư nhân, góp phần làm cho nền kinh tế nước ta phát triển nhanh và mạnh hơn Bên cạnh đó, bản chất dân chủ của Nhà nước Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh được Đại hội X xác định rất rõ: “Nhà nước là đại diện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối chính trị của Đảng Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều phản ánh lợi ích
của đại đa số nhân dân” (5)
Đặc biệt, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), quan điểm về dân chủ của Đảng ta có sự thay
đổi căn bản, thể hiện ở các đặc trưng : “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do
Đảng Cộng sản lãnh đạo…” (6) Có thể thấy, sự thay đổi vị trí của từ “dân chủ” và
“công bằng” không đơn thuần chỉ là vấn đề câu chữ, thay đổi trật tự từ ngữ mà còn thể hiện quan điểm nhất quán rõ ràng của Đảng trong việc coi vấn đề dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực trong phát triển kinh tế – xã hội, từng bước xây dựng xã hội ngày
Trang 23càng “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như Bác Hồ kính yêu hằng mong ước Điều này cũng sẽ trả lời cho một câu hỏi mà nhiều người trong đó có một bộ phận thanh niên vẫn còn hoang mang, thắc mắc : “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây
dựng là một xã hội như thế nào?”
Trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 của Đảng ta khẳng
định: “Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển Nâng cao năng lực và tạo cơ chế
để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền làm chủ, nhất là dân chủ trực tiếp để phát huy mạnh mẽ mọi khả năng sáng tạo và bảo đảm đồng thuận cao trong xã hội, tạo động lực
phát triển đất nước…” (7)
Điều này còn được thể hiện trong bài diễn văn ra mắt sau khi được bầu làm người đứng đầu Đảng khóa XI, tân Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã long trọng cam kết trước toàn Đảng, toàn dân “kiên định độc lập dân tộc, phát huy dân chủ; sáng tạo, không ngừng nỗ lực phấn đấu, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách
của Chủ tịch Hồ Chí Minh” (8) Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, trong cuộc họp báo
sau đó, không ít lần nhắc đến từ dân chủ và nhấn mạnh phải xây dựng cơ chế như thế nào để có dân chủ thực chất chứ không phải là dân chủ hình thức, là “trình diễn cho có dân chủ” Điều cốt yếu là thực hành dân chủ chủ rộng rãi trong Đảng và trong nhân dân, nói phải đi đôi với làm
Như chúng ta đều biết, trình độ dân chủ của xã hội trên thực tế ở các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng hoàn toàn không phụ thuộc vào số lượng của các đảng phái, mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như: chất lượng của chính bản thân đảng cầm quyền; chế độ chính trị của quốc gia; trình độ dân trí, mà trình độ dân trí là
sự tổng hòa của các yếu tố truyền thống, học vấn, văn hóa;… Hiện nay, xã hội Việt Nam chỉ có một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam và đang là đảng cầm quyền Điều này trên thực tế đã được toàn dân tộc Việt Nam thừa nhận và được ghi vào Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không tự nhiên mà có và không phải cứ tự nhận mà được Đó là kết quả của sự hy sinh, phấn đấu không mệt mỏi của toàn Đảng qua các thời kỳ cam
go của cách mạng Đảng đã được nhân dân Việt Nam tin yêu, trao trọng trách dẫn đường phát triển cho dân tộc Dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, nước ta đang tiếp tục công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng XHCN, mở cửa, hội nhập nền kinh tế quốc
tế, vì mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Vì vậy, yêu
cầu về dân chủ hóa trong đời sống của đất nước ngày càng cao Tuy nhiên, để quan điểm của Ðảng về dân chủ đi vào cuộc sống, Văn kiện Ðại hội Ðảng lần thứ XI đã xác
định: “Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm”(9) đồng thời với nâng cao ý thức về quyền và nghĩa vụ
Trang 24công dân, năng lực làm chủ, tham gia quản lý toàn diện mọi mặt đời sống xã hội của nhân dân
Vừa qua, cử tri cả nước đã bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2020 Có lẽ, mong muốn lớn nhất của người dân là cơ chế dân chủ phải bắt đầu ngay từ cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân Bầu cử phải làm sao phải thật sự dân chủ, thể hiện ước nguyện của cử tri và đồng thời cũng thể hiện một tầm cao mới của dân tộc,… Bởi vì, suy cho cùng mỗi bước đi phù hợp với thực tiễn là mỗi bước biết vượt qua chính mình (quá khứ) để đi về phía tương lai Quyết tâm của Đảng ta về việc thực hành dân chủ là tín hiệu vui khi đất nước bước vào một thập niên mới, bắt đầu bằng mùa xuân mới Quyết tâm này không chỉ được những đảng viên mà toàn xã hội đồng tình Ý Đảng lòng dân thuận thì như
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng “việc gì cũng xong”
2 2 Nội dung, giá trị thực hành dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhận thức rõ bản chất của dân chủ kiểu mới ngay từ những ngày đầu chính quyền nhân dân được thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng: Quyền lực của nhà nước là của nhân dân, Nhà nước là của dân, do dân, vì dân Trong tổ chức bộ máy nhà nước có thang, bậc, quyền hạn khác nhau nhưng đều là một công cụ thể hiện quyền lực nhân dân Cán bộ từ trên xuống dưới làm đầy tớ cho nhân dân, phải xứng đáng là người công bộc trung thành của nhân dân Người đặc biệt chú ý tới việc thực hiện quyền lực của nhân dân ở cơ sở Điều đó được thể hiện ở nhiều bài viết, bài nói của Người với cán bộ và nhân dân ta Chỉ bằng những mệnh đề đơn giản, hàm xúc, ngắn gọn mà đầy đủ ý nghĩa Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát bằng cách riêng của mình những giá trị văn hóa dân chủ của nhân loại từ cổ đại đến hiện đại mà lại rất Việt Nam, cụ thể và thực tế, nên ai đọc cũng có thể cảm nhận được ngay
Từ quan niệm “mọi lực lượng đều ở nơi dân”, nhìn thấy và tin tưởng ở sức mạnh của nhân dân, nên Người yêu cầu phải “vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho”(10) Để nhân dân có điều kiện tham gia trực tiếp vào việc thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước với tư cách là người chủ thực sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu cán bộ, đảng viên phải luôn luôn: Vì nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân Người luôn ý thức rằng: Dân là quý nhất, là quan trọng hơn hết Dân là gốc của nước Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân Trong cuốn Đường Kách mệnh (1927), Người đã khẳng định: Cách mệnh là việc chung của dân chúng chứ không phải việc môt hai người Đó
là tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ cơ sở nhận thức khoa học: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân Vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn
đề đoàn kết tập hợp được đông đảo nhân dân Đảng dù vĩ đại đến mấy cũng chỉ là một
bộ phận của nhân dân, một bộ phận tiên phong, tiên tiến nhất
Trang 25Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ rằng: Dân chủ là vì dân, tất cả vì lợi ích của nhân dân Người thường nói: “Ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng ta không có lợi ích nào khác Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm Việc gì có hại cho dân ta hết sức tránh” Đó cũng chính là mục đích của Người: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc, và hạnh phúc của nhân dân” Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Dân chủ là tư tưởng cơ bản xuyên suốt quá trình cách mạng Cái cốt lõi trong tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh là lấy dân làm gốc Bản chất dân chủ là quyền làm người Người nói: “ Lãnh đạo một nước mà để cho nước mình lạc hậu, bị thiệt thòi trong hưởng hạnh phúc con người cũng là mất dân chủ Nhân dân có quyền lợi làm chủ thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân Người đánh giá rất cao về dân chủ: Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân Thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn
70 năm xây dựng chế độ dân chủ và thực hành dân chủ, quan niệm về dân chủ và thực hành dân chủ ở nước ta cũng diễn biến cùng với những năm tháng đổi thay của đất nước Dân chủ và thực hành dân chủ là một quá trình cách mạng, không phải là một con đường thẳng tắp mà nhiều quanh co, phức tạp Dân chủ với tư cách là một chế
độ chính trị thì việc xây dựng Nhà nước pháp quyền, trong đó cả nhà nước và công dân đều phải có trách nhiệm xây dựng pháp luật và đặt mình dưới pháp luật, coi pháp luật là tối thượng để đảm bảo cho Nhà nước thực sự là nước dân chủ Nghĩa là mọi tổ chức và công dân, từ nguyên thủ quốc gia đến mỗi người dân đều phải “Tôn trọng Hiến pháp; tuân theo pháp luật” (Điều 4, Hiến pháp 1946) Ngày nay, đọc lại Hiến pháp 1946, do Hồ Chí Minh chủ trì soạn thảo, tất cả những người nghiên cứu về dân chủ, dù khác nhau về tư tưởng và chính kiến, cũng đều phải thừa nhận rằng, từ giữa thế kỷ XX, Việt Nam đã đạt tới những quan niệm dân chủ, sánh ngang với bất cứ một thể chế dân chủ nào trên thế giới Nổi bật nhất là việc xác nhận về mặt pháp lý quyền làm chủ của nhân dân: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (Điều 1, Hiến pháp 1946) Để thực hành quyền bính ấy phải thông qua hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp Nhân dân uỷ quyền quản lý đất nước cho các cơ quan đại diện đảm trách Trong sự uỷ thác ấy có nguy cơ của sự lạm quyền và cả những sai lầm khi cơ quan đại diện của dân ra các quyết sách chính trị và ban hành các đạo luật Do đó, nhân dân phải giữ lại một số quyền để quyết định trực tiếp và tối hậu Đó là quyền phúc quyết mà trước hết và quan trọng nhất là xây dựng và sửa đổi Hiến pháp Theo
Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở Hiến pháp 1946 thì Quốc hội được uỷ thác quyền soạn thảo Hiến pháp, đặt ra pháp luật, sửa đổi Hiến pháp và quyết định những vấn đề quan trọng nhất của quốc gia Nhưng “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc có quan hệ đến vận mệnh quốc gia”; về sửa đổi Hiến pháp, “Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện phê chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết” (Điều
70, Hiến pháp 1946) Quyền phúc quyết không phải là việc đưa ra cho nhân dân tham
Trang 26gia, góp ý kiến hay đề nghị mà là quyền Hiến định, là điều bắt buộc các đạo luật và cơ quan đại diện cao nhất của dân phải tuân thủ Quyền phúc quyết là thể chế hoá tư tưởng quan trọng nhất của Hồ Chí Minh về dân chủ: “Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân, … quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” Một khi quyền dân chủ đã được ghi nhận trong văn bản pháp lý cao nhất của quốc gia thì không còn tranh cãi về “thu hẹp” hay “mở rộng”, ai có quyền
“thu hẹp” hay “mở rộng” dân chủ mà là tuân thủ theo luật định
Thể chế dân chủ tuy là vấn đề cơ bản, quan trọng nhất nhưng việc thực hành dân chủ lại là điều cốt tử của thể chế dân chủ Theo Hồ Chí Minh, phải làm sao cho nhân dân biết hưởng và biết dùng quyền dân chủ Chỉ có thực hành dân chủ mới có thể biến các quan niệm dân chủ trong các lời tuyên bố thành dân chủ thực tế Chính V.I.Lênin cũng cho rằng, mọi điều tốt đẹp về dân chủ thì các học giả tư sản đã nói cả rồi, cái ưu việt của chế độ dân chủ chúng ta so với dân chủ tư sản ở chỗ hiện thực hoá những điều tốt đẹp ấy
Để thực hành dân chủ đòi hỏi phải:
- Có đủ những văn bản luật phù hợp với thực tiễn và được lòng dân Nhưng văn bản luật nào cũng đều là luật thực định, nghĩa là do giai cấp cầm quyền định ra thông qua cơ quan đại diện của dân soạn thảo và ban bố Vậy thực hành dân chủ, mấu chốt là
ở vấn đề bầu cử và ứng cử “Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử… hễ
là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó” Nhìn vào luật bầu cử và ứng cử, quy trình thực hiện, cách thức tiến hành và thái độ của dân chúng, người ta sẽ nhận ra chất lượng của điểm xuất phát, cái cơ bản nhất của chế độ dân chủ
- Tổ chức bộ máy nhà nước thực thi luật pháp là công cụ đảm bảo thực hành dân chủ Hồ Chí Minh đã khẳng định bộ máy nhà nước phải gọn nhẹ, trong sạch, đủ năng lực và bản lĩnh để chấp hành pháp luật Con người trong bộ máy nhà nước phải được lựa chọn theo những tiêu chí cụ thể và công khai, phải có uy tín trong dân chúng, có năng lực và liêm, chính Những người được Quốc hội cử ra thành lập Chính phủ mới, theo Hồ Chí Minh, phải tuyên thệ về tư cách của bản thân và tư cách từng thành viên Chính phủ Tại phiên họp ngày 31-10-1946, kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá I, sau khi được Quốc hội nhất trí giao trách nhiệm thành lập Chính phủ mới, Hồ Chí Minh đã tuyên bố như sau: “Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái… Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ biết làm việc”
- Phải có chính sách dùng người đúng, tạo cơ hội như nhau cho bất cứ ai, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, sang hèn, giàu nghèo hễ là công dân Việt Nam đều có thể thi tuyển vào cơ quan nhà nước, được giao những nhiệm vụ tương xứng với tài năng
và đức độ của họ Người được tuyển lựa làm cán bộ, công chức phải cam kết trung thành với nhà nước và dân tộc Việt Nam, phải hoàn thành công vụ, không tham nhũng,
Trang 27lãng phí của công, không xách nhiễu dân; được thăng tiến, đãi ngộ về vật chất xứng đáng nhưng cũng sẽ bị trừng phạt, thậm chí truy tố trước toà án nếu có lỗi Một xã hội thật sự dân chủ và pháp quyền khi cơ quan nhà nước tận tụy phục vụ dân, làm việc cho dân và làm tốt Nhà nước ấy phải có đội ngũ công chức, viên chức là công bộc của dân, vững về chính trị, giỏi về chuyên môn, tự hào với nghề nghiệp và biết xấu hổ khi không làm tròn chức nghiệp bị dư luận phê phán Cán bộ, công chức, viên chức, phải thường xuyên được giáo dục tư tưởng, tự phê bình và phê bình, phải chịu sự giám sát của dân, đồng thời phải bị xử phạt nghiêm minh theo luật Tuyệt đối không có bất kỳ
ai dù ở cương vị nào, người trong Đảng hay ngoài Đảng được sống ngoài vòng pháp luật theo kiểu “xử nội bộ”, thiếu công minh, thiên vị, có tội “nhưng không bị trừng phạt xứng đáng”
- Có Hiến pháp và pháp luật đúng và đủ, có cơ quan công quyền trong sạch, vững mạnh, có đội ngũ công chức, viên chức mẫn cán, đồng thời phải có hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó có cơ quan tư pháp phải thực sự “Dĩ công vi thượng”, không bị áp lực từ bất cứ ai, cơ quan nào “Trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp” (Điều 69, Hiến pháp 1946) Hồ Chủ tịch đã từng dạy tư pháp phải “Phụng công thủ pháp” là chìa khoá để bảo vệ những nguyên tắc dân chủ của chế độ ta Do đó tư pháp phải công minh, công tâm, khoan dung và đại lượng, không được “lạm dụng hình phạt”
- Giáo dục pháp luật và nâng cao văn hoá dân chủ cho tất cả mọi người Nâng cao dân trí và quan trí để “nước ta là nước dân chủ, mọi người có quyền làm, có quyền nói” trở thành hiện thực và tất cả các cơ quan nhà nước phải tôn trọng các quyền dân chủ ấy của công dân Dân có hiểu biết về pháp luật, biết hành xử theo pháp luật thì đó
là cơ sở để nhà nước thực thi đúng pháp luật Hồ Chí Minh đã từng nói “quan tham vì dân dại” Thực hành dân chủ sẽ chống lại có hiệu quả chủ nghĩa cá nhân, “tệ quan tham lại nhũng” và các tệ nạn khác
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc chúng ta: Nước lấy dân làm gốc, dân lấy cuộc sống làm đầu, chế độ ta là chế độ của dân, do dân Dân theo Đảng đứng lên đánh đuổi kẻ thù giành lấy chính quyền mà có được Các cấp chính quyền và đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, cơ sở là do nhân dân bầu cử ra Do vậy, mỗi cán bộ phải
vì dân, hết lòng phục vụ mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Theo Người, quan trọng nhất trong thực hành dân chủ là bắt đầu từ cơ sở và phương thức cơ bản của dân chủ cơ sở là “dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra”
Trên cơ sở nhận thức sâu sắc dân là chủ và phương pháp làm việc là phương pháp dân chủ chứ không phải là những thủ thuật chính trị, Hồ Chí Minh đã đưa ra một quy định làm việc khoa học
Trước hết, phải làm cho dân biết: “Phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi người
dân hiểu rõ rằng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được” (11) Hiểu rõ tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân Chủ tịch Hồ
Trang 28Chí Minh đã sớm khơi dậy sức mạnh của nhân dân bằng cách giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích và trách nhiệm, quyền hạn và bổn phận Xuất phát từ lợi ích, coi lợi ích là động lực trực tiếp thúc đẩy mọi hành động chính trị của quần chúng, Người yêu cầu: “Phải đặt lợi ích dân chúng lên trên hết, trước hết” (12) và “việc gì có lợi cho dân thì phải làm cho kỳ được Việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh” (13) Lợi ích của mỗi người dân được đảm bảo ngày càng đầy đủ hơn và nhờ vào vị thế của họ
đã giành được trong quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ, hi sinh, mất mát để giành lấy Độc lập, Tự do, để trở thành người chủ và làm chủ xã hội Người nói: Dân chủ có nghĩa dân là chủ và dân làm chủ Vì vậy, trong nội hàm của khái niệm “dân hiểu”, Chủ tịch Hồ Chí Minh như muốn làm cho mọi người thấy rõ, hiểu thấu ý nghĩa lớn lao của
vị thế “là chủ” đó, nhất là với nông dân là những người có trình độ học vấn thấp nhưng lại chiếm số đông trong xã hội “làm sao cho bà con hiểu mình là người chủ tập thể, làm chủ hợp tác xã, làm chủ Nhà nước” (14) Thấy rõ được vai trò, vị trí của nông dân, nông nghiệp, nông thôn đối với sự phát triển của nền dân chủ trong một nước nông nghiệp lạc hậu như ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Bao giờ nông thôn, nông dân thực sự nắm chính quyền, nông dân được giải phóng thì mới dân chủ thực sự” (15) Sau những diễn biến phức tạp của xã hội nông thôn Việt Nam xuất hiện những điểm nóng chính trị - xã hội ở nông thôn những năm gần đây, chúng ta càng thấy ý nghĩa lớn lao trong chỉ dẫn đó của Người
Thứ hai, khi dân đã được biết, được hiểu thì phải tạo điều kiện cho dân được bàn
bạc thực sự, bàn tất cả mọi vấn đề và mọi người đều được tham gia bàn bạc: “Bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt
ra kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương” (16)
Cần hiểu rõ nguyện vọng của dân Họ muốn được tôn trọng, được bày tỏ ý kiến
Họ rất tốt, rất khôn khéo, họ biết rất nhiều điều mà chúng ta không biết Hơn nữa:
“Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do… Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý” và từ đó họ “tự do phục tùng chân lý” (17) Phải chăng năng suất, chất lượng, hiệu quả của mọi công việc đều có nguồn gốc từ đây, bởi chính ở đây, nhân dân đã phát huy được quyền dân chủ bằng năng lực và sức sáng tạo của mình
Thứ ba, sau khi dân được biết, được hiểu, được bàn bạc và được xây dựng kế
hoạch của địa phương mình, cơ sở mình, họ sẽ dùng chính sức lao động của họ vào những việc làm, hành vi, nhiệm vụ cụ thể một cách tự giác… Lúc này nhiệm vụ của lãnh đạo là “động viên và tổ chức cho toàn dân ta thi hành, phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân”, phải biết “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân” có như vậy mới động viên được đông đảo nhân dân tích cực tham gia và thực hiện mọi kế hoạch của địa phương cơ sở
Thứ tư, “Khi thi hành xong phải cùng với nhân dân kiểm thảo lại công việc, rút
kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng” (18) Đây là công đoạn cuối cùng của quy trình
Trang 29tiến hành thực hiện dân chủ của mỗi tổ chức, đơn vị, địa phương, cơ sở Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng việc kiểm tra, rút kinh nghiệm là vô cùng quan trọng và cần thiết giúp chúng ta thực hiện tốt những nhiệm vụ khác Dân kiểm tra cán bộ, cán bộ kiểm tra dân, dân và cán bộ cùng kiểm tra mọi hoạt động và lề lối làm việc sao cho dân chủ , cấp trên phải thường xuyên kiểm tra cấp dưới, cấp dưới phải phê bình cấp trên, nhất là phê bình từ dưới lên Kiểm tra chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện một cách nghiêm túc, được đánh giá một cách khách quan, được tiến hành bằng những giải pháp khéo léo, tinh tế mà Người gọi là “phải kín đáo” Thanh tra chỉ có hiệu lực nếu được tiến hành một cách đột xuất hiện và bất ngờ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm kiểu mẫu cho phương pháp kiểm tra, thanh tra khoa học và có hiệu quả ấy Đồng thời với mong muốn của Chính phủ: “đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để cán bộ làm tròn nhiệm vụ… người đầy tớ trung thành, tận tụy của nhân dân” (19), Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên kêu gọi nhân dân giám sát công việc của Chính phủ từ Trung ương Bằng tình cảm chân thành nhất, Người nói: “Từ ngày thành lập Chính phủ, trong nhân viên có nhiều khuyết điểm Có người làm quan cách mạng, chợ đỏ, chợ đen, khinh dân, mưu vinh thân, phì gia… Xin đồng bào hãy phê bình giúp đỡ giám sát công việc Chính phủ” (20)
Dân kiểm tra là một nội dung về quyền dân chủ nhằm dựa vào dân mà xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nuớc và các tổ chức đoàn thể nhân dân thật sự vững mạnh, trong sạch nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân Việc đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu, cậy thế, trái phép… chỉ có thể thực hiện hiệu quả nếu biết dựa vào sự kiểm tra, giám sát của quần chúng nhân dân
Trong quá trình mở rộng và thực hiện quyền làm chủ nhân dân ở nước ta hiện nay, Đảng ta coi dân chủ cơ sở là khâu quan trọng nhất Quan điểm đó được xây dựng trên cơ sở nền tảng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ nói chung, dân chủ
cơ sở nói riêng và yêu cầu thực tiễn của cách mạng Việt Nam hiện nay Cở sở (xã, phường, cơ quan, trường học, bệnh viện, doanh nghiệp…) là nơi trực tiếp thực hiện mọi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, là địa bàn nhân dân sinh sống, lao động, sản xuất, công tác và học tập Cơ sở là nơi diễn ra sự tiếp xúc , mối quan hệ nhiều mặt giữa các tầng lớp nhân dân với Đảng bộ và chính quyền, với cán bộ công chức điều hành xử lý công việc hàng ngày
Cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp kéo dài trước thời kỳ đổi mới đã hạn chế dân chủ, làm cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội có nguy cơ chệch hướng Ngày nay, đông đảo nhân dân ở cơ sở có những yêu cầu bức xúc về dân chủ, có những nguyện vọng và lợi ích thiết thân trong cuộc sống hàng ngày Họ đòi hỏi được biết, được bàn, được tham gia giải quyết những vấn đề đặt ra ở cơ sở, đồng thời có yêu cầu kiểm tra, giám sát những việc làm hàng ngày của cán bộ lãnh đạo Lê-nin đã chỉ ra rằng: Không chỉ tuyên truyền về dân chủ, tuyên bố và ra sắc lệnh về dân chủ là đủ, không phải chỉ giao trách nhiệm thực hiện chế độ dân chủ cho “những người đại diện”
Trang 30nhân dân trong những cơ quan đại biểu là đủ Cần phải xây dựng chế độ dân chủ, bắt đầu từ cơ sở, dựa vào sáng kiến của bản thân quần chúng, sự tham gia thực sự của quần chúng vào mọi công việc của Nhà nước Cơ sở là nơi thực hành dân chủ rõ nét nhất
Thực tế cho thấy, ở đâu và lúc nào thực hiện tốt dân chủ cơ sở thì ở đó đoàn kết, tập hợp được quần chúng nhân dân, tích cực tham gia và đạt kết quả toàn diện, vững chắc Ngược lại, nơi nào xem nhẹ dân chủ, để mất dân chủ, cán bộ xa rời quần chúng nhân dân, quan liêu, cửa quyền, thiếu trách nhiệm, thiếu đạo đức, không lắng nghe, tôn trọng và không quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng, lợi ích của quần chúng nhân dân… thì nơi ấy sẽ rất khó thực hiện đúng và đưa ra chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước đến với người dân, sẽ không thể nào có kết quả cao
3 KẾT LUẬN
Dân chủ cơ sở cũng là một trong những tư tưởng cơ bản xuyên suốt trong tư tưởng dân chủ của chủ tịch Hồ Chí Minh Tư tưởng dân chủ của Người luôn xoay quanh cái cốt lõi: Dân là gốc Dân là gốc thì dân phải là chủ và dân phải làm chủ Nhân dân có quyền lợi làm chủ thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân Người đánh giá rất cao về dân chủ: Dân chủ là thứ quý báu nhất của nhân dân Thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn Điều đáng mừng là, hiện nay, chúng ta đang thực hiện dân chủ ở cơ sở, thông qua việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đã và đang thực hiện tốt hơn chức năng và nhiệm vụ của mình theo đúng đường lối của Đảng và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhiều nội dung và hình thức phong phú, đạt được nhũng kết quả tốt
CHÚ THÍCH
(1) Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng hỏi ông Tố Hữu và ông Hoàng Tùng
“Thế nào là dân chủ ?” Trong khi ông Hoàng Tùng chưa nói gì, còn ông Tố
Hữu đang nghĩ ngợi, thì Người nói luôn rằng: “Dân chủ là để cho người dân
được mở cái miệng ra”
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2002, tập 1, trang
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, trang 44
(6), (7) , (9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của ĐCSVN – Nguồn :
http://daihoi11.dangcongsan.vn
Trang 31(8) Bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng – Nguồn : http://daihoi11.dangcongsan.vn
(10,11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, HN.2000 Tập 5, tr 698 (12,13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, Hn 2000 T.6, Tr 90,88 (14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, Hn 2000 T.10, tr 404
(15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, Hn 2000 T.7, tr 25
(16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, Hn 2000 T.5, tr 698-699 (17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, Hn 2000 T.8, tr.216
(18) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, Hn 2000 T.5, tr 699
(19) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, Hn 2000 T.7, tr 361-362 (20) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, Hn 2000 T.5, tr 61
Trang 32NHỮNG ĐIỀU TIÊN TRI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH - MỘT NHÂN
TỐ QUAN TRỌNG CHO THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Hồng Quang
Tóm tắt:Thiên tài của Hồ Chí Minh là nắm bắt rất nhanh quy luật của lịch sử
Với sự nhạy cảm đặc biệt của kinh nghiệm chính trị bản thân, sự năng động và linh hoạt trong ứng biến, hoàn cảnh càng nguy hiểm, khó khăn, điều kiện khách quan càng đặt ra nhiều thách thức, Hồ Chí Minh càng tỏ ra phong độ của một nhà chính trị lão luyện, nắm vững quy luật của cuộc sống, biến điều không thể thành có thể Sức mạnh
tư duy của Người là khả năng thấy trước, năng lực dự báo khoa học và tiên đoán những điều có thể xảy ra trong một tương lai nhất định Với một loạt điều tiên tri kỳ diệu mà Hồ Chí Minh đưa ra trong quá trình gần 60 năm hoạt động cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới - là một nhân tố hết sức quan trọng góp phần làm nên
thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Từ khóa: Hồ Chí Minh; tiên tri; dự báo
1 Những dự báo lớn về thế giới
Một là, trong lá thư gửi Phan Châu Trinh đầu tháng 8-1914, Nguyễn Tất Thành
viết: “Tiếng súng đang rền vang và thây người đang phủ trên mặt đất Năm cường quốc đã vào vòng chiến và chín nước đang đánh nhau Cháu chợt nhớ đến thư cách đây mấy tháng đã viết về cơn giông bão này Định mệnh sẽ giành cho chúng ta nhiều bất ngờ và không thể nói trước được ai sẽ là người chiến thắng…Cháu nghĩ trong vòng
ba, bốn tháng nữa, số phận châu Á sẽ thay đổi và thay đổi nhiều” [11, tr 6] Và ngày
đó đã đến:“Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh
để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em
mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn” [5, tr.36]
Ngày 8-5-1921, trên báo Sự thật, có một bài viết nói lên quan điểm rằng các dân
tộc lạc hậu và các dân tộc tiên tiến trong khi tự giải phóng, các dân tộc tiên tiến có sức mạnh giải phóng các dân tộc lạc hậu Cuối tháng 5-1921, Hồ Chí Minh cũng có một
bài trong Tạp chí La Revue Communiste không tán thành quan điểm trên và Người đưa
ra luận điểm cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động và có thể giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc, và với thắng lợi đó sẽ tác động mạnh mẽ tới cách mạng vô sản ở chính quốc
Vận dụng tư duy biện chứng vào việc phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa, Người bác bỏ
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 33quan điểm sôvanh và cho rằng chỉ có các “dân tộc tiên tiến” mới có sứ mệnh giải phóng các dân tộc lạc hậu (chỉ các dân tộc thuộc địa), còn các dân tộc lạc hậu thì chỉ ngồi chờ các dân tộc tiên tiến đến giải phóng cho mình Hoàn toàn ngược lại với quan điểm ấy, Hồ Chí Minh luôn chủ trương các dân tộc thuộc địa “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, tự mình hình thành một tập hợp lực lượng lớn mạnh, và trong khi thủ tiêu chủ nghĩa đế quốc, các dân tộc thuộc địa có thể giúp đỡ giai cấp vô sản ở chính quốc làm nhiệm vụ giải phóng những người anh em phương Tây của mình
Trước đây, Lênin đã từng dự báo “cách mạng vô sản có thể giành thắng lợi trong một số nước tư bản, thậm chí trong một nước tư bản phát triển ở trình độ trung bình; Người còn nhấn mạnh: giai cấp vô sản chính quốc có nhiệm vụ giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa Nhưng Lênin cũng chưa hề dự báo cách mạng các thuộc địa giành thắng lợi trước và giúp đỡ cách mạng vô sản ở chính quốc
Hồ Chí Minh sử dụng tư duy biện chứng phân tích con rắn độc tư bản chủ nghĩa với “nọc độc” và sức sống của nó đang tập trung ở các thuộc địa hơn là ở chính quốc
Để phê phán những nhận thức sai lầm của báo chí tư sản cho rằng thuộc địa là “một xứ trên là mặt trời, dưới là đất, vài cây dừa xanh với mấy người khác màu da, thế thôi Và
họ hoàn toàn không để ý gì đến”, Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần bản chất bóc lột và bạo lực của chủ nghĩa thực dân Người chỉ rõ: Lịch sử bất cứ cuộc xâm chiếm thuộc địa nào thì từ đầu đến cuối đều được viết bằng máu của người bản xứ Nói đến sự tàn bạo, dã man của chủ nghĩa thực dân đối với các thuộc địa, Người nói: “Tất cả sinh lực của chủ nghĩa tư bản quốc tế đều lấy ở các xứ thuộc địa Đó là nơi chủ nghĩa tư bản lấy nguyên liệu cho các nhà máy của nó, nơi nó đầu tư, tiêu thụ hàng, mộ công nhân rẻ mạt cho đạo quân lao động của nó, và nhất là tuyển những binh lính người bản xứ cho các đạo quân phản cách mạng của nó” [5, tr.243] Do đó, các thuộc địa trở thành nền tảng của lực lượng phản cách mạng của chủ nghĩa tư bản - đế quốc Người nói: “Ngày nay, chủ nghĩa đế quốc đã tiến tới một trình độ hoàn bị gần như là khoa học Nó dùng những người vô sản da trắng để chinh phục những người vô sản các thuộc địa Sau đó
nó lại tung những người vô sản ở thuộc địa này đi đánh những người vô sản ở một thuộc địa khác Sau hết, nó dựa vào những người vô sản ở các thuộc địa để thống trị những người vô sản da trắng” [5, tr.246]
Từ thực tế, Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra Phép biện chứng cách mạng về con đỉa
hai vòi Người so sánh một cách biện chứng vừa mang tính lý luận, vừa phản ánh thực
tiễn sâu sắc rằng: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra” [5, tr.298] Đây là phép biện chứng của sự thống nhất hai mặt đối lập mà Hồ Chí Minh nắm vững và vận dụng sáng tạo Một mặt đối lập tiêu biểu cho giai cấp vô sản ở chính quốc, còn mặt đối lập kia tiêu
Trang 34biểu cho giai cấp vô sản và nông dân các thuộc địa Sẽ là sai lầm nếu quan niệm rằng chỉ cần xóa bỏ mặt đối lập này thì tất yếu triệt tiêu mặt đối lập kia Và sẽ càng sai lầm hơn nếu cho rằng chỉ cần cắt cái vòi của con đỉa bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc thì cái vòi kia bám vào giai cấp vô sản thuộc địa sẽ tự động nhả ra, cách mạng giải phóng dân tộc sẽ tự động thắng lợi và ngược lại Đây chính là quan điểm sai lầm của các Đảng Cộng sản châu Âu Sau khi Lênin mất, tư tưởng khá phổ biến trong các Đảng Cộng sản ở các nước tư bản là đẩy mạnh đấu tranh giai cấp, thực hiện cách mạng
vô sản, đập tan chính quyền tư sản, thiết lập chuyên chính vô sản Khuynh hướng chung là hạ thấp vai trò giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, cho rằng “cách mạng thuộc địa phụ thuộc vào cách mạng chính quốc” Khẩu hiệu phổ biến mang tính tả khuynh của Quốc tế Cộng sản là “giai cấp chống giai cấp” nói nên khuynh hướng phổ biến trên Nghị quyết Đại hội VI Quốc tế Cộng sản còn nói rõ là “cách mạng chính quốc có thành công thì cách mạng thuộc địa mới thành công” Hồ Chí Minh kiên quyết đấu tranh, phê phán những người cộng sản chính quốc coi nhẹ vấn đề thuộc địa, không
thiết tha quan tâm đến cách mạng thuộc địa Tháng 7 năm 1923, trong Thư gửi Trung
ương Đảng Cộng sản Pháp, Người thẳng thắn đặt vấn đề: “Phân bộ Pháp, phân bộ
Anh và phân bộ các nước thực dân khác đã làm gì cho các nước thuộc địa của chủ nghĩa tư bản nước họ? Những phân bộ ấy đã có một chính sách thuộc địa và một cương lĩnh rõ rệt về thuộc địa, chính xác và liên tục chưa? Những chiến sĩ của các phân bộ ấy có hiểu thuộc địa là gì và tầm quan trọng của các thuộc địa là như thế nào không? Người ta có thể trả lời là không” [5, tr.194-195] Nguyễn Ái Quốc thẳng thắn phê phán Đảng Cộng sản Pháp: “Là một đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, tôi lấy làm tiếc phải nói rằng Đảng Cộng sản Pháp làm rất và rất ít cho các nước thuộc địa” [5,tr 278] Dự báo khoa học đó dựa trên cơ sở phân tích khách quan, nghiên cứu đầy đủ bản chất, nguồn gốc của chủ nghĩa thực dân - kẻ thù trực tiếp và nguy hại nhất của nhân dân các nước thuộc địa Đó chính là cơ sở thực tiễn, điều kiện tất yếu để cách mạng thuộc địa thắng lợi trước cách mạng chính quốc
Còn một nguyên nhân sâu xa khác mà trong bài “Phong trào cộng sản quốc tế”,
viết tháng 5-1921, Hồ Chí Minh đã đưa ra luận điểm chủ nghĩa cộng sản thâm nhập vào châu Á dễ dàng hơn châu Âu, và Người xem đó như là điều kiện cần về lịch sử - địa lý - văn hóa phương Đông để cách mạng ở các thuộc địa thành công trước cách mạng vô sản ở chính quốc Người phân tích tình hình kinh tế, chính trị các nước Ấn
Độ, Nhật Bản, Triều Tiên và Trung Quốc
Đối với Đông Dương, Người lên án chủ nghĩa thực dân một cách gay gắt: “Bị đầu độc cả về tinh thần lẫn về thể xác, bị bịt mồm và bị giam hãm, người ta có thể tưởng rằng cái bầy người ấy cứ mãi mãi dùng làm đồ để tế cái ông thần tư bản, rằng bầy người đó không sống nữa, không suy nghĩ nữa và là vô dụng trong việc cải tạo xã hội Không: người Đông Dương không chết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãi Sự đầu độc có hệ thống của bọn tư bản thực dân không thể làm tê liệt sức sống,
Trang 35càng không thể làm tê liệt tư tưởng cách mạng của người Đông Dương” [5, tr.28] Người quả quyết rằng: Luồng gió từ nước Nga thợ thuyền, từ Trung Quốc cách mạng hoặc từ Ấn Độ chiến đấu đang thổi đến giải độc cho người Đông Dương Với tinh thần lạc quan cách mạng, Người cho rằng: khi thời cơ đến, Người Đông Dương sẽ bùng nổ một cách ghê gớm [5, tr.28] Trên cơ sở nhận định ấy, Hồ Chí Minh dự báo một cách chính xác rằng: “Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi” [5, tr.28]
Sau khi phân tích một cách logích, toàn diện điều kiện tồn tại và xu hướng phát
triển của một số nước châu Á, Hồ Chí Minh dự báo: “Ngày mà hàng trăm triệu nhân
dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ
có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng
hoàn toàn” [5, tr.36] Đây là một dự báo khoa học được nghiên cứu qua thực tiễn các
vấn đề thuộc địa, xem xét đầy đủ bản chất chủ nghĩa thực dân với những thủ đoạn bóc lột về kinh tế, đàn áp về chính trị, nô dịch về văn hóa của chúng
Hồ Chí Minh có nói đến tư tưởng cộng sản chủ nghĩa thâm nhập vào châu Á dễ dàng hơn là châu Âu ở đây cần thấy rõ “thâm nhập vào” với “giành thắng lợi cuối cùng” là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau Ăngghen nói rằng: muốn giành thắng lợi triệt để cho chủ nghĩa cộng sản tất yếu phải có một giai cấp vô sản thực hiện sự chuyển biến đó, đồng thời cũng phải có một giai cấp tư sản trong tay nó, có một lực lượng sản xuất xã hội phát triển đến mức có thể thủ tiêu triệt để những khác biệt về giai cấp Ăngghen luận chứng rằng: “Chỉ đến một giai đoạn phát triển nhất định của lực lượng sản xuất xã hội - một giai đoạn phát triển rất cao ngay trong những điều kiện ngày nay của chúng ta - mới có khả năng nâng cao sản xuất đến một trình độ khiến cho việc xóa
bỏ những sự khác biệt về giai cấp trở thành một bước tiến bộ thật sự, khiến cho sự xóa
bỏ đó được vững chắc và không dẫn đến tình trạng đình trệ, hoặc thậm chí đến tình trạng suy sụp trong phương thức sản xuất xã hội”[2, tr.752] Ăngnghen còn nói rằng:
“Nhưng chỉ trong tay giai cấp tư sản thì lực lượng sản xuất mới đạt tới giai đoạn phát triển đó Bởi vậy, giai cấp tư sản, về mặt này, cũng là một điều kiện có trước, cần thiết của cách mạng xã hội chủ nghĩa như bản thân giai cấp vô sản Vì thế, kẻ nào có thể khẳng định rằng ở một nước tuy không có giai cấp vô sản, nhưng, trái lại, cũng không
có giai cấp tư sản, thì càng dễ tiến hành cuộc cách mạng ấy - kẻ đó chỉ chứng tỏ rằng còn phải học sách vỡ lòng về chủ nghĩa xã hội” [2, tr.761]
Ở đây, Hồ Chí Minh chỉ nói chủ nghĩa cộng sản thâm nhập vào châu Á dễ dàng hơn châu Âu, chứ không hề nói chủ nghĩa cộng sản giành thắng lợi cuối cùng dễ dàng hơn châu Âu
Trang 36Hai là, “Thái Bình Dương và các nước thuộc địa xung quanh Thái Bình Dương tương lai có thể trở thành một lò lửa của chiến tranh thế giới mới mà giai cấp vô sản
sẽ phải nai lưng ra gánh”[5, tr 243-244]
Hồ Chí Minh đưa ra dự báo này vào tháng 3 - 1924 trong tập san Inprekorr, tiếng Pháp, thì 15 năm sau, tháng 9 - 1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, đặt loài người trước một thảm họa khốc liệt Dự báo khoa học này được xác định dựa trên hai
căn cứ thực tiễn sau đây: Một là, chủ nghĩa tư bản đế quốc không chỉ đối phó với các
thuộc địa bằng biện pháp quân sự, mà còn sử dụng các thuộc địa để bóc lột về kinh tế Chúng còn dùng một thuộc địa này làm công cụ để bóc lột một thuộc địa khác, đó là trường hợp Đông Dương và Thái Bình Dương Điều đó làm cho mâu thuẫn giữa các thuộc địa với chủ nghĩa tư bản - đế quốc càng thêm sâu sắc Hồ Chí Minh phân tích kỹ hành động thực dân đó không chỉ gây nguy hiểm cho riêng vận mệnh của giai cấp vô sản Đông Dương và Thái Bình Dương, mà còn tạo nguy hiểm cho cả vận mệnh của
giai cấp vô sản quốc tế nữa Hai là, sau Hội nghị Oasinhtơn, thì việc tranh giành thuộc
địa ngày càng trở nên gay gắt Chủ nghĩa đế quốc ngày càng trở nên điên cuồng, bá đạo hơn; những xung đột chính trị ngày càng trở nên không tránh khỏi Người phân tích rằng, nếu như trước đây những cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa đã từng nổ ra
vì vấn đề Ấn Độ, châu Phi và Marốc, thì ngày nay những cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa khác sẽ có thể nổ ra vì vấn đề Đông Dương và Thái Bình Dương Điều đó càng làm cho mâu thuẫn giữa đế quốc và đế quốc đã gay gắt càng thêm gay gắt hơn Chính trên cơ sở phân tích lôgích đó, Hồ Chí Minh đã dự báo chính xác mười lăm năm sau, năm 1939, cuộc chiến tranh thế giới thứ hai sẽ bùng nổ
Gắn vấn đề Đông Dương với vấn đề Thái Bình Dương, đặt nước ta trong khu vực
và thế giới, với tiến trình phát triển của thế giới, Hồ Chí Minh nhận rõ có làm như thế
và chỉ có làm như vậy thì mới hiểu sâu sắc và đầy đủ chính bản thân nước mình, mới thấy rõ mình phải làm gì và làm như thế nào, phải đi về đâu và hướng phát triển ra sao Đối với Hồ Chí Minh, nếu không nắm chắc những đặc điểm, xu thế lớn của khu vực
và thế giới trong một bối cảnh lịch sử nhất định thì không thể xác định đúng con đường đi của cách mạng Việt Nam, không thể nắm bắt nhanh nhạy, kịp thời những tình hình mới, định hướng mới, xu thế mới diễn ra chung quanh và trên thế giới, do đó, khó có thể đề ra đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn, sáng tạo
Tầm cao về tư duy biện chứng của Hồ Chí Minh lúc này là khả năng dự báo chính xác những vấn đề thời đại sẽ diễn ra với tầm nhìn bao quát, hiểu được bản chất những vấn đề cơ bản của thế giới Các hiện tượng và quá trình diễn ra của thế giới là
vô cùng phức tạp và biến hóa khôn lường Do vậy, để có quan niệm đúng đắn về thế giới, về thời đại, để không lạc bước và mất phương hướng trước thế giới đầy rẫy những mâu thuẫn, Hồ Chí Minh phải dự báo được các mối liên hệ bản chất, những tính quy luật nằm ở tầng sâu thế giới hiện tượng, những xu thế cơ bản ở tầm nhìn bao quát thời đại
Trang 37Ba là, “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa, thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa,
sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công” [3, tr.100]
Hồ Chí Minh đã vận dụng lôgích biện chứng để phân tích sự khác nhau và giống nhau của hai cuộc chiến tranh thế giới xảy ra trong thế kỉ XX Chỗ giống nhau của hai cuộc chiến tranh ấy là giữa hai nhóm đế quốc xâu xé nhau về quyền lợi đều vì mục đích tham tàn muốn cướp đoạt thuộc địa và giành giật thị trường của nhau, đồng thời bắt các thuộc địa cung cấp nhân lực, tài lực cho chiến tranh và thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng Chủ nghĩa đế quốc sản sinh ra hai cuộc chiến tranh này và ngược lại, hai cuộc chiến tranh này lại làm cho tất cả những mâu thuẫn của chủ nghĩa đế quốc tăng lên và trở nên cực kỳ gay gắt Sự phát triển không đều về kinh tế và chính trị của các nước tư bản chủ nghĩa trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa dẫn đến chỗ làm cho cách mạng các nước khác nhau không xảy ra cùng một lúc Chính vì thế, khả năng cách mạng xã hội chủ nghĩa có thể giành thắng lợi trước hết ở một nước hoặc một số ít nước - nơi mà một vài mắt xích của toàn bộ dây xích của chủ nghĩa tư bản tỏ ra yếu nhất Hệ thống đế quốc chủ nghĩa cũng không lường được rằng chính họ gây ra cuộc chiến tranh đế quốc thứ nhất lại mang hậu quả xuất hiện Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết Hồ Chí Minh nói đến cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đẻ ra Liên
Xô chính là với ý nghĩa như thế
Còn chỗ khác nhau của cuộc chiến tranh đế quốc lần này là nó lôi cuốn không chừa một nước nào, một dân tộc nào vào cuộc chiến (không kể là các nước tư bản chủ nghĩa hay các thuộc địa) Bọn đế quốc - phátxít đua nhau dùng những vũ khí giết người hàng loạt, ném loài người vào lò sát sinh khổng lồ chưa từng thấy Cuộc chiến tranh lần này nổ ra sau cuộc khủng hoảng trầm trọng về kinh tế cũng như chính trị, khiến cho chủ nghĩa đế quốc lâm vào thế lao đao, khốn đốn Hơn nữa, cuộc chiến tranh xảy ra trong khi có Liên Xô - nước xã hội chủ nghĩa chiếm một phần sáu diện tích thế giới, có vị trí kinh tế, chính trị quan trọng trên thế giới, làm trụ cột cho cuộc đấu tranh chống các lực lượng phátxít, chỗ dựa vững chắc cho các lực lượng hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Trong quá trình chiến tranh, các dân tộc bị áp bức đang trỗi dậy giành quyền độc lập dân tộc Giai cấp vô sản ngày càng phát triển lớn mạnh, có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Vì chiến tranh, các mắt xích rệu rã, yếu ớt của tư bản chủ nghĩa thế giới càng lỏng lẻo, và chính đó là những nơi cách mạng xã hội chủ nghĩa có khả năng giành thắng lợi
Chính trên cơ sở phân tích thực tiễn đó mà Hồ Chí Minh đưa ra dự báo chính
xác: Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ
nghĩa, thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do
đó mà cách mạng nhiều nước thành công Chưa đầy mười năm sau, nhiều nước xã hội chủ nghĩa từ Âu sang Á lần lượt ra đời và hình thành một hệ thống thế giới Hồ Chí
Trang 38Minh đã phân tích lịch sử với một tư duy sắc sảo, đầy sáng tạo và những dự báo đó đều trở thành hiện thực
2 Dự báo cách mạng Việt Nam
Một là, trong việc xác định thời cơ giành thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh đã có một loạt dự báo cực kỳ chính xác
Tháng 6-1940, Hồ Chí Minh gặp Phạm Văn Đồng và Võ Nguyễn Giáp từ trong nước ra, Người giới thiệu hai đồng chí đi học trường Quân chính ở Diên An Nhưng đến ngày 20-6-1940, khi nghe tin Pari bị quân Đức chiếm, Người nhận định: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”[4,
tr 98] Nhận định ấy xuất phát từ tình hình thế giới có nhiều biến đổi sâu sắc Pháp mất nước cho Đức, Đức gây chiến với Liên Xô Nhật đánh chiếm Đông Dương và ngày 7-12-1941 phát động chiến tranh Thái Bình Dương Đó là những biến cố xảy ra vào cuối năm 1941 đầu năm 1942, cuộc chiến tranh thế giới đã bước vào một giai đoạn mới - giai đoạn các nước đế quốc - phát xít cùng với các nước Anh, Mỹ xâu xé nhau quyết liệt Trong khi đó, Liên Xô đã trở thành thành trì vững chắc của cách mạng thế giới, đội quân tiên phong trong mặt trận dân chủ, đã tập hợp được tất cả lực lượng dân chủ trên thế giới quanh mình để diệt trừ chủ nghĩa phát xít
Tình hình quốc tế tác động làm cho tình hình Đông Dương có những biến đổi quan trọng Nhật chiếm Đông Dương tròng thêm một cái ách nô lệ cho nhân dân Đông Dương Đông Dương nay không chỉ làm nô lệ cho giặc Pháp mà còn làm trâu ngựa cho giặc Nhật nữa Nhật gây thêm cuộc chiến tranh Thái Bình Dương càng gia tăng sự
áp bức, bóc lột và càng làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân Đông Dương và phát xít Nhật càng thêm sâu sắc
Đó là xuất phát điểm và là căn cứ khách quan để Hồ Chí Minh đưa ra dự báo đúng đắn trong giai đoạn lịch sử có ý nghĩa bước ngoặt này Chỉ có dựa trên cơ sở phân tích tất cả các mặt trong quan hệ tổng thể giữa tình hình thế giới và tình hình Việt Nam, thì Hồ Chí Minh mới có được môt tư duy biện chứng trong việc đánh giá một cách khách quan, toàn diện cái bản chất ẩn náu bên trong của mối quan hệ tổng thể ấy,
để xác định một dự đoán khoa học mang ý nghĩa lịch sử
Ngày đầu năm 1942, trong bài Năm mới, công việc mới, Hồ Chí Minh viết: “Ta
có thể quyết đoán rằng, Nga nhất định thắng, Đức nhất định bại Anh - Mỹ sẽ được, Nhật Bản sẽ thua Đó là một dịp rất tốt cho dân ta khởi nghĩa đánh đuổi Pháp, Nhật, làm cho Tổ quốc ta được độc lập, tự do” [7, tr 211-212] Cũng trong lúc này, sau 30 năm tìm đường cứu nước cứu dân, vừa đặt chân về nước đúng vào thời điểm cuộc chiến tranh thế giới đang lan rộng và tình hình nước ta đang gặp nhiều khó khăn, với niềm lạc quan cách mạng, tin tưởng vào tương lai và tiền đồ của dân tộc, Người khẳng định: “Nay cơ hội giải phóng đến rồi, đế quốc Pháp bên Âu đã không thể tự cứu, càng
Trang 39không thể cứu bọn thống trị Pháp ở ta Đế quốc Nhật đã bị sa lầy ở Trung Hoa, lại đương gay go với Anh, Mỹ”[7, tr 197-198]
Những dự báo trên đây của Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở phân tích lịch sử, xem xét thời cuộc, hoàn toàn không phải là ngẫu hứng, vô căn cứ Từ khi xảy ra cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, Pháp tham chiến và cho đến khi chúng bị bại trận ở châu Âu, tình hình thời cuộc có nhiều biến đổi sâu sắc Tự mình xông vào vòng chiến không phải là Pháp muốn đánh đổ Hitle, tiêu diệt chế độ Quốc xã Đức mà chính là hòng biến cuộc chiến tranh giữa các nước đế quốc thành cuộc chiến tranh của phe đế quốc đánh Liên Xô, nhằm bên trong thì xóa bỏ chế độ dân chủ Pháp, bóp nghẹt phong trào bình dân, giải tán Đảng Cộng sản, còn bên ngoài thì biến các nước nhỏ ở châu Âu chưa bị thôn tính thành những nước nửa thuộc địa của Pháp và Anh, và sau cùng là dùng vũ lực để giữ nguyên những thị trường vốn có của chúng Với mục đích chiến tranh phản động ấy, nên khi xông vào vòng chiến cả đến khi bị thất bại, đế quốc Pháp trước sau thẳng tay đàn áp phong trào cộng sản và phong trào dân chủ ở thuộc địa cũng như ở nước Pháp
Điều thảm hại đối với Pháp là thực hiện chính sách đầu hàng Nhật Bản Ngày 6-1940, lợi dụng lúc Pháp vừa thua Đức, Nhật gửi tối hậu thư cho Pháp, bắt bọn Pháp thuộc địa phải đóng cửa biên giới Bắc Kỳ và đình chỉ việc vận tải, buôn bán với Trung Quốc, chuẩn bị việc đem quân đánh chiếm Đông Dương Kết quả là ngày 23-9-1940, Pháp đầu hàng Nhật, để quân Nhật tràn vào Lạng Sơn Tuy nhiên, Pháp cũng biết rằng chính sách đầu hàng Nhật chỉ có thể hòa hoãn và làm dịu mâu thuẫn sâu sắc giữa hai
20-đế quốc Pháp, Nhật trong lúc này, nếu kéo dài thì sớm muộn cũng dẫn 20-đến chỗ chết
mà thôi Chính trong lúc này, Hồ Chí Minh dự đoán sớm muộn Nhật cũng hất cẳng Pháp Dự đoán ấy xuất phát từ chỗ nhìn thấu mâu thuẫn sâu sắc giữa Nhật, Pháp, Người nói: “Hiện nay đế quốc Pháp và phát xít Nhật ở Đông Dương khác gì hai con gà trống nhốt trong chuồng Trước sau chúng cũng chọi sau Tất cả hai con bị thương nặng, có con què Lúc đó ta bắt mới dễ Làm cách mạng phải biết dựa vào thời cơ và phải nhìn chung phong trào mọi nơi mọi chốn mới chắc thắng” [4, tr.209-210] Những
dự báo chính xác trên đây của Hồ Chí Minh thấy rõ sự sáng suốt và tỉnh táo về chính trị của Người đã tạo ra bản lĩnh vững vàng, giúp Người biết cách tính toán vào lúc nào thì phải lùi và lùi lại bao nhiêu là đúng để rồi tiến lên những bước xa hơn, cũng như biết phân tích cụ thể xem phải bắt tay thực hiện đường lối mới đúng ra là ở chỗ nào, vào lúc nào, và tiến hành như thế nào theo một trình tự ra sao cho hợp quy luật Đối với Hồ Chí Minh, mỗi thời diểm lịch sử phải biết tùy cơ ứng biến, biết căn cứ vào tình hình thực tế ở trong nước và trên thế giới đã thay đổi mà tính toán đến bước chuyển đặc biệt của tình thế để nhanh chóng và đột ngột thay đổi đường lối hành động, chọn một lối đi khác tốt hơn để đi tới đích cuối cùng nếu như lối đi cũ đã đến lúc không còn thích hợp nữa Điều đó chứng tỏ dự báo khoa học có ảnh hưởng to lớn như thế nào đến đường lối hành động chuẩn bị cho cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 lịch sử
Trang 40Hai là, tháng 10 năm 1944, trong Thư gửi đồng bào toàn quốc, Hồ Chí Minh đã viết: “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt Các Đồng minh quốc sắp tranh được sự
thắng lợi cuối cùng Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa Thời gian rất gấp Ta phải làm nhanh” [7, tr.505-506] Trước đó, cuối năm
1941, trong diễn ca Lịch sử nước ta, Người đã dự đoán: “1945, Việt Nam độc lập”[7,
và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại nổi lên làm cách mạng đánh đổ chủ nghĩa đế quốc Cho nên, chỉ khi nào tình thế bắt buộc, các nước đế quốc liên minh với nhau để tiến đánh Liên Xô, thì khi ấy chúng “sẽ rất chóng bị tiêu diệt bởi Hồng quân Liên Xô
và cách mạng thế giới” [3, tr.24]
Về đặc điểm cơ bản của tình hình chính trị ở Đông Dương đầu những năm 40 của thế kỷ XX được Hồ Chí Minh phân tích rõ ràng, là sau khi Pháp mất nước cho Đức, phát xít Nhật nhảy vào xâm chiếm Đông Dương Bọn đế quốc Pháp ở Đông Dương bị hai tầng áp bức, bóc lột của hai đế quốc Nhật, Pháp ngày càng gay gắt Nhật gấp rút chuẩn bị truất quyền Pháp để trừ hậu họa, vì chúng biết rằng nếu quân đồng minh Anh,
Mỹ và Trung Quốc vào Đông Dương đánh Nhật, thì phần đông người Pháp ở Đông Dương sẽ quay lại đánh chúng Điều này tỏ ra mâu thuẫn giữa Nhật và Pháp là không thể điều hòa được, tất yếu sẽ dẫn đến sự xung đột sống còn, quyết liệt với nhau
Năm 1944, mâu thuẫn Nhật, Pháp đã phát triển đến điểm đỉnh Lực lượng so sánh giữa chúng đang thay đổi lớn Quân Nhật đã suy yếu rõ rệt, chúng không dám mạo hiểm làm ngay cuộc đảo chính vì sợ bọn Pháp sẽ chống trả lại và xung đột quyết liệt giữa Nhật, Pháp sẽ nổ ra, quân Đồng minh thừa dịp vào Đông Dương Còn bọn Pháp thì biết rằng tình thế mỗi ngày càng bất lợi cho Nhật và có lợi cho chúng, cho nên Pháp cố hòa hoãn bề ngoài với Nhật một lần nữa để tranh thủ thời gian, chuẩn bị lực lượng, củng cố thêm bọn tay sai trước khi tuyên chiến với Nhật Còn một nguyên nhân quan trọng khác là giặc Nhật và Pháp đều rất gờm cách mạng Đông Dương Chúng lo sợ khi hai bên cắn xé nhau nhân dân Đông Dương thừa cơ nổi dậy tiêu diệt