Về địa chất, miền núi Thanh Hóa là sự nốidài của Tây Bắc Bộ trong khi đồng bằng Thanh Hóa là đồng bằng lớn nhất Trung Bộ, ngoài ra một phần nhỏ phía bắc huyện Nga Sơn thuộc đồng bằng châ
Trang 1Bài tập: Sưu tập và giới thiệu tài liệu địa chí về vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh
Thanh - Nghệ - Tĩnh là tên gọi của vùng đất gồm 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.
A THANH HÓA
Tổng quan
Thanh Hóa là tỉnh cực Bắc miền Trung Việt Nam, cách thủ đô Hà
Nội khoảng 140 km về phía Nam và cách thành phố Hồ Chí Minh 1.560 km
về hướng Bắc Đây là một tỉnh lớn của Việt Nam, đứng thứ 5 về diện tích và thứ 3
về dân số trong số các đơn vị hành chính trực thuộc trung ương, cũng là một trongnhững địa điểm sinh sống đầu tiên của người Việt
Cách đây khoảng 6000 năm đã có người sinh sống tại Thanh Hóa Các di chỉkhảo cổ cho thấy nền văn hóa xuất hiện đầu tiên tại đây là văn hóa Đa Bút Sang
Trang 2đầu thời đại kim khí, thuộc thời đại đồ đồng, qua các bước phát triển với các giaiđoạn trước văn hóa Đông Sơn, Thanh Hóa đã trải qua một tiến trình phát triển vớicác giai đoạn văn hoá: Cồn Chân Tiên, Đông Khối - Quỳ Chữ tương đương vớicác văn hóa Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Mun ởlưu vực sông Hồng Và sau đó
là nền văn minh Văn Lang cách đây hơn 2.000 năm, văn hoá Đông Sơn ở ThanhHóa đã toả sáng rực rỡ trong đất nước của các vua Hùng
Thanh Hóa là tỉnh chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Trung Việt Nam trênnhiều phương diện Về hành chính, Thanh Hóa là tỉnh cực bắc Trung Bộ, tiếp giápvới Tây Bắc Bộ và đồng bằng Bắc Bộ Về địa chất, miền núi Thanh Hóa là sự nốidài của Tây Bắc Bộ trong khi đồng bằng Thanh Hóa là đồng bằng lớn nhất Trung
Bộ, ngoài ra một phần nhỏ (phía bắc huyện Nga Sơn) thuộc đồng bằng châu thổsông Hồng Về khí hậu, Thanh Hóa vừa có kiểu khí hậu của miền Bắc lại vừamang những hình thái khí hậu của miền Trung Về ngôn ngữ, phần lớn người dânnóiphương ngữ Thanh Hóa với vốn từ vựng khá giống từ vựng của phương ngữNghệ Tĩnh song âm vực lại khá gần với phương ngữ Bắc Bộ
Thanh Hóa bao gồm 1 thành phố trực thuộc tỉnh, 2 thị xã và 24 huyện, vớidiện tích 11.133,4 km2 và số dân 3,405 triệu người với 7 dân tộc Kinh, Mường,Thái, H'mông, Dao, Thổ, Khơ-mú, trong đó có khoảng 355,4 nghìn người sống ởthành thị Năm 2005 Thanh Hóa 2,16 triệu người trong độ tuổi lao động, chiếm tỷ
lệ 58,8% dân số toàn tỉnh, lao động đã qua đào tạo chiếm 27%, trong đó lao động
có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chiếm 5,4%
1 Lịch sử vùng đất:
Thời Bắc thuộc
Thời Nhà Hán chính quyền đô hộ Thanh Hóa thuộc quận Cửu Chân Sangđến thời Tam Quốc, nhà Đông Ngô trực tiếp cai trị Sau khi tách quận Cửu Chânthành hai quận Cửu Chân và Cửu Đức thì thuộc quận Cửu Chân mới gồm đấtThanh Hóa ngày nay và một phần phía nam Ninh Bình Cửu Chân được chia làm 7
Trang 3huyện: Tư Phố, Di Phong, Cư Phong, Trạn Ngô, Kiến Sơ, Phù Lạc, Thường Lạc,Tùng Nguyên Sang đến thời nhà Lương, Lương Võ đế đổi Cửu Chân làm ÁiChâu Đến thời Nhà Tùy gọi là Cửu Chân quận.
Thời kì tự chủ
Ở thời kì tự chủ thì Thanh Hóa được đổi tên nhiều lần nhưng Thanh Hóa vẫn
là tỉnh có số lần sát nhập và chia tách ít nhất cả nước
Ở thời Nhà Đinh và Tiền Lê Thanh Hóa gọi là đạo Ái Châu Ở thờiNhà
Lý thời kỳ đầu gọi là trại Ái Châu, về sau vào năm Thuận Thiên 1 thì gọi là PhủThanh Hóa)
Năm 1242, vua Trần Thái Tông đổi 24 lộ đời Lý thành 12 lộ, trong đó cóThanh Hóa phủ lộ Năm Quang Thái thứ 10 (Trần Thuận Tông - năm 1397) đổilàm trấn Thanh Ðô Trấn Thanh Ðô lúc này gồm 7 huyện và 3 châu (mỗi châu có 4huyện) Trong đó, 7 huyện là: Cổ Ðằng, Cổ Hoằng, Ðông Sơn, Cổ Lôi, Vĩnh Ninh,Yên Ðịnh, Lương Giang 3 châu bao gồm: châu Thanh Hóa gồm huyện Nga Lạc,huyện Tế Giang, huyện Yên Lạc, huyện Lỗi Giang; châu Ái gồm huyện Hà Trung,huyện Thống Bình, huyện Tống Giang, huyện Chi Nga; châu Cửu Chân gồmhuyện Cổ Chiến, huyện Kết Thuế, huyện Duyên Giác, huyện Nông Cống
Năm 1397, Trần Thuận Tông đổi làm trấn Thanh Đô, gồm 3 châu và 7huyện: châu Thanh Hóa (gồm Nga Lạc, Tế Giang, Yên Lạc, Lỗi Giang); châu Ái(gồm: Hà Trung, Thống Bình, Tống Giang, Chi Nga);châu Cửu Chân (gồm: CổChiến, Kết Thuế, Duyên Giác, Nông Cống); huyện Cổ Đằng; huyện Cổ Hoằng;huyện Đông Sơn; huyện Vĩnh Ninh; huyện Yên Định; huyện Lương Giang; huyện
Cổ Lôi
Năm 1430, Hồ Hán Thương đổi phủ Thanh Hóa thành phủ Thiên Xương.Sách Ðại Nam nhất thống chí ghi:
Phủ này (tức phủ Thiên Xương) cùng Cửu Chân và ái Châu làm "tam phủ" gọi
là Tây Ðô" Thời thuộc Minh, trấn Thanh Ðô đổi thành phủ Thanh Hóa (năm 1407
Trang 4- theo Ðào Duy Anh)' và Thời thuộc Minh lại làm phủ Thanh Hóa, lãnh 4 châu là Cửu Chân, ái Châu, Thanh Hóa, Quỳ Châu và 11 huyện Trong đó, 11 huyện là Yên Ðịnh, Nông Cống, Vĩnh Ninh, Tống Giang, Cổ Ðằng, Nga Lạc, Lương Giang, Lỗi Giang, Ðông Sơn, Yên Lạc, Cổ Lôi
Sau khi nhà Hồ thất thủ, nhà Minh cai trị Đại Việt, lại đổi lại làm phủ ThanhHóa như cũ, đặt thêm hai huyện: Lôi Dương, Thụy Nguyên Về địa giới vẫn khôngđổi
Sau khi khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, nhà hậu Lê cầm quyền Năm ThuậnThiên thứ nhất (năm 1428), Lê Thái Tổchia nước làm 5 đạo, Thanh Hóa thuộc HảiTây đạo, đến năm Quang Thuận thứ 7 (năm 1466) đặt tên là Thừa Tuyên ThanhHóa, năm Quang Thuận thứ 10 (năm 1469) lại đổi thành Thừa Tuyên Thanh Hoa,tên Thanh Hoa có từ đây Thanh Hoa Thừa Tuyên theo "Thiên Nam dư hạ tập"lãnh 4 phủ, 16 huyện và 4 châu
Thời Nhà Lê, Thanh Hóa là thừa tuyên Thanh Hóa (Thanh Hoa), gồm phầnđất tỉnh Thanh Hóa ngày nay và tỉnh Ninh Bình (thời kỳ đó là phủ Trường Yên,trực thuộc) và tỉnh Hủa Phăn (Sầm Nưa) của Lào (thời kỳ đó gọi là châu Sầm) XứThanh Hoa thời nhà Lê với 6 phủ:
Phủ Thiệu Thiên (Thiệu Hóa), nằm ở phía tây tây bắc xứ Thanh, có 8huyện: Thụy Nguyên, Vĩnh Phúc (Vĩnh Lộc), Đông Sơn, Lôi Dương, Yên Định,Cẩm Thủy, Thạch Thành, Quảng Bình
Phủ Hà Trung phủ có 4 huyện: Hoằng Hóa, Thuần Lộc (Hậu Lộc),Nga Sơn, Tống Sơn
Phủ Tĩnh Gia có 3 huyện: Nông Cống, Ngọc Sơn, Quảng Xương
Phủ Thanh Đô có 4 châu và 1 huyện là huyện Thọ Xuân và các châu:Khai Na (Quan Da), Tàm (châu), Lương Chính (Lang Chánh), Sầm (châu) (naythuộc Lào)
Trang 5 Phủ Trường Yên, nay là một phần tỉnh Ninh Bình, có 3 huyện: GiaViễn, Yên Mô, Yên Khang (Yên Khánh).
Phủ Thiên Quan (Nho Quan), ở phía Tây Bắc xứ Thanh, giáp với trấnSơn Tây và trấn Sơn Nam, nay thuộc các tỉnh Ninh Bình và Hòa Bình, có 3 huyện:Phụng Hóa, Yên Hóa, Lạc Thổ (Lạc Sơn)
Sau khi nhà Nguyễn lên nắm quyền, vào năm Gia Long thứ nhất (1802), đổigọi là trấn Thanh Hóa Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), đổi trấn thành tỉnh, bắt đầugọi là tỉnh Thanh Hoa (Hoa: tinh hoa) Đến năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), lại đổithành tỉnh Thanh Hóa Tên gọi Thanh Hóa không đổi từ đó cho tới ngày nay
Thời kỳ hiện đại (sau năm 1945 đến nay)
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, các cấp hành chính là châu, phủ, quậnđược bãi bỏ Tỉnh Thanh Hóa lúc này có 21 đơn vị hành chính gồm thị xã ThanhHóavà 20 huyện: Bá Thước, Cẩm Thủy, Đông Sơn, Hà Trung, Hậu Lộc, HoằngHóa, Lang Chánh, Nga Sơn, Ngọc Lặc, Như Xuân, Nông Cống, Quan Hóa, QuảngXương,Thạch Thành, Thiệu Hóa, Thọ Xuân, Thường Xuân, Tĩnh Gia, VĩnhLộc, Yên Định
Ngày 16 tháng 12 năm 1964, huyện Triệu Sơn được thành lập trên cơ sởtách 13 xã thuộc huyện Thọ Xuân và 20 xã thuộc huyện Nông Cống
Ngày 5 tháng 7 năm 1977, hợp nhất 2 huyện Hà Trung và Nga Sơn thànhhuyện Trung Sơn; hợp nhất 2 huyện Vĩnh Lộc và Thạch Thành thành huyện VĩnhThạch; hợp nhất 2 huyện Lang Chánh và Ngọc Lặc thành huyện Lương Ngọc; hợpnhất huyện Yên Định và 15 xã của huyện Thiệu Hóa ở tả ngạn sông Chu thànhhuyệnThiệu Yên; hợp nhất huyện Đông Sơn và 16 xã còn lại của huyện ThiệuHóa ở hữu ngạn sông Chu thành huyện Đông Thiệu
Ngày 18 tháng 12 năm 1981, thành lập 2 thị xã Bỉm Sơn (tách ra từhuyện Trung Sơn) và Sầm Sơn (tách ra từ huyện Quảng Xương)
Trang 6Ngày 30 tháng 8 năm 1982, chia các huyện Lương Ngọc, Trung Sơn, VĩnhThạch thành các huyện như cũ; đổi tên huyện Đông Thiệu thành huyện ĐôngSơn nhưng vẫn giữ nguyên địa giới như cũ.
Ngày 1 tháng 5 năm 1994, chuyển thị xã Thanh Hóa thành thành phố ThanhHóa
Ngày 18 tháng 11 năm 1996, thành lập 3 huyện: Quan Sơn, Mường Lát (tách
ra từ huyện Quan Hóa và Như Thanh (tách ra từ huyện Như Xuân; tái lập huyệnThiệu Hóa trên cơ sở tách 16 xã thuộc huyện Đông Sơn ở hữu ngạn sông Chu và
15 xã thuộc huyện Thiệu Yên ở tả ngạn sông Chu; đổi tên huyện Thiệu Yên thànhhuyện Yên Định
2 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Ngày nay, theo số liệu đo đạc hiện đại của cục bản đồ thì Thanh Hóa nằm ở
vĩ tuyến 19°18' Bắc đến 20°40' Bắc, kinh tuyến 104°22' Đông đến 106°05' Đông.Phía bắc giáp ba tỉnh: Sơn La, Hòa Bình và Ninh Bình; phía nam và tây nam giáptỉnh Nghệ An; phía tây giáp tỉnh Hủa Phăn nước Lào với đường biên giới 192 km;phía đông Thanh Hóa mở ra phần giữa của vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông với bờbiển dài hơn 102 km Diện tích tự nhiên của Thanh Hóa là 11.106 km², chia làm 3vùng: đồng bằng ven biển, trung du, miền núi Thanh Hóa có thềm lục địa rộng18.000 km²
Địa hình, địa mạo
Địa hình Thanh Hóa nghiêng từ tây bắc xuống đông nam Ở phía tây bắc,những đồi núi cao trên 1.000 m đến 1.500 m thoải dần, kéo dài và mở rộng về phíađông nam Đồi núi chiếm 3/4 diện tích của cả tỉnh, tạo tiềm năng lớn về kinh tếlâm nghiệp, dồi dào lâm sản, tài nguyên phong phú Dựa vào địa hình có thể chiaThanh Hóa ra làm các vùng miền
Trang 7Miền núi, trung du: Miền núi và đồi trung du chiếm phần lớn diện tích củaThanh Hóa Riêng miền đồi trung du chiếm một diện tích hẹp và bị xé lẻ, khôngliên tục, không rõ nét như ở Bắc Bộ Do đó nhiều nhà nghiên cứu đã không táchmiền đồi trung du của Thanh Hóa thành một bộ phận địa hình riêng biệt mà coi cácđồi núi thấp là một phần không tách rời của miền núi nói chung.
Miền đồi núi chiếm 2/3 diện tích Thanh Hóa, nó được chia làm 3 bộ phậnkhác nhau bao gồm 11 huyện: Như Xuân, Như Thanh, Thường Xuân, Lang Chánh,
Bá Thước, Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát, Ngọc Lặc, Cẩm Thủy và ThạchThành Vùng đồi núi phía tây có khí hậu mát, lượng mưa lớn nên có nguồn lâm sảndồi dào, lại có tiềm năng thủy điện lớn, trong đó sông Chu và các phụ lưu có nhiềuđiều kiện thuận lợi để xây dựng các nhà máy thủy điện Miền đồi núi phía Nam đồinúi thấp, đất màu mỡ thuận lợi trong việc phát triển cây công nghiệp, lâm nghiệp,cây đặc sản và có Vườn quốc gia Bến En (thuộc địa bàn huyện Như Thanh vàhuyện Như Xuân), có rừng phát triển tốt, với nhiều gỗ quý, thú quý
Vùng đồng bằng của Thanh Hóa lớn nhất của miền Trung và thứ ba của cảnước Đồng bằng Thanh Hóa có đầy đủ tính chất của một đồng bằng châu thổ, dophù sa các hệ thống sông Mã, sông Yên, sông Hoạt bồi đắp Điểm đồng bằng thấpnhất so với mực nước biển là 1 m
Vùng ven biển: Các huyện từ Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, SầmSơn, Quảng Xương đến Tĩnh Gia, chạy dọc theo bờ biển gồm vùng sình lầy ở NgaSơn và các cửa sông Hoạt, sông Mã, sông Yên và sông Bạng Bờ biển dài, tươngđối bằng phẳng, có bãi tắm nổi tiếng Sầm Sơn, có những vùng đất đai rộng lớnthuận lợi cho việc lấn biển, nuôi trồng thủy sản, phân bố các khu dịch vụ, khu côngnghiệp, phát triển kinh tế biển (ở Nga Sơn, Nam Sầm Sơn, Nghi Sơn)
Tài nguyên thiên nhiên
Là tỉnh có nguồn tài nguyên đa dạng nhưng nhìn chung nguồn tài nguyên cótrữ lượng không lớn, và thường phân bố không tập trung nên rất khó cho việc phát
Trang 8triển công nghiệp khai khoáng Thanh Hóa hiện tại mới chỉ có một số nhà máyđang tiến hành khai thác nguồn tài nguyên, như: nhà máy xi măng Bỉm sơn, ximăng Nghi sơn, phân bón Hàm rồng, Đa số nguồn tài nguyên đang bị thất thoát
do kiểm soát không chặt chẽ
Thanh Hóa có khoáng sản chính là vàng, cromit, thiếc, đá quý Chúng chưađược đánh giá đúng, nhất là vàng Vàng uy đã bị người tàu, dân tự do khai thác ởnhiều huyện miền núi, song trữ lượng còn rất lớn Có thể nói các huyện trong tỉnh,nếu có chuyên môn tốt sẽ tìm được vàng cho khai thác và chỉ có khai thác côngnghiệp mới đem lại lợi ích cho Đất nước và tránh ô nhiễm môi trường
3 Đặc trưng văn hóa
Văn hóa, văn nghệ dân gian
Tại Thanh Hóa có nhiều hình thức văn hóa truyền thống, phần nhiều vẫn còntồn tại và đang được phát huy Về dân ca, dân vũ, được nhiều người biết đến nhất
là các làn điệu hò sông Mã, dân ca, dân vũ Đông Anh, trò diễn Xuân Phả Ngoài racòn có ca trù,hát xoan Các dân tộc ít người cũng có nhiều loại hình văn nghệ dângian khá đa dạng như hát xường của người Mường, khắpcủa người Thái
Kho tàng truyện cổ cũng khá đặc sắc như truyện cổ về sự tích về các ngọnnúi, truyện dân gian của ngư dân ven biển Hậu Lộc, Sầm Sơn, Tĩnh Gia Đặc biệt
là các sự tích về nguồn gốc dân tộc Mường
Các lễ hội cũng rất đặc sắc như lễ hội Pôồn Pôông của người Mường, lễ hộicầu ngư, lễ hội đền Sòng
Văn nghệ đương đại
Văn nghệ thời kì sau cách mạng tháng Tám ở Thanh Hóa có các nhàthơ Hồng Nguyên, Hữu Loan, Nguyễn Bao, Nguyễn Duy, nhà văn Triệu Bôn Trong thời kì chiến tranh chống Mỹ những năm 1960-1975, địa danh Hàm Rồng là
đề tài của nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật
Trang 9Những năm thời kỳ đổi mới có Phùng Gia Lộc là tên tuổi nổi bật viết về
nông thôn Thanh Hóa, trong đó Cái đêm hôm ấy đêm gì là bút ký gây được
tiếng vang trên văn đàn nước nhà
Một số tác phẩm thơ viết về quê hương Thanh Hóa như: Về lại xứ Thanh (Phan Quế), Về với Sầm Sơn (Hà Hồng Kỳ), Quê Mẹ (Lưu Đình Long), Quê tôi đấy - Xứ Thanh! (Văn Công Hùng), Dô tả, dô tà (Mạnh Lê), Mẹ Tơm (Tố Hữu), Trụ cầu Hàm Rồng (Mã Giang Lân).
B NGHỆ AN
Tổng quan
Trang 10Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn nhất Việt Nam thuộc vùng Bắc Trung Bộ.
Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Vinh, nằm cách thủ đô HàNội 291 km về phía nam Trước đây, Nghệ An cùng với Hà Tĩnh có cùng một tênchung là Hoan Châu (thời bắc thuộc), Nghệ An châu (đời nhà Lý, Trần), xứNghệ (năm 1490, đời vua Lê Thánh Tông), rồi trấn Nghệ An Năm 1831, vua MinhMệnh chia trấn Nghệ An thành 2 tỉnh: Nghệ An (bắc sông Lam) và Hà Tĩnh (namsông Lam) Năm 1976 đến 1991, Nghệ An và Hà Tĩnh sáp nhập thành một tỉnh-Nghệ Tĩnh Từ năm 1991, lại tách ra thành 2 tỉnh là Nghệ An và Hà Tĩnh
1 Lịch sử vùng đất:
Trước thời Hùng Vương, vùng Nghệ An và Hà Tĩnh là nước Việt Thường,kinh đô là vùng chân núi Hồng Lĩnh Đến thời Hùng Vương nước Việt Thường bịsát nhập thành bộ thứ 15 của Văn Lang
Từ thế kỷ thứ VIII, Mai Hắc Đế đã phất cao cờ nghĩa, xây thành Vạn An
ở Sa Nam (Nam Đàn) để chống lại ách thống trị của nhà Đường
Năm 1285, trước họa xâm lăng của quân xâm lược Nguyên Mông, vua TrầnNhân Tông đã dựa và nguồn nhân lực hùng hậu của vùng đất này
Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh, năm 1424, LêLợi tiến quân vào xứ Nghệ An lập đại bản doanh ở đây 4 năm Năm 1535 trongchiến tranh Nam Bắc Triều (Lê- Mạc) Phụng chiếu Thái tông Mạc Đăng Doanh.Mạc Đăng Lượng và em Mạc Tuấn Ngạn đưa hơn 1 vạn quân vào trấn thủ đấtHoan châu định đô ở vùng Đô Đặng, tổng Đặng Sơn, huyện Nam Đường Ngài cócông chiêu lập 137 hộ dân, tiền thân các dòng họ Hoàng, Bùi Duy, Hoàng Duy,Nguyễn Đăng ở tổng Đặng Sơn nay là 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Đặng Sơn
Trang 11Cuối năm 1788, Nguyễn Huệ trên đường hành quân cấp tốc ra Bắc để đánh
đuổi 29 vạn quân Thanh sang xâm chiếm nước ta, ông đã dừng lại ở Nghệ
An tuyển thêm 5 vạn quân sĩ và luyện Binh, âm cầu mật đạo Thần Mạc Đăng
Lượng Phù hộ đánh thắng quân Thanh ở Đền Tán sơn xã Xuân Hòa Nam đàn.Đầuthế kỷ XX xuất hiện Phan Bội Châu, một con người đầy nhiệt huyết yêu nước, đãbôn ba hải ngoại, với khát vọng tiếp thu cái hay, cái mới, hy vọng cứu nước thắnglợi
Cùng với Hà Tĩnh, Nghệ An là nơi ghi dấu ấn đầu tiên của truyền thống đấutranh cách mạng vô sản ở Việt Nam với cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931,
mở đầu cho cao trào cách mạng vô sản trong cả nước Trong công cuộc chống Mỹcứu nước, Nghệ An là quê hương của các phong trào “Tiếng hát át tiếngbom”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Xe chưa qua,nhà không tiếc”, “Tất cả cho miền Nam ruột thịt”.v.v để góp phần mình cùng cảnước đi đến toàn thắng mùa xuân năm 1975
Nghệ An có truyền thống hiếu học, có nhiều dòng họ, nhiều làng học nổitiếng, là cái nôi sản sinh cho đất nước nhiều danh tướng, lương thần, nhiều nhàkhoa học, nhà văn hoá có tầm cỡ quốc gia và quốc tế Số người Nghệ An đậu đạikhoa thời phong kiến (tiến sĩ trở lên) xếp thứ 4 toàn quốc (sau Hải Dương, BắcNinh, Hà Nội và trên Thanh Hoá, Hà Tĩnh)
Chỉ riêng làng Quỳnh Đôi, dưới thời phong kiến đã có 13 người đậu đạikhoa (Phó bảng trở lên), còn cử nhân dưới triều Nguyễn (1807 - 1918) đã có 47người Khoa thi Hương Tân Mão (1891), trường Nghệ lấy đậu 20 cử nhân, thìhuyện Nam Đàn đã có 6 người đậu; khoa thi năm Giáp Ngọ (1894), trường Nghệlấy đậu 20 cử nhân, Nam Đàn có 8 người đậu; khoa thi hội năm Tân Sửu (1901), cảnước có 22 người đậu tiến sĩ và Phó bảng thì Nam Đàn có 3 người là tiến
sĩ Nguyễn Đình Điển, Phó bảng Nguyễn Xuân Thưởng và Nguyễn Sinh Sắc.Thờiphong kiến Đô Lương có Tiến sỹ Đặng Minh Bích, Tiến sỹ Nguyễn Thái Đễ, Tiến
Trang 12sỹ Nguyễn Nguyên Thành, Ất Tiến sỹ Nguyễn Đăng Quý và (Nghè Giá) Tiến sỹNguyễn văn Giá (xã Hội Sơn, Anh Sơn).
2 Điều kiện tự nhiên:
Nghệ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 4 mùa rõ rệt: xuân,
hạ, thu, đông Từ tháng 4 đến tháng 8 dương lịch hàng năm, tỉnh chịu ảnh hưởngcủa gió phơn tây nam khô và nóng Vào mùa đông, chịu ảnh hưởng của gió mùađông bắc lạnh và ẩm ướt
Diện tích: 16.487 km²
Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.670 mm
Nhiệt độ trung bình: 25,2 °C
Số giờ nắng trong năm: 1.420 giờ
Độ ẩm tương đối trung bình: 86-87%
Vĩ độ: 18°33′ đến 19°25′ vĩ bắc
Kinh độ: 102°53′ đến 105°46′ kinh đông
Nghệ An là một tỉnh có đầy đủ địa hình núi cao, trung du, đồng bằng và venbiển Phía Tây là dãy núi Bắc Trường Sơn Tỉnh có 10 huyện miền núi, trong số đó
5 huyện là miền núi cao Các huyện miền núi này tạo thành miền Tây Nghệ An Có
9 huyện trong số trên nằm trong Khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An đã đượcUNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới Các huyện, thị còn lại làtrung du và ven biển, trong đó Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, và Cửa Lò giápbiển
3 Đặc trưng văn hóa:
Xứ Nghệ là tên chung của vùng Hoan Châu cũ (bao gồm cả Nghệ An và Hà
Tĩnh) từ thời nhà Hậu Lê Hai tỉnh này cùng chung một vùng văn hóa gọi là vănhóa Lam Hồng, có chung biểu tượng là núi Hồng - sông Lam Hai tỉnh này có cùngphương ngữ- tiếng Nghệ, cùng kho tàng văn hóa dân gian, cùng ca câu hò ví dặm,cùng uống chung dòng nước sông Lam
Trang 14Thời nhà Đinh, nhà Tiền Lê: gọi là Hoan Châu, vùng địa đầu phía Nam củanước Đại Cồ Việt, tiếp giáp với nước Chiêm Thành và nước Ai Lao.
Thời Lý-Trần, từ năm 1030, bắt đầu gọi là châu Nghệ An Vào đầu thời kỳnày (đầu thời nhà Lý), đất Hà Tĩnh (phía Bắc đèo Ngang) vẫn là vùng đất biêncương của Đại Việt với Chiêm Thành
Thời nhà Hậu Lê, từ năm Hồng Đức thứ 20 (1490) vua Lê Thánh Tông đặt
ra thừa tuyên Nghệ An, nhưng vùng đất Nghệ An-Hà Tĩnh ngày nay cũng cònđược gọi là xứ Nghệ An, phần đất thuộc tỉnh Hà Tĩnh ngày nay là đất thuộc 2 phủĐức Quang (tức phủ Đức Thọ sau này) và phủ Hà Hoa (sau còn gọi là phủ HàThanh) Phủ Hà Hoa gồm 2 huyện: Thạch Hà và Kỳ Hoa (tức Kỳ Anh và HoaXuyên sau này) Phủ Đức Quang gồm 6 huyện: Thiên Lộc (tức Can Lộc), La Sơn(tức Đức Thọ ngày nay), Hương Sơn, Nghi Xuân, Chân Phúc (tức Nghi Lộc NghệAn), Thanh Chương (Nghệ An)
Thời Tây Sơn, vùng đất Nghệ An-Hà Tĩnh được gọi chung là Nghĩa An trấnNhà Nguyễn năm Gia Long nguyên niên (1802) lại đặt làm Nghệ An trấnNăm 1831, vua Minh Mạng chia trấn Nghệ An thành 2 tỉnh: Nghệ An (phíaBắc sông Lam); Hà Tĩnh (phía nam sông Lam) Tỉnh Hà Tĩnh được thành lập với 2phủ Đức Thọ và Hà Hoa của trấn Nghệ An trước đó Năm Minh Mạng 17 (1838)lập thêm huyện Hoa Xuyên thuộc phủ Hà Hoa (Hoa Xuyên tức là Cẩm Xuyênngày nay) Năm Minh Mạng 21 (1840), 2 huyện (trước của vương quốc ViêngChăn bị diệt vong bởi Xiêm La và đất châu Trịnh Cao) là: Cam Cát (tứcKhamkheuth tỉnhBorikhamxay) và Cam Môn (tức vùng các huyện Hương Khê, VũQuang và phia Đông Bắc tỉnh Khammuane ngày nay), từng nhập vào phủ TrấnĐịnh (tức Ngọc Ma) thuộc xứ Nghệ của Đại Nam, đến lúc đó Minh Mạng chonhập vào phủ Đức Thọ của tỉnh Hà Tĩnh Năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), đổi phủ
Hà Hoa thành phủ Hà Thanh (do kỵ húy), đồng thời Thiệu Trị lấy cả 3 phủ TrấnĐịnh, Trấn Tĩnh, Lạc Biên (trước thuộc Nghệ An) nhập vào tỉnh Hà Tĩnh
Trang 15Năm Tự Đức thứ 6 (năm 1853) đổi tỉnh Hà Tĩnh làm đạo, hợp vào Nghệ Anthành An Tĩnh.
Năm Tự Đức thứ 29 (năm 1876) lại đặt tỉnh Hà Tĩnh như cũ
Thời Pháp thuộc tỉnh Hà Tĩnh thuộc xứ Trung Kỳ nằm trong Liên bangĐông Dương của Pháp Các phủ huyện là đất (các tỉnh Khammuane,Borikhamxay) thuộcLào ngày nay (tức là đất các phủ Trấn Định, Trấn Tĩnh, LạcBiên) bị cắt về xứ Lào thuộc Pháp, và từ đó không thuộc Việt Nam nữa
Thời nước Việt Nam độc lập (sau 1945), tỉnh Hà Tĩnh là một tỉnh thuộcvùng Trung Bộ Việt Nam Sau năm 1954, Hà Tĩnh thuộc Bắc Việt (Việt Nam Dânchủ Cộng hòa)
Từ sau khi Việt Nam thống nhất (Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam),giai đoạn 1976-1991, 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh nhập làm một tỉnh và được gọi làtỉnhNghệ Tĩnh
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, tỉnh Nghệ Tĩnh lại tách ra thành Nghệ An và HàTĩnh như ngày nay Khi tách ra, tỉnh Hà Tĩnh có 9 đơn vị hành chính gồm thị xã
Hà Tĩnh và 8 huyện: Cẩm Xuyên, Can Lộc, Đức Thọ, Hương Khê, Hương Sơn, KỳAnh, Nghi Xuân, Thạch Hà
Ngày 2 tháng 3 năm 1992, thành lập thị xã Hồng Lĩnh thuộc tỉnh Hà Tĩnhtrên cơ sở tách thị trấn Hồng Lĩnh; 2 xã: Đức Thuận, Trung Lương; một phần xãĐức Thịnh thuộc huyện Đức Thọ và 2 xã: Đậu Liêu và Thuận Lộc thuộc huyệnCan Lộc
Ngày 4 tháng 8 năm 2000, huyện Vũ Quang được thành lập trên cơ sở tách 6xã: Đức Lĩnh, Đức Giang, Đức Liên, Ân Phú, Đức Hương, Đức Bồng thuộchuyệnĐức Thọ, 5 xã: Hương Thọ, Hương Minh, Hương Đại, Hương Điền, VũQuang thuộc huyện Hương Khê và xã Sơn Thọ thuộc huyện Hương Sơn
Ngày 7 tháng 2 năm 2007, huyện Lộc Hà được thành lập trên cơ sở tách 7 xãven biển: Ích Hậu, Hồng Lộc, Phù Lưu, Bình Lộc, Tân Lộc, An Lộc, Thịnh Lộc
Trang 16thuộc huyện Can Lộc và 6 xã ven biển: Thạch Kim, Thạch Bằng, Thạch Châu, MaiPhụ, Hộ Độ, Thạch Mỹ thuộc huyện Thạch Hà.
Ngày 28 tháng 5 năm 2007, chuyển thị xã Hà Tĩnh thành thành phố Hà Tĩnh
2 Điều kiện tự nhiên:
Hà Tĩnh trải dài từ 17°54’ đến 18°50’ vĩ Bắc và từ 103°48’ đến 108°00’kinh Đông Phía bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía tâygiáp hai tỉnh Borikhamxay và Khammuane của Lào, phía đông giáp biển Đông
Địa hình
Hà Tĩnh cách thủ đô Hà Nội 340 km về phía nam, ở phía đông dãy TrườngSơn với địa hình hẹp, dốc và nghiêng từ tây sang đông Phía tây tỉnh là những dãynúi cao 1.500 m, đỉnh Rào Cọ 2.235 m, phía dưới là vùng đồi thấp giống bát úp;tiếp nữa là dải đồng bằng nhỏ hẹp chạy ra biển; sau cùng là những bãi cát ven biểncùng với nhiều vũng,vịnh, tiêu biểu là cảng biển nước sâu Vũng Áng và bãibiển Thiên Cầm
Khí hậu
Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, ngoài ra Hà Tĩnh còn chịu ảnh hưởngcủa khí hậu chuyển tiếp của miền Bắc và miền Nam, với đặc trưng khí hậu nhiệtđới điển hình của miền Nam và có một mùa đông giá lạnh của miền Bắc, nên thờitiết, khí hậu rất khắc nghiệt Hàng năm, Hà Tĩnh có bốn mùa rõ rệt:
Mùa mưa: Mưa trung bình hằng năm từ 2500 ly đến 2650 ly Hạ tuần tháng
8, tháng 9 và trung tuần tháng 11 lượng mưa chiếm 54% tổng lượng mưa cả năm.Vào thời gian này hàng năm Hà Tĩnh thường hứng chịu những cơn bão từ biểnĐông gây nên lũ lụt
Mùa khô: Từ tháng 12 đến tháng 7 năm sau Đây là mùa nắng gắt, có gióTây Nam (thổi từ Lào) khô, nóng, lượng bốc hơi lớn
3 Đặc trưng văn hóa