Đặt vấn đề:Xã hội hoá nói chung, xã hội hoá các hoạt động văn hoá nói riêng là một chủ tr-ơng lớn của đảng và Nhà nớc ta nhằm động viên sức ngời, sức của, của các tầng lớpnhân dân, huy đ
Trang 1Tổ chức và quản lý hoạt động văn hoá trong cơ chế thị trờng.
Tổ chức và quản lý hoạt động văn hoá nh một hệ thống sản xuất.
Hoạt động văn hoá trong cơ chế thị trờng.
Quản lý hoạt động văn hoá trong cơ chế thị trờng.
Xã hội hoá văn hoá ở nớc ta hiện nay.
Xã hội hoá văn hoá.
Đờng lối chính sách của Đảng và Nhà nớc về xã hội hoá văn hoá.
Thực trạng quản lý hoạt động văn hoá trong xu thế xã hội hoá ở tỉnh Bắc Kạn
Diện mạo đời sống kinh tế văn hoá xã hội tỉnh Bắc Kạn.
Đặc điểm về tự nhiên.
Kinh tế xã hội tỉnh Bắc Kạn.
Đời sống văn hoá xã hội ở tỉnh Bắc Kạn.
Thực trạng quản lý hoạt động văn hoá trong xu thế xã hội hoá ở tỉnh Bắc Kạn.
Thực trạng quản lý nhà nớc về hoạt động văn hoá thông tin.
Thực trạng quản lý hoạt động văn hoá thông tin.
Thực trạng quản lý hoạt động dịch vụ văn hoá trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.
Nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động văn hoá trong xu thế xã hội hoá
Chính sách và pháp luật về quản lý hoạt động văn hoá thông tin.
Nâng cao hiệu quả quản lý hoạt đông văn hoá trong xu thế xã hội hoá ở tỉnh Bắc Kạn hiện nay
Quản lý hoạt động văn hoá trong xu thế xã hội hoá.
Tổ chức hoạt động văn hoá trong xu thế xã hội hoá.
Trang1
555912171722
2525253336
444451555757
5962
66667781
TàI liệu tham khảo 83
Lời mở đầu:
Trang 21 Đặt vấn đề:
Xã hội hoá nói chung, xã hội hoá các hoạt động văn hoá nói riêng là một chủ
tr-ơng lớn của đảng và Nhà nớc ta nhằm động viên sức ngời, sức của, của các tầng lớpnhân dân, huy động mọi tiềm năng, trí tuệ và vật chất của toàn xã hội tham gia vàohoạt động văn hoá nhằm làm cho các hoạt động văn hoá là họat động của toàn dân,toàn dân có quyền tham gia sáng tạo, cung cấp, phổ biến và tạo ra nhiều sản phẩm, tácphẩm, công trình văn hoá có chất lợng, phong phú và đa dạng, dân tộc và hiện đại,không ngừng nâng cao mức hởng thụ văn hoá của nhân dân Với quan điểm chỉ đạo và
định hớng của Đảng là ”Nhà n ớc tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý văn hoá, đẩy mạnh hoàn thiện cơ chế chính sách, tăng nguồn lực đầu t, đồng thời đổi mới mục tiêu, phơng thức và nguồn vốn đầu t Tập chung nguồn lực đầu t cho các mục tiêu u tiên, chơng trình quốc gia về phát triển văn hoá, hỗ trợ đầu t cho các vùng miền núi, biên giới hải
đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có nhiều khó khăn; chuyển đổi toàn bộ các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành văn hoá sang cơ chế cung ứng dịch
vụ công ích có đầy đủ quyền tự chủ về tổ chức, quản lý và hạch toán đầy đủ chi phí, cân đối thu chi, thực hiện đúng mục tiêu, nhiệm vụ, thờng xuyên nâng cao hiệu quả, chất lợng dịch vụ, sản phẩm đảm bảo quyền lợi và cơ hội sáng tạo bình đẳng của ngời hởng thụ”.
Đây là chủ trơng đúng đắn của Đảng trong việc triển khai thực hiện xã hội hoáhoạt động văn hoá trong cả nớc Trớc xu thế toàn cầu hoá, giao lu văn hoá mở rộngcùng với sự tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học công nghệ trên thế giới, sự hỗtrợ của công nghệ thông tin viễn thông những thành tựu về văn hoá nghệ thuật của thếgiới đã nhanh chóng đến với nhân dân ta Đó là thời cơ thuận lợi để văn hoá Việt namphát triển và tiếp thu các tinh hoa của thế giới, sáng tạo và vun đắp nên những giá trịmới; song cũng nhiều nguy cơ khó lờng, trớc những âm mu diễn biến hoà bình của cácthế lực thù địch, đòi hỏi chúng ta phải thận trọng xem xét, nghiên cứu và xác định từngbớc đi thích hợp để đáp ứng xu thế của thời đại Xã hội hoá các hoạt động văn hoácũng là hoạt động mới mẻ, đã có bớc tiến mới với triển vọng mới, nhng cũng có nhiềukhó khăn phức tạp đan xen giữa “ xã hội hoá” và “thơng mại hoá” cùng với sự tác
động của cơ chế thị trờng đã ảnh hởng không nhỏ tới t tởng, hành vi của các chủ thểtham gia vào hoạt động xã hội hoá.Trớc hết là đáng lo ngại về tính tự phát trong việc
quay lại cái cũ, nhân danh ‘’ trở về nguồn”” và cả tính tự phát trong việc đón nhận
cái mới xen lẫn trong những phong tục lành mạnh, đã khôi phục không ít nhng tậptục xấu nh: Bói toán, dồng bóng, rợu chè, mê tín, lễ lạt, cờ bạc …cả ở nông thôn vàthành thị Trong khi đó, sự du nhập ồ ạt những băng hình, tranh ảnh,đĩa hát nớc ngoài,không đợc kiểm soát đến nơi đến chốn, đã đầu độc đáng ngại đến nhận thức và thẩm
Trang 3mỹ trong thế hệ trẻ, bắt đầu gây ra những diễn biến xấu về lối sống Bị mê hoặc về sắcthái thời thợng của văn hoá nớc ngoài, nhiều chơng trình điện ảnh, sân khấu, âm nhạc,sách báo… rơi vào con đờng câu khách chạy theo thị hiếu rẻ tiền, lai căng, hoặc có khi
bị tê liệt không tìm thấy phơng hớng đến với công chúng Nhiều lĩnh vực nghệ thuật bịtiếp tục chao đảo, cha tìm đợc hớng đi tích cực
Trớc thực trạng trên, vấn đề đặt ra cho chúng ta là: Làm sao vừa mở rộng xã hội
hoá lại vừa nâng cao đợc chất lợng nghệ thuật, đồng thời tăng cờng hiệu quả công tác quản lý nhà nớc nhằm tạo ra đợc một môi trờng văn hoá phong phú, lành mạnh, văn
minh, đầy tính nhân văn Trớc yêu cầu của quá trình hội nhập và những đòi hỏi ngàycàng đa dạng phong phú các loại hình hoạt động xã hội hoá văn hoá cần chúng ta -những nhà quản lý quan tâm nghiên cứu và làm thế nào để tạo điều kiện mở rộng xãhội hoá các hoạt động văn hoá mà vẫn đảm bảo định hớng
Trong cơ chế thị trờng, rõ ràng cần phải thay đổi các cách thức quản lý để tác
động thúc đẩy các hoạt động văn hoá nhạy cảm hơn, năng động hơn theo kịp nhu cầuxã hội Bản thân là cán bộ quản lý của nghành văn hoá thể thao và du lịch tỉnh BắcKạn với suy nghĩ và mong muốn đợc đóng góp một số ý kiến của mình vào công tác
quản lý văn hoá trong xu thế xã hội hoá ở địa phơng, nên tôi chọn đề tài: ””Quản lý văn hoá trong xu thế xã hội hoá trên địa bàn tỉnh bắc kạn hiện nay””để làm khoá
luận tốt nghiệp
2 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:
Đề tài đề cập và nghiên cứu đến công tác quản lý các hoạt động văn hoá trong xuthế xã hội hoá văn hoá trên phạm vi toàn tỉnh Bắc Kạn
3 Phơng pháp nghiên cứu:
- Dựa trên nền tảng triết học duy vật biện chứng và các quan điểm của Đảng vàNhà nớc về việc phát triển văn hoá trong giai đoạn hiện nay căn cứ vào cơ sở lý luậnkhoa học của chuyên ngành và liên ngành kết hợp các phơng pháp:
- Khảo cứu quan sát thực địa và phỏng vấn thăm dò
- Su tầm tổng hợp phân tích t liệu và tổng kết đúc rút kinh nghiệm
- Dựa trên lập trờng của chủ nghĩa duy vật biện chứng để nhìn nhận vấn đề
Trang 4góp phần cho công tác quản lý văn hoá trong xu thế xã hội hoá ở địa phơng có hiệuquả hơn, mong muốn đợc các thầy cô giáo bổ xung,chỉnh sửa, đề tài này nếu đợc côngnhận là chính xác và khoa học cũng sẽ là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm
đến công tác quản lý văn hoá.trong xu thế xã hội hoá hện nay
5 Bố cục của đề tài:
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận,đề tài đợc kết cấu 3 chơng
cơ chế thị trờng 1.1 Tổ chức và quản lý hoạt động văn hoá trong cơ chế thị trờng
1.1.1 Tổ chức và quản lý hoạt động văn hoá nh một hệ thống sản xuất:
Điểm xuất phát để nhìn nhận hoạt động văn hoá nh một hệ thống tổ chức sản xuất
là t tởng của học thuyết Mác- xít về sản xuất vật chất là hai hình thái cơ bản của hoạt
động ngời Trong “Hệ t tởng Đức” Mác và Ăng ghen viết về hai phơng diện hoạt động.
Sự chế tác thiên nhiên bởi con ngời và chế tác con ngời bởi con ngời Trong tập bốn bộ
T Bản Mác nói đến hai trờng hợp sản xuất phi vật chất và nhiều lần ông trở lại t tởngnày Chẳng hạn Mác viết “Trong nền sản xuất phi vật chất, ngay cả nếu chỉ đ ợc tiến
+ Những hàng hoá tồn tại tách biệt khỏi ngời sản xuất, do đó có thể trong khoảngcách giữa sản xuất và tiêu dùng trở thành hàng hoá
+ Những sản phẩm gắn liền với hành động của ngời sản xuất (Mác K Ăng ghen.
Ph Tuyển tập, trang 49, Trang 103 Lý thuyết giá trị thặng d Bản tiếng Nga Gạch dới dạng ý nhấn mạnh là của chúng tôi).
Trang 5Sản xuất tinh thần không những tạo ra các giá trị tinh thần đợc khách quan hoá
mà còn bao hàm cả việc hình thành văn hoá cá nhân, văn hoá cộng đồng và sự giaotiếp văn hoá Sản xuất cũng có thể phân ra đối tợng lao động, quá trình lao động và kếtquả lao động Tuy nhiên ở đây đối tợng lao động có thể là những quan hệ xã hội vàquá trình t duy nhân loại còn sản phẩm nhân loại có thể tồn tại không tách khỏi hành
động sáng tạo của con ngời sản xuất trực tiếp
Sự phát triển sản xuất tinh thần nh một ngành tơng đối độc lập trong hoạt động xãhội đã tạo ra đội ngũ đặc biệt những ngời làm việc chuyên môn hoá Tuy nhiên, sứcphát triển mạnh mẽ đời sống tinh thần còn phụ thuộc vào sự tham gia vào lĩnh vực nàycủa đông đảo nhân dân lao động ở đây, có ý nghĩa quan trọng là t tởng Mác về mốiquan hệ giũa sự phát triển lực lợng sản xuất và thời gian tự do, sự phát triển tính cáchcon ngời thông qua sử dụng thời gian tự do có văn hoá và tác dụng của nó đối với sựphát triển lực lợng sản xuất
Với tuyệt đại đa số nhân dân lao động, thời gian tự do rất cần thiết để phát triển tự
do, để sản xuất các giá trị tinh thần và trớc hết là sản xuất ra bản thân ngời lao độngvới những thuộc tính văn hoá phong phú
Tổ chức và quản lý hoạt động sản xuất tinh thần của nhân dân trong thời gian tự
do là nội dung chủ yếu và thực chất đối tợng nghiên cứu của chúng tôi
Nhìn nhận hoạt động văn hoá nh một hệ thống sản xuất có nghĩa bộ máy quản lýhành chính không là tất cả, cũng không là chủ yếu, phát triển sự nghiệp này trớc hếtphải gắn liền với việc mở rộng mạng lới thiết chế sự nghiệp nh những đơn vị sản xuấttrực tiếp tạo ra sản phẩm Sự phong phú số lợng và chất lợng, sự phân bổ đều khắpmạng lới ấy và một tầng lớp nhân sự chuyên môn gắn liền với chúng, hình thànhnhững trung tâm văn hoá tiêu biểu cho diện mạo đời sống tinh thần của nhân dân và làdấu hiệu xã hội văn hoá cao
Xuất phát từ yêu cầu quản lý một bộ phận nhất định những hoạt động ngời, có thểxem văn hoá nh quá trình sản xuất tinh thần và khách thể hoá chúng nh những giá trịtinh thần và giá trị vật chất, những thuộc tính của bản thân con ngời với t cách chủ thểcủa quá trình hoạt động
Bất kỳ văn hoá của cộng đồng xã hội có giai cấp nào cũng cấu thành bởi hai dòngvăn hoá: Văn hoá chính thống của giai cấp đại diện cho phơng thức sản xuất hiện hành
và văn hoá dân gian của các giai cấp thực hành phơng thức sản xuất ấy
Về mặt xã hội học lao động, ngời ta gọi văn hoá dân gian là văn hoá nghiệp d vàmặt xã hội học thời gian là “hoạt động rỗi” bởi phần lớn những hoạt động này chủ yếudiễn ra trong thời gian rỗi (thời gian tự do ).
Xã hội có giai cấp đối kháng, giai cấp thống trị về kinh tế đồng thời thống trị vềtinh thần Tầng lớp đặc biệt, tầng lớp “ Hệ t tởng của xã hội đã hình thành để thực
Trang 6hiện nhiệm vụ đó” (Mác.K sách đã dẫn trang 109) Chính tầng lớp này đóng vai trò
quyết định trong sản xuất các giá trị tinh thần Hoạt động văn hoá của họ là chuyênnghiệp, hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ này, diễn ra nh quá trình lao động xã hội Tráilại, với đại bộ phận nhân dân, thời gian lao động xã hội trực tiếp sản xuất ra của cải vậtchất Nhân dân tham gia sản xuất tinh thần chủ yếu dới hình thái hoạt động rỗi, nghĩa
là tự biểu hiện trong nghỉ ngơi, giải trí Vì vậy có thể gọi quá trình thực hiện bản chấtngời ấy là giải trí- sáng tạo văn hoá
Trớc chủ nghĩa xã hội, văn hoá dân gian là hiện tợng tự phát của nhân dân lao
động.và là hoạt động tinh thần của ngời lao động Một sự thật phổ biến nh không khí,lâu dài nh lịch sử loài ngòi là: Sáng tạo văn hoá là quyền năng của mỗi cá nhân với tcách con ngời xã hội - đơn vị cấu thành xã hội Giải phóng quyền năng sáng tạo ấy và
sự nở rộ các hoạt động ngời chỉ có dới chủ nghĩa xã hội, trớc hết và cơ bản là mở rộng
số lợng và tăng chất lợng thời gian rỗi
Hoạt động là một phơng thức tri thức của cá nhân, là điều kiện thiết yếu tiến hànhsản xuất tinh thần cho sự phát triển toàn diện cá nhân Văn hoá quần chúng ngày nay
là cái tơng ứng với văn hoá dân gian trớc đây
Tuy nhiên có những khác biệt:
Nếu văn hoá dân gian là hiện tợng tự phát dới các chế độ chính trị khác, thì dớichế độ xã hội chủ nghĩa, văn hoá quần chúng là đồi sống tinh thần của nhân dân đợcNhà Nớc tổ chức quản lý, đợc Đảng lãnh đạo và hệ thống các cơ quan chuyên môn tổchức chỉ đạo ở đây có hai mặt gắn bó chặt chẽ và quy định lẫn nhau: Một mặt là hoạt
động tự thoả mãn nhu cầu cơ bản của quần chúng lao động Mặt khác là trách nhiệm
tổ chức quản lý của Nhà Nớc Chủ nghĩa xã hội tạo cơ sở khách quan cho sự thốngnhất hai mặt này Đây là bản chất văn hoá quần chúng, sản phẩm của sự thống nhấtquyền lợi chính trị - kinh tế giữa Nhà Nớc và nhân dân
Khi so sánh lịch đại sự khác nhau giũa văn hoá dân gian và văn hoá quần chúng làkhác nhau giũa hai kiểu sản xuất tinh thẩn trên cơ sở hai kiểu sản xuất khác nhau, làtính liên tục của lịch sử đợc thực hiện bởi sự gián đoạn lịch sử gữa hai loại hình vănhoá trên cơ sở hai hình thái kinh tế xã hội Khi so sánh đồng loại giữa văn hoá và vănhoá quần chúng thì văn hoá là tổng thể và văn hoá quần chúng là bộ phận Tơng ứngvới điều ấy, công tác văn hoá là hoạt động Nhà nớc tổ chức quá trình sản xuất tinhthần, trên cơ sở phù hợp với phơng thức sản xuất mà nó đại diện và phổ cập các giá trịvăn hoá bằng những phơng tiện mà nó sở đắc trong thời đại
Nhng do bản chất chính trị của mình, nhà nớc xã hội chủ nghĩa có thể tiến hànhcả hai phần việc để xây dựng nền văn hoá : Tổ chức quản lý văn hoá chuyên nghiệp và
tổ chức quản lý văn hoá quần chúng Công tác văn hoá có thể phân ra làm hai mảng:
Trang 7+ Tổ chức quản lý văn hoá chuyên nghiệp gồm cả sản xuất và lu thông phân phối,
đem văn hoá đến quần chúng
+ Tổ chức quản lý văn hoá quần chúng bao gồm cả hoạt động sản xuất, trao đổi
và tiêu dùng các giá trị tinh thần, đem quần chúng đến văn hoá
ở hệ thống thứ hai nhân dân trực tiếp tham gia quá trình sản xuất sản phẩm vănhoá Đây là hệ thống thiết chế sự nghiệp công tác văn hoá quần chúng, đối tợng xemxét của chúng tôi trong tiểu luận này
Quá trình xã hội hoá và phát triển cá nhân, sự hình thành nhân cách văn hoá baogiờ cũng diễn ra bởi hai chiều tác động liên tục đan xen lẫn nhau, dệt thành nhữngnhân cách cụ thể Chiều dọc là sự tác động của văn hoá xã hội đến toàn bộ đến cánhân, và chiều ngang sự vận động văn hoá của các nhân ấy, tức các nhân tự xác địnhmình trong môi trờng văn hoá Sự vận động này thống nhất hai mặt giáo dục văn hoá
và thoả mãn nhu cầu văn hoá toàn diện của con ngời Tính chất phong phú thực sự vềtinh thần của cá nhân hoàn toàn tuỳ thuộc vào tính chất phong phú các mối quan hệthực sự của chính các nhân ấy ở đây con ngời thể hiện trong sự vận động văn hoá trên
ba mối quan hệ chủ yếu:
1 Cá nhân chiếm lĩnh giá trị văn hoá
Sản xuất tinh thần cũng đợc tổ chức thành hoạt động cụ thể do các thiết chế sựnghiệp nh những đơn vị cơ sở tiến hành Hoạt động văn hoá nh một quá trình sảnxuất Chức năng quản lý chỉ xuất hiện từ yêu cầu tổ chức và điều hành sản xuất Cáccơ quan quản lý văn hoá chỉ phát huy tác dụng của mình thông qua những đơn vị sảnxuất nhằm tăng cờng hiệu quả kinh tế văn hoá của chúng Chỉ có bộ máy quản lý hànhchính pháp chế gồm những bộ, sở, ban, phòng… tức là cha có đơn vị sản xuất trựctiếp , tạo ra sản phẩm Vì vậy, nếu giáo dục phải có trờng học, y tế phải có bệnh viện …thì văn hoá quần chúng phải có thiết chế sự nghiệp nh cung văn hoá, nhà văn hoá, thviện, bảo tàng… với t cách là đơn vị sản xuất, chủ thể trực tiếp của công tác văn hoáquần chúng
Có thể phác thảo lợc đồ hệ thống tổ chức sản xuất văn hoá nh sau:
Trang 8Cấp quản lý Bộ máy quản lý Cơ sở sản xuất
Trung ơng Bộ văn hoá(cục-vụ-viện) Cung văn hoá.Trung tâm PPNVHCLB,
bảo tàng, th viện TWTỉnh, thành Sở văn hoá(Phòng, ban) Nhà văn hoá, TTVH, triển lãm, th viện
Bảo tàng tỉnhQuận, Huyện Phòng văn hoá thể thao Nhà văn hoá, TTVHTT,Th viện HuyệnXã, Phờng Ban văn hoá thể thao Nhà văn hoá,TTVHTT xã
1.1.2 Hoạt động văn hoá trong cơ chế thị trờng:
Đây là một vấn đề thời sự cấp bách đang đặt ra cho ngành văn hoá Nếu nh mấynăm gần đây, cơ chế thị trờng tác động mạnh và có hiệu quả trên lĩnh vực kinh tế thìtrên lĩnh vực văn hoá diễn ra khá phức tạp Từ khi xoá bỏ cơ chế bao cấp, các hoạt
động văn hoá lâm vào tình cảnh hết sức khó khăn Nhiều đoàn nghệ thuật không thể tựtrang trải lấy thu bù chi; nhiều nhà văn hoá phải đóng cửa hoặc biến hành rạp hát, rạpchiếu phim, hầu hết các đội văn nghệ quần chúng, thông tin lu động ở cơ sở không cònhoạt động Việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở chững lại, có nguy cơ khó tồn tại
Từ thực trạng đó, nảy sinh những hớng suy nghĩ và hành động khác nhau Một hớngcho rằng nói tới thị trờng là nói tới hàng hoá; văn hoá cũng nh mọi thứ hàng hoá khác,
mà không thấy sản phẩm văn hoá có những nét riêng, dẫn đến tình trạng thơng mạihoá các hoạt động văn hoá, chỉ chạy theo doanh thu, không quan tâm tới hiệu quả xãhội Chính vì vậy, trên thị trờng văn hoá đã xuất hiện nhiều loại sản phẩm độc hại ảnhhởng xấu tới t tởng, tình cảm ngời đọc, ngời xem Hớng khác cho rằng hoạt động vănhoá đã phục vụ chính trị, xây dựng con ngời mới thì ắt Nhà nớc phải bao cấp, phải lo
đảm bảo mọi điều kiện hoạt động Từ đó dẫn đến thái độ trông chờ, ỷ lại khiến chohoạt động văn hoá bị ngng trệ
Phải nói rằng cơ chế thị trờng có những tác động tích cực tới hoạt động văn hoálàm cho năng động, tuân thủ quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá, đáp ứng kịp thờinhanh nhạy nhu cầu của ngời tiêu dùng sản phẩm văn hoá Nếu nh trớc kia có nhữnghình thức hoạt động mòn cũ hàng chục năm không thay đổi, thì nay không thể tồn tạitrong cơ chế thị trờng Cơ chế thị trờng là cơ chế điều tiết khách quan theo quy luật giátrị và quy luật cung cầu Trong cơ chế bao cấp, các hoạt động văn hoá thờng xem nhẹnhững quy luật này Dựng một vở kịch, một bộ phim, ngời ta ít quan tâm đến yếu tốngời xem vì số ngời xem đông hay vắng không ảnh hởng tới ngời làm ra sản phẩm,kinh phí đã có Nhà Nớc lo rồi ! Nhng trong cơ chế thị trờng, khách đông hay vắng, ảnhhởng trực tiếp tới túi tiền ngời làm và số phận cơ sở làm ra sản phẩm Cho nên mọihoạt động văn hoá trong cơ chế thị trờng đều phải xuất phải từ nhu cầu tiêu dùng vănhoá của nhân dân Sản phẩm văn hoá phải đánh trúng sự mong mỏi và thị hiếu lành
Trang 9mạnh của mọi ngời Đã đến lúc ngành văn hoá cần rà soát lại các hình thức hoạt động
ở mỗi lĩnh vực, tìm ra u điểm, nhợc điểm để sáng tạo ra những hình thực hoạt độngthích hợp trong thời kỳ mới, có khả năng thu hút đông ngời tham gia Các hình thứchoạt động văn hoá chỉ có thể tồn tại trên cơ sở chất lợng cao và đáp ứng đúng nhu cầuvăn hoá của nhân dân Từ đó văn hoá vẫn có khả năng làm kinh tế Thực tế đã diễn ratrong lúc nhiều nhà văn hoá đình đốn, thì có một số nhà văn hoá lại hoạt động sầm uất
đông vui hơn trớc; trong lúc nhiều đoàn nghệ thuật sống dở, thì một số đoàn lại làm ănkhấm khá, đi lên Tất cả đều do các cơ sở có chịu năng động đổi mới hình thức hoạt
động, áp dụng tốt ma - két - tinh trong văn hoá hay không Thực tế cho thấy những nhàhát,rạp chiếu phim ở một số nơi lúc nào cũng đông khách là vì họ luôn đổi mới chơngtrình, hoạt động đa dạng và phong phú từ đó có đủ nguồn thu để tồn tại và phát triển
Để thực hiện quy luật cung cầu của cơ chế thị trờng, tổ chức các hoạt động văn hoácũng thay đổi Mỗi hình thức hoạt động văn hoá không phải cứ tồn tại bất di bất dịchmãi mãi mà luôn thay đổi, phát triển thêm theo nhu cầu Nhng hoạt động văn hoátrong cơ chế thị trờng phải đặt trong sự quản lý chặt chẽ của Nhà nớc Nh đã nói, vănhoá không giống nh các loại hàng hoá vật chất khác, ngoài việc thoả mãn nhu cầu còn
có trách nhiệm hớng dẫn và điều chỉnh nhu cầu để xây dựng con ngời mới Cho nênkhông phải bất kì hoạt động văn hoá nào cũng có thể kinh doanh đợc Hiệu quả củasản phẩm văn hoá nhiều khi không thể tính bằng tiền mà ẩn tàng trong những giá trịtinh thần đã bồi bổ cho việc xây dựng con ngời mới.ở những lĩnh vực này, đòi hỏi Nhànớc có những hỗ trợ nhất định Không thể bắt buộc các đoàn nghệ thuật truyền thốngdân tộc nh chèo, tuồng, dân ca, múa rối nớc, hoặc các đoàn nghệ thuật cổ điển nh âmnhạc thính phòng, nhạc vũ kịch, ba lê cũng lấy thu bù chi nh các đoàn nghệ thuật hiện
đại thời thợng nào khác Không thể không trợ cấp cho những vở kịch, bộ phim nói vềtruyền thống nhằm giáo dục phẩm chất con ngời mới hoặc những tiết mục nghệ thuậtdành cho thiếu nhi
Sẽ là chung chung nếu chúng ta chỉ dừng lại ở những quan niệm tởng nh là mâuthuẫn, rằng văn hoá cần trợ cấp và bao cấp, rằng văn hoá cũng có khả năng làm
kinh tế Trong văn hoá có biết bao nhiêu lĩnh vực Cần thiết phải chia các lĩnh vực đótheo nhóm: Nhóm hoàn toàn không doanh thu cần bao cấp, nhóm có nhu cầu trợ cấp
và tự cấp bao nhiêu phần trăm, nhóm có thể trang trải Tất nhiên, sự phân chia nàykhông thể máy móc tế nhị và phức tạp Dù sao vẫn cần một sự hoạch định đó để cóchính sách đầu t kinh phí hợp lý nhằm phát triển nền văn hoá mới dân tộc, hiện đại Rõràng hoạt động văn hoá trong cơ chế thị trờng cần đợc kế hoạch hoá Kế hoạch là công
cụ của quản lý Song trong tình hình mới, kế hoạch này không phải “Dộ i” từ trên
xuống mà đợc hình thành từ các cơ sở xuất phát từ nhu cầu văn hoá của nhân dân Cómột điều mà các nhà lập kế hoạch nên quan tâm tới, đó là tiềm năng văn hoá trong
Trang 10nhân dân Trớc đây, chúng ta đã đề ra phơng châm “Nhà n ớc và nhân dân cùng làm”,
thiết nghĩ trong cơ chế thị trờng phơng châm này càng phải đợc thực hiện triệt để Cónhiều lĩnh vực văn hoá có thể giao cho nhân dân, kể cả t nhân nuôi dỡng Nhà nớc chỉquản lí nội dung và chất lợng Nguồn kinh phí ít ỏi của Nhà nớc không nên đầu t trànlan mà tập chung vào những vấn đề cốt lõi, ra tấm ra miếng
Hoạt động văn hoá trong cơ chế thị trờng đang gặp rất nhiều khó khăn, đòi hỏi tấtcả các cơ sở văn hoá năng động, sáng tạo tìm lối ra để tồn tại và phát triển
1.1.3 Quản lý hoạt động văn hoá tromg cơ chế thị trờng:
* Quản lý nhà nớc về văn hoá:
Quản lý nhà nớc về văn hoá là hoạt động của bộ máy nhà nớc trong lĩnh vực hànhpháp nhằm giữ gìn, xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam Với vai trò là thiếtchế trung tâm trong hệ thống chính trị, Nhà nớc đại diện cho nhân dân, đảm bảo chomổi công dân đều đựơc thực hiện các quyền cơ bản của mình, trong đó có các quyền
về văn hoá nh quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, quyền học tập, sáng tác,phê bình văn học nghệ thuật…Nhà nớc có trách nhiệm điều tiết để đảm bảo sự hài hoàgiữa các thành tố văn hoá, điều tiết lợi ích văn hoá của các giai tầng, các yêu cầu pháttriển và thoả mãn nhu cầu văn hoá của toàn xã hội Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay,Nhà nớc đóng vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết các mâu thuẫn giữa pháttriển kinh tế và văn hoá
Xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là sự nghiệpcủa toàn xã hội Nhà nớc thực hiện hoạt động quản lý đối với văn hoá điều đó không
có nghĩa Nhà nớc là ngời sáng tạo ra nền văn hoá mà Nhà nớc có vai trò định hớng cho
sự phát triển của nền văn hoá theo hớng đã đợc xác định là nền văn hoá tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc Nhà nớc thực hiện những hoạt động nhằm hớng vào sự thống nhất
t tởng, tuyên truyền các chủ trơng chính sách của Đảng và Nhà nớc, tăng cờng hoạt
động giáo dục xây dựng lối sống đạo đức lành mạnh
Quản lý Nhà nớc về văn hoá đòi hỏi phải tiến hành những hoạt động cụ thể, do đócần giới hạn phạm vi khái niệm văn hoá để có thể xác định đợc những mảng hoạt độngquản lý nhà nớc đối với văn hoá Có thể chia hoạt động quản lý Nhà nớc về văn hoáthành các mảng cơ bản sau:
- Quản lý nhà nớc về Văn hoá nghệ thuât
- Quản lý nhá nớc về Văn hoá - Thông tin
- Quản lý nhà nớc về Văn hoá xã hội
- Quản lý di sản văn hoá
Việc phân chia hoạt động quản lý nhà nớc về văn hoá thành các mảng hoạt động
nh trên chỉ mang tính tơng đối bởi bản thân kháI niệm văn hoá là khái niệm đa nghĩa,bao trùm lên mọi hoạt động của con ngời
Trang 11Trong quản lý văn hoá, Nhà nớc không nên xác lập một khuôn mẫu định sẵn chonền văn hoá vì nh vậy sẽ tạo ra sự áp đặt từ trên xuống, không phát huy đợc tính sángtạo, tính phong phú vốn có của văn hoá dân tộc Trong công cuộc đổi mới hiện nay, vaitrò của Nhà nớc đối với văn hoá là tạo dựng khung cảnh van hoá - xã hội thuận lợi cho
sự phát triển, làm cho văn hoá thực sự trở thành động lực và mục tiêu của phát triểnkinh tế - xã hội Để đạt đợc điều đó, Nhà nớc cần tạo điều kiện về cơ sở vật chất chophát triẻn văn hoá, thiết lập một cơ chế quản lý văn hoá hợp lí đảm bảo đợc các quyền
tự do dân chủ của công dân, xá định rõ thẩm quyền và nâng cao chất lợng hoạt độngcủa các cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng quản lý văn hoá Đặc biệt cần phân biệt
rõ chức năng, thẩm quyền của cơ quan quản lý văn hoá với các cơ quan, tổ chức trựctiếp thực hiện các hoạt động văn hoá
ở trung ơng, cơ quan có chức năng quản lý nhà nớc về văn hoá là Chính phủ và
Bộ văn hoá - thông tin Chính phủ thống nhất quản lý và phát triển sự nghiệp văn hoátrên phạm vi cả nớc, thi hành các biện pháp để bảo tồn , phát triển nền văn hoá dân tộcViệt Nam, bảo trợ để phát triển các tài năng sáng tạo văn hoá, nghệ thuật, chống việctruyền bá t tởng phản động, đồi truỵ, bài trừ mê tín, hủ tục Trong quản lý văn hoá,Chính phủ có một số quyền hạn cụ thể nh: Trình dự án luật, pháp lệnh về hoạt độngvăn hoá, quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển sự nghiệp văn hoá, quyết địnhchính sách đầu t, tài trợ, hợp tác với nớc ngoài, ban hành quyết định quản lý nhà nớc
và các chế độ chính sách khác về văn hoá Với cơng vị là ngời đứng đầu Chính phủ,Thủ tớng Chính phủ ký các quyết định, nghị định của Chính phủ, ra quyết định, chỉ thị
về quản lý văn hoá và hớng dẫn, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó đối với tất cả cácngành, địa phơng và cơ sở; thủ tớng Chính phủ có quyền đình chỉ việc thi hành hoặc bãi
bỏ những quyết định về quản lý văn hoá của Bộ trởng Bộ văn hoá - thông tin và uỷ bannhân dân, chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng trái với Hiếnpháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nớc cấp trên
Các văn bản pháp luật tạo ra một hành lang pháp lý cho hoạt động văn hoá khithực hiện xã hội hoá hoạt động văn hoá trong nền kinh tế thị trờng, Đồng thời phápluật cũng quy điịnh những vùng cấm trong hoạt động văn hoá đợc quy định rõ để địnhhớng văn hoá, khái quat ở 5 điểm sau:
- Nghiêm cấm hoạt động phản động về chính trị ;
- Nghiêm cấm hoạt động làm băng hoại về đạo đức, phá hoại nhân phẩm;
- Nghiêm cấm hoạt đông xâm phạm quyền tác giả;
Quản lý hoạt động văn hoá theo pháp luật sẽ góp phần tích cực vào việc lập lạitrật tự kỷ cơng trong tình hình văn hoá xã hội hiện đang có nhiều lộn xộn; gữi gìn bảnsắc văn hoá dân tộc trong điều kiện toàn cầu hoá và mở rộng quan hệ quốc tế, đảmbảo quyền lợi và trách nhiệm của các văn nghệ sĩ và nghệ nhân; tăng cờng hợp tác
Trang 12giữa các cơ quan công quyền, các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội …và toàn dântham gia vào các hoạt động và phát triển văn hoá
* Quản lý hoạt động văn hoá:
Xã hội hoá quản lý văn hoá là xu thế tự nhiên của bất kỳ xã hội nào Ngoài hìnhthức Nhà nớc trong việc quản lý văn hoá cần thực hiện các hình thức tự quản của nhândân trong việc bảo vệ và phát triển văn hoá, đảm bảo đợc tính đa dạng của văn hoá và
đáp ứng đợc nhu cầu văn hoá của toàn dân
Thế giới đã quá quen thuộc với khái niệm thị trờng chỉ thuộc kinh tế Và trên lĩnhvực kinh tế, thị trờng và hàng hoá là hai khái niệm đi đôi với nhau, có cái này mới cócái kia
Thị trờng và hàng hoá đợc phát triển dới chế độ T bản chủ nghĩa, đợc coi là thuộctính của Chủ nghĩa t bản Mời năm trở lại đây, ở một số nớc xã hội chủ nghĩa, thị trờng
và hàng hoá đợc coi là sự phát triển tất yếu của nhân loại Trung Quốc lại có quan
điểm “Thị tr ờng xã hội chủ nghĩa ” Cho đến nay trong sách báo, thị trờng là sự pháttriển phạm trù chỉ có trong kinh tế chính trị
Trên thực tế, dù kinh tế là yếu tố quyết định, thì một xã hội phát triển không thểchỉ có kinh tế Kinh tế và văn hoá là những nền tảng của xã hội văn minh: Nền tảng vậtchất và nền tảng tinh thần Quan điểm đó phù hợp với định hớng chung của Đảng vàNhà nớc ta trong quản lý văn hoá trong cơ chế trị trờng hiện nay
1 Quan hệ biện chứng giữa chấn hng, bảo tồn, phát triển văn hoá dân tộc với việctiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới
2 Quan hệ biện chứng giữa mở cửa, giao lu và sự hứng chịu trong quá trình đó (sự sùng ngoại và bài ngoại) Mở cửa là điều kiện của giao lu; giao lu là phải có cái hơn và
cái thiệt, cái thiệt, cái mất, nhng nhất thiết phải có định hớng xã hội chủ nghĩa
3 Quan hệ giữa văn hoá chuyên nghiệp và việc xã hội hoã nghệ thuật do cácthành phần kinh tế khác chi phối
ở đây phơng pháp, phơng thức, hình thái hoạt động là đa dạng, đa sắc, nhng nộidung đề tài, chủ đề, t tởng là do Nhà nớc phải nắm và quản lý
4 Quan hệ giữa tính kế hoạch của nhà nớc và những mặt tích cực, tiêu cực củakinh tế thị trờng, của thị trờng văn hoá ở đây tính định hớng, tính điều tiết kế hoạchcủa các cơ quan quản lý là hết sức quan trọng, có tính chất quyết định
5 Mối liên hệ biện chứng giữa bản thân văn hoá và các hình thái ý thức xã hội khácnh: văn hoá và chính trị, văn hoá và kinh tế, văn hoá và đạo đức, văn hoá và tôn giáo….Khi Nhà nớc định ra chủ trơng, chính sách, nghị quyết về văn hoá, phải tính đếnmối quan hệ biện chứng giữa chúng; không tính đến mối quan hệ đó chính sách vănhoá trở thành một thực thể tĩnh, không đa lại kết quả, thậm chí sai lầm
Trang 136 Lãnh đạo, quản lý văn hoá trong phát triển, một mặt cần tránh đầu óc cục bộ
địa phơng, “khu vực hoá ,” làm ngành nào chỉ biết ngành đó, thiên vị ngành mình, địaphơng mình, không hay biết gì đến các ngành, lĩnh vực khác
7 Nâng cao dân trí và phát triển khoa học, công nghệlà những nhiệm vụ hàng đầutrong quản lý văn hoá
8 Trong quản lý văn hoá cần ngăn ngừa và khác phục sự lãnh đạo mệnh lệnh, độc
đoán, quan liêu, đồng thời đòi hỏi ngời lãnh đạo văn hoá có một nhãn quan mẫn cảm
và tầm nhìn rộng lớn trong thời đại hiện nay Trong tình hình hiện nay thì bảo thủ, trìtrệ, thiếu năng động cần tránh, nhng cấp tiến, nóng vội, phóng tay là cũng có tội
9 Quản lý văn hoá ở bất cứ quốc gia nào cũng phải tuân theo nguyên tắc (từ ờng quyền lực theo cách gọi của alvin Tohler nhà văn, nhà nghiên cứu ngời Mỹ) gồm 3
tr-thành tố cũng là 3 công cụ của hoạt động văn hoá
có đội ngũ đợc đào tạo chuyên sâu
- Đảm bảo cho Văn hoá Nhà nớc đóng vai trò chủ đạo và đồng thời mạnh dạn xã hội hoá các hoạt động văn hoá, vận dụng cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà
nớc, cơ chế nhiều thành phần và cơ chế mở trong hoạt động văn hoá, nhằm khai thácmọi nguồn lực bên trong và bên ngoài
- Những sản phẩm văn hoá là loại sản phẩm hàng hoá đặc biệt mà giá trị của
đờng sóng vô tuyến điện, chống sự xâm nhập “hữu hình” và “vô hình ”
- Gia tăng đầu t tài chính cho cuộc đấu tranh phòng, chống những âm mu diễnbiến hoà bình bằng văn hoá đang diễn ra quyết liệt hằng ngày, hàng giờ nhất là ở cácvùng hải đảo, sân bay, bến cảng Cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành văn hoá,nội vụ, hảI quan hàng không, biên phòng… và các cơ quan hữu quan khác
Trang 14- Công nghiệp hiện đại hoá ngành có thể u tiên một số lĩnh vực trớc.
+ Công nghiệp sản xuất nghe nhìn, điện ảnh, phát thanh truyền hình, nghệ thuậtsân khấu âm nhạc
+ Các thiết chế văn hoá nghệ thuật
1.2 Xã hội hoá văn hoá nớc ta hiện nay.
1.2.1.Xã hội hoá văn hoá:
Thuật ngữ xã hội hoá văn hoá theo cách hiểu thông thờng là biến các hoạt độngcác nhân, t nhân trở thành hoạt động xã hội, nghĩa là sẽ thể hiện mối quan hệ khăngkhít giữa vai trò các cá nhân đối với xã hội, các thành viên đối với cộng đồng Bởi cácthành viên, các cá nhân là những nhân tố cấu thành cộng đồng xã hội Vì vậy họ cónhững quyền lợi và nghĩa vụ nhất định, phải có ý thức và trách nhiệm đống góp xâydựng cộng đồng xã hội Xã hội hoá chính là đỉnh cao của Nhà nớc và nhân dân cùnglàm Xã hội hoá cũng là thành tố trong đặc trng của cơ chế thị trờng
Văn hoá là một hệ thống những giá trị và chuẩn mực xã hội Nhng “giá trị” khôngtồn tại lơ lửng, siêu hình Giá trị là nội dung, là bản chất của văn hoá bao giờ cũng đợckhách quan hoá, đối tợng hoá dới những dạng những hình thức (của nội dung), những
hiện tợng (của bản chất), những quan hệ và quá trình xã hội.
Lịch sử cho thấy, trong quy luật sinh tồn của nó, văn hoá là “giao l u”, là tiếp“
lực nào có thể bao cấp về văn hoá tinh thần nói chung, về văn hoá chính trị nói riêngbởi một lẽ hiển nhiên là nền tảng tinh thần của bất kỳ cộng đồng dân tộc nào cũng đợcsản sinh và xây dựng trong chính cuộc sống thờng nhật của mỗi ngời dân chứ khôngthể chỉ bằng món ăn ngoại nhập từ ngoài vào hay trên xuống Nền tảng tinh thần ấy làbản sắc dân tộc và diện mạo đích thực của họ ở mỗi chặng đờng thăng trầm của lịchsử
Trong công cuộc xây dựng một tổ quốc Việt Nam giàu mạnh, Đảng ta chủ trơnglãnh đạo toàn dân xây dựng một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dântộc Một trong những t tởng chỉ đạo của Đảng để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cao cả
đó là :
hoá văn nghệ của nhà nớc, tập thể và cá nhân theo đờng lối của Đảng và sự quản lý
hành Trung ơng Đảng cộng sản Việt Nam khoá VII, trang 55 )
Nếu trên lĩnh vực kinh tế, vai trò quản lý của nhà nớc là sự điều tiết theo định ớng xã hội chủ nghĩa thì trên lĩnh vực văn hoá có khác ở đây không có sự phân chia
Trang 15h-quyền lợi văn hoá giữa nhà nớc và công dân, không có đa dạng hoá hình thức sở hữucác giá trị văn hoá
Nhng việc sản xuất, bảo quản, lu thông và tiêu dùng các sản phảm văn hoá lạikhông nhất thiết và không thể bao cấp nhà nớc hoàn toàn Đảng ta chủ trơng phát triểncác hình thức hoạt động văn hoá , văn nghệ của nhà nớc , tập thể và cá nhân
Xã hội hoá hoạt động văn hoá ở nớc ta hiện nay là nhằm huy động tiềm năng,nguồn lực, mọi lực lợng, mọi thành phần kinh tế, xã hội cùng tham gia sáng tạo vàphát triển sự nghiệp văn hóa, là đa dạng hoá, dân chủ hoá nhng không thơng mại hoáhoạt động văn hoá Xã hội hoá hoạt động văn hoá là chuyển một phần công việc củaNhà nớc cho nhân dân, tổ chức tập thể, t nhân làm, nhng Nhà nớc không giảm nhẹtrách nhiệm Xã hội hoá hoạt động văn hoá đợc thực hiện theo phơng thức Nhà nớc vànhân dân cùng làm, các tổ chức, cá nhân, các thành phần kinh tế liên doanh liên kếtvới các đơn vị Nhà nớc hoặc tự bỏ vốn để sản xuất, kinh doanh làm dich vụ trong lĩnhvực văn hoá và thực hiện theo đúng pháp luật Đây là một chủ trơng đúng đắn của
Đảng, đợc Chính phủ cụ thể hoá bằng Nghị quyết 90/CP và Nghị định 73/CP
Thực hiện chủ trơng trên, Bộ Văn hoá Thông tin đã kịp thời chỉ đạo công táctuyên truyền rộng rãi trong quần chúng nhân dân về xã hội hoá hoạt động văn hoá
Đồng thời tổ chức cho toàn ngành học tập, quán triệt ý nghĩa, nội dung Nghị quyết90/CP và Nghị định 73/CP của Chính phủ nhận thức về xã hội hoá hoạt động văn hoá
đã đợc thể hiện nh sau:
- Mặt triển biến tích cực: Đến nay nhận thức chung cho rằng xã hội hoá hoạt
động văn hoá là hoạt động lớn của Đảng và Nhà nớc, là xu thế tất yếu của sự nghiệpvăn hoá thông tin Nhà nớc phải giữ vai trò chủ đạo, định hớng trong quá trình xã hộihoá, là lực lợng chủ chốt cung cấp các sản phẩm văn hoá nghệ thuật dân tộc chất lợngcao và đỉnh cao, đồng thời tạo cơ chế và hỗ trợ cho các thành phần kinh tế, cho mọingời dân tham gia hoạt động sáng tạo văn hoá nghệ thuật phục vụ xã hội Văn hoá đợcnhận thức lại là công việc của toàn xã hội là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, các
bộ, ban, ngành của trung ơng cũng nh cấp uỷ Đảng và chính quyền các cấp ở địa
ph-ơng có chuyển biến về nhận thức trong chỉ đạo đã quan tâm tới văn hoá nhiều
hơn Nhân dân ngày càng đợc nâng cao nhận thức về xã hội hoá, hiểu rõ việc Nhà nớc
và nhân dân cùng làm
- Tổ chức triển khai thực hiện:
Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 90/CP và Nghị định 73/CP Bộ vănhoá thông tin đã chỉ đạo từng đơn vị, cơ quan chức năng tiến hành nghiên cứu xâydựng đề án, cụ thể hoá từng lĩnh vực mình phụ trách để hớng dẫn địa phơng, cơ sởtriển khai kế hoạch xã hội hoá hoạt động văn hoá Các Sở VHTT đã phát huy vai tròtham mu, giúp UBND tỉnh, thành phố xây dựng các văn bản chỉ đạo, tổ chức thựuc
Trang 16hiện công tác xã hội hoá văn hoá Từ Bộ đến các địa phơng đều đã xây dựng xong đề
từng lĩnh vực Đề án đã đợc phổ biến và triển khai toàn ngành, hàng năm bộ đều đacông tác xã hội hoá hoạt động văn hóa vào một trong những nhiệm vụ trọng tâm
- Các hình thức xã hội hoá hoạt động văn hoá:
Qua quá trình thực hiện chủ trơng xã hội hoá hoạt động văn hoá, nhiều cơ sở, đơn
vị tham gia hoạt động văn hoá đã đợc hình thành với các hình thức: Bán công, dân lập,
t nhân theo đúng tinh thần Nghị quyết 90/CP và Nghị định 73/CP của Chính phủ Đặcbiệt còn có nhiều hình thức phogn phú khác nh nhân dân và các tổ chức xã hội tựnguyện tham gia đóng góp sức ngời, sức của để tổ chức các hoạt động văn hoá, đầu tcơ sở vật chất, thiết chế văn hoá, xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở Công tác xã hộihoá văn hoá đã đợc hình thành và phát triển theo phơng thức:
+ Chuyển đổi một số đơn vị công lập sang, cơ sở bán công, cổ phần hoá
+ Liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân các thành phần kinh tế Nhà nớc.+ Các thành phần kinh tế t nhân, hộ gia đình tham gia các hoạt động văn hoá vàdịch vụ văn hoá
+ Các tổ chức, t nhân, tập thể các thành phần kinh tế đứng ra thành lập các cơ sởhoạt động văn hoá nghệ thuật
+ Nhân dân và các lực lợng xã hội tham gia đóng góp cho hoạt động văn hoátrong phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ”
+ Huy động nguồn lực từ các thành phần kinh tế, tổ chức xã hội và các nhà tài trợcho hoạt động văn hoá
+ Phối hợp liên kết mở rộng công tác đào tạo
Thực hiện chủ trơng xã hội hoá hoạt động văn hoá hầu hết các lĩnh vực thuộcngành văn hoá thông tin đều mở ra các cơ chế thu hút các tổ chức, cá nhân, các thànhphần kinh tế tham gia các hoạt động văn hoá trong thời gian đã đạt đựoc nhiều thànhtích trên nhiều mặt, góp phần quan trọng trong việc phát triển văn hoá của đất nớc Cụthể là:
+ Tạo ra lực lợng đông đảo của xã hội tham gia hoạt động văn hoá
+ Xã hội hoá hoạt động văn hoá đã tạo ra mối liên kết và sự phối hợp chặt chẽgiữa ngành VHTT với các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội, nhất là với các hội sáng tạovăn học, nghệ thuật
+ Huy động nguồn lực xã hội phục vụ văn hoá
+ Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ”
+ Tạo môi trờng du lịch phát triển
Bên cạnh những mặt chuyển biến về nhận thức trong quá trình xã hội hoá còn cónhững biểu hiện lệch lạc, nảy sinh t tởng thụ động, coi xã hội háo là huy động đóng
Trang 17góp của dân, làm giảm trách nhiệm cũng nh việc đầu t kinh phí của Nhà nớc cho vănhoá Có biểu hiện lỏng lẻo về quản lý Nhà nớc, cho rằng xã hội hoá là sự bung ra củacác thành phần kinh tế, cứ để các hoạt động văn hoá tự phát phát triển Cơ quan chứcnăng về quản lý kinh tế nhận thức về văn hoá cha đầy đủ, coi các đơn vị văn hoá nhmột đơn vị kinh tế, áp dụng các chính sách về thuế nh đơn vị kinh tế thuần tuý Các cơquan Nhà nớc, nhất là một số cơ quan có chức năng quản lý văn hoá còn nặng t tởngbao cấp, có tâm lý trông chờ vào Nhà nớc, kém năng động trong cơ chế thị trờng Dochạy theo lợi nhuận nên một số hoạt động văn hoá bị thơng mại hoá nảy sinh mặt tiêucực.không ngăn chặn đợc kịp thời trong quá trình xã hội hoá Công tác
Xã hội hoá hoạt động văn hoá trên cả nớc còn chậm và cha mạnh dạn Xã hội hoá
đợc đẩy mạnh nhất vào hai lĩnh vực: xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở và kinh doanhdịch vụ văn hoá Trong quá trình xã hội hoá hoạt động văn hoá đã nảy sinh không íthiện tợng tiêu cực, lộn xộn trong hoạt động văn hoá và dịch vụ văn hoá , làm chomoi t-ờng văn hoá bị ô nhiễm Mặt trái của xã hội hoá là biểu hiện phổ biến hiện tợng thơngmại hoá trong trên nhiều lĩnh vực của văn hoá cụ thể là:
+ Về hoạt động lễ hội và dịch vụ tại di tích, thắng cảnh : Trong hoạt động dịch
vụ đã nẩy sinh nhng hiện tợng tiêu cực, thơng mại hoá hoạt động lễ hội ;mê tín dị
đoan, chèo kéo khách, làm mất vệ sinh, gây ô nhiễm môi trờng, nhất là việc lập độnggiả, tợng giả ở chùa Hơng và nạn trộm cắp cổ vật xảy ra ở nhiều nơi
+ Về xuất bản, in, phát hành: Trong việc liên doanh liên kết với t nhân để xuất
bản,in và phát hành có tình trạng một số nhà xuất bản không quản lý chặt nội dung để
đối tác tuỳ tiện, thay, sửa bản thảo, hoặc sách in xong cha nộp lu chiểu các đầu nậu đãphát hành vội ra thị trờng để kiếm lợi , đẫn tới vi phạm Luật Xuất Bản,sai phạm vềchính trị … vv các cơ sở in nội bộ , bao bì vẫn thờng “v ợt rào”tham gia kinh doanh.
Nhiều xuất bản phẩm mê tín dị đoan, sách kinh dị, bạo lực xa rời định hớng chính trịxuất hiện nhiều trên thị trờng; t nhân “núp bóng” Nhà nớc để trốn thuế khá phổ biến
+ Về biểu diễn nghệ thuật: Chơng trình, nội dung biểu diễn nghệ thuật của nhiều
đoàn, nhóm còn tuỳ tiện, tìm mọi cách câu khách, bị d luận phê phán Tệ các “bầu sô”lũng loạn hoặc hình thành những câu lạc bộ trá hình, hoặc đầu t xây dựng trái phép viphạm pháp luật xuất hiện ở nhiều nơi
+ Về mỹ thuật: Từ nhu cầu mua tranh, bán tranh phát triển, nên trên thị trờng
ngày càng bung ra việc sao tranh, chép tranh dẫn đến tình trạng tranh thật, tranh giảlẫn lộn, gây nên sự lộn xộn trong thi trờng tranh trong cả nớc Tình hình đó đã làm mấtlòng tin đối với ngời mua tranh, nhất là đối với khách nớc ngoài
+ Về kinh doanh dịch vụ văn hoá: Do thị trờng kinh doanh băng đĩa, văn hoá
phẩm và dịch vụ văn hoá ngày càng mở rộng, thu hút đông đảo các thành phần kinh tế
Trang 18t nhân tham gia, nên nảy sinh một số t nhân vì hám lợi mà vi phạm quy định của nhànớc: in sang băng đĩa hình, đĩa nhạc lậu, đĩa CD, VCD không nhãn kiểm soát, buônbán trôi nổi khắp nơi Cấc hiện tợng tiêu cực, thiếu lành mạnh trái với thuần phong mĩtục dân tộc xảy ra phổ biến trong nhiều hoạt động dịch vụ văn hoá: karaoke, vũ trờng,biểu diễn thời trang, quán cafe – Intenet, quán ăn sân khấu “hát với nhau ,” cafe bar r-
ợu có vũ nữ biểu diễn múa khêu gợi, điểm trò chơi điện tử mang nội dung bạo lực,kích động, cờ bạc…gây nên bao nhức nhối cho d luận xã hội nhiều năm nay
1.2.2 Đờng lối chính sách pháp luật của Đảng Nhà nớc về xã hội hoá văn hoá:
Cơng lĩnh của Đảng ta đã chỉ rõ chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con
ng-ời là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong s nghiệp xâydựng chủ nghĩa xã hội Một trong những quan điểm quan trọng về công nghiệp hoáhiện đại hoá của đại hội lần thứ VIII của đảng ta là ”lấy việc phát huy nguồn lực con
yếu tố về thể chất và tinh thần, trí tuệ và phẩm chất Trong việc chăm sóc, bồi dỡng
đào tạo và phát huy sực mạnh của nguồn lực, văn hoá đóng vai trò quan trọng
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ơng Đảng khoá VII tại Đại hội lần thứVIII của Đảng ta đã khẳng định: “Xuất phát từ nhận thức rằng chăm lo cho con ngời, cho cộng đồng xã họi là trách nhiệm của toàn xã hội, của mỗi đơn vị, của từng gia
đình, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nớc và của toàn dân; Chúng ta phải chủ trơng giải quyết các vấn đề xã hội theo tinh thần xã hội hoá hoá, trong đó Nhà nớc giữ vai trò nòng cốt Theo trình độ phát triển kinh tế, nhà nớc tăng dần nguồn đầu t cho khoa học, giáo dục, văn hoá, chăm sóc sức khoẻ và các vấn đề xã hội; đồng thời khai thác mọi tiềm năng của nhân dân, của địa phơng, của các hội đoàn, tranh thủ các nguồn viện trợ từ nớc ngoài và sử dụng có hiệu quả để chăm lo cho con ngời và xã hội…….
Trong tình hình đất nớc đổi mới, nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trờng,nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội đã từng bớc đợc xã hội hoá và thu đợc hiệuquả tốt đẹp theo mục tiêu mà Đảng và Nhà nớc đã đề ra: “Dân giàu, N ớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Trong lĩnh vực văn hoá, vấn đề xã hội hoá đợc đặt ra
nh một động lực thúc đẩy các hoạt động văn hoá phát triển trong tình hình mới Xã hộihoá các hoat động văn hoá mang ý nghĩa cấp bách,trớc hết ,bởi nó góp phần giảiquyết ngay những khó khăn chồng chất mà hoạt động văn hoá trong cơ chế thị trờng
đang vấp phải Vì vậy hiện nay xã hội hoá các hoạt động văn hoá đợc xem nh là mộttrong nhng vấn đề nổi bật vừa là mục tiêu và cũng là phơng thức nhằm khắc phụcnhững khó khăn mà hoạt động văn hoá đang gặp phải, điều tiết nó phù hợp với cơ chếthị trờng Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (tháng 6/1996) nêu
đồng thời tiếp tục xây dựngvà hoàn chỉnh các chế độ chính sách phù hợp với đặc điểm
Trang 19của ngành…nhằm đảm bảo sự nghiệp văn hoá thông tin phát triển nhanh trong quá trình đổi mới” Nghị quyết Trung ơng V khoá VIII (tháng 7/1998) đã xác định “Chính sách xã hội hoá các hoạt động văn hoá nhằm động viên sức ngời,sức của các tầng lớp nhân dân,các tổ chức xã hội để xây dựng và phát triển văn hoá Chính sách này đ-
ợc tiến hành đồng thời với việc nâng cao vai trò và trách nhiệm củầ Nhà Nớc.Các cơ quan chủ quản về văn hoá của Nhà Nớc phải làm tốt chức năng quản lý và hớng dẫn
Trên cơ sở các Nghị quyết của Đảngvề chủ trơng xã hội hoá các hoạt động vănhoá ngày 21/8/1997 Chính Phủ có Nghị quyết số 90/CP “Về phơng hớng chủ trơng xã hội hoá văn hoá, y tế, giáo dục, thể dục thể thao” Ngày 19/8/ 1999 Chính Phủ có
Nghị định số 73/NĐ-CP “Về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối vớicác hoạt độngtrong lĩnh vực văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục thể thao” Ngày 18/4/ 2005 Chính Phủ
có Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP “Về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục thể thao” Trong đó đã đa ra quan điểm và định hớng chung nh
sau:
Thực hiện xã hội hoá nhằm hai mục tiêu lớn:
- Thứ nhất là phát huy tiềm năng, trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy độngtoàn xã hội chăm lo cho sự nghiệp văn hoá
- Thứ hai là tạo điều kiện để toàn xã hội,đặc biệt là các đối tợng chính sách,ngờinghèo đợc hởng thụ thành quả văn hoá ngày càng cao
Nhà nớc tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, đẩy mạnh việc hoàn thiện chínhsách,tăng nguồn lực đầu t, đồng thời đổi mới mục tiêu phơng thức, cơ cấu và nguồn
đầu t
Chuyển các cơ sở công lập đang hoạt động theo cơ chế sự nghiệp mang nặng tínhhành chính bao cấp sang cơ chế tự chủ cung ứng dịch vụ công ích không bao cấp trànlan và không nhằm lợi nhuận (gọi tắt là cơ chế cung ứng dịch vụ ).
Phát triển mạnh các cơ sở ngoài công lập với hai loại hình: Dân lập và t nhân.Quyền sở hữu của các cơ sở ngoài công lập đợc xác định theo bọ luật dân sự Tiến tớikhông duy trì loại hình bán công Tiến hành chuyển một số cơ sở thuộc loại hình cônglập sang loại hình ngoài công lập để tập thể, cá nhân hoàn vốn cho Nhà nớc
Chơng II Thực trạng quản lý hoạt động văn hoá
trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn
Trang 202.1 Diện mạo đời sống kinh tế xã hội tỉnh Bắc Kạn.
2.1.1 Đặc điểm về tự nhiên:
Thiên nhiên Bắc Kạn nhìn chung đa dạng, phong phú,khá nhiều tiềm năng vàdáng vẻ, có đủ điều kiện cơ bản cần thiết cho con ngời tồn tại, trong quá trình lịch sửcủa mình
- Vị trí địa lý: Bắc Kạn án ngữ chính giữa khối thềm cao cánh cung Việt Bắc,
trong hệ tọa độ từ 210,48" đến 220,44" vĩ độ Bắc, từ 1050,26" đến 1060,14" kinh độ
Đông Là vùng đất trung tâm, bốn hớng hoà nhập với địa bàn nhiều tộc ngời thiểu sốcùng sinh sống
Về giới hạn lãnh thổ: Phía bắc giáp với các huyện Bảo Lâm, Nguyên Bình, Thạch
giáp huyện Tràng Định (tỉnh Lạng Sơn), phía Nam giáp với huyện Phú Lơng, Định
Hoá, Vỗ Nhai (tỉnh Thái Nguyên) Thị xã Bắc Kạn cách Hà Nội 166 km về phía Bắc
trên trục đờng quốc lộ số 3; Diện tích là:4.857,21km2 Dân số302.786 ngời với 8 đơn
vị hành chính gồm 7 huyện và 1 thị xã là:
32.428 ngòi gồm thị trấn huyện lỵ Phủ Thông và 16 xã phía Bắc giáp huyện Ba Bể vàhuyện Ngân Sơn, phía Đông giáp huyện Na Rì, phía Tây giáp huyện Chợ Đồn, phíaNam giáp thị xã Bắc Kạn và huyện Chợ Mới
- Huyện Ba Bể và huyện Pác Nặm: Là hai huyện ở phía Bắc của tỉnh, Bắc và
Đông Bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang, diện tích của haihuyện 1.151,7km2 Dân số 76.998 ngời, huyện Ba Bể gồm thị trấn Chợ Rã và 15 xã,huyện
Pác Nặm gồm 10 xã đợc tách ra từ huyện Ba Bể (25/8/2003) huyện lỵ đợc đặt tạixã Bộc Bố
- Huyện Chợ Đồn: Huyện ở phía tây tỉnh Bắc Kạn ,giáp với tỉnh Tuyên Quang
diện tích 922,2 km2.Dân số 50.596 ngời huyện Chợ Đồn gồm thị trấn Bằng Lũng và
21 xã
- Huyện Chợ Mới: ở phía Nam của tỉnh, phía Bắc giáp huyện Bạch thông và thị
xã Bắc Kạn Đông giáp huyện Na Rì, tây giáp 2 huyện, Định Hoá và Phú Lơng (tỉnh Thái Nguyên) và huyện Chợ Đồn, phía Nam giáp 3 huyện Phú Lơng, Võ Nhai, Đồng
gồm thị trấn Chợ Mới và 15 xã
- Huyện Na Rì: Huyện ở phía Đông của tỉnh, phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn, phía
Nam giáp huyện Bạch Thông, Chợ Mới, diện tích 864,4 km2 Dân số 39.998 huyện NaRì gồm thị trấn Yến Lạc và 21 xã
Trang 21- Huyện Ngân Sơn: ở phía Đông Bắc tỉnh Bắc Kạn, phía Bắc và phía Tây giáp
tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp huyện Ba Bể, phía Nam giáp 2 huyện Bạch Thông và NaRì, diện tích 644,4 km2 Dân số 30.157 ngời, gồm thị trấn Nà Phặc và 10 xã
- Thị xã Bắc Kạn: Là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh, diện tích 132,2 km2 Dân số
33.852 ngời gồm 4 phờng và 4 xã
Bắc Kạn là tỉnh miền núi vùng cao, địa hình mang những đặc trng của khu vựcmiền núi phía bắc, đây là vùng có môi trờng tự nhiên mang tính nhiệt đới Đặc điểmnổi bật của khu vực này là cấu tạo địa hình cánh cung Các cánh cung đều tụ lại ở dãyTam Đảo, đồi núi Bắc Kạn chiếm trên 80% diện tích toàn tỉnh, độ cao trung bình sovới mặt nớc biển 500m Đỉnh Phja Dạ 1.640m (cao nhất), điểm trung bình (thị xã Bắc Kạn) 200 mét, điểm thấp nhất ở xã Quảng Chu huyện Chợ Mới: 80m Toàn bộ Bắc
Kạn chịu tác động từ cơ tầng địa hình đồi núi chi phối từ hai cánh cung: Sông phía tây và Ngân Sơn - phía đông làm bình độ Bắc Kạn cao hơn các tỉnh lân cận (Lạng Sơn, Tuyên Quang) Xen vào giữa hai hệ thống cánh cung gồm nhiều tiểu vùng lõm tạo
Gâm-thành thung lũng đồng bằng nhỏ thuộc lu vực các sông lớn nh: Sông Cầu (Tả Lông),
sông Năng (Tả Slo) và sông Bắc Giang (Tả Lơng Thợng) Các thung lũng tạo nên địa
điểm c trú bản địa của ngời Tày và là vùng trồng lúa chủ yếu Diện mạo
tự nhiên Bắc Kạn theo hớng từ tây sang đông, nổi bật trớc hết là cánh cung sông Gâm,kéo dài từ núi Phja Dạ (tên cổ là Phja già) thuộc huyện Pác Nặm (hớng Tây Bắc-Đông Nam) chạy về phía đông sông Gâm xuống các huyện Ba Bể, Bạch Thông rồi đến
huyện Chợ Đồn Đây là hệ thống gồm các ngọn núi đá, núi đất xen kẽ nhau với haidãy núi tiêu biểu: Phja Dạ và Phja Bióoc
Do địa hình cao, nhất là các dãy núi thuộc cánh cung sông Gâm, Ngân Sơn, toàn
bộ Bắc Kạn đã trở thành ngọn nguồn phân thuỷ của nhiều con sông chảy sang các tỉnhTuyên Quang, Thái Nguyên, Cao Bằng và Lạng Sơn Từ ngàn xa, núi rừng Bắc Kạn làkho tài nguyên động thực vật đa dạng và phong phú, đồng thời là nguồn vật liệu, đợcliệu quý giá tự nhiên Trong cuộc sống của đồng bào từ bao đời nay cũng nh trongcách mạng kháng chiến, núi rừng Bắc Kạn luôn là chỗ dựa, nơi gắn bó, che chở nuôisống con ngời Bắc Kạn nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, tuần hoàn theobốn mùa rõ rệt, nhng nổi bật nhất là mùa hạ nóng nực, nắng lắm ma nhiều và mùa
đông khô hanh lạnh lẽo bởi gió mùa Đông Bắc Mùa đông và mùa thu nói chung ngắn,
có tính chất giao thời
Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 200C đến 220C, (mùa hạ: 26 0 C- 28 0 C) Mùa
đông lạnh nhất từ tháng 12 đến tháng 1 (130C- 16 0C) Độ ẩm không khí cao nhất vàotháng 7 khoảng 86% Khí hậu Bắc Kạn thuộc vùng núi cao nên tính chất á nhiệt đới t-
ơng đối rõ rệt: mùa hè mát, mùa đông có sơng muối Do ảnh hởng của gió mùa Đông
Trang 22Bắc, vào mùa xuân cảnh thiên nhiên tơi sáng, tiết trời ấm áp, núi non phơi phới màuxanh huyền diệu.Với đặc điểm địa hình núi cao, rừng dày xen lẫn các nếp lõm thunglũng sâu nên Bắc Kạn có mật độ sông, suối, nguồn nớc lớn, lợng nớc lu chuyển phânphối tơng đối đều giữa các vùng Hệ thống sông lớn, nhỏ gồm: Sông Cầu, sông Năng,sông Bắc Giang, nhánh sông Gâm, sông Hiến, sông Tiểu Phó Đáy.
Sông Cầu (tiếng Tày là Tả Luông hay Tả Cải, Nặm Cải, sử sách gọi là sông Đồng
Mỗ hoặc Nh Nguyệt) là con sông dài nhất, đoạn trong nội địa Bắc Kạn dài khoảng 103
km, do hai nhánh chính: sông Nặm ún (bắt nguồn từ Phơng Viên- Chợ Đồn) và Nặm
Pác Cáp huyện Na Rì Sông Cầu đóng vai trò quan trọng trong đời sống c dân Dòngchảy lớn, bề mặt sông rộng tạo thành đờng giao thông thuỷ nối liền các tiểu vùng đồngbằng, là nguồn nớc chủ yếu gieo cấy trồng trọt cây lơng thực Trong kháng chiếnchống Pháp các loại thuyền ván lớn nhỏ là phơng tiện vận tải gạo, muối…và vật dụng
từ miền xuôi lên bến Chợ Mới, bến Duộc Trong hoà bình lại vận chuyển tre, nứa, gỗ,
củ nâu từ Bắc Kạn về xuôi Sông Cầu có nguồn thuỷ sản dồi dào, phong phú, nhiềuloại cá quý: cá măng, chày đất, chép, võng, nheo, chiên đặc biệt là cá sờn xanh
(tiếng Tày là pja pạu), vào mùa sinh sản hàng đàn cá (có đàn hàng trăm con) bơi ngợc
lên khe suối thợng nguồn, mỗi con khoảng 2kg giống nh cá chày, cá trắm có giá trịdinh dỡng cao, tạo nên nguồn lợi cho ngời dân nơi đây
Hệ thống sông, suối phong phú là nguồn tài nguyên thuỷ lợi, thuỷ năng, thuỷ sản,giao thông, góp phần quan trọng điều hoà khí hậu Nhng do đặc điểm địa hình đồi núicao, khí hậu gió mùa, lợng nớc các sông suối hàng năm không đều Mùa ma nớc thờngdâng cao bất thờng, gây lũ lụt lớn là nạn hồng thuỷ tại các vùng trũng nh thung lũng
sông Năng, sông Nam Cờng
Điểm nhấn nổi bật nhất trong cảnh quan môi trờng tự nhiên Bắc Kạn đợc thiênnhiên ban tặng là hồ Ba Bể , một trong 20 hồ nớc ngọt đẹp nhất thế giới Tiếng Tày cổ
từ xa xa gọi hồ này là Nặm Pé (nớc biển) Kiến tạo địa chất hình thành hồ Ba Bể là hệ
quả của hiện tợng bào mòn chân núi đá vôi (catxtơ), gây sụt lở vách núi, chặn dòng
chảy ở Đầu Đẳng, nớc dâng lên thành hồ Hồ có độ sâu trung bình khoảng 25 mét, cao
150 mét so với mặt nớc biển
Hồ Ba Bể hiện nay thuộc xã Nam Mẫu, diện tích 500 ha nằm giữa khu bảo tồnthiên nhiên vờn quốc gia Ba Bể (tổng diện tích 6.710 ha là rừng nguyên sinh độc đáo rất nhiêù loại gỗ quý) Hồ Ba Bể gồm ba hồ nhỏ nối nhau liên tiếp: Pé Lèng, Pé Lù và
Pé Lồm, chiều rộng: 700 m, chiều dài: 8000m, phía cuối hồ nối với sông Năng đổxuống thác Đầu Đẳng chảy vào sông Gâm Giữa hồ nổi lên hai hòn đảo, đảo lớn là AnMã, đảo nhỏ là Pò Giả Mải (gò Bà Goá) Xung quanh hồ có ba con sông nhỏ chảy vào:
Pác Ngòi, Nam Cờng và Tả Han Phía đông trong khu núi đá vôi có ao Tiên (Buốc
Trang 23Cỏng Kíu) Giữa bốn bề núi non trùng điệp, cây cối xanh tơi một vùng hồ nớc trong
xanh biếc với ba hồ hợp thành tạo nên quần thể phức hợp động thực vật kỳ thú
Hồ Ba Bể hầu nh có đủ các loài thuỷ sản nớc ngọt miền Bắc Việt Nam, trong đó
có hơn 50 loài cá quý nh cá dầm xanh, anh vũ, chép kính, chiên, chày đất, võng… cámơng nhiều, kết nổi thành đám lớn Lỡng ng, bò sát có ba ba gai, kỳ đà, rái cá songBắc Kạn không chỉ có hồ Ba Bể, nơi dồn tụ các loài thuỷ sản, hầu hết trên ngọn nguồnsông suối lng chừng núi cũng nhiều, chim rừng, cá núi là hình ảnh về sự phong phú, đa
dạng của vùng đất Bắc Kạn
* Vài nét về lịch sử Bắc Kạn và các nhóm tộc ngời:
Bắc Kạn là tên địa danh do ngời Pháp đọc chệch từ chữ Pác Kạm (tiếng Tày nghĩa là cửa ngõ) hoặc giả thuyết khác gọi là Pác Cáp (nơi hợp lu của các con sông,
con suối Nơi đây có ngõ Pác Khuổi Thán, chợ họp ngay sát cạnh nên ngời Tày gọi là
trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc Việt Nam
Vào thời hậu Lê, khi Nguyễn Trãi viết D địa chí đã đa ra các chứng cứ: từ thờiHùng Vơng với nhà nớc Văn Lang (thế kỷ VI-II trớc công nguyên) Bắc Kạn nằm trong
bộ Vũ Định Đến nhà Lý, thuộc phủ Vĩnh Thông, sang nhà Lê, Bắc Kạn ở tỉnh TháiNguyên Từ năm 1460, đổi thành thừa tuyên Ninh Sóc Năm 1490, nhà Lê chuyển TháiNguyên thành phủ Thông Hoá do đó Bắc Kạn trong phủ Thông Hoá Đến đầu thế kỷ
XX, Bắc Kạn tách khỏi đạo Quan Binh 2 thành tỉnh riêng gồm các châu: Bạch Thông,Chợ Rã, Thông Hoá (Ngân Sơn), Cảm Hoá, Cao Bằng (Na Rì) Năm 1916 lập thêm
châu Chợ Đồn Tổng cộng có 5 châu, 20 tổng, 103 xã, 36.000 ngời, với 5 dân tộc: Tày,Dao, Kinh, Nùng, Hoa
Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra
đời, hệ thống địa lý hành chính tỉnh Bắc Kạn về cơ bản vẫn giữ nh cũ, chỉ có một số
thay đổi nhỏ Ngày 25 tháng 3 năm 1948, Chủ Tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số
148/SL bãi bỏ phủ, châu, quận, gọi là cấp huyện Trong thời kỳ kháng chiến chốngPháp, do yêu cầu giữ bí mật phần lớn địa danh các xã trong tỉnh đợc đặt theo tên khác.Ngày 12 tháng 5 năm 1964, bộ nội vụ có quyết định số 150/QĐ- NV về việc đổi lại
hành chính tỉnh Bắc Kạn có mấy lần thay đổi điều chỉnh
Ngày 14 tháng 4 năm 1965, sát nhập với Thái Nguyên thành tỉnh Bắc Thái, dân sốBắc Kạn có 112.500 ngời
Ngày 29 tháng 12 năm 1978, hai huyện Ngân Sơn, Chợ Rã (Ba Bể) tách từ tỉnh
Bắc Thái sát nhập vào tỉnh Cao Bằng
Ngày 16 tháng 7 năm 1990, giải thể thị trấn Bắc Kạn thuộc huyện Bạch Thông,thành lập thị xã Bắc Kạn thuộc tỉnh Bắc Thái
Trang 24Ngày 01 tháng 01 năm 1997, thực hiện nghị quyết của Quốc Hội NớcCHXHCNVN khoá IX, tỉnh Bắc Kạn đợc tái lập trên cơ sở tách từ hai tỉnh Bắc Thái vàCao Bằng, trở lại địa gới nh trớc tháng 4 năm 1965.
Trên phơng diện khảo cổ học và lịch sử c dân Đông Nam á, Việt Bắc nói chungBắc Kạn nói riêng là một trong nơi c trú đầu tiên của con ngời từ thời nguyên thuỷ
đến buổi đầu dựng nớc Phía Đông Nam Bắc Kạn liền với trung tâm văn hoá khảo cổhọc Thần Sa (Võ Nhai- Thái Nguyên), văn hoá Bắc Sơn (Bình Gia- Lạng Sơn) nổi tiếng (cách đây hàng chục vạn năm đến sáu bảy nghìn năm) Phía tây- tây bắc huyện Chợ
Đồn- Ba Bể liên quan với nền văn hoá đồ đá mới- đồng thau Sông Gâm (Nà Chiêm Hoá thuộc Tuyên Quang và Bắc mê thuộc Hà Giang) Gần đây (2001) các nhà
Hang-khảo cổ học đã phát hiện ở Thẳm Miều xã Lam Sơn huyện Na Rì các hiện vật hậu kỳ
đồ đá cũ cách đây hàng vạn năm, đồ đá ở hang Tiên- Ba Bể cách đây gần một vạn năm
đồng niên đại văn hoá sơ kỳ đồ đá mới Hoà Bình Ngoài ra nhiều hiện vật nh: rìu đámài nhẵn thuộc hậu kỳ đá mới ở Ba Bể, Bạch Thông Đặc biệt tìm thấy mũi tên đồngthuộc loại hình Cổ Loa ở Nà Buốc- Pắc Nặm Phía đông bắc là vùng còn lu giữ nhiềudấu tích truyện kể, truyền thuyết về nàng Sao Cải đợc coi là bà tổ của ngời Tày giống
nh Phiêng Pha, nơi khởi nguồn của nghề trồng lúa nớc
C dân bản địa xuất hiện từ thời tiền sử, sơ sử trên vùng đất Bắc Kạn là ngời Tày
cổ, tiếng Tày gọi là cần Tày cốc đin mác nhả có nghĩa ngời Tày gốc đất hạt cỏ Tộc
danh Tày bắt nguồn từ cách phân biệt các nhóm tộc khác nhau theo đặc trng ám chỉ cdân chuyên nghề cày ruộng, làm lúa nớc với nông cụ tiêu biểu là cái cày, ngôn ngữTày- Thái gọi cày là Mạc thay (hoặc thây) rồi biến âm thành Tày và Thái, ngoài ra còn
có tên gần nh vậy gọi ngời Tày là Cần nà (ngời cày ruộng)[6, tr 46], ngời Tày Bắc
Kạn nói chung đều tự nhận mình là Cần Tày (ngời Tày) và có hai nhánh chính: Tày bốc (Tày cạn) làm nơng, đi rừng và Tày nặm (Tày nớc) chuyên làm ruộng nớc, đánh cá
sông Đến thể kỷ XV ngời Tày còn gọi là ngời Thổ có nghĩa là thổ địa (ngời bản địa).
Trang 25Trong quá trình lịch sử, ngời Tày kiên nhẫn cần cù trong lao động, đấu tranh kiêncờng chống thiên tai địch họa, sáng tạo nên nền văn hoá giàu sức sống, in đậm sắc tháiriêng không trộn lẫn Cùng với ngời Tày, một số tộc ngời khác tiếp tục xuất hiện, hoànhập và cố kết vào nét văn hoá ban đầu đợc ngời Tày xây dựng Theo tổng điều tra dân
số Việt Nam (1999), Bắc Kạn có 275.165 ngời, gồm 7 thành phần tộc ngời thuộc 4
nhóm ngôn ngữ gồm: nhóm Tày- Thái, nhóm Việt- Mờng, nhóm Mông- Dao và nhómHán- Hoa Nhóm ngôn ngữ Tày- Thái gồm ngời Tày, Nùng và Sán Chay, trong đó dân
số ngời Tày có: 149.459 ngời (54,32%) Ngời Nùng: 26.066 ngời (9,47%) với các
ngành: Nùng Phàn Sình, Nùng An, Nùng Giang, Nùng Cháo, Nùng Quý Rịn Ngời SánChay có trên 300 ngời, chiếm khoảng 0,1% dân số
Nhóm ngôn ngữ Mông- Dao: Ngời Dao có khoảng 45.421 ngời (16,5%) gồm ba
ngành: Dao Đại Bản, Dao Tiểu Bản, Dao áo Dài Trong mỗi ngành Dao có các nhómDao khác nhau Ngời Mông có 14.770 ngời, (5,37%) gồm ba ngành: Mông trắng còn
gọi là Mống Đấu, Mông Hoa (Mống Lềnh) và Mông Đen (Mống Đú, Mống Na Miẻo),
trong đó nhóm Mông trắng chiếm số lợng chủ yếu và sống trên đỉnh núi
Nhóm Việt- Mờng ở Bắc Kạn chỉ có ngời Kinh (Việt) với số dân 36.587 ngời (13,3%) Ngời Kinh sống rải rác ở Bắc Kạn từ lâu đời, nhiều dòng họ đã Tày hoá.
Nhóm ngôn ngữ Hán- Hoa (Bắc Kạn chỉ có ngời Hoa) có 1.153 ngời (0,42%).
Mặc dù các tộc ngời thuộc bốn nhóm tiếng nói khác nhau, nhng hầu hết đều nói
đợc tiếng Tày và Việt, ngôn ngữ Tày là tiếng phổ thông thứ hai sau Việt Còn từ ngàn
xa văn hoá Tày là yếu tố nền tảng trong quá trình giao thoa, sống đan xen, đợc các tộcngời tôn trọng, thừa nhận và tiếp thu Tục kết tồng (hình thức liên kết, thoả thuận cùng chung sống) giữa các nhóm c dân là một nét đẹp lâu đời.
Ngời Tày Bắc Kạn có truyền thống sản xuất nông nghiệp từ xa xa và tơng đốiphát triển, những khu vực có khả năng gieo cấy, chăn nuôi: Thung lũng ven đồi, bênsuối đều đợc tận dụng và trở thành đất trồng trọt nh Bạch Thông, Ngân Sơn, Chợ
Đồn, Na Rì…ngoài làm ruộng lúa nớc, ngời Tày trồng lúa nơng nhằm tạo ra nhiềuchủng loại sản phẩm đa dạng phục vụ đời sống Chăn nuôi tiểu gia cầm (đơn vị gia
đình) phổ biến, là nguồn cung cấp thức ăn chủ yếu, tại các nơi nh hồ Ba Bể, các sông
suối nghề đánh bắt cá tơng đối phát triển Các nghề thủ công nh đan lát, kéo sợi, nuôitằm dệt vải là nghề cổ truyền đợc tiêu thụ ngay trong nhiều vùng Chợ họp theo phiên
là nơi tiêu thụ hàng hoá, tại nhiều xã xa xôi, điều kiện đi lại khó khăn ngời Tày vẫn giữtập quán đổi hiện vật Bản (ngoài ra còn các tên gọi cổ khác nh: chiềng, piềng, piêng,
nà, khuổi) là nơi tập trung các gia đình sống tập trung thuận tiện sinh hoạt, sản xuất
nh ven suối, dới chân núi hoặc giáp với cánh đồng, nhà cửa của ngời Tày phần lớn lànhà sàn, số ít làm nhà đất Trang phục của ngời Tày làm bằng chất liệu vải chàm, nữtuỳ theo vùng có cách ăn mặc khác nhau nhng thông dụng nhất là áo dài tới bắp chân,
Trang 26ống tay hẹp, xẻ nách phải, cài năm khuy và bao thắt lng bằng vải chàm hoặc vải dũimàu đen dài khoảng hai sải tay Phụ nữ khi ra khỏi nhà thờng đội nón đan bằng gianghoặc nứa lợp lá, tuy vậy kiểu nón lá (nón Huế) du nhập từ dới xuôi lên đợc chị em a
thích và dùng nhiều hơn
Tóm lại, lịch sử phát triển các tộc ngời ở Bắc Kạn,mặc dù có sự khác nhau,cơ cấunhiều ít khác nhau,mỗi dân tộc dù có trinh độ phát triển kinh tế-xã hội không đềunhau, song tất cả các dân tộc đều đã gắn kết với nhau cùng tạo dựng cuộc sống và đãtạo nên bức tranh văn hoá nhièu màu sắc trên quê hơng bắc kạn .
2.1.2 Về đặc điểm kinh tế -xã hội:
Là một tỉnh miền núi vùng cao, mặc dù đời sống của dân c dựa chủ yếu vào sảnxuất nông nghiệp, lâm nghiệp, song diện tích đất canh tác lại quá ít Toàn tỉnh chỉ cógần 12.000ha ruộng, phần lớn chỉ cấy một vụ Gần 30% dân số thuộc dân tộc HMông,Dao…trớc đây sống du canh du c, phát rừng làm nơng rẫy để sinh sống, trong sản xuấtnông nghiệp nặng nề về sản xuất có tính tự túc, tự cấp,nhng tromg những nămqua,Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Bắc Kạn đã có nhiều nỗ lực và đạt đợc một sốkết quả nh:
+ Khu vực nông lâm nghiệp, thuỷ sản chiếm45%
+ Khu vực công nghiệp và xây dựng cơ bản chiếm 18,56%
+ Khu vực dịch vụ chiếm 36,44%
- Thu nhập bình quân đầu ngòi năm sau cao hơn năm trớc:
+ Năm 2006 = 250 USD (tơng đơng 4,07 triệu đồng VN) tăng hơn so với năm
Trang 27+ Công tác chi ngân sách sự nghiệp đáp ứng kịp thời chi thờng xuyên và chi đàu
+ Đàn trâu hiện có 93.820 con, tăng 11,9% so với năm 2006
+ Đàn bò hiện có 48.131 con, tăng 18,7% so với năm 2006
+ Đàn lợn hiện có 160.000 con, chỉ đạt kế hoạch đề ra là 91,4%
- Về lâm nghiệp:
+ Diện tích trồng rừng năm 2007 đạt 3.338 ha =111,3% kế hooạch
+ Tỷ lệ rừng che phủ toàn tỉnh chiếm 55,18%
- Về thuỷ lợi và nớc sạch nông thôn:
+ Đến năm 2007, cả tỉnh đã nâng cấp đợc 488 công trình thuỷ lợi, kiên cố
đựoc 389 km kênh mơng, đa hệ thống sử dụng đất từ 1,6 lần năm 2000 lên 1,91 lầnnăm 2007
+ Số hộ nông dân đợc sử dụng nớc sạch từ 23% năm 2000 lên 65% năm 2007
* Về sản xuất công nghiệp:
+ Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2006 tăng 9,2% so với năm 2005
+ Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2007 đạt 189.031 tiệu đồng tăng 1,69% so vớinăm 2006
Tuy nhiên, khối lợng thực hiện các nguồn vốn đầu t về xây dựng cơ bản đạt thấp
so với kế hoạch,nhất là nguồn vốn thuộc các chơng trình mục tiêu quốc gia Công tácxúc tiến đầu t có nhiều tiến bộ, chỉ trong năm 2007, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đầu tcho13 dự án với tổng số đăng ký là 2.313 tỷ đồng.Đẩy mạnh nhng cơ sở sản xuất côngnghiệp đã có và khẩn trơng khôi phục sản xuất đối với nhà máy xi măng Bắc Kạn, Nhàmáy ô tô tra lát Đẩy nhanh tiến độ hạ tầng khu công nghiệp Thanh Bình và công tác
đền bù giải phóng mặt bằng để xây dựng 2 Nhà máy luyện kim của tỉnh là:
+ Nhà máy sản xuất chì kẽm tại xã Quảng Bạch huyện Chợ Đồn
+ Nhà máy sản xuất phôi thép tại huyện Chợ Mới
* Về thơng mại, giá cả dịch vụ:
Trang 28+ Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2007 tăng24,8% so với năm 2006.
+ Đến năm 2007, đã có 10 chợ thị xã, thị trấn, 56 chợ nông thôn đợc xây dựngkiên cố và bán kiên cố, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi hàng hoá cho đồngbào dân tộc trong vùng
+ Dịch vụ bu chính- viễn thông phát triển mạnh (số thuê báo điệnthoại cốđịnh
đạt 23 máy/100 dân) Hiện đã có 1.143 thuê bao intênt đang hoạt động
+ Về điện lới, từ năm 2005,122xã, phờng, thị trấn có điện lới quốc gia ,tỷ lệ sửdụng điện đạt 83%
+ Về thông tin liên lạc : 8/8 huyện ,thị, đã đợc phủ sóng diện thoai di động,100%các xã, phờng,thị, trấn có điện thoại cố định
2.1.3 Đời sống văn hoá xã hội:
Cùng với sự phát triển kinh tế,công tác giáo dục, Y tế, Văn hoá đã có nhng bớcphát triển mạnh,nhất là:
- Ngành giáo dục:
Củng cố các trờng công lập, cùng với việc mở ra nhiều hình thức giáo dục, pháttriển các loại hình trờng ngoài công lập, tạo cơ hội cho mọi ngời nâng cao trình độ tiếpcận những kiến thức mới và tiến bộ khoa học kỹ thuật để vận dụng trong công việc vàvào đời sống hàng ngày Đến nay toàn tỉnh đã có một mạng lới trờng công lập, báncông, dân lập hợp lý rộng khắp tới tận các thôn bản, cụ thể:
Giáo dục mầm non có 110 trờng (trong đó 1o3 trờng công lập, 07 trờng bán công,dân lập, với 53 nhóm lớp =1001 cháu ),100% xã, phờng trong tỉnh có lớp mầm non(năm 1997 có 32 trờng) Giáo dục phổ thông có 218 trờng,trong đó có 01 trờng dân lậpvới 17 lớp và 880 học sinh,(năm 1997 mới có 169 trờng); Giáo dục chuyên nghiệp:Thực hiện tốt kế hoạch đào tạo, đảm bảo có chất lợng , củng cố hệ thống giáo dục
Trang 29chuyên nghiệp từ cấp tỉnh đến cấp huyện, thị Ngoài ra ngành còn chủ động liên kếtvới các trờng cao đẳng, đại học, trung học chuyên nghiệp thực hiện các loại hình đàotạo theo nhu cầu của địa phơng, nghiêm túc, đúng quy định của bộ giáo dục và đàotạo Giáo dục thờng xuyên: Có 02 trung tâm giáo dục thờng xuyên-tổ chức và thựchiện mở lớp đúng quy chế,đảm bảo chất lợng,ngoài việc dạy bổ túc văn hoá , trungtâm còn liên kết với các trờng Đại học mở các lớp Đại học tại chức để nâng cao trình
độ đào tạo để chuẩn hoá về chuyên môn và ngoai ngữ cho cán bộ công chức viên chứctrong toàn tỉnh và 12 trờng trung học phổ thông đã mở đợc 49 lớp bổ túc văn hoá với2.394 học viên Đáng lu ý là nhiều trờngTiểu học ở khu vực xã, phờng, thị trấn, có
điều kiện kinh tế phát triển đều mở lớp bán trú dân nuôi Hình thức này tạo điều kiệncho học sinh đợc chăm sóc và học tập 02 buổi/ ngày Đặc biệt là việc phối hợp với Hộikhuyến học xây dựng đợc 122 trung tâm học tập cộng đồng tại 122 xã, phờng của tỉnh.Bớc đầu khai thác và sử dụng có hiệu qủa các nguồn lực xã hội để phát triển Giáo dụccùng với việc tăng thêm và sử dụng có hiệu quả ngân sách Nhà nớc, Ngành đã phốihợp với Sở Tài chính tham mu với tỉnh cho phép thực hiện chế độ học phí bằng cách:Huy động thêm sự đóng góp của cha mẹ học sinh có căn cứ vào mức sống và khả năngkinh tế của nhân dân ở từng vùng, đẩm bảo công bằng xã hội Ngoài học phí, các trờngtrong tỉnh chỉ đựơc thu 02 khoản: Tiền xây dựng trờng do HĐND các cấp quy định và
lệ phí thi theo quy định hiện hành; không có việc thu tiền của học sinh một cách tuỳtiện, kể cả việc thu tiền dạy thêm trái đạo lý và nguyên tắc và s phạm
Ngoài ra nhân dân còn đóng góp hàng vạn ngày công lao động để tu sửa trờnglớp, làm đờng, tạo dựng môI trờng, cảnh quan s phạm “Xanh, sạch, đẹp” làm cho bộmặt nhà trờng ngày một khang trang hơn Các tỉnh bạn, các tổ chức cho xã hội, cơquan, xí nghiệp trong và ngoài tỉnh đã giúp đỡ xây dựng trờng lớp, với tổng số tiền trên
5 tỷ đồng.Tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, nh các dự án: Giáo dục tiểu họccho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, lớp ghép, Việt Bỉ, phát triển giáo dục THCS II, pháttriển giáo dục THPT, sự hỗ trợ của Công ty trách nhiệm hữu hạn Phú Mỹ Hng…Tuycòn hạn hẹp nhng cũng góp thêm nguồn nhân lực phát triển Giáo dụcTỉnh nhà Đếnnay hầu hết các trờng THPT, Trờng PTDT nội trú của tỉnh và huyện đã và đang đợcxây dựng kiên cố Nhiều trờng Mầm non, Tiểu học, THCS, THPT ở vùng sâu, vùng xacũng đợc xây dựng bán kiên cố, kiên cố; xu hớng kiên cố hoá trờng lớp đang đợc thựchiện trên địa bàn tỉnh Năm 1997, có 71% phòng học tranh tre tạm bợ, đến nay toàntỉnh có3.453 phòng học, với 989 phòng xây dựng kiên cố = 28,64%, 1.213 phòng xâycấp 4 = 35,14%; Số phòng học tạm tại thời điểm tháng 4/ 2006 là 1.251 phòng =36,22% (giảm 34,78% so với năm 1997) Không có phòng học 3 ca Trung tâm Kỹ
thuật tổng hợp – hớng nghiệp, trờng CĐSP đã đợc xây dựng kiên cố, gồm: Hệ thống
Trang 30lớp học, các phòng chức năng, sân chơi, bãi tập…cơ bản đợc hoàn thiện đã đa vào sửdụng.
Mạng lới giáo dục đợc phân bổ hợp lý theo vùng địa lý, kinh tế, theo nhu cầu khảnăng phat triển của địa phơng ;khu vực thị xã là trung tâm phát triển kinh tế xã hội củatỉnh đã có 03 tung tâm (TTGDTX tỉnh, TTKTTH-HN, trung tâm giáo dục trẻ em thiệt thòi); 04 trờng phổ thông trung học (chuyên Bắc Kạn, Bắc Kạn, Dân lập Hùng Vơng
và PT Dân Tộc nội trú); 01 trờng cao đẳng s phạm, 01 trờng dạy nghề tỉnh.Các huyện
đều có ít nhất 01 trờng THPT.để thu hút con em đồng bào các dân tộc ít ngời ở cácthôn bản, các xã vùng cao,vùng xa xôI hẻo lánh, giao thông đi lại khó khăn tỉnh đã tổchức 422 lớp ghép, với 4.527 học sinh
Nâng cao chất lợng Giáo dục toàn diện,phấn đấu giải quyết mối quan hệ giữa quimô, chất lợng và hiệu quả: Ngành chú trọng bồi dỡng và đào tạo lại đội ngũ giáo viêntheo chu kỳ để nâng cao tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn, hiện số giáo viên đạt chuẩn ở cácbậc học là: Mầm non 93,06%; Tiểu học 99,24%; THCS 98,45%; THPT 95,14% Toàn
ngành có 01 chuyên viên cao cấp; 52 thạc sĩ; 10 cán bộ quản lý, giáo viên đang họccao học; 01 ngời đang học tiến sĩ Ngành đã xây dựng đề án đào tạo bồi dỡng đội ngũgiáo viên, cán bộ quản lý Giáo dục giai đoạn 2006 – 2010 đảm bảo phẩm chất chínhtrị, đạo đức, đủ về số lợng, đồng bộ về cơ cấu, chuẩn hoá về trình độ đào tạo theo chỉthị số: 40/CT-TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí th Trung ơng Đảng Đặc biệt, nhữngnăm qua đổi mới phơng pháp dạy và học đã có tác động tích cực nâng cao chất lợnggiáo dục của cả tỉnh lên từng bớc Kết quả thi tốt nghiệp mỗi năm một tăng Số họcsinh đạt giải học sinh giỏi các cấp năm sau tăng hơn năm trớc cả về số lợng và chất l-ợng giải
Thông qua chủ trơng XHH, môi trờng giáo dục và sự phối hợp giữa Gia đình Nhà trờng và Xã hội đợc cải thiện tốt hơn, chủ trơng dân chủ hoá nhà trờng đợc thựchiện; mỗi đơn vị giáo dục công khai hoá: kế hoạch hoạt động, các nguồn thu chi, cáckhoản đóng góp và sử dụng nguồn đóng góp của nhân dân tạo nên không khí dân chủtrong các cơ sở Giáo dục, các ngành, các cấp cùng nhân dân hiểu rõ hơn chức năng,nhiệm vụ và quyền hạn của cơ sỏ Giáo dục, nhận rõ trách nhiệm tham gia phối hợptrong thực hiện công tác giáo dục - đào tạo ở địa phơng
-Bằng sự nỗ lực của các ngành, các cấp kết hợp với thực hiện công tác XHH tỉnh
Bắc kạn đã đạt chuẩn Quốc gia về PCGD tiểu học - CMC tháng 12/1998, PCGD THCS tháng 12/2005 (về trớc kế hoạch thời gian qui định của Bộ giáo dục và Đào
tạo) Hiện nay tiếp tục đẩy mạnh tiến độ PCGD Tiểu học đúng độ tuổi, tập trung xây
dựng trờng chuẩn Quốc gia các bậc học Ngành đợc Bộ trởng bộ Giáo dục và Đào tạocông nhận đạt 10/11 chỉ tiêu công tác
Trang 31Ngành Y tế đã phốihợp với các đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội trong việcthực hiện các hoạt động về chơng trình y tế, thông qua việc ký kết hợp đồng truyềnthông, giáo dục sức khoẻ, phòng chống các tệ nạn xã hội và đại dịch HIV/AIDS; phốihợp triển khai làng văn hoá sức khoẻ, đa dạng hoá các hình thứccung cấp dịch vụchăm sóc sức khoẻ , ngoài việc khám chữa bệnh ở các cơ sở y tế công lập , từng bớchoàn thành và phát triển hìnhthức khám chữa bệnh t nhân ,tạo điều kiện cho các cán
bộ y tế nghỉ hu có tay nghề vững, các lơng y …Mở phòng khám chữa bệnh ; mở các
đại lý dợc ,các nhà thuốc t nhân ; cấp phép cho các cơ sở kham chữa bệnh có chất lợngcao hoạt động ,cũng nh kết hợp với Bệnh viện T Ư Quân đội , Ban quân y tỉnh độiBắc Kạn tổ chữa khám và cấp thuốc cho nhân dẩn trên địa bàn Thành lập trung tâmtruyền thông giáo dục sức khoẻ tỉnh; Chú trọng hoạt động tuyên truyền giáo dục sứckhoẻ để nhân dân từng bớc nhận thức đợc tầm quan trọng của sức khoẻ, biết tự
CSSK, các hành vi có lợi cho sức khoẻ đợc thực hiện và làm cho nhiều tập tục lạc hậu,
mê tín dị đoan bị đẩy lùi; Các hoạt động chơng trình mục tiêu (CTMT) quốc gia về y tế
đợc ngời nhân dân ủng hộ và phối hợp thực hiện nh: phun tẩm hoá chất phòng chốngsốt rét, tiêm chủng, lấy mẫu xét nghiệm lao, vệ sinh môi trờng…Tăng cờng sủ dụng yhọc dân tộc, nuôi trồng các loại cây làm thuốc…
Nhân dân ở các phờng, thị trấn và một số xã vùng thấp thực hiện nộp một phầnviện phí, chi trả cho dịch vụ CSSK Mặc dù hạn chế về nguồn thu do ít đối tợng songcũng đã hỗ trợ, bù đắp một phần cho các dịch vụ góp phần mang lại hiệu quả cho côngtác KCB trên địa bàn
Tổ chức thực hiện nghị định số: 95/NĐ-CP ngày 27/8/1994 của Chính phủ, trongtừng thời kì đã triển khai thực hiện việc KCB cho đồng bào vùng đặc biệt khó khăndân tộc thiểu số, ngời nghèo theo các văn bản: Nghị định số: 95/NĐ - CP ngày27/8/1994 của Chính phủ; Quyết định số: 139/2002/QĐ-CP ngày 15/10/2002 của Thủtớng Chính phủ; Nghị định số: 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ…các cơ
sở Y tế đã tạo điều kiện thuận lợi KCB cho nhân dân
Nâng cao chất lợng mạng lới y tế cơ sở: Các cơ sở y tế đợc quan tâm xây dựng,
đầu t trang thiết bị dụng cụ y tế Tăng cờng đào tạo đội ngũ thầy thuốc, mạng lới nhânviên y tế thôn bản, u tiên đi học nâng cao trình độ…có chính sách hỗ trợ, khuyến khíchcho các bộ đang công tác và lên công tác tại địa bàn vùng cao
- Về lĩnh vực Văn hoá - Thể thao &du lịch:
Các hoạt động văn hoá - thể thao &du lịch những năm qua đã có những bớcchuyển biến tích cực, phong trào: ”Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sông văn hoá”đợc
đẩy mạnh Nhiều hoạt động vă hoá- thể thao tập trung chào mừng các ngày kỷ niệm vàphục vụ nhiệm vụ chính trị tại địa phơng diễn ra sôi nổi
Trang 32- Về lĩnh vực dịch vụ văn hoá: Hầu hết các cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hoá trên
địa bàn tỉnh đều do quần chúng nhân dân tự xây dựng và tổ chức hoạt động Qua tổnghợp hiện có: 12 cơ sở Karaoke; 20 đại lý bán và cho thuê băng, đĩa hình; hơn 50 cửahàng chụp ảnh và kinh doanh các sản phẩm về ảnh, hơn 10 cửa hàng kinh doanh vật tthiết bị văn hoá, đại lý sách, báo…các hoạt động này đều chấp hành tốt các quy địnhcủa Nhà nớc về kinh doanh hoạt dộng dịch vụ văn hoá, đa các sản phẩm văn hoá phục
vụ quần chúng nhân dân nhằm nâng cao mức hởng thụ văn hoá cho nhân dân ở địa
ph-ơng Sự hoạt động kinh doanh, dịch vụ văn hoá ấy đang hoà nhập vào sự vận độngchung của nền kinh tế thị trờng, thu lại lợi nhuận, hiệu quả kinh tế cao, tạo nguồn thungân sách Nhà nớc qua thuế
- Nghệ thuật về biểu diễn quần chúng:
Mỗi năm trên địa bàn toàn tỉnh tổ chức gần 50 cuộc Liên hoan, hội diễn ở cáccấp,các ngành, tập hợp đợc hơn 100 đoàn nghệ thuật quần chúng và gần 500 diễnviên, nghệ nhân tham gia biểu diễn, thu hút hàng ngàn lợt ngời đến xem: Cùng vớihoạt động nghệ thuật quần chúng việc bảo tồn văn hoá phi vật thể cũng đang đợc cáccấp các ngành và toàn thể nhân dân đặc biệt quan tâm, nhất là việc bảo tồn phát huy lễhội Lồng Tồng tại các địa phơng, hàng năm có trên 40 Lễ Hội đợc nhân dân tự tổchức: Các làn điệu dân ca nh: Shi, Lợn, hát then, hát páo dung, đang thực sự thu hútnhân dân các dân tộc su tầm bảo tồn và phát huy
- Về họat động nghệ thuật chuyên nghiệp:
Đoàn nghệ thuật dân tộc tỉnh hàng năm đều xâydựng chơng trình mới , mang đậm
đà bản sắc văn hoá dân tộc.Ngoài thực hiện chơng trình biểu diễn theo kế hoạch80buổi/năm phục vụ đồng bào vùng sâu,vùng xa, đoàn còn đảm bảo từ 30- 40 buổibiểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị của tỉnh giao
- Hoạt động th viện:
Hàng năm th viện Tỉnh bổ sung định kỳ gần 3000 bản sách và th viện tuyếnhuyện, Thị xã đã thực hiện đợc trên 10.820 lợt luân chuyển sách, báo,đến các xã, ph-ờng,thị trấn trong đó tập trung chủ yếu là các xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn Đây làhoạt động hêt sức cần thiết nhằm nâng cao dân trí cho đồng bào các dân tộc ở vùngsâu, vùng xa
- Hoạt động chiếu bóng vùng cao:
Do trung tâm điện ảnh tỉnh đảm nhận và hoạt động theo mô hình Nhà Nớc vànhân dân cùng thực hiện Đồng bào các thôn, bản, vùng sâu, vùng xa đã phối hợp đắclực với thành viên đội chiếu phim tham gia vận chuyển thiết bị máy móc…các xã đặcbiệt khó khăn đã đựoc cấp một số trang thiết bị văn hoá thông tin, trung bình mõi nămtrung tâm Điên ảnh thực hiện trên 2000 buổi chiếu đáp ứng một phần nhu cầu hởng
Trang 33thụ đời sống văn hoá tinh thần tại chỗ của đồng bào nhân dân các dân tộc vùng sâu ,vùng xa ở Bắc Kạn
- Về thể dục thể thao:
Phong trào toàn dân rèn luyện thân thể theo gơng Bác Hồ vĩ đại đợc đẩy mạnh.hàng năm tổ chức trên 10 giải cấp tỉnh và tham gia các giải khu vực, toàn quốc năm
2007 giành đợc 28 huy chơng trong đó có 8 huy chơng vàng, đến nay tỉnh Bắc Kạn đã
có 07 kiện tớng thể thao quốc gia và 13 vận động viên đạt đẳng câp I quốc gia
- Về di tích:
Ngành đã tiến hành tổng kiểm kê toàn bộ các loai hình di tích trong phạm vi toàntỉnh,lập quy hoạch quản lý theo luật di sản văn hoá.Bắc Kạn có 181 di tích trông đócó11 di tích đã đợc Bộ Văn Hoá công nhận là di tích cấp quốc gia nh:
+ Di tích danh thắng ; Động Nàng Tiên-huyện Na Rì.; Hồ Ba Bể-huyện Ba Bể + 06 di tích lịch sử ATK ở huyện Chợ Đồn
+ Di tích lịch sử chiến thắng Đèo Giàng, chiến thắng Phủ Thông, di tích lịch sử
Nà Tu Các di tích trên đều đã đợc bảo tồn chống xuống cấp đang phát huygiá trị giáodục truyền thống đối với nhân dân các dân tộc trong tỉnh, cụm di tích ATK huyện Chợ Đồn ngành đã lạp phơng án tôn tạo trong quy hoạchchiến khu việt Bắc theo chơngtrình mục tiêu Quốc Gia về văn hoá giai đoạn từ nay đến 2010
Cùng với việc bảo tồn tôn tạo các di tích văn hoá và danh lam thắng cảnh, côngtác khai thác phát huy von văn hoá nghệ thuật dân gian các dân tộc Bắc Kạn luôn đợcchú trọng Hiện nay ngành đã khôi phục lại các lễ hội xuống đông của đồng bào Tày-Nùng ở một số địa phơng; Lễ đặt tên con của đồng bào Dao; Lễ cấp sắc then cổ ngờiTày; Su tầm và in 3 tập sách truyện cổ Bắc Kạn; 01 cuốn sách Bản sắc và truyền thốngvăn hoá các dân tộc Bắc Kạn; Đi đôi với việc bảo tồn các loại hình văn hoá trên, ngành
đã và đang tập trung triển khai đề án bảo tồn làng văn hoá truyền thông dân tộc Tày ởthôn Pác Ngòi xã Nhạn Môn huyện Ba Bể theo chơng trình mục tiêu Quốc Gia về vănhoá
- Về phong tục tập quán:
Nhân dân các dân tộc Bắc Kạn, mỗi dân tộc đều có nhng nét văn hoá riêng biểuhiện qua một số phong tục tập quán, bên cạnh đó do điều kiện đặc điểm địa lý và cuộcsống sinh hoạt gĩa các dân tộc có sự đan xen nhau, nên một số tập quán của dân tộc