Sáng kiến kinh nghiệm dạy kỹ năng viết môn Tiếng Anh 8, có đầy đủ ví dụ minh họa cho các biện pháp, các phần đề mục hợp lí, được hội đồng khoa học thẩm định loại tốt .........................................................................................................
Trang 1PHỤ LỤC PHỤ LỤC
I PHẦN MỞ ĐẦU.
I.1 Lí do chọn đề tài.
I.2 Mục đích nghiên cứu.
I.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu.
I.4 Những đóng góp mới.
II PHẦN NỘI DUNG.
II.1 Chương I Tổng quan.
II.2 Chương II Nội dung nghiên cứu.
II.3 Chương III Biện pháp, giải pháp.
II.3.1 Pre- writing activities (Các hoạt động trước khi viết).
II.3.2.While–writing activities (Các họat động trong khi viết)
II.3.3 Post – writing activities (Các hoạt động sau khi viết)
II.4 Chương IV Phương pháp nghiên cứu - k ết quả
III PHẦN KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ.
IV TÀI LIỆU THAM KHẢO.
TRANG 2 2 2 3 4 5 5 5-7 7 7-8 8-12 12-13 15
15 16
Trang 2I PHẦN MỞ ĐẦU
I.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
I.1.1 Cơ sở lý luận.
Vai trò của viết trong chương trình phổ thông hiện nay chủ yếu là nhằm phối hợp với các kĩ năng lời nói khác nhau để làm phong phú thêm các hình thức luyện tập trên lớp cũng như các bài tập ở nhà, nhằm cũng cố những kiến thức đã học Giúp
HS bước đầu quen với văn phong, cấu trúc chặt chẽ của văn viết và học cách sử dụng viết Tiếng Anh vào một số mục đích giao tiếp như viết thư, viết địa chỉ, nhắn tin điền vào các phiếu khai, tờ đơn, viết báo cáo, viết đoạn văn ngắn, viết kế hoạch tương lai, nói lời cảm ơn, viết bưu thiếp
Trong chuyên đề này chủ yếu giới thiệu tiến trình dạy viết và các thủ thuật dạy viết cũng như một số nguyên tắc và hoạt động viết được phổ biến, nhằm giúp cho giáo viên chúng ta không bị lung túng trong việc dạy viết Tiếng Anh để phát triển kĩ năng viết Tiếng Anh cho học sinh THCS
I.1.2 Cơ sở thực tiễn.
Qua những năm tháng giảng dạy tiếng Anh ở trường PTDT Bán Trú THCS Phong Dụ tôi nhận thấy rằng học sinh THCS rất thích, rất hứng thú với môn học tiếng Anh Nhưng năm gần đây học sinh khối 6, 7 hầu như thích thú môn học này hơn một số học sinh ở khối 8,9 Học sinh khối 6, 7 mạnh dạn nói, viết tiếng Anh hơn, mạnh dạn phát biểu trong giờ học hơn chứng tỏ học sinh khối 6,7 còn hồn nhiên, vô tư hơn nên các em chưa thấy ngại khi nói, khi viết và khi mắc lỗi Tiếng Anh là môn học khó cho nên học sinh ngay từ đầu nếu không có phương pháp học đúng, giáo viên không kịp thời phát hiện, giúp đỡ sẽ dẫn đến việc học sinh “mất gốc” Và đó là nguyên nhân dẫn đến việc một số học sinh khối 8, 9 ngại viết tiếng Anh, điều này cũng là nguyên nhân của chất lượng môn Tiếng Anh ở trường còn thấp Các em sợ sai, sợ mắc lỗi, sợ xấu hổ với bạn bè khi viết trên bảng trước lớp học Đó là nhận thức vô cùng sai lầm của các em Chính vì thế tôi càng cố gắng hơn trong việc giúp các em một lần nữa nhận ra được điều này
Trang 3I.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Lâu nay chúng ta cho rằng việc dạy một ngôn ngữ nước ngoài chỉ là dạy những quy tắc, văn phạm của bộ môn ấy và người học phải học thuộc lòng những cấu trúc, bài viết một cách máy móc Tuy nhiên điều này làm cho giáo viên cảm thấy đơn điệu, trong phương pháp dạy cũng như người học cảm thấy nhàm chán mệt mỏi khi tiếp thu phương pháp rập khuôn, máy móc và không sáng tạo Làm thế nào
để người học tiếp thu được cách viết một ngôn ngữ nước ngoài dễ dàng, hiệu quả và nhanh nhất ? Đây là một câu hỏi lớn, một vấn đề đặt ra cho những nhà nghiên cứu,
cụ thể là giáo viên ngoại ngữ, những người trực tiếp làm nhiệm vụ giảng dạy bộ môn
I.3 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Đề tài này đã được tôi thực hiện ở tất cả các khối lớp mà tôi đã giảng dạy trong một thời gian khá dài và cũng đã thu được một số kết quả khả quan Tuy nhiên, trong năm học 2012 – 2013 này tôi đã thực hiện một cách quy củ, có hệ thống, theo một kế hoạch cụ thể, chi tiết và tập trung trên một đối tượng học sinh nhất định ( học sinh khối lớp 8) nên tính hiệu quả của nó được thể hiện rõ ràng hơn
I.3.1 Thời gian nghiên cứu
* Giai đoạn 1 ( Từ tháng 7/ 2012 đến hết học kì I)
- Tháng 7 – 8/ 2012: Chọn đề tài, xây dựng kế hoạch nghiên cứu, chuẩn bị các tài liệu cần thiết
- Tháng 9/ 2012: Khảo sát chất lượng học sinh và mức độ hứng thú với môn học của học sinh
- Tháng 10 – 11/ 2012: Thực nghiệm chương trình nghiên cứu
- Tháng 12/ 2012: Kiểm tra, đánh giá kết quả giai đoạn 1
* Giai đoạn 2 ( Từ tháng 1/ 2013 đến học kì II)
- Tháng 1 – 2/ 2013: Tiếp tục thực nghiệm chương trình nghiên cứu
- Tháng 5/ 2013: Kiểm tra, đánh giá kết quả nghiên cứu, tổng hợp số liệu, tài liệu, hoàn thiện đề tài
Trang 4I.3.2 Địa điểm nghiên cứu.
- Tổ chức nghiên cứu trên tại trường PTDT Bán Trú THCS Phong Dụ
I.3.3 Phạm vi
- Trường PTDT Bán Trú THCS Phong Dụ
I.3.3.1 Giới hạn đối tượng nghiên cứu.
- Học sinh lớp 8 trường PTDT Bán Trú THCS Phong Dụ”
I.3.3.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu.
- Trường PTDT Bán Trú THCS Phong Dụ - Tiên Yên - Quảng Ninh
I.3.3.1 Giới hạn khách thể khảo sát.
- Học sinh khối 8,9 trường PTDT Bán Trú THCS Phong Dụ
I.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI.
Trong những năm gần đây nghành giáo dục phát động nhiều phong trào lớn, thu hút được đông đảo sự hưởng ứng và ủng hộ từ giáo viên cũng như nhân dân và cũng đã tạo ra được nhiều biến chuyển rõ rệt trong hiệu quả giáo dục Tuy nhiên những phong trào này cũng gây nên không ít áp lực cho giáo viên vùng sâu, vùng
xa, những người vừa phải đảm bảo chất lượng giáo dục thực lại vừa phải duy trì phổ cập, đảm bảo học sinh ra lớp đầy đủ
Chương trình Tiếng Anh mới có nhiều thay đổi hay, song lại trở nên khó khăn hơn cho những học sinh miền núi, vùng sâu vùng xa, học sinh dân tộc thiểu số vì các em không có điều kiện được tiếp xúc với Tiếng Anh trong thực tiễn giao tiếp, bên cạnh đó kiến thức văn hoá- xã hội cơ bản của các em cũng rất hạn chế nên đã gây ra rất nhiều khó khăn cho việc học của các em
Bài học Tiếng Anh của chương trình mới thường dài, nhiều từ vựng khó, cấu trúc ngữ pháp phức tạp, nhất là các bài học ở khối lớp 8,9, các chủ đề lại có nhiều các vấn đề mà học sinh không hiểu như Internet, Người ngoài hành tinh nên khi giảng dạy giáo viên rất khó giải thích để học sinh hiểu hết vấn đề đó còn nói gì đến
Trang 5dạy kiến thức, luyện tập Chính vì thế học sinh không tránh khỏi mắc những lỗi cơ bản khi thực hành kỹ năng viết
Với việc nghiên cứu đề tài này, tôi hi vọng sẽ góp phần tìm ra những giải pháp để có thể giúp học sinh tự tin hơn khi luyện tập kỹ năng viết
II PHẦN NỘI DUNG
II.1 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
II.1.1 Lịch sử vấn đề cần nghiên cứu.
- Đây là một đề tài mới và từ trước tới nay chưa một đề tài nào trong đơn vị nghiên cứu về lĩnh vực này Với việc đổi mới phương pháp và ứng dụng hiệu qủa các hoạt động, phương pháp vào trong giảng dạy nhằm tạo nên cho bài học sinh động hơn và giúp học sinh tự tin, không mắc nhiều lỗi khi viết, nghiên cứu đề tài này giúp tôi phát huy được các phương pháp dạy học tốt hơn, cùng với việc nghiên cứu này sẽ giúp cho học sinh thành thạo hơn khi luyện tập kỹ năng viết
II.1.2 Cơ sở lí luận.
Qua thời gian giảng dạy tại trường PTDT Bán Trú THCS Phong Dụ tôi nhận thấy rằng làm thế nào để HS có thể viết hoàn chỉnh một câu, đoạn văn, lá thư, báo cáo, tờ đơn không phải là dễ Có nhiều em không nhớ cấu trúc và không thể vận dụng tốt có nhiều em có ý tưởng rất hay nhưng không biết cách diễn đạt Các em
có thể diễn đạt được thông qua nói vì kĩ năng này chỉ cần trôi chảy, lưu loát và sử dụng ngôn ngữ nói Riêng viết, yêu cầu các em phải có sự chính sát tuyệt đối Nhưng đa số các em không nhớ từ, ngữ, cách dùng từ, cấu trúc câu cách viết thư báo cáo chủ yếu là do mức độ tư duy nhận thức của HS nhưng bên cạnh đó một phần cũng do sự thiếu sót của giáo viên giảng dạy Chẳng hạn, các bước của giáo viên chưa rõ ràng Các thủ thuật chưa được gợi mở không đủ sức lôi cuốn HS, các dạng viết "máy móc" dẫn đến khả năng viết của HS chưa hoàn thiện
II.2 CHƯƠNG II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
II.2.1 Thực trạng
Trang 6* Về phía giáo viên:
Phần lớn các giáo viên giảng dạy đều được tập huấn thường xuyên về phương pháp, áp dụng phương pháp mới vào quá trình giảng dạy, đa số giáo viên nắm được các thủ thuật và có chữa những lỗi cơ bản mà học sinh hay mắc phải trong quá trình giảng dạy trên lớp
Giáo viên có thể thỉnh thoảng sử dụng linh hoạt các bước từ 1 đến 6 của phương pháp dạy kỹ năng viết Các ý kiến phản hồi có thể thực hiện tại bước lập kế hoạch hoặc phát thảo ý kiến trước khi học sinh bắt đầu viết bản thảo đầu tiên Sau
đó học sinh trao đổi bản thảo để tiến hành nhận xét và đặt câu hỏi Cuối cùng học sinh viết lại các chỉnh sửa từ phía thầy giáo Học sinh nên tập trung vào viết để củng
cố
* Về phía học sinh:
Học sinh ở đây hầu hết các em còn nhút nhát, nói phát âm không chuẩn 100% các em là học sinh dân tộc thiểu số Việc học của nhiều học sinh hầu như không quan trọng, không thích là các em có thể bỏ học, gây rất nhiều khó khăn cho giáo viên trong việc vừa lo giảng dạy lại vừa phải lo vận động học sinh ra lớp Vì thế việc gây áp lực, áp dụng những biện pháp cứng rắn, nghiêm khắc hầu như không thể thực hiện
II.2.1 Đánh giá thực trạng.
Trường PTDT Bán Trú THCS Phong Dụ là một trường còn có nhiều khó khăn về mọi mặt, từ điều kiện phòng học, trường lớp đến đồ dùng dạy học và các điều kiện cơ sở vật chất khác Số lượng học sinh của trường cũng tương đối nhiều ( khoảng 300 học sinh mỗi năm học) toàn bộ lại là học sinh dân tộc thiểu số ( chiếm 100%) Với tỉ lệ cao như vậy đã gây ra rất nhiều khó khăn cho việc dạy và học, vì trình độ nhận thức của học sinh không đồng đều, phong tục, lối sống của các em cũng có nhiều khác biệt…
Nhiều học sinh cho rằng việc học là không quan trọng, không thích là các em
có thể bỏ học, gây rất nhiều khó khăn cho giáo viên trong việc vừa lo giảng dạy lại
Trang 7vừa phải lo vận động học sinh ra lớp Vì thế việc gây áp lực, áp dụng những biện pháp cứng rắn, nghiêm khắc hầu như không thể thực hiện
Bên cạnh đó cách vào bài hay ý tưởng vào bài, cách viết ý tưởng vào bài
của học sinh còn lúng túng, cách đưa ra dàn ý cho thân bài chưa bao quát, cụ thể được nội dung viết hay chưa biết cách diễn đạt bằng câu viết đúng
Vì những lí do trên nên việc nghiên cứu và thực hiện “ Dạy kỹ năng viết” là
rất cần thiết Tuy nhiên việc thực hiện hoạt động này cũng hết sức khó khăn, đòi hỏi người giáo viên phải nắm chắc các kĩ năng giảng dạy, linh hoạt, sáng tạo và cũng phải hết sức kiên trì
Bằng những bài kiểm tra trắc nghiệm ngay từ đầu năm học, tôi đã thu được những kết quả khởi đầu làm cơ sở nghiên cứu cho đề tài của mình
* Kết quả khảo sát đầu năm:
II.3 CHƯƠNG III: BIỆN PHÁP, GIẢI PHÁP.
II.3.1 Pre- writing activities (Các hoạt động trước khi viết).
* Using listening (Sử dụng môn nghe): Giáo viên có thể kết hợp nghe với viết
bằng cách yêu cầu học sinh nghe một đoạn văn và điền thông tin vào chỗ trống hoặc trả lời các câu hỏi Sau đó giáo viên yêu cầu học sinh viết ra
Lớp 8 bài 1 (trang 15), bài 9 (trang 84)
His name's and he's .years old He lives
at in Ha Noi with his , Hung He's , and helpful His best friends are , and
* Using reading (Sử dụng môn đọc): Đọc một đoạn văn, trả lời các câu hỏi một
cách đầy đủ, sau đó viết lại các câu trả lời, chuyển vị trí ngôi (ví dụ: “họ” chuyển thành “Tôi”) và các sự kiện ( “London” thành “ Hà Nội”)
Lớp 8 bài 4 (trang 43), bài 6 (trang 58)
Trang 8* Who writes the letter ? ( Nga )
* To whom does Nga write ? ( Linh )
* Is Nga a member of Y and Y ? ( Yes )
* What does Nga write to Linh about ? ( She writes about the programs of her school Y and Y that she is going to participate )
* Matching (Nối)
Giáo viên đưa ra một đoạn văn cùng với những thông tin còn thiếu được tách ra, yêu cầu học sinh nối các thông tin đó lại với nhau để tạo thành một đoạn văn chính xác Lớp 8 bài 5 (trang 50) Nối các tiêu đề cho các phần của bức thư
+ Body of a letter: The main content of the letter.
+ Opening: Dear, + Name (Noun).
+ Closing: Regards, Best wishes, Love, With all my love, Your friends + Heading: Writer's address,date.
* Gap- fill (Điền vào chỗ trống):
Giáo viên đưa cho học sinh một đoạn văn với các chỗ trống Các chỗ trống có thể thuộc về ngữ pháp/từ vựng (động từ, trạng từ chỉ tính thường xuyên) hoặc là bất kỳ ngẫu nhiên Để kiểm soát bài tập đối với các học sinh yếu, các từ thiếu tại chỗ trống
có thể được cung cấp vào một ô ở phía dưới và lúc đó sẽ trở thành một bài tập kết nối Bài tập kiểu điền vào chỗ trống có thể kết hợp với đọc chính tả điền vào chỗ trống và các hoạt động tiên đoán trước
Lớp 8 bài 13 (trang 127)
fire-making and rice-cooking The festival took one day
II.3.2 While – writing activities (Các họat động trong khi viết):
* Word cues drill.
Giáo viên đưa ra các từ gợi ý hoặc có thể kèm theo các bức tranh, yêu cầu học sinh thêm từ và viết đúng ngữ pháp để hoàn thành các câu hoặc đoạn văn
Lớp 8 bài 4 (trang 43)
One day/ I/ field => One day when I was in the field.
Buffalo/ graze/ tiger/ come
It/ ask/ why/ strong buffalo/ my servant/ and I/ its master
* Write – it – up( Viết hoàn thiện):
Trang 9Học sinh viết lại các thông tin từ bất cứ hoạt động nói, nghe, đọc và viết nhưng diễn đạt theo cách của mình Học sinh luyện tập kĩ năng viết theo từng cặp, nhóm hay cá nhân
Lớp 8 bài 11(trang 106), bài 15 (trang 143) Sau khi học sinh viết thông tin về Uyên xong, yêu cầu học sinh sử dụng thông tin bài viết để viết về bản thân
Uyen had a day to remember last week she had a math exam on Friday but she got
up late She realized her alarm clock did not go off
=> I had a day to remember yesterday I had a literature on Monday………
* Substitution boxes (Các ô thay thế):
Giáo viên ghi một ô với nhiều từ lên trên bảng Các từ có thể kết hợp với nhau để tạo thành một câu dài, hoặc tạo thành nhiều câu ngắn Lớp học được chia thành các nhóm giỏi và yếu Nhóm giỏi sẽ viết một câu dài (nhóm nào có câu với nhiều từ nhất trong thời gian cho phép là nhóm chiến thắng) trong khi đó nhóm học sinh yếu hơn ghi càng nhiêu câu ngắn càng tốt ( nhóm nào ghi được nhiều câu nhất trong thời gian cho phép là nhóm chiến thắng)
Lớp 8 bài 10 (trang 94)
take put dry the scatter in tea leaves tray on the sun
=> Scatter the tea leaves on the tray
=> Dry the tea leaves in the sun
* Transformation (Biến đổi):
Giáo viên cung cấp cho học sinh một đoạn văn ngắn Học sinh đọc và hiểu Giáo viên yêu cầu học sinh viết lại, biến đổi thông tin trong đoạn văn theo một số cách Có 03 hình thức biến đổi:
+ Biến đổi ngữ pháp trong đoạn văn
+ Biến đổi sự kiện (chẳng hạn như từ nước Anh sang Việt Nam)
+ Biến đổi ý nghĩa ( chẳng hạn từ “buồn” thành “vui”)
* Giáo viên đưa cho lớp học một tấm bưu thiếp ngắn để các học sinh đọc, rồi yêu cầu các học sinh yếu chỉ biến đổi ngữ pháp, trong khi đó học sinh giỏi biến đổi ngữ pháp và sự kiện
Lớp 8 bài 2 (trang 23-24) Học sinh đọc đoạn văn sau đó hoàn thành thông tin trong bảng, tiếp theo có thể thực hiện ngược lại
A customer telephoned the Thanh Cong Delivery service on June 16 just after midday The customer’s name was Mr Nam, and he wanted to speak to Mrs Van Mrs Van was in a meeting and could not come to the phone So Mr Toan took a message Mr Nam called about his stationery……….
Trang 10Thanh Cong Delivery Service
Date: June 16
Time: After midday
For: Mrs Van
Message: Mr Nam called about his stationary order.He wanted you to call him at
8634082
Taken by: Mr Toan
* Repling to letters (Trả lời thư):
Đây là một hoạt động kết nối câu như đã nêu trên Lần này lớp học sẽ có một đoạn văn dài, nhưng được cấu tạo từ các câu ngắn Nhiệm vụ là tạo ra đoạn văn hay,
sử dụng các từ nối phù hợp Vì độ dài của đoạn văn, bài tập này nên làm trên trang giấy rộng
Lớp 8 bài 14 (trang 135) Học sinh dựa vào mẫu của một bức thư và các câu gợi ý, thêm thông tin để hoàn thành một bức thư
Dear Tim ,
I was very happy to get your letter 2 weeks ago
My class has just come back from a trip to Phong Nha Cave
It's about 350 km from Da Nang and it took us 7 hours to get there by train
* Recall (Gợi nhớ):
Đọc chính tả sẽ thu hút cả lớp học tham gia Kỹ thuật này được sử dụng để nhớ nội dung đoạn văn, bài hội thoại hay từ vựng Sau khi nghe nội dung đoạn văn hoặc bài hội thoại HS tóm tắt lại đoạn văn đó nhưng theo ngôn ngữ của các em bằng tranh hay các thông tin đã tìm hiểu ở phần Pre
Lớp 8 bài 13 (trang 127)
This report shows how the rice-cooking festival was held The festival was held in the communal house yard about one kilometer away from a river
* Questions and answers (Câu hỏi và trả lời):
Giáo viên đặt nhiều câu hỏi cho học sinh Các học sinh trả lời câu hỏi đầy đủ Nếu học sinh mong muốn thực hành xây dựng câu, các câu hỏi được đưa ra theo trật
tự không đúng Sau khi viết ra câu trả lời đầy đủ, học sinh sắp xếp các câu để hình thành một đoạn văn mạch lạc và kết nối các câu lại với nhau
Lớp 8 bài 14 (trang 135) Học sinh sử dụng các thông tin từ câu trả lời để viết một bức thư
+ Where did you visit ? - Phong Nha Cave
+ How far is it from your home to there ? - about 350 km
+ How did you get there ? - by bus , train , coach ,
+ How long did it take you to get there ? - 7 hours