1. Trang chủ
  2. » Ngoại Ngữ

Sáng kiến kinh nghiệm sửa lỗi (kỹ năng nói và viết) Tiếng Anh 8 hay và hiệu quả

16 872 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 151,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sáng kiến kinh nghiệm dạy kỹ năng viết môn Tiếng Anh 8, có đầy đủ ví dụ minh họa cho các biện pháp, các phần đề mục hợp lí, được hội đồng khoa học thẩm định loại tốt .........................................................................................................

Trang 1

I PHẦN MỞ ĐẦU

I.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

I.1.1 Cơ sở lý luận.

Tôi đã từng bắt gặp được một câu nói bổ ích : “Có lỗi là chuyện rất bình

thường là một vấn đề lành mạnh, bổ ích là bởi vì từ những lỗi sai chúng ta mới tìm đựoc cái đúng, cái chính xác và với cái chính xác đó dẫn đến quá trình học tập Người học càng mắc nhiều lỗi thì càng có được nhiều cái đúng Càng có nhiều cái đúng , thì việc học lại càng diễn ra Chúng ta thường học được nhiều điều từ những sai lầm của chúng ta hơn là từ những thành công”

Chúng ta biết rằng kỹ năng Nói và Viết là các kỹ năng sinh sản (productive skills)- học sinh học và luyện tập đều vì mục đích là có thể dùng ngôn ngữ để diễn đạt ý của mình ( bằng cách nói và viết) nên việc xuất hiện lỗi trong quá trình

sử dụng ngôn ngữ là điều hết sức bình thường và không thể tránh khỏi

Chính vì vậy mỗi một giáo viên dạy tiếng Anh cần nhận thức được điều này

để có thái độ đúng đắn khi học sinh của chúng ta mắc lỗi, và quan trọng hơn là để

có phương pháp chữa lỗi chính xác và phù hợp với từng lỗi cụ thể

I.1.2 Cơ sở thực tiễn.

Qua những năm tháng giảng dạy tiếng Anh ở trường PTDTBT THCS Phong Dụ tôi nhận thấy rằng học sinh THCS rất thích, rất húng thú với môn học tiếng Anh Nhưng năm gần đây những học sinh khối 6, 7 hầu như thích thú môn học này hơn một số học sinh ở khối 8,9 Học sinh khối 6, 7 mạnh dạn nói, viết tiếng Anh hơn, mạnh dạn phát biểu trong giờ học hơn chứng tỏ học sinh khối 6,7 còn hồn nhiên, vô tư hơn nên các em chưa thấy ngại khi nói, khi viết và khi mắc lỗi Tiếng Anh là môn học khó cho nên học sinh ngay từ đầu nếu không có phương pháp học đúng, giáo viên không kịp thời phát hiện, giúp đỡ sẽ dẫn đến việc học sinh “mất gốc” Và đó là nguyên nhân dẫn đến việc một số học sinh khối

8, 9 ngại nói và viết tiếng Anh, điều này cũng là nguyên nhân của chất lượng môn Tiếng Anh ở trường còn thấp Các em sợ sai, sợ mắc lỗi, sợ xấu hổ với bạn

bè khi mắc lỗi Đó là nhận thức vô cùng sai lầm của các em Chính vì thế tôi càng

cố gắng hơn trong việc giúp các em một lần nữa nhận ra được điều này "Có lỗi là

chuyện rất bình thường là một vấn đề lành mạnh, bổ ích là bởi vì từ những lỗi sai chúng ta mới tìm được cái đúng, cái chính xác và với cái chính xác đó dẫn đến quá trình học tập Người học càng mắc nhiều lỗi thì càng có được nhiều cái đúng Càng có nhiều cái đúng, thì việc học lại càng diễn ra Chúng

ta thường học được nhiều điều từ những sai lầm của chúng ta hơn là từ

Trang 2

những thành công" Tôi luôn tạo cho các em cảm giác gần gũi thoải mái, tự

nhiên khi học Một trong những phương pháp để làm được điều này là tìm tòi, rút kinh nghiệm về một số phương pháp chữa lỗi cho học sinh khi học sinh mắc lỗi

mà không tạo cảm giác “mất mặt” cho các em

I.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Vì sự cần thiết phải tạo được sự tự tin, hứng thú học tập bộ môn cho học sinh, từ đó nâng cao kết quả học tập và chất lượng bộ môn của học sinh, và vì thực tế học sinh trường PTDTBT THCS Phong Dụ học môn Tiếng Anh vẫn còn yếu, nhiều em học sinh còn cảm thấy, dụt dè, nặng nề khi, nói trước lớp và viết câu trên bảng nên tôi đã đi sâu vào nghiên cứu vấn đề này

Nghiên cứu thành công vấn đề này, chúng ta có thể đạt được một số kết quả như sau:

- Chứng minh được tính hiệu quả đối với bài học của việc tổ chức tốt việc chữa lỗi trong các bài học

- Góp phần nâng cao sự tự tin, hứng thú học tập bộ môn của học sinh, khắc phục những hạn chế khách quan, đưa chất lượng đại trà và mũi nhọn từng bước

ổn định và đi lên

I.3 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Đề tài này đã được tôi thực hiện ở tất cả các khối lớp mà tôi đã giảng dạy trong một thời gian khá dài và cũng đã thu được một số kết quả khả quan Tuy nhiên, trong năm học 2015 – 2016 này tôi đã thực hiện một cách quy củ, có hệ thống, theo một kế hoạch cụ thể, chi tiết và tập trung trên một đối tượng học sinh nhất định ( học sinh khối lớp 8) nên tính hiệu quả của nó được thể hiện rõ ràng hơn

I.3.1 Thời gian nghiên cứu

* Giai đoạn 1 ( Từ tháng 7/ 2015 đến hết học kì I)

- Tháng 7 – 8/ 2015: Chọn đề tài, xây dựng kế hoạch nghiên cứu, chuẩn bị các tài liệu cần thiết

- Tháng 9/ 2015: Khảo sát chất lượng học sinh và mức độ hứng thú với môn học của học sinh

- Tháng 10 – 11/ 2015: Thực nghiệm chương trình nghiên cứu

- Tháng 12/ 2015: Kiểm tra, đánh giá kết quả giai đoạn 1

* Giai đoạn 2 ( Từ tháng 1/ 2016 đến học kì II)

- Tháng 1 – 2/ 2016: Tiếp tục thực nghiệm chương trình nghiên cứu

Trang 3

- Tháng 5/ 2016: Kiểm tra, đánh giá kết quả nghiên cứu, tổng hợp số liệu, tài liệu, hoàn thiện đề tài

I.3.2 Địa điểm nghiên cứu.

- Tổ chức nghiên cứu trên tại trường PTDTBT THCS Phong Dụ

I.3.3 Phạm vi.

I.3.3.1 Giới hạn đối tượng nghiên cứu.

- Học sinh lớp 8 trường PTDTBT THCS Phong Dụ”

I.3.3.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu.

- Trường PTDTBT THCS Phong Dụ - Tiên Yên - Quảng Ninh

I.3.3.1 Giới hạn khách thể khảo sát.

- Học sinh khối 8,9 trường PTDTBT THCS Phong Dụ

I.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI.

Trong những năm gần đây nghành giáo dục phát động nhiều phong trào lớn, thu hút được đông đảo sự hưởng ứng và ủng hộ từ giáo viên cũng như nhân dân và cũng đã tạo ra được nhiều biến chuyển rõ rệt trong hiệu quả giáo dục Tuy nhiên những phong trào này cũng gây nên không ít áp lực cho giáo viên vùng sâu, vùng xa, những người vừa phải đảm bảo chất lượng giáo dục thực lại vừa phải duy trì phổ cập, đảm bảo học sinh ra lớp đầy đủ

Chương trình Tiếng Anh mới có nhiều thay đổi hay, song lại trở nên khó khăn hơn cho những học sinh miền núi, vùng sâu vùng xa, học sinh dân tộc thiểu

số vì các em không có điều kiện được tiếp xúc với Tiếng Anh trong thực tiễn giao tiếp, bên cạnh đó kiến thức văn hoá- xã hội cơ bản của các em cũng rất hạn chế nên đã gây ra rất nhiều khó khăn cho việc học của các em

Bài học Tiếng Anh của chương trình mới thường dài, nhiều từ vựng khó, cấu trúc ngữ pháp phức tạp, nhất là các bài học ở khối lớp 8,9, các chủ đề lại có nhiều các vấn đề mà học sinh không hiểu như Internet, Người ngoài hành tinh nên khi giảng dạy giáo viên rất khó giải thích để học sinh hiểu hết vấn đề đó còn nói gì đến dạy kiến thức, luyện tập Chính vì thế học sinh không tránh khỏi mắc những lỗi cơ bản

Với việc nghiên cứu đề tài này, tôi hi vọng sẽ góp phần tìm ra những giải pháp để có thể giúp học sinh tự tin và không mắc với những lỗi cơ bản, xử lí hiệu quả các kiến thức trong mỗi bài học tại những trường có cùng điều kiện như chúng tôi nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học Tiếng Anh

Trang 4

II PHẦN NỘI DUNG

II.1 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN

II.1.1 Lịch sử vấn đề cần nghiên cứu.

- Đây là một đề tài mới và từ trước tới nay chưa một đề tài nào trong đơn vị nghiên cứu về lĩnh vực này Với việc đổi mới phương pháp và ứng dụng hiệu qủa các hoạt động, phương pháp vào trong giảng dạy nhằm tạo nên cho bài học sinh động hơn và giúp học sinh tự tin, không mắc nhiều lỗi khi nói và viết, nghiên cứu

đề tài này giúp tôi phát huy được các phương pháp dạy học tốt hơn, cùng với việc nghiên cứu này sẽ giúp cho học sinh không cảm thấy nhàm chán trong các tiết học

II.1.2 Cơ sở lí luận.

Việc tổ chức các hoạt động nhóm trong mỗi tiết học Tiếng Anh thường rất khó khăn vì nhiều học sinh thường ỷ lại, ngại nói, ngại tham gia nhất là ở những lớp pha trộn nhiều dân tộc Đương nhiên hiệu quả bài học sẽ thấp

Vì những lí do trên nên việc nghiên cứu và thực hiện phương pháp “ Tổ

chức hiệu quả hoạt động nhóm trong môn Tiếng Anh 8 ở trường PTDTBT THCS Phong Dụ” là rất cần thiết

II.2 CHƯƠNG II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

II.2.1 Thực trạng

* Về phía giáo viên:

Phần lớn các giáo viên giảng dạy đều được tập huấn thường xuyên về phương pháp, áp dụng phương pháp mới vào quá trình giảng dạy, đa số giáo viên nắm được các thủ thuật và có chữa những lỗi cơ bản mà học sinh hay mắc phải trong quá trình giảng dạy trên lớp Giáo viên đã quen và chủ động với cách thức tổ chức tiết dạy học theo phương pháp dạy học tích cực; sáng tạo ra đồ dùng dạy phù hợp với nội dung tiết dạy, sử dụng và vận hành các trang thiết bị dạy học hiện đại phục vụ tốt cho quá trình dạy học: máy chiếu, đầu video, máy casstte, … Vì vậy nhiều tiết dạy trở nên sinh động , có sức lôi cuốn và đạt hiệu quả cao

Tuy nhiên việc chữa lỗi như thế nào thì còn lúng túng, chưa linh hoạt nên đôi khi chưa tạo được hiệu quả

Các tiết dự giờ đồng nghiệp cùng chuyên môn còn hạn chế Vẫn còn một số giáo viên gặp khó khăn nhất định trong việc thực hiện các thao tác kĩ thuật, chưa sử dụng thành thạo các phương tiện dạy học hiện đại như máy chiếu

Trang 5

* Về phía học sinh:

Học sinh ở đây hầu hết các em còn nhút nhát, nói phát âm không chuẩn 100% các em là học sinh dân tộc thiểu số Việc học của nhiều học sinh hầu như không quan trọng, không thích là các em có thể bỏ học, gây rất nhiều khó khăn cho giáo viên trong việc vừa lo giảng dạy lại vừa phải lo vận động học sinh ra lớp Vì thế việc gây áp lực, áp dụng những biện pháp cứng rắn, nghiêm khắc hầu như không thể thực hiện

II.2.1 Đánh giá thực trạng.

Trường PTDTBT THCS Phong Dụ là một trường còn có nhiều khó khăn về mọi mặt, từ điều kiện phòng học, trường lớp đến đồ dùng dạy học và các điều kiện cơ sở vật chất khác Số lượng học sinh của trường cũng tương đối nhiều ( khoảng 300 học sinh mỗi năm học) toàn bộ lại là học sinh dân tộc thiểu số ( chiếm 100%) Với tỉ lệ cao như vậy đã gây ra rất nhiều khó khăn cho việc dạy

và học, vì trình độ nhận thức của học sinh không đồng đều, phong tục, lối sống của các em cũng có nhiều khác biệt…

Nhiều học sinh cho rằng việc học là không quan trọng, không thích là các

em có thể bỏ học, gây rất nhiều khó khăn cho giáo viên trong việc vừa lo giảng dạy lại vừa phải lo vận động học sinh ra lớp Vì thế việc gây áp lực, áp dụng những biện pháp cứng rắn, nghiêm khắc hầu như không thể thực hiện

Vì những lí do trên nên việc nghiên cứu và thực hiện phương pháp “ Chữa

lỗi cho học sinh về kỹ năng nói và viết” là rất cần thiết Tuy nhiên việc thực

hiện hoạt động này cũng hết sức khó khăn, đòi hỏi người giáo viên phải nắm chắc các kĩ năng giảng dạy, linh hoạt, sáng tạo và cũng phải hết sức kiên trì

Bằng những bài kiểm tra trắc nghiệm ngay từ đầu năm học, tôi đã thu được những kết quả khởi đầu làm cơ sở nghiên cứu cho đề tài của mình

* Kết quả khảo sát đầu năm:

Trang 6

II.3 CHƯƠNG III: BIỆN PHÁP, GIẢI PHÁP.

II.3.1 Các dạng lỗi thường gặp:

- Lỗi từ vựng (vocabulary)

- Lỗi ngữ pháp hoặc cấu trúc câu (grammar or structure patterns)

- Lỗi chính tả (spelling)

II.3.2 Nguyên nhân:

Có rất nhiều nguyên nhân sản sinh ra lỗi trong quá trình sử dụng ngôn ngữ, tôi có thể đưa ra một số nguyên nhân như sau:

1 Sự ảnh hưởng của ngôn ngữ mẹ đẻ ( Mother – Tongue interference)

Đây là loại lỗi khá hệ thống trong quá trình học tiếng Anh Học sinh khi học ngoại ngữ thường áp dụng một cách máy móc cú pháp ngôn ngữ mẹ đẻ vào ngôn ngữ mà người đó đang học, nhưng thực tế là có rất nhiều điểm khác biệt về

cú pháp giữa các ngôn ngữ khác nhau

-Ví dụ về ảnh hưởng của cú pháp ngôn ngữ mẹ đẻ (cụ thể ở đây là Tiếng việt vào việc học Tiếng Anh)

Có rất nhiều học sinh nói “He bought a car new” (Cậu ấy đã mua một chiếc

xe hơi mới) vì trong Tiếng Việt tính từ thường đi sau danh từ còn trong Tiếng

Anh thì gần như ngược lại, câu đúng phải là ; “He bought a new car”.

2 Sự liên đới về ngôn ngữ ( Cross – association)

Sự liên đới là một hiện tượng ảnh hưởng qua lại giữa một số quy tắc về học ngôn ngữ giữa người này với người khác- quy tắc này có thể áp dụng được với người này nhưng hoàn toàn không phù hợp với người khác

3 Lỗi do bất cẩn (Errors due to carelessness.)

Các yếu tố về tâm lý như bất cẩn, mệt mỏi, hoặc quên qui tắc ngữ pháp cũng có thể là nguyên nhân gây ra lỗi trong quá trình sử dụng ngôn ngữ

Có rất nhiều học sinh khi nói “She live in Quang Binh with her family” (Cô

ấy sống ở Quảng Bình cùng với gia đình của cô ấy), ở đây có thể học sinh quên

quy tắc ngữ pháp đó là thêm “s” vào sau động từ khi chia ở ngôi thứ ba số ít ở thể

khẳng định của thì hiện tại đơn giản, cũng có lúc do bất cẩn trong phát âm hoặc

cũng có thể giải thích cho hiện tượng này là “ảnh hưởng không tích cực của

ngôn ngữ mẹ đẻ” cũng được là bởi lẽ trong Tiếng việt chúng ta nói “Cô ấy sống

ở Quảng Bình cùng với gia đình của cô ấy và Tôi sống ở Quảng Bình cùng với gia đình của tôi” động từ sống không có sự khác biệt về hình thức động từ (tức là

Trang 7

động từ không phải chia để phù hợp với ngôi số trong Tiếng Việt) Trong khi đó

câu đúng trong Tiếng Anh phải là : “She lives in Quang Binh with her

family” và “ I live in Quang Binh with my family”

4 Quá trình dạy học gây ra lỗi (Teaching – induced errors.)

Thói quen không tích cực trong quá trình dạy học cũng có thể là một trong những nguyên nhân gây ra lỗi Thừa nhận rằng “thật không dễ dàng để xác định các lỗi ngoại trừ những thiết bị học kỹ năng, thủ thuật dạy học mà được áp dụng với người học”-nói cách khác việc áp dụng phương pháp học không phù hợp với học sinh có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của quá trình học ngôn ngữ

II.3.3 Các phương pháp sữa lỗi cơ bản.

Có ba phương pháp sữa lỗi cơ bản như sau

•Tự sửa (Self-correction)

• Học sinh sửa lẫn nhau (Peer correction)

• Giáo viên sửa (Teacher correction)

•Sửa lỗi nhóm (Group correction)

II.3.4 Tại sao lại phải sửa lỗi

Khi học sinh sử dụng tiếng Anh - dù là viết hay nói thì các em luôn muốn biết là mình có mắc lỗi nào trầm trọng hay không, các em luôn muốn hỏi giáo viên rằng “ Em làm tốt chứ ạ?”, như vậy việc sửa lỗi là rất cần thiết

II.3.5 Sửa lỗi khi nào? Sửa cái gì? Và sửa như thế nào?

1 Sửa lỗi khi nào?

*Thông thường việc sửa lỗi được thực hiện sau quá trình sử dụng ngôn ngữ của học sinh

2 Sửa cái gì?

* Cần sửa những lỗi có ảnh hưởng đến nghĩa của câu (Errors that interfere

with meaning)

- Thì động từ (Verb tense)

- Trật tự từ (Word order)

- Lựa chọn từ không chính xác (Confusing word choice)

- Lỗi sai về chính tả (Confusing spelling)

Trang 8

* Đôi khi không cần thiết phải sửa các lỗi không ảnh hưởng đến nghĩa của

câu nếu như bài viết của các em đã quá nhiều lỗi để tránh tâm lí chán nản cho học sinh (Errors that are less likely to interfere with meaning) :

- Mạo từ hay còn gọi là quán từ (Article mistakes)

- Giới từ (Preposition mistakes)

- Dấu chấm(.) hay dấu phẩy (,) (Comma splices)

- Các lỗi chính tả nhỏ (Minor spelling mistakes )

3 Sửa như thế nào?

a Giáo viên sửa (Teacher's correction)

Tôi thấy rằng giáo viên chữa lỗi cho học sinh là phương pháp tiêu biểu mà nhiều giáo viên thường áp dụng trong quá ttrình giảng dạy Phương pháp này gồm

có hai loại: Chỉnh sửa trực tiếp và chỉnh sửa gián tiếp Loại chỉnh sửa gián tiếp có nhiều hình thức thực hiện hơn Chúng ta cần lựa chọn hình thức phù hờp với đối tượng hoc sinh của mình

Ví dụ: Khi học sinh mắc lỗi về cấu trúc câu bị động tôi viết cấu trúc câu

đúng lên bảng bằng phấn đỏ, gọi một sinh khác đứng dậy so sánh cấu trúc câu đúng với câu sai, lúc đó học sinh có thể tự sửa câu sai thành câu đúng và tiếp tục cho học sinh đặt thêm các ví dụ khác để học sinh luyện tập cấu trúc câu

This house was build by those workers

S + Be + V_ (PP) + by + O

This house was built by those workers

b Học sinh có thể vận dụng phong cách sửa lỗi của giáo viên để tự sửa lỗi (Learners' preferred style of teacher's correction)

Trong thực tế học sinh không thích cách chữa lỗi trực tiếp của giáo viên nghĩa là gạch chân lỗi và chữa nó Khi được hỏi tại sao thì các học sinh sẽ trả lời

là các em mong muốn có liên quan đến quá trình chữa lỗi Nói cách khác là giáo viên chỉ làm một phần của công việc, chỉ ra các lỗi, tạo cơ hội cho học sinh vận dụng kiến thức, trí não của mình để tìm ra cách sửa chữa sai sót Chính nỗ lực này của học sinh làm cho quá trình chữa lỗi của học sinh có ý nghĩa hơn và có lợi cho học tập bởi thông qua cách làm này học sinh lại một lần nữa ghi nhớ và khắc sâu hơn kiến thức đã gặp

Trang 9

c Sửa lỗi cả lớp (Class correction)

Giáo viên có thể cho học sinh nói hoặc viết tự do, ghi lại những lỗi cơ bản sau đó sửa chung cho cả lớp- tránh tình trạng nêu lỗi của một ai vì làm như thế dễ gây cảm giác “mất mặt” (loosing face) cho học sinh

Một bài viết của học sinh sẽ được đưa lên có thể bằng bảng phụ, trình chiếu qua máy chiếu projector làm như một ví dụ Giáo viên cùng với học sinh thảo luận, phát hiện những lỗi trong bài viết Đây là cách mà học sinh rất thích nhưng giáo viên cũng cần chú ý đến cách làm, cách thể hiện và thái độ của học sinh trong quá trình chữa bài

d Sửa lỗi nhóm (Group correction)

Đây cũng là một cách chữa lỗi rất dễ gây được hứng thú cho học sinh Học sinh làm việc theo nhóm, vừa luyện tập, vừa chửa lỗi Cách chửa lỗi theo nhóm sẽ làm cho giờ học nói và viết của học sinh trở nên nhẹ nhàng và thú vị hơn

Ví dụ: Giao bài của nhóm này cho nhóm khác sửa lỗi hoặc thành lập nhóm luyện nói, hoặc luyện viết đủ các đối tượng học sinh: học sinh khá, giỏi làm việc với học sinh trung bình ,yếu để các em sửa lỗi lẫn nhau

II.3.6 Một số kĩ thuật sửa lỗi:

Rất khó để có thể quyết định được nên chữa như thế nào và chữa bao nhiêu trên một bài viết của học sinh Học sinh có thể nảy sinh thái độ tiêu cực đối với bài viết của mình mà giáo viên sửa tất cả các lỗi hoặc nếu giáo viên chỉ sửa một

số ít các lỗi thì có thể các em lại nghĩ rằng giáo viên chưa dành đủ thời gian xem xét việc làm bài của mình Sau đây là một số thủ thuật chữa lỗi mà tôi đã từng thực hiện:

1 Dùng bút đánh dấu khác màu vào những lỗi của các em

Ví dụ: Bài viết của học sinh:

Lan get up at six o’clock She brushes her teeth, washes her face and havebreakfast Tôi đã đánh dấu khác màu các lỗi sai và yêu câu học sinh tự sửa lỗi của mình

2 Sửa lỗi bằng cách gạch chân lỗi của học sinh và viết hình thức thích hợp vào đúng vị trí của nó.

Đây là phương pháp sửa lỗi trực tiếp tôi thường sử dụng kĩ thuật này khi

thời gian bị hạn chế

Ví dụ: She bought many egges - eggs

Trang 10

3 Sử dụng kí hiệu ở bên lề hoặc ngay trên đầu lỗi để báo loại lỗi cho học sinh:

Ví dụ: Khi học sinh mắc lỗi sai về các lỗi như thì động từ, trật tự từ, chính

tả tôi đã sử dụng các ký hiệu sửa lỗi ( error correction codes) để sửa.

Các ký hiệu này phải được cung cấp trước cho học sinh và yêu cầu học sinh nhớ ý nghĩa của từng biểu tượng trong suốt cả quá trình học tập

Các ký hiệu sửa lỗi ( error correction codes) như:

WF Wrong form He is a good driveWF

WT Wrong tense I knewWT him for years

Sp Wrong spelling grandfathorSp

số lượng lỗi trong mỗi dòng, sau đó thử để cho học sinh tự xác định lỗi và chữa lỗi.

.2 The natural disaster call “Tidal wave” often occured suddenly It is the 1 result of a abrupt shift in the underwater movement of the Earth In late 0 2004, a series of tidal waves struck the seaside of Indonesia, Thailand, and 1 some other Asian country The famous resorts such as Phuket and Fiti 0 were completely destroyed A large numbers of people were killed

Học sinh nhìn vào số lượng lỗi bên lề và cố gắng để tìm ra và chữa lại

S/V= use to highlight subject-verb agreement problems (lỗi về sự hòa hợp giữa chủ từ và động từ)

WC = use to indicate a word choice problem (lỗi

về chọn từ đúng)

S/P = use to highlight singular/ plural problems (lỗi về ngôi/ số)

^ = use to indicate that there is a missing word (lỗi về thiếu từ )

VT= use to highlight a verb tense problem (lỗi về thì động từ)

/ = use to indicate that a word is unnecessary (lỗi thừa từ)

WO = use to indicate a word order problem (lỗi về trật tự từ)

C = use to show that there is a problem with capitalization (lỗi viết hoa)

WF = Wrong form Sp = Wrong spelling

Ngày đăng: 05/03/2017, 21:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w