Hiện nay, tuy đã có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch ở các cấp độ: quốc gia, cấp tỉnh… Nhưng nhìn chung, những mô hình này
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án Tiến sĩ Kinh tế “Giải pháp nâng cao năng lực
cạnh tranh trong kinh doanh du lịch tại Tiền Giang” là công trình nghiên cứu
của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Thạnh Vượng
Trang 3Đặc biệt, tôi xin chân thành cám ơn Thầy giáo PGS.TS Phạm Trung Lương, và Thầy giáo TS Nguyễn Đức Trí đã hướng dẫn tôi hoàn thành luận án này
Xin ghi nhận nơi đây lòng tri ân và biết ơn sâu sắc nhất
NGHIÊN CỨU SINH
Nguyễn Thạnh Vƣợng
Trang 4MỤC LỤC
Trang
1.2 Khái quát kết quả các công trình nghiên cứu đã công bố và vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu về năng lực cạnh tranh trong kinh doanh
du lịch
19
1.2.2 Những vấn đề các tác giả chưa đề cập tới 20
1.2.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 21
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG KINH DOANH DU LỊCH VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
23
2.1 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch 23
2.2 Các mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh kinh doanh du lịch 46
2.2.2 Mô hình Tích hợp của Dwyer L và Kim C (2003) 48
2.2.3 Mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh và tính bền vững của một điểm
đến du lịch của Goffi G (2012)
51
2.2.4 Mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh du lịch và lữ hành (2013) 53
2.3 Xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch
58
2.3.1 Các yếu tố tác động và nhận biết đến năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch tại điểm đến
58
Trang 52.3.2 Mô hình nghiên cứu 68
2.4 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh một số quốc gia và các địa phương tại Việt Nam
71
2.4.1 Kinh nghiệm của một số địa phương tại các quốc gia và kinh nghiệm
cho Tiền Giang
71
2.4.2 Kinh nghiệm của một số địa phương tại Việt Nam 74
2.4.3 Những bài học kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh
doanh du lịch cho Tiền Giang
76
Chương 3: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG KINH
DOANH DU LỊCH TIỀN GIANG GIAI ĐOẠN 2005 - 2014 VÀ KIỂM ĐỊNH
MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
82
3.1.2 Lợi thế nâng cao năng lực cạnh tranh để phát triển du lịch Tiền Giang 83
3.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh ngành kinh doanh du lịch Tiền Giang giai đoạn 2005 – 2014
86
3.2.1 Hoạt động kinh doanh du lịch tại Tiền Giang 86
3.2.2 Nhận xét đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh trong kinh doanh
du lịch ở điểm đến Tiền Giang giai đoạn 2005 – 2014
91
3.2.3 So sánh hoạt động kinh doanh của ngành du lịch Tiền Giang với các
tỉnh lân cận giai đoạn 2005 – 2014
Trang 63.4.2 Kiểm định mô hình nghiên cứu 113
4.2 Quan điểm và định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch tại Tiền Giang
132
4.2.1 Quan điểm nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch tại Tiền Giang
132
4.2.2 Định hướng phát triển du lịch Tiền Giang đến năm 2020 133
4.3 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch tại Tiền Giang
134
4.4.2 Kiến nghị đối với Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch 148
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ASEAN Association of Southeast Asian
Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEAN AEC ASEAN Economic Community Cộng đồng Kinh tế ASEAN
EFA E Exploratory Factor Analysis Phân tích nhân tố khám phá
FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do
GATS General Agreement on Trade in
Du lịch hội nghị – hội thảo
OECD Organisation for Economic and
Co-operation Development
Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển
SPSS Statistical Package for the
Social Science
Phần mềm thống kê được sử dụng cho các nghiên cứu điều tra xã hội học và kinh tế lượng
Economic Partnership Agreement
Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương
Trang 8TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
TTCI The Travel and Tourism
Competitiveness Index
Chỉ số năng lực cạnh tranh du lịch và lữ hành
UNWTO United Nations World Tourism
Organization
Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên hợp quốc
WEF World Economic Forum Diễn đàn Kinh tế Thế giới
WTO World Trade Orgamization Tổ chức Thương mại Thế giới
WTTC World Travel & Tourism Concil Hội đồng Du lịch và Lữ hành
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1: Mô hình lý thuyết năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch 70 Bảng 3.1: Tổng số khách đến Tiền Giang giai đoạn 2005 – 2014 86
Bảng 3.2: Doanh thu từ hoạt động du lịch giai đoạn 2005 – 2014 87
Bảng 3.3: Tổng hợp số khách lưu trú giai đoạn 2005 – 2014 88
Bảng 3.4: Tổng hợp cơ sở lưu trú giai đoạn 2005 – 2014 90 Bảng 3.5: Số lượng khách du lịch nội địa của các địa phương giai đoạn
Bảng 3.8: Thu nhập du lịch của các địa phương giai đoạn 2005 – 2014 99
Bảng3.10: Thang đo chính thức năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch 109
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Sơ đồ Năng lực cạnh trong kinh doanh du lịch tại điểm đến 45 Hình 2.2: Mô hình mô phỏng năng lực cạnh tranh điểm đến của Crouch
Hình 3.1 Tỷ trọng số khách du lịch quay trở lại Tiền Giang năm 2010 92
Hình 3.2: Mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch 105
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong năm 2012, lần đầu tiên trong lịch sử ngành du lịch thế giới, số lượng khách du lịch trên toàn cầu đã vượt quá con số 1 tỷ lượt người, bất chấp cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài Theo báo cáo công bố ngày 29/1 của Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên hợp quốc (United Nations World Tourism Organization – UNWTO), tổng lượng khách du lịch quốc tế trong năm vừa qua đạt 1.03 tỷ lượt người, tăng 4%
so với năm 2011 Châu Á – Thái Bình Dương là điểm đến thu hút nhiều khách du lịch quốc tế nhất, trong đó khu vực Đông Nam Á là lựa chọn số một của du khách1 Điều này cho thấy, ngành du lịch ngày càng đóng vai trò quan trọng, trở thành nền kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia Sự tăng trưởng và cạnh tranh trong ngành du lịch đã kích thích sự quan tâm đáng kể của các nhà hoạch định chính sách du lịch trong việc tiếp thị và chiến lược quản lý và phát triển du lịch
Du lịch được xem là ngành “công nghiệp không khói”, mang lại lợi ích kinh
tế vô cùng to lớn cho các quốc gia, và là động lực phát triển các ngành kinh tế khác, đồng thời tạo nhiều việc làm cho người dân Du lịch được nhiều quốc gia chọn là ngành ưu tiên phát triển trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước
Phát triển du lịch đã thúc đẩy sự thay đổi đáng kể mà cạnh tranh điểm đến là
một phần của thị trường kinh doanh du lịch “Trước khi nhận ra tiềm năng doanh
thu lớn từ du lịch của các điểm đến, hầu như các nhà hoạch định chính sách du lịch trước đây không quan tâm đến việc thu hút khách du lịch, du lịch được coi như một hiện tượng xã hội hơn là một hiện tượng kinh tế Do đó, các điểm đến dường như chỉ để chào đón khách du lịch, không tham dự vào quá trình thăm viếng, thu hút và phục vụ du khách” [56, tr.1] Theo Crouch và Ritchie (1995), du lịch là một hoạt
động kinh tế quan trọng trên toàn thế giới, do vậy, vai trò kinh doanh du lịch ở điểm đến sẽ được nâng cao, tức là năng lực cạnh tranh du lịch ở điểm đến là yếu tố quan trọng cho sự thành công trong ngành kinh doanh du lịch nói chung Vì vậy, nghiên
1
Trang 12cứu về năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch ở điểm đến du lịch đang trở thành một lĩnh vực được các nhà nghiên cứu về du lịch quan tâm
Theo Báo cáo Năng lực cạnh tranh Du lịch và Lữ hành năm 2013 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới [100], chỉ số năng lực cạnh tranh du lịch ngành du lịch Việt Nam xếp hạng 80/140 quốc gia, trong đó Singgapore xếp hạng 10/140, Nhật Bản 14/140, Hàn Quốc 25/140, Malaysia hạng 34/140, Thái Lan hạng 43/140, Trung Quốc 45/140, Indonesia hạng 70/140 Điều này cho thấy, năng lực cạnh tranh ngành du lịch Việt Nam kém, thua xa các nước trong khối Asean nói riêng và các nước Châu Á nói chung Đây là vấn đề mà các nhà hoạch định chính sách về phát triển du lịch, các nhà nghiên cứu, các học giả… đang đặc biệt chú trọng, quan tâm, qua đó tìm kiếm các giải pháp nhằm tạo năng lực cạnh tranh cho ngành du lịch Việt Nam trong giai đoạn tới
Ngành du lịch Tiền Giang bắt đầu phát triển mạnh kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO (World Trade Organization) năm 2006
Cụ thể, giai đoạn 1983 – 1999 ngành du lịch Tiền Giang chỉ có một công ty kinh doanh du lịch, lữ hành là Công ty Du lịch Tiền Giang (sau này là Công ty cổ phần
Du lịch Tiền Giang), đến nay (2015) tại Tiền Giang đã có 44 công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), công ty cổ phần du lịch (CPDL)… của nhà nước, công ty liên doanh và tư nhân tham gia kinh doanh du lịch, lữ hành Trong nhiều năm qua, tốc
độ tăng trưởng của ngành du lịch Tiền Giang luôn tăng ở mức cao và ổn định: Giai đoạn 2005 – 2011, tốc độ tăng trưởng doanh thu bình quân 14.16%/năm, tỷ lệ tăng lượt khách hàng năm là 13.13% Năm 2009 mặc dù chịu ảnh hưởng mạnh do suy thoái kinh tế thế giới và sự xuất hiện của dịch cúm gia cầm A/H1N1, nhưng Tiền Giang vẫn đón được 866,401 lượt khách (tăng 8.87% so với năm 2008) [25, tr.8] Mặc dù tăng trưởng trong kinh doanh du lịch giai đoạn qua tại Tiền Giang luôn ổn định, song sự phát triển của ngành du lịch Tiền Giang chưa tương xứng với tiềm năng, chất lượng tăng trưởng còn thấp Khách du lịch đến Tiền Giang tuy có đông về số lượng, nhưng thu nhập du lịch giai đoạn 2005 – 2014 (doanh thu, lợi
Trang 13nhuận) của Tiền Giang lại thấp hơn các tỉnh như Bến Tre, Vĩnh long Qua đó cho thấy, hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh du lịch diển ra gay gắt không chỉ tại thị trường trong nước mà còn diễn ra khắp toàn cầu Việt Nam đã tham gia ký kết các Hiệp định như Hiệp định thương mại tự do (FTA), Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược (TPP), gia nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)… đã tạo ra nhiều áp lực, thách thức lớn trong kinh doanh du lịch, đặc biệt là đối với hoạt động kinh doanh du lịch tại Tiền Giang Để tạo ra được sức cạnh tranh trong kinh doanh du lịch, ngành kinh doanh du lịch Tiền Giang cần xác định được các yếu tố chính yếu tác động đến năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch tại địa phương mình Hiện nay, tuy đã
có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch ở các cấp độ: quốc gia, cấp tỉnh… Nhưng nhìn chung, những mô hình này chưa đi sâu vào phân tích khám phá, xây dựng và kiểm định mô hình các yếu tố chính tác động đến năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch tại điểm đến, nên chưa thể vận dụng vào điều kiện cụ thể
Do vậy, việc xác định các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch tại điểm đến Tiền Giang đang được sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách phát triển du lịch, các doanh nghiệp du lịch tại Tiền Giang Để thực hiện được mục tiêu trên, cần xác định rõ những yếu tố tác động đến đến năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch và đánh giá được thực trạng năng lực cạnh tranh kinh doanh du lịch ở điểm đến thông qua mô hình đánh giá mang tính định lượng với đầu vào là các yếu tố ảnh hưởng được xác định bằng các phương pháp điều tra được tiến hành tại điểm đến Đây là những vấn đề còn mới cả về lý luận và thực tiễn trong hoạt động kinh doanh du lịch ở Việt Nam nói chung và ở địa phương tỉnh Tiền Giang nói riêng
Trong bối cảnh đó, việc thực hiện đề tài nghiên cứu “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch tại Tiền Giang” là rất cần thiết
góp phần xác lập khung nghiên cứu đánh giá năng lực cạnh tranh trong kinh doanh
du lịch ở một điểm đến và áp dụng cho trường hợp Tiền Giang để làm căn cứ đề
Trang 14xuất những giải pháp phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh kinh doanh du lịch tại điểm đến Tiền Giang, qua đó, tạo đà vững chắc cho sự phát triển của ngành du lịch, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu phát triển du lịch nói riêng và phát triển kinh tế – xã hội nói chung của địa phương tỉnh Tiền Giang và cả nước trong thời gian tới
2 Đối tƣợng và mục tiêu nghiên cứu
2.1 Đối tƣợng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch
2.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Về không gian: Tỉnh Tiền Giang (phạm vi nghiên cứu cứng) và một số địa
phương phụ cận (phạm vi nghiên cứu mềm)
- Về thời gian: Thực trạng hoạt động kinh doanh du lịch Tiền Giang giai đoạn
2005 – 2014 (dữ liệu thứ cấp) Thời gian thu thập số liệu sơ cấp từ tháng 10/2014 – 04/2015
Trang 154 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau: phương pháp tổng hợp và phân tích hệ thống, phương pháp phân tích SWOT, phương pháp nghiên cứu định tính, phương pháp nghiên cứu định lượng (sử dụng cách viết số thập phân theo chuẩn quốc tế), phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp tổng hợp và phân tích hệ thống kết hợp với phương pháp so sánh, phương pháp phân tích SWOT: được sử dụng để hệ thống hóa các vấn đề lý
thuyết liên quan đến năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch tại điểm đến, xác định các yếu tố tạo nên cũng như ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch tại điểm đến; Đánh giá hiện trạng năng lực cạnh tranh kinh doanh du lịch tại Tiền Giang, xác định những vấn đề đặt ra và nguyên nhân đối với những hạn chế về hiện trạng năng lực cạnh tranh kinh doanh du lịch tại Tiền Giang và đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch tại Tiền Giang trong giai đoạn tới
Phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phương pháp điều tra xã hội học: Được thực hiện qua các cuộc điều tra phỏng vấn sâu với 30 chuyên gia về
nghiên cứu, quản lý và kinh doanh du lịch, gồm các công chức phụ trách lĩnh vực
du lịch thuộc Sở VHTT&DL Tiền Giang, các nhà quản lý doanh nghiệp du lịch, các giáo viên du lịch tại các trường Đại học Tiền Giang, trường Đại học Tài chính – Marketing TP.HCM, trường Đại học Kinh tế TP.HCM, và các du khách, về việc xác định các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh kinh doanh du lịch; Chỉ tiêu đánh
giá và phương pháp điều chỉnh thang đo
Trang 16Hình 1: Quy trình thực hiện nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp phương pháp điều tra xã hội học nhằm:
1) Đề xuất mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch với
hệ thống tiêu chí kèm theo;
2) Điều tra, phỏng vấn sâu chuyên gia, qua đó xác định cụ thể bộ tiêu chí đánh giá các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch chính thức;
Xây dựng mô hình nghiên cứu
- Nghiên cứu định tính (thảo luận, phỏng vấn sâu)
Cơ sở khoa học của nghiên cứu
- Lý thuyết về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch tại điểm đến
- Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch tại điểm đến
Kiểm định mô hình nghiên cứu (Nghiên cứu định lượng)
- Phân tích dữ liệu (thống kê mô tả)
- Đánh giá thang đo (hệ số Cronbach alpha)
- Đánh giá mức độ phù hợp thang đo (EFA)
- Kiểm định mô hình lý thuyết (phân tích tương quan, hồi quy bội, phân tích phương sai ANOVA)
Cơ sở hoạch định giải pháp
- Hiện trạng kinh doanh du lịch tại Tiền Giang
- Hiện trạng các yếu tố tạo năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch tại Tiền Giang (T – test, ANOVA)
- Xác định các nguyên nhân hiện trạng và dự báo điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch tại Tiền Giang
Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh
doanh du lịch tại Tiền Giang
- Định hướng phát triển ngành du lịch Tiền Giang
- Xác định các yếu tố cần cải thiện hoặc bổ sung để nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch tại Tiền Giang
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch tại Tiền Giang
Trang 173) Điều tra xã hội học các đối tượng tham gia mô hình theo các tiêu chí đánh giá; Trên cơ sở kết quả điều tra xã hội học, tiến hành kiểm định mô hình đánh hiện trạng năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch tại Tiền Giang;
4) Phân tích kết quả nghiên cứu, đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch tại Tiền Giang trong thời gian tới
Phương pháp nghiên cứu định lượng được thực hiện nhằm khẳng định các yếu tố, các giá trị, độ tin cậy và mức độ phù hợp của thang đo các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch Dữ liệu nghiên cứu được thu thập bảng câu phỏng vấn du khách đến du lịch tại Tiền Giang; Kích thước mẫu dự kiến
là n = 400, phương pháp lấy mẫu được chọn theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện
kết hợp chọn mẫu hạn ngạch Quy trình trên được mô tả trong sơ đồ (Hình 1)
5 Cách tiếp cận của luận án
Trong quá trình thực hiện luận án, tác giả thực hiện cách tiếp cận chính là cách tiếp cận hệ thống Đây là cách tiếp cận được sử dụng để nghiên cứu tổng quan các vấn đề lý luận có liên quan nhằm xác định các tiêu chí xác định năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch tại điểm đến; Nghiên cứu thực trạng và các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch tại Tiền Giang và xác định nguyên nhân làm căn cứ đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch tại Tiền Giang trong giai đoạn phát triển mới Cách tiếp cận này được thể hiện rõ trong cấu trúc nội dung nghiên cứu của luận án
6 Những đóng góp của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có những đóng góp khoa học như sau:
Một là: Hệ thống hóa được những vấn đề lý luận về cạnh tranh (quan điểm cổ
điển và quan điểm hiện đại), năng lực cạnh tranh, và năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch; Những yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh kinh doanh du lịch tại điểm đến
Trang 18Hai là: Tổng quan và đề xuất được hệ thống thang đo các yếu tố tác động đến
năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch (Theo Dwyer L và Kim C., 2003, hiện nay, chưa có thang đo lường riêng áp dụng cho từng loại điểm đến trong kinh doanh du lịch [62, tr 399]) và mô hình đánh giá
Ba là: Áp dụng mô hình đánh giá được hiện trạng năng lực cạnh tranh kinh
doanh du lịch tại điểm đến Tiền Giang
Bốn là: Đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong
kinh doanh du lịch tại Tiền Giang
Các kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên và sinh viên các ngành quản trị nói chung
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch và mô
hình nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch tại Tiền Giang
giai đoạn 2005 – 2014 và kiểm định mô hình nghiên cứu
Chương 4: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch tại
Tiền Giang
Trang 19Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh kinh doanh du lịch như đã đề cập ở trên,
đã được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu Các khái niệm cạnh tranh được đưa ra liên quan đến kinh doanh du lịch như năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch được tranh luận trong nhiều luận án, bài báo, tạp chí khoa học trên thế giới Cụ thể:
(1) Tác giả Meng F (2006), trong nghiên cứu “Một kiểm định về năng lực cạnh tranh điểm đến dưới quan điểm khách du lịch: Mối quan hệ giữa chất lượng trải nghiệm du lịch và cảm nhận về năng lực cạnh tranh điểm đến” [84],
đã đưa ra các cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh, năng lực cạnh tranh điểm đến trong kinh doanh du lịch Phương pháp nghiên cứu trong đề tài được sử dụng là
phương pháp Phân tích tương quan chuẩn tắc CCA (Canonical Correlation
Analysis), là một phương pháp phân tích dữ liệu được sử dụng để kiểm tra mối quan hệ giữa chất lượng du lịch trải nghiệm và năng lực cạnh tranh điểm đến Trong phần nội dung, tác giả đã đưa ra mô hình kiểm định năng lực cạnh tranh điểm đến dựa trên sự cảm nhận của khách du lịch Mô hình gồm các yếu tố: Kinh nghiệm về lập kế hoạch trước chuyến đi; Lộ trình, tuyến điểm và giai đoạn (phản ánh) sau chuyến đi Mẫu khảo sát của mô hình là 353 mẫu, trong đó, độ tuổi của người tham gia khảo sát là từ 18 tuổi trở lên và có ít nhất một chuyến đi giải trí xa nhà Các kết
quả nghiên cứu cho thấy, chất lượng của kinh nghiệm du lịch và cảm nhận của
khách du lịch về năng lực cạnh tranh điểm đến có liên quan nhau, (được chứng
minh bởi hai yếu tố này có phương sai bằng nhau) Nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, yếu tố cảm nhận của du khách về năng lực cạnh tranh điểm đến bị tác động mạnh đến yếu tố chất lượng trải nghiệm du lịch trong các giai đoạn khác nhau (lập kế
Trang 20hoạch trước chuyến đi, trải nghiệm về lộ trình, trải nghiệm về tuyến điểm, phản ánh sau chuyến đi)
(2) Tác giả Pakdeepinit P (2007), với đề tài nghiên cứu “Mô hình cho phát triển du lịch bền vững ở khu dân cư bờ hồ Kwan Phayao, tỉnh Phayao, phía trên miền bắc Thái Lan” [90] Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài là
phương pháp định tính và phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu định lượng
Tác giả đã nêu lên các khái niệm về phát triển du lịch bền vững, văn hóa du lịch, sự tham gia của công chúng… Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này nhằm để phát triển
du lịch bền vững, qua việc điều tra thái độ của khách du lịch đối với hoạt động du
lịch, từ đó xây dựng và phát triển một mô hình phát triển du lịch bền vững với các
đặc trưng và các thành phần thích hợp cho cộng đồng Tác giả đã đề xuất các kế hoạch phát triển du lịch bền vững ở khu dân cư bờ hồ Phayao Phương pháp thu thập dữ liệu gồm các bảng câu hỏi, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, và các diễn đàn công cộng Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, có 6 yếu tố quan trọng tác động đến phát
triển du lịch bền vững, bao gồm, nghiên cứu du lịch, tiếp cận, tiện nghi, an toàn,
năng lực vận chuyển, và sự tham gia của cộng đồng Nghiên cứu này cũng đã phát
hiện có bốn thành phần đáp ứng sự hài lòng của cộng đồng dân cư, gồm nghiên cứu
du lịch, tiếp cận, tiện nghi, an toàn, năng lực vận chuyển Hai thành thành phần
khác trong mô hình gồm sự tham gia của cộng đồng và tiện nghi không đạt điều
kiện nên bị loại ra khỏi mô hình
(3) Tác giả Goffi G (2012), với đề tài nghiên cứu “Các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch: Mô hình lý thuyết và chứng cứ thực nghiệm” [70], đã lược khảo nhiều khái niệm về năng lực cạnh tranh điểm đến du
lịch của các tác giả trên thế giới Trong đề tài, tác giả sử dụng Phương pháp phân
tích thành phần chính PCA (Principal Component Analysis), phương pháp này
được sử dụng nhằm làm giảm độ lớn của các biến Tác giả vận dụng mô hình nghiên cứu năng lực cạnh tranh điểm đến của Riche và Crouch (2000), để do lường
năng lực cạnh tranh của hai điểm đến hàng đầu ở Mỹ Latinh: Rio de Janeiro và
Trang 21Salvador de Bahia vào nghiên cứu của mình Kết quả nghiên cứu cho thấy, một
chính sách du lịch bền vững và quản lý điểm đến không những tốt cho việc giữ gìn cân bằng sinh thái, giảm thiểu các tác động tiêu cực đến văn hóa và xã hội, mà còn
có một tầm quan trọng to lớn trong việc cải thiện năng lực cạnh tranh của một điểm đến du lịch Tác giả nhận định, nghiên cứu này ngoài việc góp phần làm tăng cường thêm tài liệu về các nghiên cứu năng lực cạnh tranh điểm đến, còn bổ sung thêm về thang đo các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh, từ việc khảo sát ý kiến của các chuyên gia du lịch
(4) Crouch G.I (2007), trong nghiên cứu “Mô hình năng lực cạnh tranh điểm đến, Một khảo sát và phân tích các tác động của các thuộc tính cạnh tranh”
[54], đã trình bày các khái niệm về năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch, và xây dựng được một mô hình năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch gồm 5 yếu tố: (1)
Nguồn lực cốt lõi và tính hấp dẫn (xếp trên bốn yếu tố khác về tầm quan trọng của
thuộc tính); (2) Các nhân tố và nguồn lực hỗ trợ; (3) Chính sách điểm đến, hoạch
định và phát triển; (4) Quản lý điểm đến, và; (5) Các yếu tố hạn định và mở rộng
Mô hình này có 36 thuộc tính cấu thành năng lực cạnh tranh của một điểm đến du lịch Dữ liệu được thu thập theo đánh giá của các chuyên gia (các đáp viên là những người Châu Âu, Bắc Mỹ, Australia, New Zealand) được thực hiện bằng cách sử
dụng một cổng mạng trực tuyến và sử dụng quy trình phân tích phân cấp Phương
thấy một số thuộc tính quan trọng nhất bao gồm 10 trong số 36 thuộc tính cạnh tranh điểm đến có tác động mạnh nhất đến năng lực cạnh tranh điểm đến là: Địa lý
và khí hậu; Kết hợp các hoạt động du lịch; Cấu trúc thượng tầng du lịch; Văn hóa
và lịch sử; Nhận thức và hình ảnh điểm đến; Các sự kiện du lịch đặc biệt; Giải trí;
Cơ sở hạ tầng du lịch; Khả năng tiếp cận; Định vị /xây dựng thương hiệu
(5) Kim C và Dwyer L (2003), trong nghiên cứu “Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch và luồng du lịch song phương giữa Australia và Hàn Quốc”
[75], đã nêu lên các khái niệm về năng lực cạnh tranh, năng lực cạnh tranh điểm đến
Trang 22du lịch Các tác giả đã khảo sát, đánh giá năng lực cạnh tranh tranh điểm đến của 2 điểm đến Australia và Hàn Quốc Dựa vào Mô hình tích hợp, một bộ câu hỏi về năng lực cạnh tranh điểm đến của Australia và Hàn Quốc đã được Kim C và Dwyer
L (2003) thiết lập Các chỉ số được liệt kê trong các công cụ khảo sát bao gồm cả đánh giá khách quan và chủ quan và đã xác định các yếu tố chính gồm mô hình năng lực cạnh tranh điểm đến Các chỉ số này cũng được lựa chọn dựa trên các buổi thảo luận tại các hội thảo được tổ chức tại Australia và Hàn Quốc năm 2001 Những người tham gia vào các hội thảo đã xác định tầm quan trọng của các chỉ số và các thuộc tính đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến Nghiên cứu đã nhận diện 5 yếu tố
tác động đến năng lực cạnh tranh điểm đến tại Australia và Hàn Quốc gồm: Nguồn
lực kế thừa; Nguồn lực tạo ra; Các nhân tố và nguồn lự hỗ trợ; Quản lý điểm đến;
và; Điều kiện tình huống, với 83 thuộc tính Mô hình sử dụng thang đo Likert 5
điểm (trong đó, 1 điểm: không đồng ý đến 5 điểm: hoàn toàn đồng ý) Kết quả nghiên cứu cho thấy, có sự khác biệt về giá trị của từng biến số (thuộc tính) của những người tham gia trả lời giữa 2 điểm đến tại Australia và Hàn Quốc
(6) Barbosa L.G.M., de Oliveira C.T.F., và Rezende C (2010), trong nghiên
cứu “Năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch: Nghiên cứu 65 điểm đến chính
về phát triển khu vực du lịch” [46], cũng đã khái quát một số khái niệm về năng
lực cạnh tranh trong lĩnh vực du lịch Mục đích của nghiên cứu nhằm phát hiện được các yếu tố quan trọng của năng lực cạnh tranh của một điểm đến du lịch cụ thể Các tác giả đã xây dựng mô hình nghiên cứu năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch với 13 tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch tại Brazil (với 60
biến quan sát): (1) Cơ sở hạ tầng chung, (2) Tính tiếp cận, (3) Dịch vụ du lịch và
trang thiết bị, (4) Sức thu hút du lịch, (5) Tiếp thị, (6) Chính sách công, (7) Hợp tác khu vực, (8) Giám sát, (9) Kinh tế địa phương, (10) Năng lực kinh doanh, (11) Các khía cạnh xã hội, (12) Các khía cạnh môi trường và, (13) Các khía cạnh văn hóa
Nghiên cứu này được Barbosa và các tác giả khảo sát và so sánh năm 2008 với năm
2009 Kết quả nghiên cứu cho thấy, số điểm người tham gia trả lời đánh giá các yếu
tố tác động đến năng lực cạnh tranh vào năm 2009 tăng khiêm tốn 1.9% so với năm
Trang 232008 (tăng từ 52.1 điểm năm 2008 lên 54.0 điểm năm 2009) Trong đó, tiêu chí Giám sát thuộc mức 2, mức thấp nhất); Các tiêu chí: Tính tiếp cận, Dịch vụ du lịch
và trang thiết bị, Sức thu hút du lịch, Chính sách công, Hợp tác khu vực, Kinh tế địa phương, Năng lực kinh doanh, Các khía cạnh xã hội, Các khía cạnh văn hóa thuộc mức 3 (mức trung bình); Các tiêu chí: Cơ sở hạ tầng chung, Các khía cạnh môi trường thuộc mức 4 (mức khá) Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để các nhà hoạch định chính sách du lịch, các doanh nghiệp du lịch Brazil… tìm kiếm các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực du lịch
(7) Dragićević V., Joviĉić D., Bleŝić I., Stankov U., và Boŝković D (2012),
trong đề tài nghiên cứu “Năng lực cạnh tranh kinh doanh điểm đến du lịch: Một tình huống của tỉnh Vojvodina (Serbia)” [59], đã lược khảo nhiều khái niệm về
năng lực cạnh tranh, năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch Nhóm tác giả đã dựa vào mô hình của Ritchie và Crouch (2003), xây dựng được mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh kinh doanh điểm đến du lịch tỉnh Vojvodina, Serbia Ngoài ra,
đề tài cũng nhằm mục đích kiểm tra mối quan hệ giữa yếu tố quyết định năng lực
cạnh tranh điểm đến nhằm xác định điểm yếu nhất về năng lực cạnh tranh kinh
doanh điểm đến du lịch của tỉnh Vojvodina, và đặc biệt là vị trí của quản lý điểm
đến Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, hai yếu tố quyết định: Quản lý và chính sách
điểm đến (2.52 điểm), Quy hoạch và phát triển (2.56 điểm), là các yếu tố yếu nhất
của năng lực cạnh tranh tỉnh Vojvodina, xếp hạng cao nhất là Nguồn lực cốt lõi và
Sức thu hút (3.02 điểm) Kết quả nghiên cứu có giá trị tốt nhất trong việc giúp các
nhà tổ chức quản lý điểm đến, những người sáng tạo chính sách du lịch và các học viên du lịch hiểu rõ hơn việc xác định ưu điểm và các vấn đề trong kinh doanh du lịch và phát triển du lịch tại tỉnh Vojvodina nói chung, và xây dựng chiến lược nhằm khắc phục những nhược điểm tại điểm đến Các tác giả đã khảo sát 118 người, gồm công chức nhà nước (13.6%), nhân viên làm việc tại các doanh nghiệp
du lịch địa phương (5.9%), những người chủ các trung tâm hội nghị (4.2%), các Viện nghiên cứu du lịch (39%), học viên sau đại học các lớp du lịch (22.9%), các nhà quản lý du lịch (5.1%), các nhà quản lý lĩnh vực khách sạn (4.2%), và những
Trang 24người làm ngành nghề khác (5.1%) Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu thống
kê mô tả, với thang đo Likert 5 điểm Kết quả nghiên cứu cho thấy, năng lực cạnh
tranh trong kinh doanh điểm đến du lịch tỉnh Vojvodina còn kém so với các đối thủ tại Serbia Để nâng cao năng lực cạnh tranh, ngành du lịch tỉnh Vojvodina cần chú trọng cải thiện các yếu tố quản lý và chính sách điểm đến, quy hoạch và phát triển
du lịch Đây là 2 nhóm yếu tố ít tạo ra năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch tại tỉnh Vojvodina mà trong nghiên cứu của Dragićević V và các tác giả (2012), đã phát hiện
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
(1) Luận án Tiến sĩ Kinh tế của tác giả Nguyễn Quang Vinh (2011), với đề tài
“Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành quốc tế Việt Nam sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)” [41], đã khái quát các
khái niệm về khả năng cạnh tranh bao gồm năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch lữ hành quốc tế, các yếu tố tác động tới cạnh tranh, chỉ số đo lường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch lữ hành quốc tế Trên cơ sở mô hình chuỗi giá trị của Porter M., tác giả đã tiến hành xây dựng hệ thống các nhân tố cấu thành (6 nhân tố, 17 chỉ số) nhằm phản ánh một cách toàn diện khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp lữ hành quốc tế trong đó có tính đến khả năng liên kết, hợp tác và quản lý khủng hoảng theo đặc thù của các doanh nghiệp này Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu ma trận điểm và các công cụ toán học, đã xây dựng
mô hình định lượng cho phép xác định mức độ ảnh hưởng của các nhóm nhân tố nguồn lực của doanh nghiệp; Khả năng duy trì và mở rộng thị phần; Khả năng cạnh tranh của sản phẩm; Khả năng duy trì, nâng cao hiệu quả kinh doanh; Khả năng quản lý và đổi mới; Khả năng liên kết và hợp tác tới khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp lữ hành quốc tế
(2) Luận án Tiến sĩ Kinh tế của Nguyễn Anh Tuấn (2010), “Nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch Việt Nam” [33], bảo vệ tại Đại học Quốc gia
Hà Nội Tác giả đã nghiên cứu khái quát một số vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh
Trang 25điểm đến trong phát triển du lịch như: cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, điểm đến và năng lực cạnh tranh điểm đến Tác giả áp dụng mô hình Tích hợp của Dwyer và Kim (2003) và phương pháp điều tra trên mạng Survey Monkey để điều tra, phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Việt Nam Đề tài vận dụng phương pháp nghiên cứu: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, so sánh, thống kê, điều tra, phỏng vấn, phương pháp phân tích SWOT Đề tài đã chỉ ra những mặt mạnh, mặt yếu, cơ hội và
áp lực đối với ngành du lịch Việt Nam cũng như nguyên nhân của hạn chế về năng lực cạnh tranh điểm đến của ngành du lịch Việt Nam Tác giả đã đề xuất 4 quan điểm nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Việt Nam, phù hợp với thực
tiễn của ngành du lịch Việt Nam: (1) Ngành du lịch phải trở thành một trong những
ngành kinh tế hàng đầu, đóng góp quan trọng vào sự thịnh vượng quốc gia; (2) Môi trường chính sách phải tạo thuận lợi cho du lịch phát triển; (3) Ngành du lịch phải được phát triển theo hướng năng động, thích ứng nhanh và ứng phó kịp thời với những thay đổi; (4) Ngành du lịch phải được phát triển theo hướng chất lượng, hiệu quả, bền vững.
Trên cơ sở các quan điểm này và kết quả nghiên cứu lý luận, thực tiễn, tác giả luận án đã đề xuất 7 nhóm khuyến nghị về chính sách và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến của ngành du lịch Việt Nam với những luận cứ chặt chẽ, toàn diện và có tính khả thi: Xác định đúng vị trí, vai trò của du lịch, hoàn thiện hệ thống luật pháp và chính sách có liên quan đến du lịch; Chú trọng nghiên cứu thị trường, tiếp thị điểm đến du lịch Việt Nam; Phát triển sản phẩm du lịch mới, đa dạng, khác biệt; Áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động du lịch; Chú trọng bảo
vệ môi trường và phát triển du lịch bền vững; Phát triển nguồn nhân lực du lịch theo hướng chuyên nghiệp; Đẩy mạnh hợp tác quốc tế
(3) Tác giả Nguyễn Thị Thu Vân (2012), với nghiên cứu “Nghiên cứu năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Đà Nẵng” [39], đã khái quát các khái niệm về
năng lực cạnh tranh du lịch của các tác giả quốc tế, vàcho rằng, năng lực cạnh tranh
Trang 26du lịch là khả năng của một điểm đến trong việc tạo ra, tích hợp và cung cấp trải nghiệm du lịch, bao gồm cả sản phẩm và dịch vụ giá trị gia tăng được khách du lịch coi trọng, giúp bảo vệ các nguồn tài nguyên đồng thời duy trì vị trí thị trường so với các điểm đến khác Tác giả đã phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch của thành phố Đà Nẵng, một trong những điểm đến hấp dẫn của Việt Nam và khu vực Phương pháp nghiên cứu được sử dụng
trong đề tài là phương pháp định lượng
Trong nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Đà Nẵng, được tác giả đánh giá căn cứ vào giá trị trung bình của 84 chỉ số (Mô hình tích hợp của Dwyer và Kim) để làm sáng tỏ những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của thành phố Đà Nẵng Quy trình phân tích nhân tố khám phá được thực hiện qua 11 bước Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 7 nhân tố được hình thành, tác động đến năng lực cạnh
tranh điểm đến du lịch Đà Nẳng, gồm: (1) Nguồn lực tự nhiên; (2) Nguồn lực kế
thừa; (3) Nguồn lực tạo ra; (4) Nguồn lực hỗ trợ; (5) Quản trị điểm đến; (6) Điều kiện hoàn cảnh, và; (7) Điều kiện về cầu Kết quả phân tích thống kê mô tả 7 nhân
tố trên cho thấy, hầu hết các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của điểm đến
du lịch Đà Nẵng đều ở mức trung bình khá, không có nhân tố nào xuất sắc (giá trị
trung bình lớn hơn 4), cũng không có nhân tố tiêu cực (giá trị trung bình nhỏ hơn 2) Như vậy, điểm đến du lịch Đà Nẵng được đánh giá có năng lực cạnh tranh tương đối tốt trong thời gian qua Từ kết quả nghiên cứu, đã giúp đánh giá được điểm mạnh, yếu của từng yếu tố cũng như từng khía cạnh cụ thể của năng lực cạnh tranh Điểm đến du lịch Đà Nẵng, qua đó giúp cho ngành du lịch Đà Nẵng cải thiện các tiêu chí đánh giá, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trong tương lai
(4) Tác giả Đào Duy Huân (2015), với đề tài nghiên cứu “Đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Thành phố Cần Thơ” [12], đã nghiên cứu các lý
thuyết về năng lực cạnh tranh của các nghiên cứu trước đây Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả sử dụng lý thuyết 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter để phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Thành phố Cần Thơ Trong
Trang 27nghiên cứu, tác giả Đào Duy Huân (2015) đã sử dụng ma trận hình ảnh cạnh tranh
để so sánh, xếp loại các đối thủ cạnh tranh chính của ngành du lịch Cần Thơ, là các ngành du lịch An Giang, Tiền Giang, Bến Tre Kết quả nghiên cứu cho thấy, ngành
du lịch Cần Thơ xếp thứ 1, đứng vị trí thứ hai là du lịch An Giang, sau đó là du lịch Tiền Giang, và cuối cùng là du lịch Bến Tre Tổng số điểm quan trọng của ngành du lịch Cần Thơ là 3.1 cho thấy Cần Thơ là một đối thủ cạnh tranh mạnh, nếu xét theo khía cạnh chiến lược thì du lịch Cần Thơ ứng phó hiệu quả với môi trường bên trong và bên ngoài
Trên cơ sở của kết quả trên, tác giả đã đề xuất 4 giải pháp để nâng cao năng
lực cạnh tranh như: (1) Tiếp tục xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù TP Cần Thơ:
bảo tồn và phát triển chợ nổi Cái Răng, hỗ trợ các quận/ huyện xây dựng sản phẩm
du lịch của từng địa phương; (2) Phát triển các tuyến du lịch bao gồm các tuyến du
lịch chính hội tụ về Cần Thơ, nâng cấp, duy tu một số tuyến điểm tham quan quan
trọng: Chợ nổi, Làng cổ Bình Thủy – Lộ Vòng Cung…; (3) Đẩy mạnh tuyên truyền,
giới thiệu, quảng bá xúc tiến du lịch; (4) Quy hoạch phát triển nhân lực du lịch phù
hợp với nhu cầu phát triển du lịch từng thời kỳ; (5) Nâng cao hiệu suất điều hành và
kỹ năng xử lý các mối quan hệ giữa phát triển du lịch với vấn đề bảo tồn tạo nguồn
tài nguyên môi trường; (6) Đầu tư vốn cho phát triển du lịch; (7) Nâng cấp cơ sở hạ
tầng vật chất, phục vụ du lịch; (8) Mở rộng liên kết, liên doanh, phát triển du lịch
với các tỉnh trong vùng kinh tế ĐBSCL, và; (9) Phát triển du lịch bền vững là giải
pháp cốt lõi để nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch TP Cần Thơ
(5) Tác giả Phạm Hải Yến (2013), trong nghiên cứu “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp du lịch Việt Nam trong thời kỳ hội nhập” [43], đã nêu lên thực
trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch Việt Nam Tác giả nhận xét,
kể từ khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), du lịch Việt Nam đã đạt được những kết quả rất ấn tượng, thể hiện qua việc gia tăng nhanh chóng về số lượng khách đi du lịch nội địa và khách quốc tế đến Việt Nam cũng như sự hình thành và phát triển của các doanh nghiệp du lịch trên thị trường Việt Nam gia nhập
Trang 28WTO đã mở ra những cơ hội rất lớn cho ngành du lịch Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp du lịch nói riêng Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường toàn cầu, các doanh nghiệp Việt Nam gặp phải những đối thủ lớn (các công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia có tiềm lực tài chính, công nghệ, kinh nghiệm và năng lực cạnh tranh cao), phải cạnh tranh quyết liệt trong điều kiện mới (thị trường quốc tế với những nguyên tắc nghiêm ngặt của định chế thương mại và luật pháp) Tác giả kết luận, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch Việt Nam còn ở mức hạn chế và luôn ở thứ hạng thấp hơn so với các nước trong khu vực như: Malaysia, Thái Lan, Singapore, Indonesia và Trung Quốc Qua đó, tác giả đã đề xuất 5 nhóm giải pháp nâng cao
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch Việt Nam theo thứ tự ưu tiên: (1)
Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp: Nâng cao trình độ học vấn, hiểu biết về kinh
tế – xã hội, văn hóa, luật pháp… cho các chủ doanh nghiệp, các cán bộ quản lý và
người lao động trong doanh nghiệp; (2) Sản phẩm của doanh nghiệp: Cần tạo ra
những sản phẩm đa dạng, phong phú mang thương hiệu của các doanh nghiệp nói
riêng và của du lịch Việt Nam nói chung; (3) Các doanh nghiệp cần đầu tư mạnh
mẽ, áp dụng công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và viễn thông trong
hoạt động kinh doanh du lịch trực tuyến; (4) Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương
mại, quảng cáo và tuyên truyền: Hiện nay, quảng cáo là kênh kết nối doanh nghiệp
và khách hàng hiệu quả nhất; (5) Mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp:
Các doanh nghiệp cần chủ động đa dạng hóa cơ cấu vốn để không phụ thuộc quá nhiều vào vốn vay ngân hàng
(6) Các tác giả Phạm Thị Thu Hường và Đinh Hồng Lĩnh (2012), trong đề tài
nghiên cứu “Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Phú Thọ” [13], đã
đánh giá Phú Thọ là tỉnh có tiềm năng về tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú, đa dạng để thúc đẩy phát triển du lịch, từng bước đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Tỉnh Phú Thọ được đánh giá là một tỉnh có môi trường chính trị ổn định, an ninh, trật tự xã hội đảm bảo, không có điểm nóng về chính trị
và xã hội, chính quyền nhà nước, nhân dân địa phương thân thiện Đề tài đã đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành du lịch Phú Thọ: Ngành
Trang 29du lịch đã xây dựng và giới thiệu 12 tour du lịch “Về miền lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam” đến 30 hãng lữ hành lớn của cả nước, thu hút khoảng 400 tour của các hãng lữ hành; Ngành tích cực tham gia vào chương trình hợp tác “du lịch về cội nguồn” 3 tỉnh Phú Thọ – Yên Bái – Lào Cai, gắn kết chương trình “Về miền lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam” tạo nên chuỗi hoạt động liên kết đem lại hiệu quả xã hội cao Các tác giả cũng nêu lên những hạn chế của năng lực cạnh tranh ngành du
lịch tỉnh Phú Thọ: (1) Môi trường kinh doanh kém thuận lợi do quản lý Nhà nước trong lĩnh vực du lịch vẫn còn nhiều bất cập; (2) Các doanh nghiệp du lịch tỉnh Phú
Thọ đa phần thuộc loại nhỏ, thiếu vốn, chất lượng dịch vụ hạn chế, năng lực quản lý
và hiệu quả hoạt động còn thấp do thiếu chiến lược trong kinh doanh, cạnh tranh đơn lẻ và chưa có khả năng hợp tác thành các tập đoàn để nâng cao vị thế của mình;
(3) Sản phẩm du lịch ở các khu, điểm du lịch còn nghèo nàn, đơn điệu, không đặc
sắc và thiếu các sản phẩm đặc thù Qua phân tích, các tác giả đã đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch Phú Thọ: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của môi trường kinh doanh ngành; Giải pháp phát triển nguồn nhân lực
du lịch; Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống doanh nghiệp du lịch; Giải pháp đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch; Giải pháp xúc tiến quảng bá du lịch; Giải pháp thu hút vốn đầu tư; Giải pháp phát triển du lịch bền vững với sự tham gia của cộng đồng địa phương
1.2 Khái quát kết quả các công trình nghiên cứu đã công bố và vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu về năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch
1.2.1 Những vấn đề các tác giả đã làm rõ
Trong nội dung mục 1.1.1 và mục 1.1.2, tác giả đã khái quát các công trình
chủ yếu đã được công bố về du lịch và liên quan đến năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch Từ các công trình nêu trên, có thể thấy, các tác giả đã hướng vào những nội dung chủ yếu sau đây:
Trang 30- Xác định được những nét cơ bản về năng lực cạnh tranh trong kinh doanh
du lịch với nội hàm liên quan đến năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch: khái niệm du lịch, năng lực cạnh tranh điểm đến…
- Các tác giả đã xây dựng được mô hình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch, và phân tích, đánh giá các yếu tố tác động tích cực đến năng lực cạnh tranh kinh doanh du lịch
- Các nghiên cứu đã nêu lên đặc điểm, tình hình, năng lực cạnh tranh kinh doanh du lịch của các doanh nghiệp/ các quốc gia trên thế giới hiện nay Những kinh nghiệm để nâng cao năng lực cạnh tranh kinh doanh du lịch, tạo lập sản phẩm
du lịch khác biệt, độc đáo để thu hút khách du lịch của một số vùng ở Việt Nam và các nước trên thế giới
- Nêu lên thực trạng về khả năng cạnh tranh của một số vùng/ địa phương tại Việt Nam như Cần Thơ, Đà Nẵng, Phú Thọ… và các địa phương ở nước ngoài như Vojvodina (Serbia), Phayao (Thái Lan), Rio de Janeiro và Salvador de Bahia (Brazil), và một số quốc gia như Trung Quốc, Hàn Quốc, Australia…
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh
du lịch ở điểm đến, bao gồm các yếu tố: nguồn lực cốt lõi và tính hấp dẫn, các điều kiện và nguồn lực hỗ trợ, chính sách và quản lý điểm đến, cơ sở hạ tầng du lịch
1.2.2 Những vấn đề các tác giả chƣa đề cập tới
Qua xem xét các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh kinh doanh du lịch của các tác giả vừa nêu trên, có thể thấy tồn tại một số vấn đề như sau:
- Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch của các tác giả trong nước và nước ngoài đã xây dựng được một mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch với các thuộc tính tác động đến năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, các tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu thống kê, so sánh, phân tích các chỉ số thống kê (giá trị trung bình) của các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch trong mô hình, chưa xây dựng một
Trang 31phương trình hồi quy tuyến tính, nhằm chỉ ra các yếu tố có tầm quan trọng cao nhất đến ít quan trọng nhất tác động đến năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch
Có thể nhận định, có rất ít nghiên cứu đề xuất một mô hình định lượng riêng nghiên cứu năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch, đặc thù cho từng điểm đến cụ thể trong lĩnh vực kinh doanh du lịch Các nghiên cứu trên chỉ tập trung phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, những cơ hội, đe dọa của ngành kinh doanh du lịch qua việc vận dụng các phương pháp định tính: ma trận hình ảnh, phương pháp phân tích SWOT, phương pháp phân tích thống kê mô tả… để đánh giá năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch Trong khi đó, để nâng cao năng lực cạnh tranh
trong kinh doanh du lịch, đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải xây dựng một mô hình
định lượng, qua việc xác định các yếu tố chính tác động đến năng lực cạnh tranh
trong kinh doanh du lịch
1.2.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du
lịch Trong luận án này, nghiên cứu sinh phải phân tích và làm rõ khái niệm về năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch, các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch, và làm rõ nội hàm về các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch Từ đó, xây dựng được mô hình đánh giá các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch, khảo sát, phân tích và đo lường kết quả các yếu tố này Đồng thời, làm rõ sự tương tác giữa các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch
Thứ hai, nghiên cứu những kinh nghiệm của các địa phương Việt Nam và các
quốc gia trên thế giới về việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch của họ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay để rút ra bài học kinh nghiệm tham khảo cho ngành du lịch Việt Nam nói chung cho ngành du lịch Tiền Giang nói riêng Theo đó, tác giả luận án sẽ phải nghiên cứu những kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch của các địa phương, từ đó rút
ra bài học kinh nghiệm cho Tiền Giang
Trang 32Thứ ba, nghiên cứu cần làm rõ thực trạng kinh doanh du lịch của ngành du
lịch Tiền Giang giai đoạn 2005 – 2014, chỉ ra những mặt mạnh, mặt yếu, những cơ hội và những hạn chế, trong quá trình kinh doanh du lịch trong thời gian qua Theo vấn đề này, nghiên cứu sinh sẽ xác định bối cảnh, đề xuất các mục tiêu, phương hướng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch tại điểm đến du lịch Tiền Giang trong thời gian tới
1.3 Tóm tắt chương 1
Chương 1 trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước và trong nước liên quan đến đề tài nghiên cứu Bên cạnh đó, chương 1 cũng nêu lên những vấn đề còn tồn tại từ những công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả đã được công
bố, và chỉ ra những vấn đề mà luận án cần tập trung giải quyết
Trang 33Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG KINH DOANH
DU LỊCH VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch
2.1.1 Quan điểm về cạnh tranh
Thuật ngữ “cạnh tranh” hoặc “năng lực cạnh tranh” (tiếng Anh thường sử dụng là competitiveness) được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau dẫn đến có nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh Trong nghiên cứu này, khái niệm cạnh tranh được nghiên cứu dưới hai quan niệm cổ điển và hiện đại
2.1.1.1 Quan điểm cạnh tranh cổ điển
Các quan điểm cạnh tranh cổ điển xuất phát từ thế kỷ 17, đến cuối thế kỷ 18 mới phát triển mạnh mẽ, gắn liền tên tuổi của một số nhà kinh tế học như Adam Smith, David Ricardo, Jhon Stuart Mill, Karl Marx.… Dưới đây là một số cách tiếp cận khác nhau theo quan điểm cạnh tranh cổ điển:
- Tự do cạnh tranh: Theo Smith A., cạnh tranh có thể phối hợp các hoạt động
kinh tế một cách nhịp nhàng và có lợi cho xã hội Tự do cạnh tranh thôi thúc cá nhân thực hiện các công việc một cách tốt hơn và năng suất hơn, khơi dậy nỗ lực của con người và làm cho của cải của quốc gia tăng lên Bên cạnh đó, theo Smith A., cạnh tranh còn có tác dụng nâng cao năng lực lao động, điều tiết, phân phối các yếu tố tư bản một cách hợp lý [34, tr.16,18]
- Tương tự, theo Mill J.S., cá nhân có chủ quyền đối với mình, đối với thân thể, tư tưởng của mình với điều kiện không làm phương hại đến bất kỳ ai [34, tr.18-19] Quan điểm của Mill J.S về cạnh tranh là, các công ty có quyền tự do cạnh tranh nhưng không được đưa lợi ích cá nhân, quyền lợi của công ty lên trên giá trị đạo đức kinh doanh, đạo đức xã hội Giống như Smith A., Mill J.S cũng đề cao tự
Trang 34do cá nhân, tuy nhiên Mill cho rằng, xã hội có quyền sử dụng vũ lực để ngăn ngừa
cá nhân gây ra hậu quả xấu
- Mục đích cạnh tranh: Theo Mác – Lê nin, “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự
đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất – kinh doanh với nhau nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất – kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ để thu được nhiều lợi ích cho mình Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh” [11, tr.65]
- Phương thức cạnh tranh: Theo Từ điển Kinh tế Kinh doanh Anh – Việt (2002), “Cạnh tranh là sự đối địch giữa các hãng kinh doanh trên cùng một thị
trường để giành được nhiều khách hàng, do đó thu được nhiều lợi nhuận hơn cho bản thân,…” [7, tr.115]
Mặc dù các khái niệm về cạnh tranh chưa được thống nhất, nhưng nội hàm cạnh tranh theo quan niệm cổ điển đều phản ánh:
- Cạnh tranh là phối hợp các hoạt động kinh tế nhằm có lợi cho xã hội Tự do cạnh tranh giúp cá nhân thực hiện công việc tốt hơn và tăng năng suất hơn, từ đó làm cho của cải của quốc gia tăng lên Tuy nhiên, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có sự ràng buộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ: đạo đức kinh doanh, khuôn khổ pháp lý
- Cạnh tranh phản ánh mối quan hệ đối kháng diễn ra trên thị trường giữa những chủ thể có cùng mục đích, nhằm giành cho mình lợi ích nhiều hơn so với các chủ thể khác Cạnh tranh cũng nhằm mục đích nâng cao vị thế của người này và làm giảm vị thế của những người khác
- Các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau: cạnh tranh bằng giá bán các sản phẩm/ dịch vụ, cạnh tranh bằng sản phẩm chất lượng tốt… (ví dụ: giá bán các sản phẩm/ dịch vụ của doanh nghiệp rẻ hơn so với
Trang 35giá bán các sản phẩm/ dịch vụ cùng loại của đối thủ, chất lượng sản phẩm tốt hơn so với đối thủ)
Như vậy, cạnh tranh là hiện tượng phổ biến trong tự nhiên, xã hội, kinh tế Bản chất của cạnh tranh là tối đa hóa lợi nhuận [3, tr.29] Nó là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp không ngừng cải tiến hoạt động sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Theo quan điểm cạnh tranh
cổ điển, cạnh tranh xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển của sản xuất
và trao đổi hàng hóa, nhằm gia tăng của cải cho xã hội Cạnh tranh cũnglà sự tranh giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, đảm bảo sự tồn tại của các đối thủ tham gia cạnh tranh Mục đích của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là giành cho mình lợi ích nhiều hơn so với các đối thủ, đồng thời, nâng cao vị thế của mình, và làm giảm vị thế của đối thủ
2.1.1.2 Quan điểm cạnh tranh hiện đại
Quan điểm cạnh tranh hiện đại xuất hiện vào những năm đầu của thế kỷ XX, các nhà kinh tế học cho rằng, cạnh tranh không còn là quá trình tĩnh, mà chuyển sang giai đoạn biến động Theo đó, giá cả hàng hóa và các yếu tố sản xuất do cung cầu thị trường quyết định, kế đến, toàn cầu hóa đã buộc các quốc gia phải thay đổi phương thức sản xuất, chuyển dịch dần từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức Vì thế, lợi thế cạnh tranh bằng nguồn tài nguyên, thiên nhiên sẽ dần mất đi; Lợi thế cạnh tranh bằng nguồn nhân lực, công nghệ chất lượng cao… sẽ dần chiếm
ưu thế Trong quan điểm cạnh tranh hiện đại, đề tài này nghiên cứu hai trường phái: Học thuyết cạnh tranh của Porter M., và học thuyết cạnh tranh theo quan điểm “hài hòa” của một số tác giả
1) Quan điểm cạnh tranh của Porter M
Trong “Lợi thế cạnh tranh”, Porter M (1998) cho rằng, cạnh tranh là vấn đề
cơ bản quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Cạnh tranh cũng xác định tính phù hợp của các hoạt động của doanh nghiệp như: việc cải tiến sản
Trang 36phẩm, liên kết hoặc thực hiện đúng đắn chiến lược đề ra, qua đó xác định được sự thành bại của doanh nghiệp [20, tr.31]
Theo Porter M (1996), cạnh tranh trong một ngành diễn ra liên tục là để kéo
tỷ lệ lợi nhuận thu được từ vốn đầu tư về phía lợi nhuận sâu hoặc tỷ lệ lợi nhuận kiếm được ở một ngành “cạnh tranh hoàn hảo” [23, tr.28] Do đó, bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình
mà doanh nghiệp đang có Kết quả quá trình cạnh tranh là số bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm
đi Yếu tố giá cả là hình thức cạnh tranh thường được các bên tham gia áp dụng, khi
một doanh nghiệp hạ giá, các đối thủ sẽ nhanh chóng và dễ dàng bắt chước các hành
động giảm giá Bên cạnh đó, tính dị biệt của sản phẩm cũng là yếu tố tạo năng lực
cạnh tranh cho doanh nghiệp: doanh nghiệp tạo ra những tiện ích độc đáo bằng sự khác biệt hóa của sản phẩm, dịch vụ làm tăng giá trị, nên khách hàng chấp nhận một mức giá cao hơn và vượt trội so với chi phí tăng thêm [23, tr.34-35; 47; 48]
Tiếp đó, trong cuốn sách “Lợi thế cạnh tranh quốc gia”, Porter M (1998)
luận giải, cạnh tranh gay gắt giữa các đối thủ trong nước trong nhiều ngành là cần thiết để kích thích quá trình đổi mới và nâng cấp lợi thế cạnh tranh Cạnh tranh nội địa sẽ giúp vượt qua sự trì trệ thông qua việc tạo áp lực thất bại Cạnh tranh tích cực giữa các doanh nghiệp trong nước cũng có hiệu ứng lan tỏa quan trọng đến các nhân
tố quyết định khác [21, tr.796]
Porter M (1998), trong “Lợi thế cạnh tranh”, đã đề xuất mô hình lực lượng
cạnh tranh: sự gia nhập, sự đe dọa của các sản phẩm thay thế, quyền lực của người
mua, sức mạnh mặc cả của khách hàng, sức mạnh của nhà cung cấp, và cuộc cạnh tranh của các đối thủ hiện có Toàn bộ năm lực lượng cạnh tranh này kết hợp với nhau xác định cường độ cạnh tranh và mức lợi nhuận của ngành Tất cả năm yếu tố này cùng quyết định cường độ cạnh tranh và mức lợi nhuận trong ngành và yếu tố mạnh nhất sẽ đóng vai trò thống trị và trở nên quan trọng đối với việc hoạch định chiến lược [20, tr 37, 38]
Trang 37Quan điểm cạnh tranh trong “Chiến lược cạnh tranh” của Porter M (1998),
là cạnh tranh giữa những đối thủ hiện tại, cạnh tranh để ganh đua vị trí, vị thế của mình trong thị trường Trong quá trình cạnh tranh với nhau, để giành lợi thế về phía mình, các chủ thể phải sử dụng những chiến thuật như cạnh tranh về giá, chiến tranh quảng cáo, giới thiệu sản phẩm, tăng cường các dịch vụ khách hàng hoặc bảo hành,
sự khác biệt Cạnh tranh xảy ra bởi vì các đối thủ hoặc là cảm thấy áp lực, hoặc là nhìn thấy cơ hội cải thiện vị trí Trong một số ngành, cụm từ cạnh tranh được sử dụng như “chiến tranh”, “cay đắng”, “cắt cổ”, trong khi trong những ngành khác, cạnh tranh lại diễn ra “lịch sự” hay “ôn hòa” [22, tr.52]
Tuy nhiên, quan điểm của Porter M không phải lúc nào cũng được một số tác giả đồng tình, chẳng hạn về chiến lược giá cả, giáo sư Scott Hoenig của đại học Fordham (New York) cho rằng, giá cả không phải là yếu tố quan trọng nhất trong quyết định mua sắm của người tiêu dùng Tập quán mua sắm, uy tín của thương hiệu, ảnh hưởng của quảng cáo và nhiều yếu tố khác, đã góp phần thúc đẩy người mua quyết định việc mua sắm một sản phẩm hay dịch vụ đặc thù nào đó chứ không phả là yếu tố giá cả [5, tr.10] Ngoài ra, để giảm giá thành sản phẩm so với thủ cạnh tranh, các doanh nghiệp bắt buộc phải cắt giảm chi phí, cắt giảm các dịch vụ hậu mãi… điều này dễ làm cho khách hàng hiểu “hàng giá rẻ, kém chất lượng” Hơn nữa, một khi doanh nghiệp giảm giá thành sản phẩm, các đối thủ cũng sẽ tung ra những sản phẩm cùng loại nhưng rẻ hơn sản phẩm của doanh nghiệp Đồng quan
điểm trên, Cerovic S và Batic S (2008), cho rằng, “năng lực cạnh tranh thể hiện
khả năng cung cấp giá trị nhận thức cao trong thị trường, do đó làm vô hiệu thường xuyên áp lực tiêu cực của năm lực lượng cạnh tranh” [50, tr.134] Và như vậy, nếu
thị trường thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì sẽ bị trì trệ và kém phát triển, do đó không thể dùng mô hình “5 yếu tố” của Michael Porter để phân tích
2) Quan điểm cạnh tranh “kinh tế hài hòa”
Quan điểm cạnh tranh này được xây dựng trên cơ sở của vật lý học của thế kỷ
19 với chủ trương “kinh tế hài hòa” Theo PGS.TS Trần Văn Tùng (2004), giá cả
Trang 38hàng hóa và các yếu tố sản xuất do cung cầu thị trường quyết định Hành vi có tính toán trên thị trường về phía cầu là người tiêu dùng tìm cách được thỏa mãn tối đa
Về phía cung, là người sản xuất chạy theo lợi nhuận tối đa Giá cả biến động làm cho cung cầu cân bằng [34, tr.35]
Mechida P và các tác giả (2010) cho rằng, cạnh tranh là một khái niệm rộng, được nhận xét, đánh giá từ những quan điểm khác nhau Từ góc độ vĩ mô, năng lực cạnh tranh được xem là sự quan tâm của quốc gia và mục tiêu cuối cùng là nâng cao thu nhập thực tế cho cộng đồng Từ góc độ vi mô, năng lực cạnh tranh được đánh giá dưới mức độ doanh nghiệp, để cạnh tranh, doanh nghiệp phải cung cấp các sản phẩm và dịch vụ, đáp ứng mong muốn của người tiêu dùng, khách hàng sẵn lòng trả tiền cho một sản phẩm/dịch vụ mà họ cho là hợp lý [83, tr.222]
Theo Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2005), “Cạnh tranh trong thương trường
không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc/ và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải các đối thủ cạnh tranh của mình” Ông luận giải, không ít doanh
nghiệp nhằm tưởng rằng cạnh tranh chỉ có nghĩa đơn thuần là loại trừ đối thủ cạnh tranh, do đó họ mới sa vào việc cạnh tranh không lành mạnh, nghĩa là dùng mọi thủ đoạn xảo quyệt, từ dựa dẫm thế quyền đến ám hại cá nhân, nhằm tạo cho mình một thế độc tôn trên thị trường để khách hàng không thể có lựa chọn nào khác [28, tr.117, 118] Tôn Thất Nguyễn Thiêm quan niệm, trên thị trường, nếu doanh nghiệp muốn phát triển bền vững thì không phải cứ nghĩ đến cạnh tranh mà còn phải nghĩ
đến việc liên kết với các doanh nghiệp khác, tức là: “cạnh tranh là để mang đến cho
thị trường và khách hàng giá trị gia tăng cao hơn các doanh nghiệp khác và liên kết với các doanh nghiệp khác để cùng nhau có được giá trị gia tăng cao hơn so với giá trị gia tăng doanh nghiệp đạt được nếu doanh nghiệp hoạt động riêng lẻ”, và “cạnh tranh trước hết là phải cạnh tranh với chính mình nhằm vượt lên trên chính mình để năng lực lõi và tay nghề của mình luôn luôn được nâng cao, tạo điều kiện để sự liên kết là một lựa chọn chứ không phải là điều bắt buộc” Theo ông, quán triệt ba
Trang 39nguyên tắc trên của cạnh tranh và liên kết thì mới hiểu được ý nghĩa của khái niệm
“Win – Win” (hai bên đều thắng), tức là Co-Marketing – Cùng nhau tiếp cận thị trường [28, tr 296, 297-298]
Quan điểm của Kim W.C và Mauborgne R (2007), Học viện Insead (Pháp),
trong một không gian thị trường tồn tại hai loại đại dương: đại dương đỏ và đại
dương xanh Đại dương đỏ tượng trưng cho các ngành hiện đang tồn tại Đây là
khoảng thị trường đã được xác lập Đại dương xanh bao gồm tất cả những ngành hiện chưa tồn tại Đó là khoảng trống thị trường chưa được biết đến Trong đại dương đỏ, các công ty tìm cách vượt trội hơn so với đối thủ của mình để nắm được thị phần lớn hơn Khi ngày càng có đông người tham gia vào khoảng thị trường này, khả năng thu lợi nhuận cũng như triển vọng tăng trưởng càng giảm xuống Trái lại, đại dương xanh được xác lập bởi những khoảng thị trường chưa được khai thác, bởi những nhu cầu mới được tạo ra và cơ hội cho sự tăng trưởng mang lại lợi nhuận
cao Trong “đại dương xanh”, sự cạnh tranh là không cần thiết bởi vì luật chơi còn
chưa được thiết lập Theo quan điểm này, cạnh tranh không phải là đối đầu, tiêu diệt
lẫn nhau để dẫn đến một“đại dương đỏ”, mà cạnh tranh là tìm đến những khoảng
trống thị trường chưa được khám phá, đầy giá trị tiềm năng, còn vô số cơ hội phát triển hứa hẹn lợi nhuận cao [16, tr.13,14]
Fried J và Hasson D.H (2010), trong “Khác biệt để bức phá” nhấn mạnh,
thay vì cạnh tranh, các doanh nghiệp nên tập trung vào bản thân và tự hoàn thiện mình Việc chú tâm quá nhiều vào đối thủ cạnh tranh sẽ khiến các doanh nghiệp bị nhòe tầm nhìn của chính mình, từ đó sẽ mất đi cơ hội tìm ra những sản phẩm/ dịch
vụ mới lạ [9, tr.175-176]
Từ các quan điểm của các lý thuyết cạnh tranh “kinh tế hài hòa” nêu trên, cho
thấy, cạnh tranh không phải là “đối đầu và hủy diệt” lẫn nhau của các chủ thể (đối
thủ tham gia cạnh tranh), và giá cả không còn là yếu tố quyết định tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp Cạnh tranh theo quan điểm này có thể được hiểu là: sự liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp với nhau, đồng thời tạo ra sự khác biệt
Trang 40về sản phẩm do mình cung cấp so với đối thủ, nhằm thích ứng với môi trường kinh doanh, là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, và cho sự phát triển chung của xã hội Thông qua cạnh tranh, các chủ thể tham gia xác định cho mình những điểm mạnh, điểm yếu cùng với những cơ hội và thách thức trước mắt và trong tương lai, để từ đó có những hướng đi có lợi nhất cho mình khi tham gia vào quá trình cạnh tranh, đồng thời tìm kiếm và khai thác những khoảng trống thị trường
chưa được khám phá (đại dương xanh), để cùng nhau tồn tại và phát triển
2.1.2 Năng lực cạnh tranh
Tsai H và các tác giả (2009), cho rằng, nghiên cứu năng lực cạnh tranh được cho là bắt đầu từ hội thảo về năng lực cạnh tranh của các quốc gia bởi Porter (1990), người đã định nghĩa năng lực cạnh tranh quốc gia như là kết quả của khả năng của một quốc gia để đạt được các sáng tạo hoặc duy trì vị trí lợi thế qua các quốc gia khác trong các ngành công nghiệp trọng điểm [92, tr.523]
Tiếp theo, Vodeb K (2012), nhận định:“Theo Wei-Chang Hong (2008), có
hơn 4,000 ấn phẩm liên quan đến năng lực cạnh tranh được xuất bản trong các tạp chí giai đoạn 1985 – 2006” [96, tr.51]
Ferreira J và Estevão C (2009), phân tích, thế giới ngày càng toàn cầu hóa, cạnh tranh là điều tất yếu, do đó các công ty phải phát triển một chiến lược quản lý nhằm tuân theo sự phức tạp của môi trường, xu hướng và năng lực cạnh tranh của thị trường để đạt được lợi thế cạnh tranh [67, tr.8]
Thuật ngữ “năng lực cạnh tranh”, “khả năng cạnh tranh”, được sử dụng rất phổ biến trong nhiều lĩnh vực: kinh tế, xã hội, chính trị… Trong những năm gần đây, thuật ngữ năng lực cạnh tranh cũng đã thu hút được sự chú ý của các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực kinh doanh du lịch, càng ngày càng có nhiều nghiên cứu
về năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực du lịch như nghiên cứu về năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch, nghiên cứu các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh trong kinh doanh du lịch của: Buhalis (2000), Crouch và Ritchie (1995; 1999),