Vai trò của đội ngũ trí thức giáo dục đại học trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa 52 Chương 3: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC GIÁO DỤC
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THANH HÀ
Đội ngũ trí thức giáo dục Đại học
Việt Nam trong đào tạo nguồn nhân lực chất
l- ợng cao thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Trang 2HÀ NỘI - 2014
Trang 3HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THANH HÀ
Đội ngũ trí thức giáo dục Đại học
Việt Nam trong đào tạo nguồn nhân lực chất
l- ợng cao thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa
Chuyờn ngành : Chủ nghĩa xó hội khoa học
Mó s ố : 62 22 85 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS ĐỖ THỊ THẠCH
Trang 4HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực và
có nguồn gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguy ễn Thị Thanh Hà
Trang 5Chương 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TRÍ THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG
ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO THỜI KỲ ĐẨY
2.1 Trí thức giáo dục đại học và nguồn nhân lực chất lượng cao Việt Nam thời
2.2 Vai trò của đội ngũ trí thức giáo dục đại học trong đào tạo nguồn nhân lực
chất lượng cao thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa 52
Chương 3: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
VIỆT NAM TRONG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ NHỮNG
3.1 Những yếu tố tác động đến đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam
trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao 603.2 Thực trạng đội ngũ trí thức giáo dục đại học trong đào tạo nguồn nhân lực
3.3 Một số vấn đề đặt ra đối với đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam
trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay 109
Chương 4: QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT
HUY VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC ĐÁP ỨNG
YÊU CẦU ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO THỜI KỲ
4.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của đội ngũ trí thức giáo
dục đại học Việt Nam trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao thời kỳđẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa 127
Trang 6DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
CNCS : Chủ nghĩa cộng sảnCNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đạị hóaCNXH : Chủ nghĩa xã hội
CTQG : Chính trị quốc giaĐHQG : Đại học quốc gia
KH&CN : Khoa học và công nghệKHTN : Khoa học tự nhiênKHXH&NV : Khoa học Xã hội và Nhân vănKTTT : Kinh tế tri thức
KT-XH : Kinh tế - xã hộiLLSX : Lực lượng sản xuấtNNLCLC : Nguồn nhân lực chất lượng caoNxb : Nhà xuất bản
PGS : Phó Giáo sưTHCS : Trung học cơ sởTHPT : Trung học phổ thông
TS : Tiến sĩTSKH : Tiến sĩ khoa họcVUSTA : Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật Việt NamXHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những vấn đề cốt lõitrong chiến lược phát triển KT-XH của mỗi quốc gia Ngày nay, hầu như bất cứquốc gia nào trên thế giới cũng đều nhận thức rõ chất lượng nguồn lực con người
là nhân tố quyết định cho sự phát triển Nhiều nghiên cứu hiện nay đã chỉ ra rằng,đầu tư cho nguồn nhân lực thông qua các hoạt động giáo dục và đào tạo, chăm sócsức khoẻ…, được xem là đầu tư hiệu quả nhất, quyết định khả năng tăng trưởngkinh tế nhanh và bền vững của mỗi quốc gia - dân tộc Giáo dục và đào tạo, trong
đó có giáo dục đại học được coi là chiến lược quan trọng hàng đầu đối với pháttriển nguồn nhân lực chất lượng cao, bởi nó góp phần làm tăng giá trị toàn diệncủa con người về các mặt: đức, trí, thể, mỹ, đặc biệt là năng lực nghề nghiệp Giáodục đại học không chỉ tích luỹ tri thức mà còn tạo ra tri thức mới, trang bị kỹ năngcần thiết giúp cho mỗi cá nhân phát hiện và làm giàu thêm sự hiểu biết để tự pháttriển và khẳng định mình trong cuộc sống
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, sự phân công lao động cótính chất quốc tế diễn ra mạnh mẽ, sự cạnh tranh giữa các quốc gia càng quyết liệthơn Trong cuộc đấu tranh này, thực tiễn cho thấy, chỉ có phát huy tối đaNNLCLC mới có thể tận dụng triệt để những cơ hội của toàn cầu hoá nhằm pháttriển đất nước
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.Quá trình này chỉ đạt được kết quả khi chúng ta kết hợp tốt sức mạnh của mọi
nguồn lực, trong đó nội lực là quyết định Do vậy, yêu cầu về NNLCLC đang đặt
ra đối với hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống giáo dục đại học nói riêng,trong đó đội ngũ trí thức các nhà giáo đại học giữ vai trò trọng yếu
Trí thức giáo dục đại học (bao gồm các nhà giáo, nhà khoa học, nhà quản
lý, các chuyên gia đang trực tiếp giảng dạy, nghiên cứu ở bậc đại học) là bộ phậnquan trọng của đội ngũ trí thức giáo dục và đào tạo, giữ vai trò quyết định nhấttrong đào tạo NNLCLC, thực hiện chuyển giao và đổi mới công nghệ, bảo tồn và
Trang 8phát triển những giá trị văn hoá dân tộc, tiếp thu có hiệu quả những giá trị văn hoátiên tiến trên thế giới.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định vai tròcủa trí thức Đặc biệt, gần đây, Hội nghị Trung ương 7 Khoá X, Đảng ta nhấnmạnh: "Đội ngũ trí thức nước ta có tinh thần yêu nước, có lòng tự hào dân tộc sâusắc, luôn gắn bó với sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo vì mục tiêu dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Bằng hoạt động sáng tạo, tríthức nước ta đã có đóng góp lớn trên tất cả các lĩnh vực xây dựng, bảo vệ Tổquốc" [46, tr.82]
Thực tế gần 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế đã chứng minh cho sứcmạnh và đóng góp to lớn của trí thức Việt Nam vào quá trình phát triển đất nước,trong đó có đội ngũ trí thức giáo dục đại học Bằng lao động sáng tạo của mình, tríthức giáo dục đại học đã góp phần đào tạo những lớp người lao động mới (họcviên, sinh viên) hữu ích cho sự phát triển xã hội Đó là NNLCLC trong tương laigần, những người có năng lực làm chủ công nghệ tiên tiến, có khả năng đổi mới
và hiện đại hoá công nghệ truyền thống, từng bước sáng tạo những công nghệmới, hiện đại, phù hợp với con người, với điều kiện và môi trường Việt Nam.Trong Chiến lược phát triển KT-XH đến năm 2020, Đảng ta quán triệt ba khâucần đột phá, trong đó: “phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là NNLCLC, tậptrung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặtchẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng KH&CN” [49, tr.106]
Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển của NNLCLC trong bối cảnh đẩymạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, giáo dục đại học Việt Nam chưa đáp ứngkịp thời, đội ngũ trí thức giáo dục đại học chưa thực sự phát huy hết tính tích cựccủa mình; tình trạng thừa về số lượng, yếu về chất lượng, thiếu hụt đội ngũ trí thức
có trình độ chuyên môn cao, năng lực sư phạm giỏi và phẩm chất chính trị vữngvàng đang diễn ra; tình trạng mất cân đối về cơ cấu ngành nghề đào tạo, phân bốkhu vực, lứa tuổi cũng đang là vấn đề cần quan tâm; đội ngũ cán bộ làm công tácquản lý giáo dục đại học chưa hội tụ đủ những tiêu chí để đáp ứng kịp thời yêucầu đổi mới của đất nước, nhất là đội ngũ chuyên gia nghiên cứu và thiết kế chínhsách giáo dục đại học v.v
Trang 9Những bất cập trên của trí thức giáo dục đại học Việt Nam đã dẫn đến hệlụy trực tiếp, đó là: một bộ phận không nhỏ NNLCLC đang được đào tạo ở cáctrung tâm giáo dục, đào tạo lớn của Việt Nam (học viên, sinh viên) sau khi ratrường năng lực không đáp ứng được đòi hỏi công việc Thực tế, một lực lượngkhông nhỏ còn thiếu hụt nghiêm trọng về kỹ năng thực hành nghề nghiệp… dẫnđến mất tự tin, hạn chế về năng lực sáng tạo so với học viên, sinh viên các nướctrong khu vực và trên thế giới Đặc biệt, ý thức chính trị, ý thức pháp luật, văn hóađạo đức và lối sống của một bộ phận NNLCLC còn nhiều điều đáng phải bàn v.v
Trước yêu cầu phát triển của đất nước, những bất cập của giáo dục bậc đạihọc, của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam đã tác động tiêu cực tớiNNLCLC trong tương lai - những học viên, sinh viên đang trong quá trình tiếp thu
và tích lũy tri thức Do đó, nâng cao chất lượng giáo dục đại học, đồng thời pháthuy vai trò của trí thức giáo dục đại học trong đào tạo NNLCLC là một nhu cầucấp bách hiện nay
Từ những lí do trên đây, tác giả lựa chọn vấn đề: “Đội ngũ trí thức giáo
d ục đại học Việt Nam trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao thời kỳ đẩy
m ạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” làm đề tài luận án tiến sĩ triết học, chuyên
ngành chủ nghĩa xã hội khoa học
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 M ục đích
Trên cơ sở lí luận về vai trò của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam
và thực trạng của đội ngũ trong đào tạo NNLCLC, luận án đề xuất một số quanđiểm cơ bản và giải pháp chủ yếu góp phần phát huy vai trò của đội ngũ trí thứcgiáo dục đại học trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
Trang 10- Đề xuất một số quan điểm cơ bản và các giải pháp chủ yếu nhằm phát huyvai trò của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam đáp ứng yêu cầu đào tạoNNLCLC thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.
3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng HồChí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về trí thức giáo dục đại học
và NNLCLC
- Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử;đồng thời kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành như:phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử; đối chiếu và so sánh, nghiên cứu tài liệu vàđiều tra xã hội học
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu vai trò của đội ngũ trí thức giáo dục đại học (tập trungvào vai trò của đội ngũ giảng viên) trong đào tạo NNLCLC và giải pháp chủ yếunhằm phát huy vai trò đó trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
tự nhiên và khoa học xã hội - nhân văn, giữa khoa học và công nghệ để đào tạonguồn nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài và thực hiện một số nhiệm vụnghiên cứu trọng điểm về khoa học cơ bản, công nghệ cao và kinh tế - xã hộimũi nhọn, đại diện cho miền bắc Việt Nam; cung cấp các luận cứ, kết quả nghiêncứu KH&CN tầm cỡ quốc gia và tiếp cận chuẩn quốc tế cho phát triển kinh tế -
xã hội đất nước
Trang 11ĐHQG Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm đào tạo đại học, sau đại học
và nghiên cứu KH&CN đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao lớn nhất ở khuvực phía Nam Là nơi đào tạo, cung cấp NNLCLC trong những lĩnh vực có ưuthế nổi trội, phát huy thế mạnh của địa bàn khu vực phía Nam và vị trí cửa ngõĐông Nam Á Đây là trung tâm đào tạo làm nồng cốt cùng với ĐHQG Hà Nộicho hệ thống giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội củaViệt Nam
5 Những đóng góp mới của luận án
- Luận án góp phần làm rõ thực trạng vai trò của đội ngũ trí thức giáo dụcđại học trong đào tạo NNLCLC thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của đội ngũ trí thức giáodục đại học trong đào tạo NNLCLC ở Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp thêm căn cứ lí luận
và thực tiễn trong đề xuất chính sách đào tạo, sử dụng, bồi dưỡng nhân tài củađất nước
- Luận án là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy về tríthức, nguồn nhân lực và cho những nghiên cứu quan tâm đến chủ đề này
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
án gồm 4 chương, 9 tiết
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1.1 Công trình nghiên cứu ở trong nước
1.1.1.1 V ề trí thức
Ở Việt Nam, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước nhằmthúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững, vấn đề bồi dưỡng và phát huy
nguồn lực con người, đặc biệt nguồn lực trí tuệ - “hiền tài là nguyên khí quốc gia”
là rất cần thiết, là nhiệm vụ chiến lược quan trọng đặt ra đối với toàn bộ hệ thốngchính trị và nhân dân ta Từ năm 1996 đến nay, những công trình thuộc nhóm vấn
đề này được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu Trong đó, đáng chú ý là một sốcông trình tiêu biểu sau:
Phạm Tất Dong (chủ biên), Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tầng lớp trí
thức Những định hướng chính sách, thuộc chương trình KHXH.03 (Giai đoạn 1996
- 2000) [28] Đề tài đã làm rõ những vấn đề đặt ra của đội ngũ trí thức Việt Nam với
tư cách là nguồn lực quan trọng, cơ bản để đào tạo nguồn nhân lực; vị trí, vai tròcủa đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH, thực trạng đội ngũ tríthức và chính sách của Đảng đối với đội ngũ trí thức Trên cơ sở đó, Đảng và Nhànước có chiến lược phát triển đối với đội ngũ trí thức Việt Nam để họ xứng đángvới vai trò là lực lượng nòng cốt, bộ phận tinh túy của nguồn nhân lực
Phan Thanh Khôi (2001), Bài học từ những quan điểm của Hồ Chí Minh về
trí thức, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 2 [76] Dựa trên sự phân tích quan điểm của Hồ
Chí Minh về trí thức, tác giả đã rút ra những bài học kinh nghiệm đối với công cuộcđổi mới ở Việt Nam Trong bài viết, tác giả đã làm rõ vai trò quan trong của đội ngũtrí thức Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; trong việc xây dựng luận
cứ khoa học bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật; đào tạo nguồn nhân lực; gópphần vào quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Đồng thời, tác giả cũngđưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong bốicảnh nước ta đang đẩy mạnh CNH, HĐH
Trong số rất nhiều bài viết về trí thức, PGS.TS Phan Thanh Khôi có bài viếtđánh dấu tầm quan trọng, ý nghĩa lý luận và tư tưởng sâu sắc không chỉ đối với đội
Trang 13ngũ trí thức Việt Nam, mà còn chỉ ra trách nhiệm cao cả đặt lên vai người trí thức
trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế ở nước ta Đóng góp của đội ngũ trí thức vào chủ trương, đường lối hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Lý luận
Chính trị, số 3/2008 [80] Qua bài viết, tác giả chỉ ra vai trò quan trọng của đội ngũtrí thức trong việc xây dựng luận cứ khoa học; bổ sung và hoàn thiện hệ thống phápluật; đào tạo nguồn nhân lực; góp phần đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Những thuộc tính cơ bản của trí thức còn được tác giả Phan Thanh Khôi đềcập và phân tích trên các khía cạnh: trí thức là người lao động trí óc, phức tạp, sảnxuất giá trị tinh thần là chủ yếu; nội dung lao động của trí thức mang tính sáng tạokhoa học; tri thức và học vấn của trí thức cao hơn hẳn mặt bằng dân trí; hình thứclao động của trí thức có tính đặc thù cao như: mang tính cá nhân rõ nét, hoạt độngtrong không gian mở, thời gian linh hoạt, đòi hỏi lý trí cao, đặc điểm tâm lý lối sốngcũng có tính khác biệt: nhạy cảm nhưng dễ dị ứng, kiêu hãnh nhưng dễ tự kiêu và
có những nhược điểm nhất định trong cuốn sách "Đội ngũ trí thức Việt Nam, quan
niệm, thực trạng, phát huy vai trò và xu hướng biến đổi", Tài liệu tham khảo, Học
viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2008 [79]
Nguyễn Đắc Hưng (2005), Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất nước, Nxb CTQG, Hà Nội [65] Cuốn sách đã đề cập đến những vấn đề cơ bản của
trí thức từ lịch sử đến hiện tại; phân tích thực trạng, một số vấn đề đang đặt ra đốivới đội ngũ trí thức Việt Nam trong thế kỷ XXI; phương hướng phát triển của độingũ trí thức Việt Nam trong tình hình mới
Đỗ Thị Thạch (2005), Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb CTQG, Hà Nội [136] Thông qua việc
làm rõ quan niệm về trí thức, trí thức nữ, những phẩm chất trí tuệ và các yếu tố tácđộng đến sự phát triển trí tuệ, tác giả đi sâu phân tích sự hình thành, đặc điểm, vaitrò của nguồn lực trí thức nữ Việt Nam, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huynguồn lực trí thức nữ Việt Nam đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới
Ngô Thị Phượng (2007), Đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn Việt
Nam trong sự nghiệp đổi mới, Nxb CTQG, Hà Nội [120] Công trình đã phân tích
rõ khái niệm trí thức KHXH&NV; vai trò của đội ngũ trí thức KHXH&NV ViệtNam trong sự nghiệp đổi mới đất nước; quan điểm và giải pháp phát huy vai trò củađội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay
Trang 14Nguyễn Công Trí (2007), Vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về thực hiện chính sách đối với trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
Tạp chí Lý luận Chính trị, số 5 [148] Tác giả đã phân tích quan điểm của V.I.Lênin
về thực hiện chính sách đối với trí thức trong cách mạng XHCN; những luận điểm
về nhận thức và chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đội ngũ trí thức
Đỗ Thị Thạch (2008), Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất nước
và hội nhập quốc tế, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 6 [137] Dựa vào việc phân tích
vai trò của trí thức đối với sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của đất nước, tác giả
đã đưa ra mục tiêu phát triển đối với đội ngũ trí thức Việt Nam và một số giải pháp
để thực hiện được mục tiêu này
Lê Văn Dũng (2008), Phát huy vai trò lực lượng trí thức quân đội trong
xây dựng và bảo vệ tổ quốc, Tạp chí Cộng sản, số 794 [36] Bài viết đã đánh giá
thực trạng về số lượng, cơ cấu, chất lượng của đội ngũ trí thức quân đội nhân dânViệt Nam và vai trò của họ trong nghiên cứu, ứng dụng và phát triển khoa họcquân sự phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đặc biệt, bài viết đã đưa
ra ba phương hướng thiết thực nhằm xây dựng đội ngũ trí thức quân đội ngangtầm với đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới: Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng,thực hiện nghiêm túc công tác qui hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức, pháthuy năng lực sáng tạo của đội ngũ trong giảng dạy, nghiên cứu, ứng dụng trongkhoa học quân sự nhằm xứng đáng là người trí thức Quân đội nhân dân Việt Nam
“vừa hồng vừa chuyên”
Nguyễn An Ninh (2008), Phát huy tiềm năng của trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong công cuộc đổi mới đất nước [106] Tác giả đã nêu một số quan điểm
mới về tiềm năng, tiềm năng của trí thức KHXH&NV; đồng thời cũng làm rõnhững tiềm năng to lớn của đội ngũ này đối với sự phát triển xã hội Từ đó, tác giảtrình bày một số giải pháp nhằm phát huy tiềm năng của đội ngũ trí thứcKHXH&NV trong giai đoạn hiện nay
Bùi Khắc Việt, Trí thức trẻ và sinh viên (trong nhánh đề tài Đề tài KX.03- 09
(đã in sách) [159] Công trình đề cập đến trí thức trẻ trong các trường đại học, caođẳng và sinh viên với tư cách là nguồn lực quan trọng bổ sung cho đội ngũ trí thứcnói chung và trí thức nhà giáo ở các trường đại học nói riêng Đề tài phân tích
Trang 15những mặt tích cực, đồng thời nêu lên một số hạn chế, bất cập, nhất là về chất lượngcủa đội ngũ trí thức trẻ so với yêu cầu phát triển KT-XH ở Việt Nam.
Đàm Đức Vượng, Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020,
Mã số: KX.04.16/06-10 [162] Bên cạnh những vấn đề cơ bản về trí thức, đề tài đisâu làm rõ thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam khá dồi dào, nhưng chưa đượcquan tâm đúng mức, chưa được quy hoạch và được đào tạo bài bản, chưa có sự kếthợp, bổ sung, đan xen giữa nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân, trí thức, thiếu
sự cộng lực để cùng thực hiện mục tiêu chung của đất nước Từ đó, đề tài đề xuấtmột số giải pháp về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam, góp phần quantrọng và có tính quyết định để thực hiện mục tiêu phát triển nguồn nhân lực ở ViệtNam đến năm 2020
Nguyễn Khánh Bật - Trần Thị Huyền (đồng chủ biên) 2012, Xây dựng đội
ngũ trí thức thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội [10] Cuốn sách khái quát nội dung tư tưởng Hồ Chí
Minh về trí thức, vai trò của đội ngũ trí thức trong quá trình CNH, HĐH ở ViệtNam Từ đó, các tác giả đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm xây dựng đội ngũ tríthức trong giai đoạn 2010 - 2020
Nguyễn Thị Thơm (2012), Tạo động lực và môi trường để phát huy tính
sáng tạo của đội ngũ trí thức, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 11 [144] Ngoài việc
phân tích những đặc điểm cơ bản nhất của đội ngũ trí thức, tác giả đã đưa ra nămvấn đề chủ yếu nhằm tạo động lực và môi trường để phát huy tính sáng tạo của độingũ trí thức - lực lượng tinh túy của NNLCLC
Nguyễn Trọng Chuẩn (2013), Trí thức và trách nhiệm xã hội, Tạp chí Cộng
sản, số 853 [26] Bài viết chia làm ba phần lớn, thứ nhất, tác giả phân tích vai trò laođộng trí óc của trí thức trong lịch sử nhân loại tiến bộ; thứ hai, phân tích tráchnhiệm của trí thức trong mọi thời đại; thứ ba, phân tích vai trò và trách nhiệm xã hộicủa trí thức Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế Cuối cùng tác giảkết luận: Trí thức chỉ có thể thực hiện được trách nhiệm xã hội của mình, nếu như
họ ý thức rõ được trách nhiệm đó
1.1.1.2 V ề giáo dục đại học và trí thức giáo dục đại học
Phạm Văn Thanh (2001), Xây dựng đội ngũ trí thức khoa học Mác-Lênin trong các trường đại học ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, chuyên
Trang 16ngành CNXH khoa học [140] Công trình nghiên cứu những nét cơ bản về đội ngũtrí thức khoa học Mác-Lênin trong các trường đại học; đề xuất phương hướng vànhững giải pháp chủ yếu xây dựng đội ngũ trí thức khoa học Mác-Lênin, góp phầnnâng cao chất lượng giáo dục đại học và sau đại học phục vụ sự nghiệp CNH, HĐHđất nước theo định hướng XHCN.
Lâm Quang Thiệp xuất bản hai cuốn sách cùng tên: “Giáo dục học đại học”,
Hà Nội, 1997 của Vụ Đại học - trường Cán bộ quản lý Giáo dục và Đào tạo (quyển
I: các tài liệu chính) [141] và “Giáo dục học đại học”, Hà Nội, 2003 của Khoa Sư
phạm thuộc ĐHQG Hà Nội [142] đã giới thiệu nhiều chuyên đề bàn luận trực tiếpđến hoạt động tổ chức đào tạo, quản lý chất lượng cho giáo dục đại học Với chuyên
đề “Về hệ thống đảm bảo chất lượng cho giáo dục đại học Việt Nam”, tác giả bước
đầu xây dựng quan niệm về chất lượng giáo dục đại học và thẳng thắn thừa nhận: hệthống giáo dục đại học Việt Nam chưa “cảm nhận” hết được sự thúc ép mạnh mẽcủa nền kinh tế thị trường, của xu thế hội nhập, quốc tế hóa giáo dục đại học, quốc
tế hóa thị trường sức lao động, những đòi hỏi về nguồn nhân lực của Việt Namtrong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH; bản thân các trường chưa trực tiếp đứng trướcthách thức “sống còn” của việc lỗ lãi, phá sản; việc thực hiện vai trò của giáo dụcđại học trong chuẩn bị nguồn nhân lực cao cấp cho mọi hoạt động KT-XH chưa đạtđược hiệu quả mang tính bền vững Thực tiễn ấy đặt ra nhu cầu khách quan phảiphát huy mọi nguồn lực đang trực tiếp tham gia vào giáo dục đại học, trong đókhông thể không kể đến việc nâng cao chất lượng lao động của trí thức giáo dục đạihọc thông qua hệ thống quản lý và đảm bảo chất lượng mới
Hoàng Chí Bảo (2006), Bản chất của hoạt động sáng tạo trong nghiên cứu
Khoa học (tài liệu tham khảo), Hà Nội [5] Tác giả nhấn mạnh, giáo dục đại học gắn
liền giảng dạy với nghiên cứu khoa học và phục vụ sản xuất Đội ngũ nhà giáo và cácnhà khoa học có quan hệ hợp tác, gắn bó với nhau thường xuyên, lâu dài Hình thứclao động của họ có nhiều nét tương đồng về bản chất Đó là sự phát hiện, sự sinhthành giá trị mới thông qua những cách tân, tìm tòi hướng tiếp cận và phương phápgiảng dạy, nghiên cứu mới Vì vậy, lao động của trí thức giáo dục đại học thể hiện rõtính sáng tạo với những sắc thái biểu hiện phong phú, đa dạng và phức tạp của nó
Nguyễn Đức Chính và Nguyễn Phương Nga đã thực hiện đề tài trọng điểm
cấp ĐHQG Hà Nội mã số QGTĐ.02.06: Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí đánh giá
Trang 17hoạt động giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học của giảng viên trong Đại học Quốc gia [25] Đề tài nghiên cứu xem xét, phân tích các kinh nghiệm về đánh giá
chất lượng giảng dạy, nghiên cứu khoa học của một số trường đại học trên thế giới.Trên cơ sở phân tích hiện trạng của hai hoạt động cơ bản này ở ĐHQG Hà Nội, đềtài xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học củagiảng viên có tính đến xu thế hội nhập quốc tế trong giáo dục đại học Đây lànghiên cứu về lĩnh vực đo lường và đánh giá hiệu quả thực hiện chức trách, nhiệm
vụ của đội ngũ nhà giáo do các chuyên gia và cán bộ quản lý giáo dục thực hiện nênkết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc gợi mở cách tiếp cận theohướng đánh giá tổng thể chất lượng lao động của đội ngũ trí thức giáo dục đại họccho tác giả luận án
Hoàng Tụy (2006), Giải pháp nào cho giáo dục đại học?
(http://www-.vast.ac.vn/HVGD/ThamLuan/giaiphapnao_htuy.htm) [199] Ông cho rằng: Hiệnđại hoá giáo dục đại học thực chất là cuộc cải cách toàn diện từ mục tiêu, đến nộidung, phương pháp và tổ chức, quản lý, để hướng tới một nền đại học tương đồngvới thế giới theo xu thế chung đã nói ở trên Những đặc điểm chủ yếu của xu thế đạihọc này là: 1 Nhấn mạnh năng lực sáng tạo trong mọi khâu đào tạo; đặc biệt coitrọng nghiên cứu khoa học; 2 Bảo đảm cho mọi công dân quyền bình đẳng về cơhội học tập và thành công trong học vấn; đó là một xu thế tất yếu Đây là cơ hội tốt
để chúng ta có thể tranh thủ hợp tác, học hỏi kinh nghiệm của các nước có nền giáodục và công nghệ đào tạo tiên tiến, đẩy mạnh công cuộc cải cách giáo dục hướng tớicác chuẩn mực quốc tế
Phòng Phát triển con người khu vực Đông Á và Thái Bình Dương của Ngân
hàng Thế giới với Báo cáo “Giáo dục đại học và kỹ năng cho tăng trưởng”, tháng
6/2008 [107] Báo cáo tập trung nghiên cứu lĩnh vực giáo dục đại học trong mối liên
hệ với trị trường lao động ở Việt Nam Rất nhiều nội dung quan trọng về chất lượngcủa giáo dục đại học được luận giải, khảo sát và chứng minh Đáng chú ý là vấn đềhiệu quả đào tạo; chương trình học, phương pháp sư phạm; chất lượng đội ngũgiảng dạy; năng lực nghiên cứu của đội ngũ giảng viên; sự hài lòng của sinh viên;khả năng, mức độ cung cấp thỏa đáng các kỹ năng cần thiết của giáo dục đại họcViệt Nam cho nguồn nhân lực, cho gia tăng năng suất lao động và thúc đẩy nănglực sáng tạo của người lao động trước những yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao từ thị
Trang 18trường trong nước, khu vực và quốc tế Giá trị thực tiễn của Báo cáo còn thể hiện ởnhững khuyến nghị đổi mới hệ thống giáo dục đại học Việt Nam đến năm 2015 vàtầm nhìn đến năm 2020 Kết quả nghiên cứu của Báo cáo có ý nghĩa quan trọng đốivới tác giả luận án trong việc kế thừa cách tiếp cận về chất lượng giáo dục đại họcthông qua những số liệu minh chứng về hiệu quả giảng dạy, nghiên cứu khoa họccủa đội ngũ trí thức nhà giáo đại học ở nước ta hiện nay.
Nguyễn Bá Cần (2009), Hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục đại học
Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Hà Nội [20] Tiếp cận đặc điểm của
giáo dục đại học trong điều kiện kinh tế thị trường, tác giả cho rằng, sản phẩm giáodục đại học là loại sản phẩm dịch vụ, nhưng nó không thích hợp với việc mua - bánhàng hóa Khi so sánh với các loại dịch vụ khác thì sản phẩm dịch vụ giáo dục đại
học có tính đặc thù - đó là những người công dân có ích với chính mình có trách
nhiệm với gia đình, xã hội và quốc gia Những sản phẩm như vậy được gọi là loại
hàng hóa có ngoại biên thuận
Trần Khánh Đức (2009), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ
XXI, Nxb Giáo dục, Hà Nội [51] Nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của việc đổi
mới giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt là phát triển đội ngũ giảng dạy,nghiên cứu chuyên ngành trong các trường đại học, cuốn sách là tài liệu chuyên khảocho giáo dục bậc đại học Với 12 chương, tác giả đi từ lịch sử vấn đề cho tới nhữngnội dung cụ thể về: chương trình giáo dục đại học, cách đánh giá và quản lý chấtlượng trong giáo dục đại học, khoa học luận và phương pháp nghiên cứu khoa họctrong giáo dục đại học nhằm phát triển nguồn nhân lực có chất lượng
Nguyễn Thị Phương Mai (2009), Suy nghĩ về định hướng phát triển giáo dục đại học Việt Nam đầu thế kỷ XXI, Tạp chí Cộng sản, số 805 (11/2009) [95] Tác giả
đã bàn về: Tạo sự bình đẳng hơn nữa và mở rộng cơ hội tiếp cận với giáo dục đạihọc trong cộng đồng Trao quyền tự chủ thực sự cho cơ sở giáo dục đại học, đảmbảo tính đa dạng và linh hoạt trong hoạt động giáo dục đại học Giáo dục đại họcmang tính chuyên nghiệp cao kết hợp với sự tích cực của giáo dục và người học Sựtương đồng với nền giáo dục khu vực và thế giới trong xu thế toàn cầu
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Đổi mới quản lý hệ thống giáo dục đại học giai đoạn 2010 - 2012, Nxb Giáo dục, Hà Nội [17] Công trình nghiên cứu đi sâu
phân tích thực trạng của hệ thống giáo dục đại học hiện nay, chương trình hành
Trang 19động của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học giaiđoạn 2010 - 2012 Nghị quyết của Ban Cán sự Đảng bộ Giáo dục và Đào tạo về đổimới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 - 2012 đã chỉ ra hạn chế trong chấtlượng giáo dục đại học và khẳng định sự cần thiết phải có giải pháp đổi mới quản lýtoàn diện, có tính đột phá để nâng cao được chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chođất nước Nghị quyết nhấn mạnh, phải đẩy mạnh việc đánh giá và kiểm định chấtlượng giáo dục đại học…
Nguyễn Văn Sơn (2010), Trí thức giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb CTQG, Hà Nội [125] Cuốn sách đã làm
rõ tính đặc thù của đội ngũ trí thức giáo dục đại học trong tầng lớp trí thức ViệtNam Tác giả tập trung phân tích thực trạng về cơ cấu chất lượng đội ngũ trí thứcgiáo dục đại học theo các phương thức hoạt động chủ yếu, theo nhóm ngành khoahọc lớn, theo sự phân bố vùng lãnh thổ, theo các trường và chủ thể quản lý, về trình
độ, phẩm chất, năng lực của đội ngũ Từ đó, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằmxây dựng đội ngũ này cơ cấu hợp lý và chất lượng cao nhằm đáp ứng sự nghiệpCNH, HĐH ở nước ta
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (2010), Kinh nghiệm một số nước về
phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí thức, Nxb CTQG, Hà Nội [155] Các tác giả đã phân tích chính sách phát triển giáo
dục và đào tạo, KH&CN với xây dựng đội ngũ trí thức của từng nước, từ đó rút racác bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Bộ Kế hoạch và Đầu tư (tháng 7 năm
2011), Báo cáo tổng hợp Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn
2011-2020 [18] Báo cáo đã tập trung làm rõ các nội dung quan trọng sau: Một là, hiện
trạng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam với những thành tựu cơ bản, những hạn
chế chủ yếu và nguyên nhân của nó Hai là, phương hướng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đến năm 2020 và những vấn đề đặt ra Ba là, các giải pháp chủ yếu thực hiện quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Bốn là, tổ
chức thực hiện quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020
Trần Quốc Toản (2011), Phát triển giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế [127] Nội dung cuốn sách đã nghiên cứu và làm rõ bản
chất của giáo dục, hoạt động giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhậpquốc tế; luận giải cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn sự tác động của cơ chế thị
Trang 20trường đối với giáo dục - đào tạo; nghiên cứu thực trạng phát triển giáo dục - đàotạo của Việt Nam trong quá trình đổi mới ở nước ta, chuyển đổi sang cơ chế thịtrường; kinh nghiệm quốc tế về phát triển giáo dục đào tạo… Trên cơ sở nghiên cứu
lí luận và thực tiễn, cuốn sách đề xuất hệ thống đồng bộ các định hướng, nội dung
và giải pháp mới, nhận thức, tư duy mới nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáoviên và đội ngũ quản lý giáo dục ở nước ta trong điều kiện kinh tế thị trường
Nhà xuất bản Lao động (2011) đã tổ chức sưu tầm biên soạn cuốn sách Giáo
dục Đào tạo Việt Nam - thời hội nhập [110] nhằm góp phần thúc đẩy xây dựng
nguồn nhân lực hiện tại cũng như tương lai cho nước nhà Qua tập sách này, chúng
ta nhận thấy hàng loạt các cải cách trong phương pháp giảng dạy, cùng với việc rènluyện đạo đức theo gương Hồ Chí Minh Cuốn sách còn đề cập tới tâm lý giáo dục
và kinh nghiệm phát triển ngành giáo dục của một số nước tiên tiến trên thế giới
Tạ Ngọc Tấn (Chủ biên) (2012), Phát triển giáo dục và đào tạo nguồn nhân
lực, nhân tài - một số kinh nghiệm của thế giới [126] Cuốn sách là một công trình
nghiên cứu lớn đã trình bày tổng quan về phát triển giáo dục và đào tạo một số nướctrên thế giới; xu hướng nổi bật của nền giáo dục đại học thế kỷ XXI; khả năng cạnhtranh, quản lý giáo dục đại học, tài chính cho giáo dục đại học và bàn về văn hoádạy học… Vấn đề phát triển giáo dục và đào tạo ở một số nước trên thế giới: chiếnlược phát triển giáo dục Nga thế kỷ XXI, đại học Đức, cải cách chương trình giảngdạy ở Nga, Trung Quốc, Anh; Chính sách giáo dục Thuỵ Điển, Na Uy, Phần Lan…;
hệ thống giáo dục Hoa Kỳ, thế kỷ đại học châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc,Singapore…) Cuốn sách còn cung cấp danh mục 217 công trình nghiên cứu vềgiáo dục và đào tạo của nhiều nước trên thế giới nhằm phục vụ lãnh đạo và bạn đọcnghiên cứu về giáo dục về chủ chương, chính sách và bài học kinh nghiệm thế giới
để vận dụng vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam
Ngô Văn Hà (2013), Tư tưởng Hồ Chí Minh về người thầy và việc xây dựng đội ngũ giảng viên đại học hiện nay, Nxb CTQG, Hà Nội [54] Tác giả phân tích
một cách có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về người thầy, bao gồm: vai trò, phẩmchất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và phương pháp giảng dạy của người thầygiáo; đánh giá thực trạng của đội ngũ giảng viên đại học về số lượng, chất lượng, cơcấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, khía cạnh thu nhập và vị thế của họ trong xã hội
Trang 21Đồng thời, tác giả phân tích sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về người thầy trongviệc xây dựng đội ngũ giảng viên đại học ở nước ta hiện nay.
Ban Tổ chức Trung ương, Đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước “Cơ sở lý
luận và thực tiễn của Chiến lược quốc gia về nhân tài trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, mã số ĐTĐL 2010G/47 [3], Hội thảo khoa
học: Công tác nhân tài ở Việt Nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Hà Nội,
tháng 8/2011 [4] Công trình nghiên cứu này là tập hợp những bài viết nghiên cứukhoa học đầy tâm huyết của các nhà khoa học, các nhà quản lý Kỷ yếu hội thảo tậptrung làm rõ một số khái niệm cơ bản về nhân tài, nguồn nhân lực CLC, về tìnhhình công tác nhân tài ở nước ta hiện nay, về định hướng và giải pháp đối với côngtác nhân tài ở Việt Nam trong thời gian tới
1.1.1.3 V ề nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao
Đỗ Minh Cương (2001), Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt
Nam, Nxb CTQG, Hà Nội [22] Với quan điểm xem nhà giáo đại học là nhân tố quan
trọng và có ý nghĩa quyết định nhất đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ở nước ta,tác giả đã đi sâu phân tích vai trò của trí thức giáo dục đại học, đánh giá thực trạngnguồn nhân lực giáo dục đại học, qua đó luận chứng một số giải pháp xây dựng pháttriển đội ngũ này trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế
Bùi Thị Ngọc Lan (2002), Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt
Nam, Nxb CTQG, Hà Nội [81] Tác giả đi sâu bàn về phạm trù nguồn lực trí tuệ và
nội hàm của nguồn lực trí tuệ ở Việt Nam; tầm quan trọng của việc phát huy nguồnlực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta Tác giả làm rõ thực trạng của nguồnlực trí tuệ Việt Nam (điểm mạnh, mặt hạn chế), từ đó đề xuất những giải pháp chủyếu để xây dựng nguồn lực trí tuệ Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.Đây là công trình chuyên khảo, chuyên sâu về nguồn lực trí tuệ ở nước ta, là tài liệu
bổ ích để tác giả nghiên cứu cho các nội dung trong luận án của mình
Phạm Thành Nghị, Vũ Hoàng Ngân (chủ biên) (2004), Quản lý nguồn nhân
lực ở Việt Nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
[109] Cuốn sách là tập hợp các bài nghiên cứu, bài viết, bài tham luận tại Hội thảocủa Đề tài KX.05.01 thuộc Chương trình KH&CN cấp Nhà nước KX.05 (giai đoạn2001-2005), với các vấn đề lý luận, kinh nghiệm và những khuyến nghị chính yếu
Trang 22trong quản lý nguồn nhân lực Việt Nam Công trình có ý nghĩa quan trọng để Nhànước ta quản lý hiệu quả nguồn nhân lực Việt Nam, góp phần đẩy mạnh CNH,HĐH và thực hiện công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN.
Trần Văn Tùng (2005), Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng, Nxb Thế giới, Hà Nội [135] Nội dung cuốn sách trình bày những kinh
nghiệm trong phát hiện, đào tạo và sử dụng tài năng KH&CN sản xuất, kinh doanh,quản lý của Mỹ và một số quốc gia châu Âu (Đức, Pháp, Anh), châu Á (Nhật Bản,Trung Quốc, Hàn Quốc và một số quốc gia châu Á khác) Từ đó, tác giả đã đưa ravấn đề: Việt Nam cần đổi mới các chính sách đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồntài năng hiện có Công trình nghiên cứu của tác giả có ý nghĩa thực tiễn to lớn đốivới nước ta trong việc phát hiện, đào tạo, sử dụng tài năng KH&CN phục vụ sựnghiệp CNH, HĐH và công cuộc đổi mới đất nước
Vũ Minh Giang (2008), Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối
cảnh mở cửa và hội nhập, Tạp chí Cộng sản (5/11/2008) [53], cho rằng: Mở cửa và
hội nhập là một chủ trương lớn trong đường lối đổi mới của Đảng, phù hợp với xuthế phát triển của thời đại Đầu năm 2007, nước ta đã gia nhập Tổ chức Thương mạithế giới (WTO) và kèm theo đó là cam kết mở cửa thị trường dịch vụ (GATS),trong đó có giáo dục đại học Việc phát triển một nền giáo dục có yếu tố nước ngoàiđang dần trở thành xu thế tất yếu Đây là cơ hội tốt để chúng ta có thể tranh thủ hợptác, học hỏi kinh nghiệm của các nước có nền giáo dục và công nghệ đào tạo tiêntiến, đẩy mạnh công cuộc cải cách giáo dục hướng tới các chuẩn mực quốc tế
Phạm Công Nhất (2008), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu
cầu đổi mới và hội nhập quốc tế, Tạp chí Cộng sản, số 786, 4/2008 [112] Bài viết
đã đánh giá sơ lược về số lượng, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam sau 20 nămđổi mới Đặc biệt, bài viết đã đưa ra 4 giải pháp để phát triển nguồn nhân lực ViệtNam, trong đó nhấn mạnh đến giải pháp cải cách mạnh mẽ hệ thống giáo dục quốcdân theo hướng hiện đại
Viện CNXH khoa học (2010), Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài
khoa học cấp cơ sở năm 2010, Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng
yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức [157] Đề tài
đã tập trung làm rõ lý luận về NNLCLC và CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức; đồngthời tìm hiểu kinh nghiệm thế giới về phát triển NNLCLC và thực trạng NNLCLC
Trang 23của Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra Trên cơ sở đó, đề tài chỉ ra xu hướngphát triển NNLCLC, đề xuất những giải pháp cơ bản để phát triển nguồn lực này đápứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức của Việt Nam.
Nguyễn Văn Khánh (2012), Nguồn lực trí tuệ Việt Nam - lịch sử, hiện trạng
và triển vọng [74] Cuốn sách là công trình nghiên cứu công phu của tập thể các nhà
khoa học đầu ngành của Đại học KHXH&NV - ĐHQG Hà Nội, do GS.TS NguyễnVăn Khánh chủ biên Cuốn sách tập trung vào việc đánh giá nguồn lực trí tuệ ViệtNam trong suốt chiều dài lịch sử, phân tích quá trình xây dựng nguồn lực trí tuệ,những yếu tố thúc đẩy, cản trở việc phát huy nguồn lực này Cuốn sách đã trình bàynhững vấn đề chung về trí tuệ, nguồn lực trí tuệ; kinh nghiệm xây dựng và phát huynguồn lực trí tuệ của Việt Nam và một số nước trên thế giới; thực trạng nguồn lựctrí tuệ của Việt Nam trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; xây dựng và phát huynguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước
Đặng Hữu Toàn (2012), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao - một đột
phá chiến lược trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam giai đoạn 2011
-2020, Tạp chí Triết học, số 8 (255) [128] Trong bài viết, tác giả nêu rõ: Phát triển
NNLCLC là định hướng mang tầm chiến lược; là khâu đột phá quyết định; là yếu tốhàng đầu để đẩy nhanh sự phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ; là lợi thếcạnh tranh quan trọng nhất trong phát triển KT -XH nhanh và bền vững; là đột pháchiến lược trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng và thực hiện tái cơ cấu lại nềnkinh tế đất nước
Những công trình, bài viết tiêu biểu về trí thức, trí thức giáo dục đại học,nguồn nhân lực và NNLCLC ở trong nước mà tác giả đã tổng quan ở trên là tài liệutham khảo rất có ý nghĩa đối với luận án Ở những góc độ tiếp cận khác nhau, mộtmặt, các học giả khẳng định vai trò của trí thức Việt Nam trong lịch sử, mặt khác đãchỉ ra sứ mệnh của người trí thức nói chung và trí thức giáo dục đại học trong sựnghiệp phát triển nguồn nhân lực Việt Nam thời kỳ toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế,
là thông điệp để khuyến nghị với Đảng và Nhà nước đề ra những chính sách tốtnhất, tạo động lực cho trí thức của mọi lĩnh vực phát huy vai trò, trách nhiệm trướcnhân dân và dân tộc
Trang 241.1.2 Công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
1.1.2.1 Công trình nghiên c ứu về trí thức
Nhà xuất bản Trí thức ra cuốn sách “Tập tiểu luận về trí thức Nga”
(4/2009) do hai dịch giả Việt Nam là La Thành và Phạm Nguyên Trung dịch[111] Đây là công trình tập hợp các bài viết của các học giả - trí thức của nướcNga trước Cách mạng Tháng Mười, của nước Nga thuộc Liên Xô cũ và nước Ngathời kỳ “hậu Xô viết” Chính kiến của họ rất đa dạng, đôi khi đối chọi nhau,nhưng đều trong tinh thần học thuật nghiêm túc và với ý thức trách nhiệm xã hộihết sức đáng trân trọng Những người dịch trung thành ý tưởng và cách diễn đạtcủa các tác giả nhằm đưa đến cho bạn đọc bức tranh trung thực về tình cảnh củagiới trí thức Nga từ cuối thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX Họ viết về chính họ,trong khung cảnh lịch sử và hoàn cảnh xã hội của nước Nga Những trăn trở, dồnnén và phản ứng (tích cực cũng như tiêu cực) của họ trước thời cuộc đáng đểchúng ta quan tâm khi soi vào thực trạng tầng lớp trí thức Việt Nam Ivanov -Razumnik và Likhachev nhấn mạnh phạm trù đạo đức trong định nghĩa trí thức,trong khi các tác giả khác hiểu giới trí thức như một tầng lớp xã hội với một sốđặc thù nhất định bao gồm cả tốt và xấu về mặt đạo đức
Khi nói đến nhiệm vụ của người trí thức với chức năng đào tạo trong quátrình phát triển của đất nước, các cựu tổng thống của Hoa Kỳ, như John Kenơdi, G.Bush đều nhấn mạnh: Trường đại học là nguồn lực đảm bảo sức mạnh và khả năngsống còn của đất nước Nguyên Thủ tướng Quốc Vụ viện nước Cộng hòa dân chủnhân dân Trung Hoa - Lý Bằng cũng đã từng nhấn mạnh chức năng đào tạo và xácđịnh vai trò, vị trí của tầng lớp trí thức trong sự phát triển KT- XH của đất nước.Ông cho rằng, ra sức phát triển giáo dục là con đường tất yếu để nâng cao trình độngười lao động và chấn hưng nền kinh tế v.v
Bên cạnh những công trình nghiên cứu về trí thức, vai trò của trí thức, nhiềunhà khoa học quốc tế còn quan tâm nghiên cứu về vấn đề con người, nhân tài,nguồn nhân lực, NNLCLC Tiêu biểu như công trình của: Thẩm Vinh Hoa - Ngô
Quốc Diện (chủ biên) (1996), Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài, kế sách trăm năm chấn hưng đất nước, Nxb CTQG, Hà Nội [61] Đây là cuốn sách có ý nghĩa
tham khảo đối với Việt Nam trong công cuộc đổi mới Nội dung cuốn sách nói về
tư tưởng nhân tài của Đặng Tiểu Bình - nhà lãnh đạo kiệt xuất của công cuộc cải
Trang 25cách, mở cửa, xây dựng hiện đại hóa XHCN của Trung Quốc Tư tưởng Đặng TiểuBình về nhân tài là sự kế thừa và phát triển tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, MaoTrạch Đông, là bộ phận cấu thành kho tàng lí luận của Trung Quốc trên con đườngxây dựng CNXH.
1.1.2.2 Công trình nghiên c ứu về giáo dục đại học
Để bắt kịp với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học vàcông nghệ, xu hướng biến đổi mạnh mẽ của giáo dục đại học trên phạm vi toànthế giới, UNESCO đã tổ chức Hội nghị thế giới đầu tiên về giáo dục đại họcphục vụ hoạt động tập trung trí tuệ của nhân loại suy nghĩ về một nền giáo dục
cho thế kỷ XXI (tổ chức vào 10/1998 tại Paris), với khẩu hiệu “Highter
Education in the Twenty - first Century, Vision and Action” (Giáo dục đại học
thế kỷ XXI, Tầm nhìn - Hành động) [151] Đây là công trình nghiên cứu quốc tếquan trọng, các tác giả và những người nghiên cứu về giáo dục đại học thấyđược sứ mệnh cao cả của hệ thống giáo dục đại học nói chung và đội ngũ trí thứcgiáo dục đại học nói riêng, đó là phải gìn giữ, củng cố và phát triển “sự nghiệptrồng người” một cách có trách nhiệm
Hội nghị đã thông qua Tuyên ngôn thế giới về giáo dục đại học với nhậnđịnh: sứ mạng cốt lõi của các hệ thống giáo dục đại học là giáo dục những người tốtnghiệp có chất lượng cao và những công dân có trách nhiệm, cung cấp cơ hội chohọc tập đại học và học tập suốt đời; đội ngũ giáo viên cần tăng cường chức năngphê phán và nhìn về tương lai, đồng thời cần có đầy đủ trách nhiệm giải trình đốivới xã hội Tuyên ngôn xác định, chất lượng trong giáo dục đại học là khái niệm đachiều, trong đó bao trùm mọi chức năng và hoạt động của nó, gồm giảng dạy,chương trình đào tạo, NCKH, đội ngũ giảng viên và sinh viên, cấu trúc hạ tầng vàmôi trường giáo dục
J.Vial - nhà giáo dục Pháp, trong cuốn "Lịch sử và thời sự về các phương pháp sư phạm", (1993) [70] đã kiến tạo một quan điểm mới về đặc điểm lao động
của trí thức nhà giáo ở bậc đại học J.Vial khẳng định: Người dạy không chỉ làm tốtchức năng kép của mình là biết cách truyền đạt cái người học cần mà còn biết tổchức quá trình nhận thức cho người học có thể tích cực, chủ động chiếm lĩnh nộidung học Để thực hiện vai trò "trọng tài, cố vấn" trong quá trình dạy học, người
Trang 26giảng viên đại học cần phải có phẩm chất của nhà sư phạm và nhà khoa học Từ lậpluận của J.Vial, có thể xem đây là đặc thù lao động xét về chức năng, nhiệm vụnghề nghiệp của trí thức giáo dục đại học.
J.A Centra với các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: "Tự đánh giá của
giảng viên đại học: Một so sánh với đánh giá của sinh viên", Tạp chí Đánh giá Giáo
dục, số 13 năm 1973 [67]; Xác định hiệu quả công tác của giáo viên, Nxb
JOSEY-BASS năm 1998 [68], San Francisco - London J.A Centra cho rằng, bất cứ ngườigiảng viên nào cũng cần thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ chủ yếu nhưgiảng dạy, NCKH, dịch vụ chuyên môn phục vụ cộng đồng Vì vậy, cần tập trungđánh giá chất lượng hay hiệu quả công tác của nhà giáo đại học theo ba lĩnh vựchoạt động chính đã nêu
J.M.Denomme và Medeleine Roy với cuốn sách đã được dịch ra tiếng Việt
"Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác", Nxb Thanh niên và Tri thức, Hà
Nội 2001 [69] Hai tác giả nêu trên cho rằng, trong quá trình dạy học, phương pháp
sư phạm tích cực được coi như toàn bộ các can thiệp của người dạy với mục đíchgiúp người học thực hiện phương pháp học, tức là giúp người học thực hiện quátrình chiếm lĩnh tri thức hay kỹ năng, từ đó học cách tìm kiếm và xử lí thông tin, tạo
cho mình năng lực tương ứng Điều khẳng định này cho thấy, người học vừa là đối tượng, vừa là mục đích lao động của nhà giáo Kết quả lao động của trí thức giáo
dục đại học trong hoạt động giảng dạy phải được biểu hiện ở việc hình thànhphương pháp tự học, tự nghiên cứu của sinh viên dưới sự hướng dẫn của trí thứcnhà giáo Xét đến cùng, nâng cao chất lượng lao động của nhà giáo đại học thựcchất là phát huy hiệu quả nghiên cứu, giảng dạy hướng vào mục tiêu hoàn thiệnnhân cách sinh viên
Văn phòng Hội đồng giáo dục, Bộ Giáo dục Thái Lan (2008), Chiến lược và
lộ trình cải cách giáo dục đại học Thailand (TS Hoàng Ngọc Vinh dịch) [153] Tài
liệu gồm sáu phần, trong đó, đáng chú ý là những vấn đề nổi cộm của giáo dục đạihọc Thái Lan: Hệ thống giáo dục đại học đã không có khả năng tự điều chỉnh đểthích nghi ngay với những thay đổi của toàn cầu hóa Những giải pháp cải cáchđược đưa ra trong điều kiện nguồn lực hạn chế của Nhà nước và chịu ràng buộc của
vô số những quy định, luật lệ hành chính quan liêu sự thiếu thống nhất trong chính
Trang 27sách, mục tiêu và định hướng Ở đó thể hiện một bức tranh tổng thể hết sức đơnđiệu; sự biến mất của hệ thống nhà nước - cơ chế mạnh và hiệu quả để quản lý,giám sát và đánh giá chất lượng và hiệu quả của các cơ sở giáo dục đại học; thiếu
cơ chế để làm chỗ dựa cho hành chính và quản lý không có sự hợp tác bên trong vàbên ngoài các cơ sở giáo dục đại học v.v… Từ đó, Chiến lược đưa ra sáu cải cách
cơ bản (cả phạm vi quốc gia và cơ sở giáo dục đại học) Có thể nói, kinh nghiệm cảicách giáo dục của Thái Lan giúp chúng ta nhìn lại cách làm của mình để từ đó đúckết, phát triển và sáng tạo trong điều kiện của Việt Nam Đây có thể xem là tài liệutham khảo bổ ích về đổi mới nhiều mặt giáo dục đại học Việt Nam trong điều kiệnnền kinh tế thị trường
Khưu Thành Đồng, Khoa học và công nghệ ở Trung Quốc (Đặng Đình Thi dịch) [52] Bài viết nói lên những liên hệ chặt chẽ giữa khoa học cơ bản và khoa
học ứng dụng, cũng như mối quan hệ giữa phát triển KH&CN với giáo dục, vănhóa và tư duy của người phương Đông Ngoài ra các vấn đề như: môi trường họcthuật; đạo đức nghề nghiệp của những người làm khoa học; sự tôn trọng của chínhquyền dành cho giới trí thức, và vấn đề thu hút nhân tài… đã được đề cập Nhưng,
quan trọng nhất trong bài viết là vấn đề xây dựng các trường đại học và các học
viện hạng nhất Đây là nơi nuôi dưỡng học thuật, chú trọng đến chất lượng chứ
không phải số lượng; một tổ chức do các học giả có tầm nhìn sâu rộng, một môitrường cho tính chính trực, sự cống hiến và là nơi để đào tạo những người đi tiênphong về học thuật
1.1.2.3 Công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao
Một số đóng góp trong việc tổng kết kinh nghiệm phát triển kinh tế các nướcĐông Nam Á, lý giải thành công của các nước NICS chủ yếu thông qua con đườnggiáo dục và đào tạo đội ngũ nhân lực trình độ cao được trình bày trong một số bài
viết của Viện Doanh nghiệp Hoa Kỳ, Sarath Rajapatirana (2002), Bài học kinh
nghiệm của các quốc gia Đông Nam Á - Lý giải và ý nghĩa đối với Việt Nam
[158],… Các tác giả chỉ ra rằng, một đặc trưng cơ bản trong phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao ở các nước Đông Nam Á là việc xây dựng hệ thống giáo dục đại
Trang 28học chất lượng cao Trong đó, Singapore là một trong những nước Đông Á điểnhình và hiện nay là một trong những trung tâm đào tạo uy tín của thế giới.
Bên cạnh kinh nghiệm “tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài” hay thực hiện
chiến lược “nhân tài kiến quốc” của Trung Quốc trong công cuộc cải cách đất nước
từ năm1978 đến nay, phải chăng đó chính là nguyên nhân thành công của TrungQuốc trở thành trụ cột mới của nền kinh tế thế giới
Có thể nói, những nghiên cứu chuyên sâu của các học giả nước ngoài về tríthức, giáo dục đại học và về những đặc điểm lao động của đội ngũ này cho thấy sựquan tâm và đánh giá cao vai trò, tầm quan trọng của lực lượng không nhỏ -NNLCLC đã, đang, và sẽ đóng góp vào quá trình đào tạo thêm những nguồn nhânlực mới có chất lượng trong tương lai
1.2 NHỮNG GIÁ TRỊ KHOA HỌC CỦA CÁC CÔNG TRÌNH TỔNG QUAN
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN CẦN LÀM RÕ
1.2.1 Những giá trị khoa học của các công trình tổng quan
Những vấn đề liên quan đến trí thức, đội ngũ trí thức, nguồn nhân lực,NNLCLC được các nhà khoa học nghiên cứu công phu, đóng góp quan trọng vềmặt học thuật, chứa đựng giá trị khoa học lớn Điều đó cho thấy tầm quan trọngđặc biệt của trí thức, vai trò của trí thức đối với sự phát triển xã hội Hầu hết cáccông trình đều đã đạt được giá trị cả về lý luận, thực tiễn, tạo điều kiện thuận lợicho tác giả luận án nghiên cứu vai trò của đội ngũ trí thức giáo dục đại học trongđào tạo NNLCLC, góp phần thúc đẩy quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam đượcnhanh hơn và đảm bảo phát triển bền vững
Thông qua tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến đề tàiluận án, tác giả khái quát một số nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đã hệ thống hóa một số cách tiếp cận về
trí thức nói chung và trí thức giáo dục đại học nói riêng trên nhiều bình diện đa dạng
và phong phú: từ việc nhận thức, suy ngẫm về vấn đề trí thức, cho đến đánh giá vaitrò của đội ngũ trí thức trong KHXH&NV và trí thức lĩnh vực khoa học khác… cáccông trình còn bàn về vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởngtưởng Hồ Chí Minh để giải quyết chính sách, tạo động lực và phát huy tiềm năng trítuệ của đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế
Trang 29Bên cạnh phân tích những thành tựu, các tác giả còn chỉ ra những hạn chế,yếu kém của đội ngũ trí thức Việt Nam, trí thức giáo dục và đào tạo, trí thức giáodục đại học Nhiều bài viết, công trình, tham luận hội thảo phân tích xác đáng,mạnh dạn chỉ ra cơ hội, thách thức và những vấn đề đặt ra đối với đội ngũ trí thứctrình độ cao, trí thức nhà giáo và đóng góp to lớn của họ cho nền giáo dục đại họcViệt Nam trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Thứ hai, với phạm vi nghiên cứu ở những góc độ khác nhau, các tác giả đã
làm rõ nguồn nhân lực, vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển xã hội Đặcbiệt, những năm gần đây, sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng KH&CN, củaKTTT, đặt ra thách thức đối với Việt Nam về NNLCLC, phục vụ sự nghiệp đổimới và hội nhập quốc tế Các công trình đã nghiên cứu sâu, rộng về khái niệm,đặc điểm, tiêu chí đánh giá và vai trò của NNLCLC Đó là cơ sở lí luận để các tácgiả phân tích thực trạng và vai trò của NNLCLC đối với sự phát triển KT-XH vàđẩy mạnh CNH, HĐH ở Việt Nam Qua đó, các công trình đánh giá những thànhtựu, chỉ ra những hạn chế, yếu kém của NNLCLC ở Việt Nam, đòi hỏi có sự vàocuộc và trách nhiệm của các cấp, bộ, ngành, trong đó vai trò chủ đạo là giáo dụcbậc đại học, góp phần đào tạo và bồi dưỡng một cách hiệu quả lực lượng trí tuệlớn mạnh này
Thứ ba, cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu về vai trò của đội ngũ
trí thức giáo dục đại học đầy đủ và hệ thống dưới góc độ chính trị - xã hội thuộcchuyên ngành CNXH khoa học, chưa đi sâu làm rõ nhằm khẳng định việc pháthuy vai trò của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam trong đào tạoNNLCLC là một yêu cầu bức thiết để đưa Việt Nam vững bước trên con đườngxây dựng CNXH
Giá trị của các công trình nghiên cứu nêu trên là hệ thống tài liệu tham khảoquý báu giúp tác giả kế thừa có chọn lọc, góp phần gợi mở, định hướng những vấn
đề khoa học và một số hướng tiếp cận mới cho tác giả, đặt ra những vấn đề cần tiếptục làm rõ
1.2.2 Những vấn đề cơ bản luận án cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ
Một là, khái quát cơ sở lí luận về trí thức giáo dục đại học, đặc biệt là phân
tích những đặc điểm cơ bản của đội ngũ trí thức giáo dục đại học để thấy rõ hơn
Trang 30tính chất lao động sáng tạo và những đặc thù của đội ngũ trí thức giáo dục đại học
so với trí thức ở những lĩnh vực khoa học khác
Hai là, khái quát về NNLCLC và vai trò của NNLCLC ở Việt Nam trong
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế; chỉ ra những nhu cầu bức thiếttrong đào tạo, bồi dưỡng và phát triển NNLCLC của Việt Nam trong giai đoạnhiện nay
Ba là, làm rõ thực trạng vai trò của đội ngũ trí thức giáo dục đại học với đào
tạo NNLCLC ở Việt Nam hiện nay Cụ thể là:
- Vai trò của đội ngũ trí thức giáo dục đại học trong đào tạo chuyên môn, kỹnăng lao động cho NNLCLC;
- Vai trò của đội ngũ trí thức giáo dục đại học trong trang bị cho NNLCLCphương pháp nghiên cứu, phương pháp làm việc;
- Vai trò của đội ngũ trí thức giáo dục đại học trong bồi dưỡng lý tưởngsống, nhân cách làm người cho NNLCLC; tạo động lực cho họ vươn lên trong họctập, trong quá trình chuẩn bị lập nghiệp
Bốn là, từ những hạn chế và vấn đề đang đặt ra trong việc thực hiện vai trò
của đội ngũ trí thức giáo dục đại học, đề xuất giải pháp cơ bản nhằm giáo dục nhậnthức cho trí thức giáo dục đại học; có chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng độingũ trí thức giáo dục đại học sao cho phù hợp với điều kiện, đặc điểm lao động vàtrình độ của mỗi trí thức nhà giáo; phát huy nội lực của bản thân đội ngũ trí thứcnhà giáo đại học; tăng cường trong công tác đổi mới nội dung, chương trình giáodục đại học, đoàn kết, hợp tác trong nước và quốc tế… Từ đó, việc phát huy vai tròcủa trí thức giáo dục đại học trong đào tạo NNLCLC thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
sẽ đạt được những kết quả tích cực
Kết luận chương 1
Có thể nói, đội ngũ trí thức Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việcnâng cao chất lượng nguồn nhân lực - một trong những vấn đề cốt lõi trong Chiếnlược phát triển KT-XH ở nước ta giai đoạn hiện nay Tổng hợp và phân tích nhữngcông trình tiêu biểu trên cho thấy, các học giả đã tập trung nghiên cứu: về trí thức,
về công tác xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức trên một số bình diện xã hội (trí
Trang 31thức KHXH&NV, trí thức trong quân đội, nữ trí thức), đội ngũ trí thức giáo dục đạihọc được các tác giả nghiên cứu ở phạm vi cơ cấu, số lượng, chất lượng, hay một số
đề tài chỉ đánh giá về đội ngũ trí thức giáo dục đại học ở ngành khoa học Lênin Về NNLCLC, các công trình tập trung nghiên cứu tầm quan trọng NNLCLCvới tư cách là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốcgia và đề xuất những giải pháp, cách thức nhằm phát huy vai trò của chủ thể nàytrong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ở Việt Nam
Mác-Ở góc độ chính trị - xã hội, dưới những hình thức thể hiện khác nhau (đề tàitrọng điểm cấp nhà nước, những công trình đã in thành sách, đề tài luận án tiến sỹ,các bài viết được đăng tải trên các tạp chí khoa học…), các công trình đã làm sáng
tỏ cả về mặt lí luận và thực tiễn, đạt những giá trị khoa học và thực tiễn sâu sắc.Nhiều bài viết đã chỉ ra yêu cầu bức thiết của mối quan hệ biện chứng giữa giáo dụcđại học và NNLCLC ở Việt Nam hiện nay, song cho đến nay chưa công trình khoahọc nào trực tiếp thực hiện
Qua các công trình đã tổng quan trên, một mặt, tác giả kế thừa có chọn lọcnhững kết quả nghiên cứu phục vụ cho luận án của mình, mặt khác, giúp cho tácgiả nhận thức rõ hơn những khía cạnh mà các công trình trước đó chưa đề cập,nghiên cứu, hoặc mới chỉ làm rõ ở những góc độ khoa học khác
Trang 32Chương 2
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TRÍ THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
2.1 TRÍ THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VIỆT NAM THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
2.1.1 Quan niệm về trí thức giáo dục đại học
2.1.1.1 Khái ni ệm trí thức giáo dục đại học
Trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng của tiến bộ xã hội, đội ngũ tríthức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức Ngày nay, cùng với sựphát triển nhanh chóng của cách mạng KH&CN hiện đại, đội ngũ trí thức trở thànhnguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lượcphát triển
Thuật ngữ “Trí thức” được sử dụng rộng rãi trên thế giới, có nguồn gốc từtiếng Latinh: Intelligentia, có nghĩa là thông minh, sự hiểu biết Hiện nay, có hàngtrăm định nghĩa về trí thức Để tiếp cận khái niệm trí thức, ngoài những nội dungviết về trí thức được ghi trong các từ điển (Từ điển Triết học, Từ điển Chủ nghĩa xãhội khoa học, Từ điển Chính trị học, Đại từ điển Tiếng Việt…), tác giả nghiên cứukhái niệm trí thức qua ba hướng tiếp cận
Thứ nhất, quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về trí thức
Trong lí luận mác xít về trí thức, việc xác định vai trò đặc biệt của trí thứcđối với đời sống chính trị chiếm vị trí quan trọng, thu hút sự quan tâm của các nhàkinh điển của chủ nghĩa Mác Lênin Qua hơn một thế kỷ, những luận điểm khoahọc về trí thức của chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn mang giá trị sâu sắc Từ những nghiêncứu về con người, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đi sâu nghiên cứu về đội ngũ trí thứctrong bối cảnh cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản đang diễn ragay gắt
C.Mác quan niệm, trí thức là những bác sĩ, kỹ sư, hoạt động vì lợi íchcủa bản thân họ và lợi ích xã hội Sự nghiệp cách mạng "đòi hỏi phải có nhữngbác sĩ, kỹ sư, nhà hoá học, nông học và các chuyên gia" [89, tr.552]
Trang 33Ph.Ăngghen, trong thư "Gửi Đại hội quốc tế các sinh viên xã hội chủnghĩa", đề: "Luân Đôn, ngày 19-12-1893", quan niệm về trí thức cụ thể hơn,ông viết:
Các bạn hãy cố gắng làm cho thanh niên ý thức được rằng, giai cấp vôsản lao động trí óc phải được hình thành từ hàng ngũ sinh viên, giaicấp đó có sứ mệnh phải kề vai sát cánh và cùng đứng trong một độingũ với những người anh em của họ, những người công nhân lao độngchân tay, đóng vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng sắp tới đây.Cuộc cách mạng tư sản trước đây đòi hỏi các trường đại học chỉ đàotạo ra các trạng sư làm nguyên liệu tốt nhất để hình thành nên nhữngnhà hoạt động chính trị của chúng… vì vấn đề là phải nắm lấy việcquản lý không phải chỉ bộ máy chính trị, mà còn cả toàn bộ nền sảnxuất xã hội nữa, và ở đây cần đến những kiến thức vững chắc, chứkhông phải là những câu xuông xáo oang oang [93, tr.507-508]
V.I.Lênin dùng thuật ngữ “trí thức”, “giới trí thức” không những để chỉ cáchọc giả, các nhà trước tác, mà còn bao hàm tất cả những người có học thức, các đạibiểu của những nghề tự do nói chung, các đại biểu của lao động trí óc khác vớinhững đại biểu của lao động chân tay V.I.Lênin định nghĩa: "Trí thức bao hàmkhông những chỉ các nhà trước tác mà thôi, mà còn bao hàm tất cả mọi người cóhọc thức, các đại biểu của những nghề tự do nói chung, các đại biểu của lao độngtrí óc" [85, tr.372]
Định nghĩa của V.I.Lênin về trí thức có phạm vi khá rộng rãi, cơ động,không gò bó, nhưng nhìn chung, trí thức là những người lao động trí óc Ông làngười hiểu rõ tầm quan trọng của trí tuệ nói chung, nhất là đối với sự nghiệp xâydựng CNXH Xuất phát từ yêu cầu phát triển nước Nga, Người cho rằng, không có
sự chỉ đạo của các chuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, và có kinhnghiệm thì không thể nào chuyển lên CNXH Những chỉ dẫn của Người là bài họcquý giá về công tác cán bộ trí thức cho Đảng và nhân dân ta trong thời kỳ đấu tranhgiành chính quyền trước đây cũng như hiện nay
Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin: Trí thức là tầng lớp
xã hội đặc biệt chuyên lao động trí óc phức tạp, có trình độ học vấn, chuyên mônsâu, đại diện cho trí tuệ đương thời mà xã hội đạt được Trí thức là những người
Trang 34sáng tạo, phổ biến và vận dụng tri thức vào đời sống xã hội, thúc đẩy nhanh sựphát triển văn hóa và tiến bộ xã hội Tuy nhiên, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ nghiên cứu về trí thức chủ yếu trong thời kỳ đấu tranh giai cấp quyếtliệt của cách mạng vô sản mà chưa có điều kiện để nghiên cứu về trí thức trongxây dựng CNXH.
Thứ hai, quan niệm của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về trí thức
Trên tinh thần kế thừa và phát triển sáng tạo học thuyết Mác-Lênin, Chủ tịch
Hồ Chí Minh quan niệm trí thức là hiểu biết Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu
biết: Một là, hiểu biết sự tranh đấu sinh sản Khoa học tự nhiên do đó mà ra Hai
là, hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội Khoa học xã hội do đó mà ra.Ngoài hai cái đó, không có trí thức nào khác
Một người học xong đại học, có thể gọi là trí thức Song, y không biết càyruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiềuviệc khác Nói tóm lại, công việc thực tế, y không biết gì cả Thế là y chỉ
có trí thức một nửa Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn, thì phải đem trí thức đó áp dụng vào thực tế [103, tr.235].
Định nghĩa của Hồ Chí Minh về trí thức nhấn mạnh đến sự cống hiến của
họ đến ý nghĩa thực tế trong hoạt động của người trí thức, đem sự hiểu biết củamình để áp dụng vào thực tế, làm nên vật chất và tinh thần, góp phần xây dựngđời sống cộng đồng phát triển, không nên lý luận suông
Tuy vậy, Người cho rằng, một người có trình độ học vấn cao chỉ là điều kiệncần chứ chưa phải là điều kiện đủ để trở thành trí thức Một người có trình độ họcvấn cao chỉ có thể trở thành trí thức khi người đó đem tri thức của mình lao độngsáng tạo, áp dụng vào thực tế, phục vụ xã hội, phục vụ nhân dân Tài phải đi đôi vớiđức Đức là gốc của người cán bộ cách mạng “ Đức là đạo đức cách mạng Đó làcái gốc, rất là quan trọng Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vôdụng” [104, tr.329] Do vậy, người thiếu đức độ, lương tri thì dù có học vấn caocũng chỉ là người có bằng cấp, có học hàm, học vị, là người làm việc trí óc Họchưa thật sự là trí thức đúng nghĩa Nói cách khác, để trở thành người trí thức thì tacần phải có tài và đức, đem tri thức phục vụ tốt cho nhân dân và đất nước
Trang 35Bước vào thời kỳ đổi mới, để tiến hành CNH, HĐH đất nước, hướng tới xâydựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Đảng tarất coi trọng củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng khối liên minh công- nông
- trí thức
Trong các nghị quyết trung ương thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã quan tâm và cụthể hóa việc đào tạo, sử dụng, xây dựng và phát huy tiềm năng của giới trí thức nóichung và đội ngũ trí thức ở từng lĩnh vực cụ thể nói riêng Đặc biệt, Hội nghị lần
thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) đã ban hành Nghị quyết số 27 ngày 8-2009 về Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó xác định rõ mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ và
6-giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức hiện nay và nhấn mạnh:
Trí thức Việt Nam là lực lượng sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiếntrình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc
tế, xây dựng kinh tế tri thức phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nângtầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnhđạo của Đảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị Đầu tư xâydựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững [47, tr.91]
Quan điểm trên thực chất là khẳng định vai trò, tầm quan trọng và đề caotính chất phân công lao động xã hội của đội ngũ trí thức, đồng thời yêu cầu cầnquan tâm đặc biệt đến lao động của trí thức trong mối quan hệ với các lực lượng laođộng khác
Tại đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta tiếp tục phát triển quanđiểm về trí thức theo tinh thần sử dụng và phát huy có hiệu quả tiềm năng trí tuệ của
họ, Đảng ta nhấn mạnh:
Xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầuphát triển đất nước Tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạtđộng nghiên cứu, sáng tạo Trọng dụng trí thức trên cơ sở đánh giá đúngphẩm chất, năng lực và kết quả cống hiến Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ,đãi ngộ xứng đáng những cống hiến của trí thức Có chính sách đặc biệtđối với nhân tài của đất nước Coi trọng vai trò tư vấn, phản biện, giám
Trang 36định xã hội của các cơ quan nghiên cứu khoa học trong việc hoạch địnhđường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và các dự án phát triển kinh
tế, văn hoá, xã hội Gắn bó mật thiết giữa Đảng và Nhà nước với trí thức,giữa trí thức với Đảng và Nhà nước [49, tr.241-242]
Đảng, Nhà nước, nhân dân đã và đang quan tâm sâu sắc đến xây dựng độingũ trí thức và ngày càng đánh giá cao vai trò sáng tạo, phát minh, phản biện xã hộicủa họ trong sự nghiệp xây dựng, phát triển KT - XH, củng cố quốc phòng - anninh, đẩy mạnh quan hệ giao lưu, hợp tác quốc tế, bảo vệ vững chắc Tổ quốc ViệtNam XHCN Trên cơ sở đó, trí thức sẽ có nhiều điều kiện để đóng góp vào nhữngthành công của sự nghiệp đổi mới
Thứ ba, quan niệm về trí thức của một số nhà khoa học Việt Nam
Khi xem xét các thuộc tính cơ bản của trí thức, có ý kiến đã nêu "trí thức làmột tầng lớp xã hội, lao động trí óc với trình độ học vấn cao, sản xuất tinh thần làchủ yếu nhằm sáng tạo, giữ gìn và truyền đạt, nhất là ứng dụng tri thức khoa họcgóp phần đẩy nhanh sự phát triển của xã hội" [79, tr.4] Cùng hướng tư duy đó, cónhà khoa học khẳng định: "Trí thức là một tầng lớp xã hội, gồm những người cótrình độ học vấn, trình độ chuyên môn cao, bằng lao động trí tuệ sáng tạo của mình
để phát kiến, truyền bá và ứng dụng những tri thức khoa học mới tiến bộ và hữu íchvào đời sống xã hội" [143, tr.10] Hai quan niệm nêu trên vừa phân định vị trí củatrí thức trong cơ cấu xã hội - giai cấp, vừa chỉ rõ vai trò của trí thức đối với sự pháttriển của xã hội, đồng thời chỉ rõ tính đặc thù về phương thức lao động của trí thức
so với các lực lượng xã hội khác
Quan điểm khác chỉ đề cập đến trí thức trên lĩnh vực văn hoá - xã hội màkhông thấy trí thức trên các lĩnh vực khác và cho rằng “trí thức là những người mànghề nghiệp chính là viết văn, giảng huấn, truyền đạo, xuất hiện trên sân khấu haynghề làm văn chương” [27, tr.15-16]
Trên cơ sở phân tích những vấn đề triết học - xã hội về trí thức, có quanđiểm phân tích trí thức trong cơ cấu xã hội - giai cấp, họ là một tầng lớp xã hội đadạng về nghề nghiệp và hoạt động Vấn đề đặt ra đối với người trí thức, đó là
"hiểu biết và sáng tạo, là năng lực làm chủ phương pháp, biết dùng phương pháp
để mở rộng và nâng cao hiểu biết" [6, tr.6] Cùng quan điểm đó, nhóm nhà khoahọc khác cho rằng “trí thức là người lao động trí óc, có trình độ phát triển về trí
Trang 37tuệ, có hiểu biết sâu về một lĩnh vực chuyên môn, có năng lực sáng tạo, nhạy bénvới cái mới" [166, tr.25] Vì vậy, trí thức phải là người "thực học để có thực lực vàthực tài", cho nên, ở người trí thức có sự phát triển cao tính tự nguyện và lòng tựtrọng, lao động của người trí thức, do đó là lao động tự do.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của KH & CN, trình độ học vấn, trình độnhận thức của con người được nâng lên, do vậy, chỉ những người đã qua đào tạohoặc tự đào tạo đạt trình độ đại học trở lên mới có thể tiếp cận được kiểu lao độngcủa trí thức Việc nhận biết trí thức phải thông qua sự đánh giá tính sáng tạo trongquá trình lao động trí óc phức tạp của trí thức, trên cơ sở những giá trị của sản phẩmkhoa học, bao gồm các công trình, tác phẩm, đề án… Vì vậy, trên thực tế, người cóbằng cấp (thậm chí nhiều bằng cấp) chưa hẳn đã là trí thức theo đúng nghĩa củaphạm trù này, nếu họ thiếu yếu tố trí tuệ, sáng tạo
Trên cơ sở tìm hiểu các công trình nghiên cứu với ba hướng tiếp cận trên, tác
giả luận án nhất quán với quan điểm của Đảng về trí thức: Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội [47, tr.81-82].
Trí thức giáo dục và đào tạo là bộ phận cơ bản của trí thức Việt Nam, nhữngngười hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, có nhiệm vụ truyền bátrực tiếp tri thức khoa học, tri thức văn hóa, rèn luyện nhân cách, đạo đức cho ngườihọc, góp phần nâng cao dân trí, phát triển nhân lực, bồi dưỡng nhân tài nhằm tạođộng lực phát triển cho xã hội
Trí thức giáo dục đại học là một bộ phận đặc thù của đội ngũ trí thức giáodục và đào tạo Đó là những cán bộ giảng dạy, nghiên cứu, quản lý trực tiếp trong
hệ thống giáo dục bậc đại học, nhằm đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhânlực, nhân tài cho đất nước
Trí thức giáo dục đại học là những người trực tiếp tham gia vào quá trình đàotạo ở bậc học cao nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân Thông qua hai cấp đào tạo
là đại học (trình độ cao đẳng, đại học) và sau đại học (trình độ thạc sĩ và tiến sĩ), độingũ trí thức giáo dục đại học trực tiếp tham gia vào quá trình chuẩn bị nguồn nhânlực trình độ cao, xây dựng đội ngũ chuyên gia, những nhà khoa học, đáp ứng yêu
Trang 38cầu ngày càng cao về chất lượng lao động của xã hội, đáp ứng yêu cầu của sựnghiệp CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN.
Trí thức giáo dục đại học thực hiện đào tạo đội ngũ cán bộ, đội ngũ trí thứcmới nhằm đảm bảo cho sự vận động và phát triển của đội ngũ trí thức Đây là mộttrong những chức năng cơ bản của giáo dục đại học Mục đích cao nhất của độingũ trí thức giáo dục đại học là đảm bảo nền tảng vững chắc để phát triển nhân lựctrình độ cao, những đỉnh cao trí tuệ và xây dựng nhân cách người lao động mớinhằm tạo ra động lực để tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội bền vững Do đó,
để thiết kế được chương trình, nội dung đào tạo mới, đổi mới phương pháp đàotạo theo hướng phát triển tính sáng tạo, năng lực tự học, tư duy độc lập trong họctập và nghiên cứu của sinh viên…, người giảng viên đại học phải có trình độ caohơn hẳn mặt bằng đào tạo Bởi vì, họ phải thường xuyên tiếp cận với tri thức mới,nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp
Trí thức giáo dục đại học đại biểu cho hầu hết các ngành khoa học hiện cócủa quốc gia Theo quan điểm của UNESCO và căn cứ thực tiễn Việt Nam, độingũ trí thức giáo dục đại học tham gia vào khoảng 600 ngành khoa học chuyênsâu, có thể phân thành ba nhóm ngành khoa học lớn: KHTN, KHKT&CN,KHXH&NV Hiện nay với hơn 400 trường đại học và cao đẳng, Việt Nam có độingũ trí thức nhà giáo ở tất cả các nhóm ngành và ngành khoa học chuyên sâu, kể
cả những khoa học mũi nhọn, như điện tử, tin học, viễn thông, công nghệ sinhhọc, vật liệu mới, hóa dầu…
Đối tượng tác động chủ yếu của trí thức giáo dục đại học là những sinh viên,học viên cao học và nghiên cứu sinh Trong luận án, tác giả quan niệm đây là nguồnnhân lực chất lượng cao hiện tại và tương lai Trong họ, tuyệt đại bộ phận là thanhniên - lực lượng trẻ khoẻ, rất năng động và nhiệt tình, có khả năng tiếp cận tri thứcmới, nhanh nhạy trước đời sống hiện thực
Nhiệm vụ của trí thức giáo dục đại học là bằng lao động sáng tạo của mình,bằng phẩm chất và năng lực của nhà giáo, tác động vào các đối tượng là học viên,sinh viên nhằm đào tạo ra những người lao động có trình độ cao, có phẩm chấtđạo đức tốt… đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về NNLCLC cho đất nước
Trang 39Sản phẩm lao động sáng tạo của người trí thức giáo dục đại học là nhâncách, năng lực và phẩm chất, là trí tuệ của những học viên, sinh viên - những tríthức trẻ trong tương lai Sự phát triển của KH&CN ngày càng làm tăng hàm lượng
“chất xám”, hàm lượng “trí tuệ” trong một đơn vị sản phẩm, trong cả hoạt động xãhội và hoạt động giáo dục Trí thức giáo dục đại học phải sử dụng một cách cóhiệu quả những thành tựu KH&CN mới vào hoạt động nghề nghiệp, tác động tớingười học nhằm khơi dậy tiềm năng cá nhân, năng lực tự học, tự nghiên cứu, từngbước đưa họ vào môi trường hoạt động khoa học, hoạt động lao động sản xuất,hoạt động xã hội, bắt kịp với tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại
Lao động sáng tạo của đội ngũ trí thức giáo dục đại học liên quan trực tiếpđến con người, đến việc khai thác và phát huy năng lực nội sinh của từng cá nhântrong việc tiếp thu tri thức, tiếp cận chân lý và khả năng tự học, tự nghiên cứu cũngnhư trong việc xây dựng và phát triển nhân cách cá nhân… Do đó, kết quả của laođộng của trí thức nhà giáo đại học không chỉ dựa vào trình độ của họ một cách đơngiản thông qua bằng cấp mà còn thông qua những giá trị khoa học của bài giảng(lượng thông tin, phương pháp tiếp cận, sự nhận thức, tiếp thu của học viên, sinhviên…), giá trị của những phát minh khoa học và chất lượng sản phẩm mà họ tạo ra.Hơn nữa, phải sau vài năm, thậm chí hàng chục năm sau, những phát minh khoahọc (nhất là khoa học cơ bản, khoa học giáo dục), chất lượng “sản phẩm” mới cókết quả
Với tư cách là lực lượng chủ đạo trong đào tạo ở bậc đại học, ở Việt Nam,đội ngũ trí thức giáo dục đại học tham gia thực hiện các mục tiêu mà Luật Giáo dụcđại học (năm 2012) đã quy định:
Thứ nhất, đào tạo trình độ cao đẳng để sinh viên có kiến thức chuyên môn cơ
bản, kỹ năng thực hành thành thạo, hiểu biết được tác động của các nguyên lý, quyluật tự nhiên - xã hội trong thực tiễn và có khả năng giải quyết những vấn đề thôngthường thuộc ngành được đào tạo;
Thứ hai, đào tạo trình độ đại học để sinh viên có kiến thức chuyên môn
toàn diện, nắm vững nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội, có kỹ năng thực hành
cơ bản, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộcngành được đào tạo;
Trang 40Thứ ba, đào tạo trình độ thạc sĩ để học viên có kiến thức khoa học nền tảng,
có kỹ năng chuyên sâu cho nghiên cứu về một lĩnh vực khoa học hoặc hoạt độngnghề nghiệp hiệu quả, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và có năng lực pháthiện, giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo;
Thứ tư, đào tạo trình độ tiến sĩ để nghiên cứu sinh có trình độ cao về lý
thuyết và ứng dụng, có năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo, phát triển tri thứcmới, phát hiện nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội và giải quyết những vấn đềmới về khoa học, công nghệ, hướng dẫn nghiên cứu khoa học và hoạt độngchuyên môn
Tóm lại, theo tác giả, trí thức giáo dục đại học là đội ngũ trí thức làm công tác
giáo dục và đào tạo ở bậc đại học, tham gia vào quá trình đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực trình độ cao, nhằm giúp người học nắm vững kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, có khả năng phát hiện, giải quyết vấn đề một cách độc lập.
2.1.1.2 Đặc điểm của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam
Đặc điểm hình thành và phát triển của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam
Đánh dấu mốc son lịch sử về sự ra đời của đội ngũ trí thức giáo dục đại họcViệt Nam, tháng 3 năm 1075 khoá thi Nho học đầu tiên nước ta được tổ chức (gọi
là khoá thi tuyển Minh kinh bác học và Nho học tam trường) Ông Lê Văn Thịnhngười làng Đông Cửu, huyện Gia Lương (nay là xã Đông Cửu, huyện Gia Bình,tỉnh Bắc Ninh), là người đỗ đầu bảng khoá thi này Ông được coi là bậc khai khoacủa các nhà khoa bảng nước ta Từ khoa thi đầu tiên năm Ất Mão (1075) đến khoathi cuối cùng năm Kỷ Mùi (1919), các triều đại đã tổ chức được 187 khoa thi, lấyđược 2.898 người đậu tiến sĩ và hàng chục người đậu cử nhân Điều đó đã chứng tỏtruyền thống khoa bảng của nền giáo dục Việt Nam
Triều Nguyễn là triều đại cuối cùng duy trì các khoa thi Nho học Khi thựcdân Pháp xâm lược, cùng với chính sách khai thác thuộc địa về kinh tế, chúng cònđồng hoá dân tộc ta về văn hoá Thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân, chỉthành lập một số trường đại học, cao đẳng, hạn chế mở rộng qui mô giáo dục để đàotạo một số lượng ít ỏi trí thức Việt Nam tuyệt đối trung thành và phục vụ đắc lực