Tệ nạn xã hội nói chung ở nước ta hiện nay đã và đang trở thành vấn đề nóng bỏng, nó là nguyên nhân làm băng hoại đạo đức, nhân cách của con người, làm tổn hại sức khỏe, dẫn đến bần cùng hóa gia đình đồng thời tác động xấu tới an ninh, trật tự an toàn xã hội. Tệ nạn xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống gia đình, sức khỏe, đạo đức con người, và là hiểm họa của xã hội loài người gây ra những hệ lụy đáng tiếc cho bản thân mà còn các thế hệ tương lai. Tệ nạn xã hội như là một căn bệnh nguy hiểm có sức cuốn hút, cám dỗ và lây lan mạnh mẽ đến tầng lớp thanh thiếu niên nói chung, học sinh, sinh viên nói riêng là những chủ nhân tương lai của đất nước, họ là những đối tượng dễ sa vào tệ nạn xã hội. Nếu không được định hướng và giáo dục đầy đủ thì sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường. Chúng ta đều biết thái độ có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của con người mà còn trong công tác phòng chống tệ nạn xã hội. Chính vì vậy đối với mọi người nói chung và học sinh, sinh viên nói riêng muốn đạt được thành công thì phải có thái độ đúng đắn đối với vấn đề tệ nạn xã hội. Đặc biệt trong công tác phòng chống tệ nạn xã hội học sinh, sinh viên là một lực lượng đóng vai trò quan trọng trong công tác này thì việc nâng cao thái độ, ý thức của học sinh, sinh viên về vấn đề tệ nạn xã hội là vô cùng quan trọng. Mỗi người học sinh, sinh viên nếu có thái độ tích cực thì sẽ nâng cao được hoạt động phòng chống tệ nạn xã hội.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Vũ Thị Tuyết, tôi thực hiện công trình nghiên cứu khoa học với tên đề tài: “Thái độ của sinh viên khoa Quản trị văn phòng về vấn đề tệ nạn xã hội hiện nay”
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các tài liệu sử dụng trong bài nghiên cứu là kết quả của quá trình khảo sát của tôi trong thời gian qua Nếu không đúng tôi xin chịu trách nhiệm về tài liệu, thông tin sử dụng trong công trình nghiên cứu này
Hà Nội, tháng 08 năm 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ths Nguyễn Tiến Thành là người hướng dẫn tôi thực hiện tốt đề tài này
Trong quá trình khảo sát và nghiên cứu tôi gặp khá nhiều khó khăn, mặt khác
do trình độ nghiên cứu còn hạn hẹp và nhiều nguyên nhân khác nên dù cố gắng song đề tài nghiên cứu của tôi cũng không tránh khỏi những sai sót Vì thế tôi rất mong nhận được sự giúp đỡ của thầy(cô) trong trường
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tuổi trẻ là sức mạnh, có niềm nhiệt huyết mạnh mẽ Ở lứa tuổi đó mỗi chúng ta đều muốn cống hiến, muốn chơi, muốn thử hết sức mình Và các bạn sinh viên là những con người ở lứa tuổi như thế Khi Việt Nam chính thức khẳng định quyết tâm phát triển kinh tế bằng việc gia nhập các tổ chức quốc tế như ASEAN, ký cam kết AFTA, tham gia APEC và trên hết chúng ta chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại quốc tế WTO Thì việc đào tạo một lớp trẻ, một đội ngũ cửnhân, giáo sư, tiến sĩ ở tất cả các lĩnh vực là điều nên làm Vị trí của giới trẻ và đặcbiệt là các bạn sinh viên là vô cùng quan trọng
Thế nhưng xã hội càng phát triển, càng văn minh hiện đại thì những mặt trái của nóvẫn còn xẩy ra, đó là những tệ nạn xã hội, những hành vi trái đạo đức của con người và trái với pháp luật
Trong những năm vừa qua, các nhà khoa học pháp lý, các nhà tội phạm học đã có không ít các công trình nghiên cứu về tội phạm và tệ nạn xã hội Nhà nước cũng cónhiều văn bản pháp luật làm cơ sở pháp lý cho việc đấu tranh phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội như Bộ luật hình sự, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Pháp lệnh chống tham nhũng, Luật phòng chống ma túy, Pháp lệnh phòng chống mại dâm,
Bên cạnh những kết quả đã đạt được trong cuộc đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội thì với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, tệ nạn xã hội diễn ra phức tạp
và tinh vi hơn đòi hỏi mọi người cần phải quan tâm hơn nữa
Tệ nạn xã hội nói chung ở nước ta hiện nay đã và đang trở thành vấn đề nóng bỏng, nó là nguyên nhân làm băng hoại đạo đức, nhân cách của con người, làm tổnhại sức khỏe, dẫn đến bần cùng hóa gia đình đồng thời tác động xấu tới an ninh, trật tự an toàn xã hội Tệ nạn xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống gia đình, sức khỏe, đạo đức con người, và là hiểm họa của xã hội loài người gây ra những hệlụy đáng tiếc cho bản thân mà còn các thế hệ tương lai
Trang 5Tệ nạn xã hội như là một căn bệnh nguy hiểm có sức cuốn hút, cám dỗ và lây lan mạnh mẽ đến tầng lớp thanh thiếu niên nói chung, học sinh, sinh viên nói riêng là những chủ nhân tương lai của đất nước, họ là những đối tượng dễ sa vào tệ nạn xã hội Nếu không được định hướng và giáo dục đầy đủ thì sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường.
Chúng ta đều biết thái độ có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của con người mà còn trong công tác phòng chống tệ nạn xã hội Chính
vì vậy đối với mọi người nói chung và học sinh, sinh viên nói riêng muốn đạt đượcthành công thì phải có thái độ đúng đắn đối với vấn đề tệ nạn xã hội Đặc biệt trongcông tác phòng chống tệ nạn xã hội học sinh, sinh viên là một lực lượng đóng vai trò quan trọng trong công tác này thì việc nâng cao thái độ, ý thức của học sinh, sinh viên về vấn đề tệ nạn xã hội là vô cùng quan trọng Mỗi người học sinh, sinh viên nếu có thái độ tích cực thì sẽ nâng cao được hoạt động phòng chống tệ nạn xã hội
Tệ nạn xã hội đã và đang len lỏi vào mỗi con đường, ngóc ngách trên mọi miền tổ quốc Đặc biệt là ở trường học mà chủ yếu là ở các trường đại học Trong những năm gần đây tệ nạn xã hội ở các trường đại học như: cờ bạc, lô đề, game online, cá
độ bóng đá, ma túy mại dâm, sống thử, Những hành vi vi phạm pháp luật này đều có những ảnh hưởng nghiêm trọng đến xã hội, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống vật chất, tinh thần của một bộ phận sinh viên
Nếu mỗi sinh viên không có thái độ tích cực đẩy lùi tệ nạn xã hội trong trường học
và cả xã hội thì chắc rằng trong tương lai chúng ta sẽ phải gánh những hậu quả do
tệ nạn xã hội gây ra Bên cạnh đó không ít các bạn trẻ trong đó có sinh viên chưa ý thức được tầm quan trọng của việc đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội Nhiều người còn thờ ơ coi nó không phải việc của mình, có những suy nghĩ ích kỷ chỉ biết lợi cho bản thân Nhiều câu hỏi được đặt ra xoay quanh vấn đề này Vậy
những thế hệ trẻ tương lai mà cụ thể là các bạn sinh viên còn ngồi trên giảng
đường có thái độ như thế nào đối với vấn đề tệ nạn xã hội
Để thực hiện có hiệu quả công tác phòng chống tệ nạn xã hội thì trước hết phải nâng cao ý thức, thái độ của mọi người về vấn đề này mà đặc biệt là tầng lớp sinh viên Sinh viên là tầng lớp trí thức trong tương lai của đất nước, không ai hết mà
Trang 6chính họ là những người đóng vai trò chủ chốt trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Chính vì những lý do trên mà tôi đã lựa chọn đề tài “Thái độ của sinh viên khoa quản trị văn phòng về vấn đề tệ nạn xã hội hiện nay”
2 Tổng quan đề tài nghiên cứu
- Tình hình nghiên cứu trong nước: Các công trình nhiên cứu thái độ ở Việt Nam thường gắn với các hoạt động cụ thể như thái độ học tập, thái độ trong nghề nghiệp, Khi nghiên cứu các thành tựu của Tâm lý học thế giới và thực tiễn Tâm
lý học nước nhà các nhà Tâm lý học Việt Nam đã xác định một số quan điểm cơ bản về vị trí, vai trò của thái độ trong quá trình hoạt động giảng dạy và hoạt động học tập Các nhà nghiên cứu bước đầu mới chỉ khái quát các vấn đề, các biện pháp giúp nâng cao thái độ cho sinh viên mà ít đề cập đến thái độ của sinh viên trong từng tệ nạn xã hội cụ thể
- Tình hình nghiên cứu ngoài nước: Trong lĩnh vực Tâm lý học xã hội phươngTây, vấn đề thái độ luôn là vấn đề được nhiều các nhà khoa học chú ý và nghiên cứu Nổi bật là các nhà nghiên cứu ở Nga và Đức
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Nâng cao thái độ của sinh viên đối với vấn đề tệ nạn xã hội,giúp cho sinh viên tích cực, chủ động hơn trong công tác phòng chống tệ nạn xã hội
- Mục tiêu cụ thể: Nghiên cứu thái độ của sinh viên ngành quản trị văn
phòng(QTVP) trường Đại học Nội vụ Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Nghiên cứu thái độ của sinh viên khoa QTVP trường Đại học Nội vụ Hà Nội(HN)
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài đi sâu vào nghiên cứu thái độ học tập, ý thức củasinh viên về tệ nạn xã hội của khoa QTVP trường Đại học Nội vụ HN
5 Giả thuyết nghiên cứu
Trang 7Nếu sinh viên trường Đại học Nội vụ HN nói chung và sinh viên khoa QTVP nói riêng không có thái độ đúng đắn và tích cực về vấn đề tệ nạn xã hội thì tương lai của các bạn sinh viên sẽ như thế nào?
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng được hệ thống cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài như: thái độ, tệ nạn
xã hội, sinh viên, thái độ của sinh viên khoa QTVP đối với vấn đề tệ nạn xã hội
7 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp như:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn bằng cách trò chuyện với các bạn sinh viên khoa QTVP
8 Đóng góp mới của đề tài
Khái quát được những vấn đề lý luận của đề tài
Đánh giá được thực trạng thái độ của sinh viên ngành QTVP trường Đại học Nội vụ
HN đối với vấn đề tệ nạn xã hội và đề xuất một số ý kiến nhằm nâng cao thái độ của sinh viên QTVP trường Đại học Nội vụ HN nói riêng và sinh viên nói chung về vấn đề tệ nạn xã hội
9 Cấu trúc dự kiến của đề tài
Chương 1: Một số lý luận chung của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng vấn đề nghiên cứu
Chương 3: Giải pháp nâng cao thái độ cho sinh viên khoa QTVP trường Đại học Nội vụ HN về vấn đề tệ nạn xã hội
Trang 8NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
Vấn đề tệ nạn xã hội mà quan trọng là thái độ của mọi người về vấn đề đó được nhiều nhà khoa học chú ý và nghiên cứu Đặc biệt là các công trình nghiên cứu của các nhà Tâm lý học ở Đức và Nga(Liên Xô) Nhiều công trình nghiên cứu có đóng góp to lớn cho ngành Tâm lý học nói riêng và khoahọc nói chung trên thế giới Trọng tâm của các công trình nghiên cứu là tác giả đi sâu vào nghiên cứu định nghĩa thái độ, cấu trúc thái độ và mối quan hệgiữa thái độ và hành vi của con người Trong một nghiên cứu tổng quan khi nghiên cứu lịch sử về thái độ trong Tâm lý học gồm có: nhà Tâm lý học người Nga Shikhirev P.M đã chia quá trình này thành ba thời kỳ
Thời kỳ thứ nhất: từ khi khái niệm thái độ được sử dụng đầu tiên vào năm
1918 cho đến trước chiến tranh thế giới thứ hai Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ, với nhiều công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào định nghĩa,cấu trúc, chức năng của thái độ và mối quan hệ giữa thái độ và hành vi.Thời kỳ thứ hai: từ chiến tranh thế giới lần thứ hai cho đến cuối những năm
1950 Nội dung của thời kỳ này là sự hoài nghi vai trò của thái độ trong việc chi phối hành vi của con người Cũng vì lý do chiến tranh mà ở thời kỳ này các công trình nghiên cứu về thái độ giảm sút cả về số lượng lẫn chất lượng.Thời kỳ thứ ba: đầu năm 1960 cho đến nay Các nước phương tây phục hồi
và phát triển trở lại sau chiến tranh, cùng với sự phát triển đi lên của đất nước các công trình nghiên cứu thái độ cũng tiếp tục với nhiều ý tưởng, quan điểm mới
Như vậy qua nghiên cứu của tác giả Shikhirev P.M, chúng ta có thể nhận thấy: Lịch sử nghiên cứu thái độ nói riêng và khoa học tâm lý nói chung, cũng trải qua những thăng trầm của lịch sử phát triển con người
Trang 9Ngoài Shikhirev P.M còn có các tác giả khác Daryl Bem và Leon Festinger với thuyết “Tự nhận thức”, D.N Uzante với “Thuyết tâm thế”, V.A Iadov với nghiên cứu về “Thuyết định vị”.
Ở Đức những công trình nghiên cứu về thái độ tiêu biểu là công trình nghiêncứu của các nhà Tâm lý học xã hội như: Vnayzo, V.Đorxto với nội dung chủ yếu là đề cập tới kiểu định hình thái độ, cơ chế của thái độ, coi thái độ như là một thành tố của năng suất lao động tập thể
Có thể thấy rằng trong suốt thời kỳ từ đầu thế kỷ XX cho đến nay ở phương tây đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thái độ và cùng với nó cũng xuất hiện nhiều phương pháp nghiên cứu mới về hiện tượng tâm lý đặc biệt này
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam những công trình nghiên cứu không còn mang tính chung
chung, trừu tượng mà đã được cụ thể hóa các khía cạnh khác nhau của thái
độ như xúc cảm, tình cảm, hứng thú và vai trò của nó đối với hoạt động thựctiễn Các nhà Tâm lý học Việt Nam đã xác định một số quan điểm cơ bản về vai trò, vị trí của thái độ trong quá trình học tập và giảng dạy Mục tiêu của giáo dục là rèn luyện những con người có đầy đủ tri thức, kỹ năng và kỹ sảo
và là một trong những hoạt động của động cơ học tập
Nhận thức, thái độ, hoạt động để lĩnh hội tri thức đóng vai trò cơ sở, có ý nghĩa định hướng điều chỉnh cho thái độ và hành vi
Sự hình thành động cơ hoạt động của sinh viên có nhiều yếu tố tác động vào trong đó có quan niệm, thái độ của cha mẹ đối với việc học tập của con, sự đánh giá của xã hội,
Từ những quan niệm thực tiễn về nghiên cứu thái độ của sinh viên có thể kể một số công trình nghiên cứu có liên quan như: “Tìm hiểu nhận thức và thái
độ của sinh viên về định hướng tương lai” của TS Nguyễn Kim Dung, “Thái
độ của học sinh, sinh viên đối với ngành giáo dục hiện nay” của sinh viên LêMinh Tiến, “Thái độ của sinh viên trường Đại học Sư phạm Đại học Đà Nẵng đối với vấn đề sống thử” của sinh viên Vũ Thị Thu Hiền,
Trang 10Như vậy, ở Việt Nam và trên thế giới các công trình nghiên cứu về thái độ của mọi người có nhiều nhưng đi sâu vào nghiên cứu thái độ của sinh viên đối với vấn đề tệ nạn xã hội vẫn chưa được cụ thể, sâu rộng, mới chỉ nghiên cứu ở mức độ riêng lẻ, tách bạch các tệ nạn xã hội.
Thái độ được định nghĩa là: “Cách nhìn nhận và hoạt động của cá nhân về một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình huống cần giải quyết Đó là tổng thể những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩa, tình cảm của cá nhân đối với con người hay một sự việc nào đó”
Theo Allport “Thái độ là trạng thái của hệ thần kinh, là sự sẵn sàng phản ứng, là một trạng thái có tổ chức, được hình thành trên cơ sở kinh nghiệm quá khứ và nó điều khiển cũng như ảnh hưởng đến hành vi của các nhân.”
Còn gần đây, James, W.Kalat đưa ra định nghĩa: “Thái độ là sự thích hay không thích một sự vật hay một người nào đó của cá nhân, từ đó có ảnh hưởng tới hành vicủa anh ta khi ứng xử với sự vật hay con người đó” Nhà tâm lý học John Traven cũng định nghĩa: “Thái độ là cách cảm xúc, tư duy và hành động tương đối lâu dài đối với sự vật hay con người đó”
Nói tóm lại, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thái độ Nhưng có thể rút ra định nghĩa về thái độ thông dụng hiện nay, đó là: “Thái độ là một bộ phận hợp thành, một thuộc tính trọn vẹn của ý thức, quy định tính sẵn sàng hành động của con người đối với đối tượng theo một hướng nhất định, được bộc lộ ra bên ngoài thông qua hành vi, cử chỉ, nét mặt và lời nói của người đó trong những tình huống, điều kiện cụ thể
1.2.1.2 Cấu trúc của thái độ
Trang 11Chủ biên Nguyễn Khắc Viện có nhấn mạnh: “Tâm thế xã hội đã được củng cố, có cấu trúc phức tạp bao gồm các thành phần: nhận thức, xúc cảm, hành vi” Năm
1975, A.Kossakowky và J Compcher cho rằng cấu trúc thái độ bao gồm: niềm tin,
lý tưởng, hứng thú, thái độ xã hội Tuy nhiên các nhà tâm lý học đồng tình với cấu trúc ba thành phần của thái độ của Smith đưa ra gồm: tình cảm, nhận thức, hành vi của cá nhân đối tượng
Tình cảm là những rung động biểu thị thái độ riêng của con người đối với hiện thực khách quan, là xúc cảm của con người có liên quan đến việc thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu về vật chất, tinh thần của bản thân
Nhận thức là quan điểm, là ý kiến cụ thể của riêng cá nhân nào đó đối với đối tượng nghiên cứu
Hành vi là những biểu hiện ra bên ngoài, là những hành động của cá nhân với đối tượng của thái độ
Quan niệm của các nhà tâm lý học Việt Nam như Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Xuân Thức khi nghiên cứu cũng cho rằng thái độ có ba yếu tố là: nhận thức, hứng thú và hành vi của cá nhân
1.2.1.3 Đặc trưng của thái độ
Thái độ là một thuộc tính của nhân cánh bao gồm các đặc trưng: ổn định, tính không ổn định và tính chân thực
Tính ổn định: thái độ của con người là một chỉnh thể thống nhất bao gồm ba yếu tố: nhận thức, hứng thú và hành vi Các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất Vì vậy khi nghiên cứu thái độ của con người với một vấn đề nào đó thì chúng ta cần xem xét chúng trong mối liên hệ với các yếu tố khác của thái độ
Tính không ổn định: có nhiều nguyên nhân dẫn đến tính không ổn định như tác động của môi trường xung quanh và sự giáo dục thì thái độ của con người trong từng hoàn cảnh cụ thể cũng có sự thay đổi theo chiều hướng tích cực và tiêu cực tùy vào khả năng hiểu biết, nhận thức của mỗi cá nhân Tuy nhiên thái độ thay đổi
từ từ theo thời gian chứ không có sự thay đổi ngay tức khắc khi có tác động
Trang 12Tính chân thực: thái độ luôn biểu hiện rõ ra bên ngoài thông qua các hoạt động, hành vi Hành vi, hành động như thế nào thì biểu hiện của con người như thế đó Chính vì thái độ luôn biểu hiện ra bên ngoài mà ta có thể biết được một phần nào
đó tính cánh của con người
1.2.1.4 Quan hệ của thái độ với các thuộc tính của nhân cách
- Thái độ với ý thức cá nhân
Trong tâm lý học, ý thức là: “Hình thức phản ánh tâm lý bậc cao, đặc trưng của loài người, là năng lực nhận thức được cái phổ biến và cái bản chất tronghiện thực khách quan, do đó đồng thời là năng lực định hướng, điều khiển một cách tự giác thái độ,hành vi, quan hệ giữa con người với hoàn cảnh tự nhiên và xã hội” cấu trúc ý thức gồm ba thành phần cơ bản: nhận thức, thái
độ và sự năng động của ý thức Thái độ là một phần của ý thức, nó được thể hiển ra bên ngoài khi có sự tác động Ý thức gắn liền với hiện thực Chức năng của nhận thức là định hướng nhằm điều chỉnh hoạt động, Như vậy thái
độ và ý thức có mối quan hệ hữu cơ Thái độ phản ánh hiện thực khách quan
có chọn lọc, đồng thời có sự tác động trở lại của con người đối với hiện thực
- Thái độ với nhu cầu
Nhu cầu là sự đòi hỏi của con người nhằm thỏa mãn để tồn tại và phát triển trong điều kiện xã hội, là động lực thúc đẩy con người tham gia vào các hoạt động tăng gia sản xuất nhằm thỏa mãn nhu cầu của cá nhân.Nhu cầu có hai cách hiểu khác nhau: Một là, đó là điều kiện bên trong, một yếu tố bắt buộc phải có của hoạt động Hai là, đó là sự hướng dẫn, là hoạt động chủ quan của con người Nhu cầu thúc đẩy hoạt động, kích thích cá nhân hành động nhằm thỏa mãn nhu cầu mà con người củng cố được thái độ như: cảm xúc, nhận thức cũng như hành vi nhằm thỏa mãn nhu cầu Như vậy, thái độ và nhu cầu có mối quan hệ khăng khít với nhau
- Thái độ với hứng thú
Trang 13Hứng thú là một trạng thái đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó.Thái độ và hứng thú có mối quan hệ chặt chẽ và thống nhất với nhau Thông qua hứng thú ta có thể hiểu được thái độ của đối tượng trong trường hợp cụ thể nào đó Như vậy hứng thú có vai trò quan trọng nhằm thúc đẩy hoạt động một cách có hiệu quả, tạo ra sự sáng tạo cho con người Hứng càng ổn định thì thái độ càng được củng cố, con người càng tác động hơn nữa để chiếm lĩnh đối tượng.
- Thái độ với động cơ
Động cơ là sự kích thích hoạt động có liên quan đến việc thỏa mãn nhu cầu của chủ thể và định hướng con người đối với đối tượng cần chiếm lĩnh Động cơ là vật chất hay tinh thần nhằm quy định lựa chọn hướng hoạt động và vì nó hoạt động được tiến hành Là nguyên nhân dẫn đến những hành động, hành vi của cá nhân
Leonchiev cho rằng: “Động cơ là đối tượng của nhu cầu” Chức năng củađộng cơ là thúc đẩy hướng hoạt động, kích thích sự sáng tạo của con người
Nhờ có động cơ mà con người tiếp cận một cách rõ hơn tới đối tượng mình quan tâm nhằm thỏa mãn nhu cầu Chính vì thế cùng với nhu cầu, động cơ là tiền đề cho sự hình thành thái độ đối với hiện thực Vì động cơđược sinh ra bởi nhu cầu, nhu cầu đã có sự nhận thức Qua đó ta có thể hiểu rõ được mối quan hệ giữa thái độ với các thuộc tính khác: nhu cầu - động cơ - thái độ - đối tượng
Như vậy thái độ là biểu hiện trực tiếp của động cơ Để phân biệt thái độ với động cơ các nhà tâm lý học cho rằng thái độ có liên quan nhiều hơn tới đối tượng, hiện tượng, sự vật, sự kiện trong môi trường sống; còn động cơ liên quan đến hoạt động là yếu tố thúc đẩy hoạt động thực hiện.Ngoài những thuộc tính kể trên thì thái độ còn có mối quan hệ với nhiều thuộc tính tâm lý khác, tùy vào từng mục đích nghiên cứu mà ta xác định các mối quan hệ giữa thái độ với các yếu tố có liên quan thông qua biểu hiện của thái độ trong hoạt động thực tiễn của mỗi con người cụ thể
1.2.2 Khái niệm tệ nạn xã hội
Trang 14Tệ nạn xã hội là những biểu hiện của sự sai lệch xã hội Nó đi ngược lại với những chuẩn mực xã hội.
Vậy “chuẩn mực xã hội là gì?” Chuẩn mực xã hội là tập hợp các yêu cầu hoặc sự mong đợi mà cộng đồng xã hội muốn hướng tới nhằm tạo lập các khuôn mẫu hành
vi và hoạt động của các thành viên trong một nhóm tổ chức, giai cấp, xã hội nào đó
Chuẩn mực xã hội được thể hiện qua các văn bản pháp luật, nội quy, quy định, hương ước hay ở dạng bất thành văn
Khoa học xã hội chia chuẩn mực xã hội thành:
- Chuẩn mực mang tính bắt buộc: được phổ biến rộng rãi cho toàn thể xã hội để mọi người dựa vào đó mà hoạt động và gắn liền với nó là sự công khai trừng phạt khi phát hiện vi phạm
- Chuẩn mực mong đợi: phổ biến cho toàn xã hội nhưng mang tính đặc thù
áp dụng cho từng nhóm đối tượng
Vậy “sai lệch xã hội là như thế nào?” Sai lệc xã hội là những hành vi của cá nhân hay một nhóm đối tượng nào đó, nó không có sự phù hợp, không hòa nhập vào cộng đồng xung quanh Có nghĩa là hành vi đó đi ngược lại với cácchuẩn mực xã hội, đi ngược lại với số đông người khác trong những hoàn cảnh nhất định
Sai lệch xã hội là sự vi phạm vào các chuẩn mực xã hội đã đề ra, vi phạm vào các quy định, quy luật đã được một nhóm xã hội hay xã hội thông qua Hành vi sai lệch xã hội làm phá vỡ kỷ cương, đi ngược lại với thực tại, trái với sự mong đợi của cộng đồng, gây ra sự đối lập với mọi người xung
quanh
Qua thực tiễn đời sống ta có thể chia sai lệch xã hội thành hai loại:
- Sai lệch tích cực: là những hành vi thiếu bình thường so với chuẩn mực
xã hội, chuẩn mực đạo đức trong thực tiễn đời sống nhưng nó diễn ra theo chiều hướng tích cực, là thực hiện theo khuôn mẫu, lý tưởng, ước
mơ mà con người trong xã hội muốn hướng tới
Trang 15- Sai lệch tiêu cực: là những hành vi không được tán thành, bị mọi người phản đối, ảnh hưởng xấu tới chuẩn mực văn hóa mang tính suy thoái Những hành vi này luôn bị xã hội lên án.
Về mặt pháp lý tệ nạn xã hội là những hiện tượng mang tính tiêu cực, là những hành vi vi phạm pháp luật làm sai lệch các chuẩn mực trong xã hội,
có tính phổ biến gây nguy hại cho xã hội và được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật
Với quan niệm này tệ nạn xã hội có bốn đặc trưng:
- Tệ nạn xã hội là những hành vi vi phạm pháp luật có tính phổ biến, lây lan
- Tệ nạn xã hội là những hành vi sai lệch đi ngược lại với các chuẩn mực
xã hội
- Tệ nạn xã hội gây nguy hiểm cho xã hội
- Tệ nạn xã hôi phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội Đặc trưng này chỉ ra rằng pháp luật cần phù hợp với thực tiễn, cần bám sát thực tiễn để có nội dung điều chỉnh cho phù hợp
Qua các nội dung trên ta có thể hiểu: “ Tệ nạn xã hội là một hiện tượng xã hội bao gồm những hành vi làm sai lệch chuẩn mực đạo đức của con người khiến người ta lao vào con đường phạm pháp gây vi phạm đạo đức và pháp luật, để lại hậu quả xấu cho con người và đời sống xã hội Những tệ nạn xã hội xẩy ra khi có mâu thuẫn, cạnh tranh giữa người với người trong một cộng đồng vì cuộc sống sinh nhai của mình Vì vậy tệ nạn xã hội cũng đang
là một vấn đề làm nhức nhối các nhà chức tránh và cần sớm được loại bỏ”
1.2.3 Sinh viên
Sinh viên là thế hệ trẻ tương lai, gợi lên những gì trong sáng, vui tươi nhất của đời người Thế hệ sinh viên chưa có nhiều trải nghiệm với cuộc sống nhưng cũng không quá non nớt, yếu đuối khi bước chân ra ngoài xã hội Thế hệ sinh viên với bao ước mơ, hoài bão, họ học hỏi, rèn luyện để hoàn thiện bản thân Ở họ có nhữngkhát vọng của tuổi trẻ, là thế hệ đẹp của một thời đại
Trang 16Sinh viên là thế hệ cần học hỏi và không bao giờ ngại bỏ công sức để theo đuổi tri thức Thời sinh viên là thời đẹp đẽ nhất trong cuộc đời, họ học hỏi để biết, học hỏi
để sống và để sinh tồn
Sinh viên Việt Nam đang cố gắng hết mình để xây dựng lại đất nước sau nhiều năm do chiến tranh tàn phá cả về vật chất và tinh thần Đó vừa là vận mệnh vừa là thách thức đặt ra cho thế hệ trẻ, thế hệ sinh viên: học và học mãi để sửa chữa những sai lầm và là những con người xây dựng lên một thế giới mới, ở đó mọi người được sống hạnh phúc, ấm no và hòa bình
Tóm lại, sinh viên là thế hệ trẻ còn ngồi trên giảng đường của trường đại học, còn phải học tập, rèn luyện, trau dồi kỹ năng, họ là thế hệ các sinh viên ghi danh vào các trường đại học, cao đẳng
xã hội nhằm góp phần thiết thực vào công tác phòng chống tệ nạn xã hội
Song việc thực hiện điều đó không hề đơn giản và dễ thực hiện Nó đòi hỏi sự phốihợp chặt chẽ giữa các ban ngành, đoàn thể, các cơ quan quản lý nước, nhà trường, cũng như tính tích cực, ý thức của chính học sinh, sinh viên mới mong đạt được hiệu quả như dự định